- Toàn văn Công văn 1333/BTC-QLCS về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ra sao?
- Mục tiêu đến năm 2030 trong việc đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 71-NQ/TW như thế nào?
- Năm 2026 học sinh, sinh viên có được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội không?
Toàn văn Công văn 1333/BTC-QLCS về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ra sao?
Ngày 02/02/2026, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn 1333/BTC-QLCS năm 2026 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
>>> Tải về Công văn 1333/BTC-QLCS năm 2026
Theo đó, tại Công văn 1333/BTC-QLCS năm 2026 có nêu rõ như sau:
Theo đó, thực hiện điểm 2 Mục III Nghị quyết 71-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Số thứ tự 29 Phụ lục II kèm theo Nghị quyết 281/NQ-CP năm 2025 của Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị.
Bộ Tài chính đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung được quy định tại Công văn 1333/BTC-QLCS năm 2026 như sau:
- Đối với việc ưu tiên dành trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở giáo dục công lập
+ Thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ có Công điện 68/CĐ-TTg năm 2025 về việc triển khai sắp xếp, xử lý trụ sở, cơ sở vật chất khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp, Công điện 213/CĐ-TTg năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, bố trí, xử lý các cơ sở nhà, đất sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp, Bộ Tài chính có các Công văn hướng dẫn việc thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý trụ sở sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính; trong đó ưu tiên bố trí cơ sở nhà, đất cho các mục đích y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao,...
+ Tại pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công đã phân cấp việc giao, điều chuyển, chuyển đổi công năng sử dụng tài sản công,... cho các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định; đồng thời quy định cụ thể về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục giao, điều chuyển, chuyển đổi công năng sử dụng tài sản công,... của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Vì vậy, đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm chỉ đạo:
++ Các cơ sở giáo dục công lập chủ động rà soát cơ sở nhà, đất hiện có và xác định nhu cầu sử dụng nhà, đất để đề xuất nhu cầu;
++ Cơ quan nhà nước có cơ sở nhà, đất dôi dư xem xét bố trí theo yêu cầu của cơ sở giáo dục công lập có nhu cầu tiếp nhận hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
Trên cơ sở đó, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định giao, điều chuyển, chuyển đổi công năng sử dụng trụ sở làm việc để làm cơ sở giáo dục công lập theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.
- Đối với việc cho phép áp dụng hình thức cho thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước đối với cơ sở giáo dục tư thục
+ Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH15, Luật số 90/2025/QH15) của Quốc hội, Nghị định 186/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 286/2025/NĐ-CP) của Chính phủ đã cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó có đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo) được sử dụng tài sản công tại đơn vị vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết (trong đó có mục đích cho cơ sở giáo dục tư thục thuê).
+ Nghị định 108/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 286/2025/NĐ-CP) của Chính phủ đã cho phép tổ chức có chức năng quản lý, kinh doanh nhà địa phương quản lý, khai thác quỹ nhà, đất theo hình thức cho thuê nhà; trong đó ưu tiên cho cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường (trong đó có cơ sở giáo dục tư thục) được thuê nhà theo phương thức niêm yết giá và được ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất.
Vì vậy, đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện việc cho thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước đối với cơ sở giáo dục tư thục theo các quy định nêu trên.
- Thực hiện đôn đốc, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung nêu tại điểm 1, điểm 2 Công văn 1333/BTC-QLCS năm 2026.
Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để xem xét, hướng dẫn theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phù hợp.
* Xem thêm chi tiết tại Công văn 1333/BTC-QLCS năm 2026
Mục tiêu đến năm 2030 trong việc đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 71-NQ/TW như thế nào?
Căn cứ theo tiểu mục 1 Mục II Nghị quyết 71-NQ/TW năm 2025 quy định về mục tiêu đến năm 2030 trong việc đột phá phát triển giáo dục và đào tạo như sau:
- Mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Xây dựng mạng lưới trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh thuộc mọi đối tượng, vùng miền; có ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương, không có tỉnh, thành phố đạt dưới 60%. Đạt kết quả bước đầu về nâng cao năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo và năng lực tiếng Anh ở bậc phổ thông. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%.
- Xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp phù hợp và đầu tư nâng cấp; phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á. Tỉ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%. Tỉ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%. Tỉ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%, trong đó có ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh, 20.000 người học các chương trình tài năng. Chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) ngang bằng các nước có thu nhập trung bình cao.
- Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các vùng. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của các vùng và địa phương, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu các ngành, lĩnh vực trọng điểm; tuyển dụng ít nhất 2.000 giảng viên giỏi từ nước ngoài. Tăng bình quân 12%/năm đối với số công bố khoa học quốc tế, nguồn thu từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; 16%/năm đối với số đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế. Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Năm 2026 học sinh, sinh viên có được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội không?
Căn cứ Điều 76 Luật Nhà ở 2023 (được bổ sung bởi điểm a khoản 3 Điều 29 Luật Dân số 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026) quy định về các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội bao gồm:
(1) Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng 2020.
(2) Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn.
(3) Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.
(4) Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị.
(5) Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị.
(6) Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.
(7) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác.
(8) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
(9) Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 4 Điều 125 Luật Nhà ở 2023 , trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật Nhà ở 2023 .
(10) Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.
(11) Học sinh, sinh viên đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, trường chuyên biệt theo quy định của pháp luật; học sinh trường dân tộc nội trú công lập.
(12) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu công nghiệp.
(13) Người có từ 02 con đẻ trở lên.
Như vậy, học sinh, sinh viên đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, trường chuyên biệt theo quy định của pháp luật; học sinh trường dân tộc nội trú công lập thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];