Quyết định 12/2026/QĐ-UBND Ninh Bình: Trường hợp có nhà ở nhưng vẫn được hỗ trợ nhà ở xã hội?
Mới đây, UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành Quyết định 12/2026/QĐ-UBND, quy định cụ thể về việc người đã có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng ở xa nơi làm việc vẫn có thể được xem xét hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh.
Tải về Quyết định 12/2026/QĐ-UBND Ninh Bình
Trong đó tại Điểu 3 Quyết định 12/2026/QĐ-UBND Ninh Bình có quy định rõ về trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội như sau:
Điều 3. Quy định chi tiết về trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội
1. Đối tượng mua, thuê mua nhà ở xã hội theo quy định pháp luật về nhà ở mà đã có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định là cách xa địa điểm làm việc khi nhà ở thuộc sở hữu của mình cách địa điểm làm việc từ 25 km trở lên, đồng thời khoảng cách từ địa điểm dự án nhà ở xã hội đến nơi làm việc không vượt quá 10 km. Đối với các đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở năm 2023 thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an mà đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội tại các dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân thuộc thẩm quyền của Bộ Công an thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở năm 2023 thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an mà đã có nhà ở thuộc sở hữu của mình cách địa điểm làm việc từ 10 km trở lên thì được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội tại các dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân thuộc thẩm quyền của Bộ Công an, đồng thời khoảng cách từ nơi làm việc đến các dự án này không vượt quá 10 km.
3. Việc xác định khoảng cách theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tính theo lộ trình đường bộ thuận lợi và ngắn nhất giữa các địa điểm.
Theo Điều 3 của Quyết định này, người thuộc diện được mua, thuê mua nhà ở xã hội theo pháp luật về nhà ở, dù đã có nhà ở riêng, vẫn được xác định là “cách xa địa điểm làm việc” nếu đáp ứng đồng thời hai điều kiện: nhà ở thuộc sở hữu của mình cách nơi làm việc từ 25 km trở lên và khoảng cách từ dự án nhà ở xã hội đến nơi làm việc không quá 10 km.
Riêng đối với các đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an, việc mua, thuê mua nhà ở xã hội tại các dự án dành cho lực lượng vũ trang sẽ áp dụng điều kiện riêng.
Cụ thể, các đối tượng thuộc quản lý của Bộ Công an nếu đã có nhà ở nhưng cách nơi làm việc từ 10 km trở lên thì vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội tại các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ với điều kiện khoảng cách từ dự án đến nơi làm việc không vượt quá 10 km. Việc xác định khoảng cách trong mọi trường hợp được tính theo lộ trình đường bộ thuận lợi và ngắn nhất.
Như vậy, Quyết định 12/2026/QĐ-UBND của UBND tỉnh Ninh Bình đã làm rõ nguyên tắc “có nhà ở nhưng ở xa nơi làm việc” vẫn có thể được hỗ trợ nhà ở xã hội, nếu đáp ứng đúng tiêu chí về khoảng cách theo quy định.

Quyết định 12/2026/QĐ-UBND Ninh Bình: Trường hợp có nhà ở nhưng vẫn được hỗ trợ nhà ở xã hội? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội là gì?
Căn cứ theo Điều 88 Luật Nhà ở 2023 có cụm từ bị thay thế bởi điểm a khoản 5 Điều 57 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn 2024 quy định nguyên tắc bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội như sau:
[1] Việc bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội phải đúng quy định của Luật Nhà ở 2023.
[2] Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được lựa chọn hình thức bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai hoặc bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở có sẵn. Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội khi bán, cho thuê mua nhà ở không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai và không phải thông qua sàn giao dịch bất động sản.
[3] Việc bán, cho thuê mua nhà ở xã hội hình thành trong tương lai phải tuân thủ các điều kiện sau đây:
- Đã có hồ sơ dự án đầu tư xây dựng nhà ở, có thiết kế kỹ thuật nhà ở được phê duyệt và có giấy phép xây dựng nếu thuộc trường hợp phải có giấy phép xây dựng;
- Đã hoàn thành việc xây dựng phần móng của nhà ở theo quy định của pháp luật về xây dựng và hoàn thành việc đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông, cấp nước, thoát nước, điện sinh hoạt, điện chiếu sáng công cộng của khu vực nhà ở được bán, cho thuê mua theo quy hoạch chi tiết xây dựng, hồ sơ thiết kế và tiến độ của dự án đã được phê duyệt; đã giải chấp đối với trường hợp chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội có thế chấp nhà ở này, trừ trường hợp được người mua, thuê mua và bên nhận thế chấp đồng ý không phải giải chấp;
- Đã có văn bản thông báo của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua, trừ nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng vốn đầu tư công.
[4] Việc bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội có sẵn của chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phải tuân thủ các điều kiện sau đây:
- Khu vực nhà ở để bán, cho thuê mua, cho thuê đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các công trình hạ tầng xã hội theo quy hoạch chi tiết xây dựng, hồ sơ thiết kế và tiến độ của dự án đã được phê duyệt; nếu chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội có thế chấp nhà ở thì phải giải chấp trước khi bán, cho thuê mua nhà ở này, trừ trường hợp được người mua, thuê mua và bên nhận thế chấp đồng ý không phải giải chấp;
- Đã có văn bản thông báo của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua, cho thuê, trừ nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng vốn đầu tư công;
- Nhà ở có đủ điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 160 Luật Nhà ở 2023.
[5] Đối với nhà ở xã hội do cá nhân tự đầu tư xây dựng để cho thuê chỉ phải thực hiện theo quy định tại Điều 56 Luật Nhà ở 2023
[6] Mỗi đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9 và 10 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 chỉ được mua hoặc thuê mua 01 căn nhà ở xã hội. Đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 chỉ được mua hoặc thuê mua 01 căn nhà ở xã hội hoặc 01 căn nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.
[7] Mỗi đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 10 và 11 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 tại mỗi thời điểm chỉ được thuê 01 căn nhà ở xã hội. Đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 tại mỗi thời điểm chỉ được thuê 01 căn nhà ở xã hội hoặc 01 căn nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.
[8] Bên thuê, thuê mua nhà ở xã hội chỉ được sử dụng nhà ở phục vụ vào mục đích ở cho bản thân và thành viên trong gia đình trong thời gian thuê, thuê mua; nếu bên thuê, thuê mua không còn nhu cầu thuê, thuê mua nhà ở thì chấm dứt hợp đồng và phải trả lại nhà ở này.
[9] Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê được bán nhà ở này theo cơ chế thị trường sau 10 năm kể từ ngày nghiệm thu đưa vào sử dụng cho đối tượng có nhu cầu nếu dự án phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn và quy định của pháp luật về đất đai. Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ và các khoản thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế. Đối với nhà ở xã hội thuộc tài sản công thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 125 Luật Nhà ở 2023.
[10] Trường hợp bán, cho thuê mua nhà ở xã hội vi phạm quy định của Luật Nhà ở 2023 về đối tượng hoặc điều kiện mua, thuê mua nhà ở xã hội thì hợp đồng mua bán, cho thuê mua nhà ở vô hiệu và bên mua, thuê mua phải bàn giao lại nhà ở cho chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, đơn vị quản lý nhà ở xã hội; trường hợp không bàn giao lại nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà ở tổ chức cưỡng chế để thu hồi lại nhà ở đó.
Việc xử lý tiền mua nhà ở xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự; việc xử lý tiền thuê mua nhà ở xã hội được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Luật Nhà ở 2023; việc cưỡng chế thu hồi nhà ở xã hội thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Quyền có chỗ ở và quyền sở hữu nhà ở được quy định ra sao?
Căn cứ theo Điều 6 Luật Nhà ở 2023 quy định quyền có chỗ ở và quyền sở hữu nhà ở như sau:
- Cá nhân có quyền có chỗ ở thông qua việc đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, thuê, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi, mượn, ở nhờ, quản lý nhà ở theo ủy quyền và hình thức khác theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức, cá nhân có nhà ở hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở 2023 có quyền sở hữu đối với nhà ở đó theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];