Từ năm 2026 không thông báo tìm việc sẽ bị tạm dừng hoặc chấm dứt trợ cấp thất nghiệp là một trong những nội dung đáng chú ý được nêu tại Luật Việc làm 2025.
>> Thủ tục cấp thẻ bảo hiểm y tế theo Nghị định 188
>> Hồ sơ đề nghị thanh toán trực tiếp chi phí khám chữa bệnh theo Nghị định 188
Căn cứ khoản 1 Điều 40 Luật Việc làm 2025, trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng, người lao động phải thông báo về việc tìm kiếm việc làm cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Bên cạnh đó, căn cứ Điều 41 Luật Việc làm 2025, quy định các chế tài liên quan đến hành vi không thông báo tìm việc như sau:
- Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng.
- Nếu sau khi bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn còn thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp thì được tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng.
- Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo trong 03 tháng liên tục sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Trước 01/01/2026, tại khoản 1 Điều 52 Luật Việc làm 2013 cũng quy định người lao động phải thông báo tìm việc hằng tháng.
Tuy nhiên, Luật Việc làm 2013 chỉ quy định chung việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu không thông báo đủ 03 lần (điểm e khoản 3 Điều 53 Luật Việc làm 2013) mà không có cơ chế tạm dừng hoặc tiếp tục hưởng sau khi bị tạm dừng như Luật Việc làm 2025.
![]() |
File Excel tính tiền bảo hiểm xã hội một lần năm 2025 theo hệ số trượt giá mới nhất |

Từ năm 2026 không thông báo tìm việc sẽ bị tạm dừng hoặc chấm dứt trợ cấp thất nghiệp
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Căn cứ khoản 4 Điều 41 Luật Việc làm 2025, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(i) Có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
(ii) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực.
(iii) Hưởng lương hưu hằng tháng.
(iv) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng.
(v) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng trong 03 tháng liên tục.
(vi) Ra nước ngoài để định cư.
(vii) Đi học tập có thời hạn trên 12 tháng.
(viii) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
(ix) Chết.
(x) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
(xi) Bị tòa án tuyên bố mất tích.
(xii) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.
(xiii) Theo đề nghị của người lao động.
Lưu ý: Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc trường hợp quy định tại các khoản (i), (ii), (vii), (x), (xi), (xii) và (xiii) được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo trừ trường hợp không thông báo tình trạng của người lao động quy định tại các khoản (i), (ii), (vii)(x), (xi), (xii) và (xiii).
Căn cứ khoản 1 Điều 38 Luật Việc làm 2025, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.
b) Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.
c) Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.
d) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết.






