Dựa trên quy định pháp luật để tiến hành giải đáp: Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực lao động năm 2025 và thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại.
>> Từ 01/7/2025 UBND cấp tỉnh cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài
>> Danh mục địa bàn cấp xã áp dụng mức lương tối thiểu từ 01/7/2025
Bài viết này PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP sẽ tổng hợp các thông tin giải đáp:“Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực lao động năm 2025”, bạn có thể tham khảo nội dung bài viết sau đây.
Căn cứ khoản 1 Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, quy định về các trường hợp phải bồi thường khi có thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực lao động:
- Người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao.
- Người lao động có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.
Căn cứ khoản 2 Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, quy định về trình tự, thủ tục họp xử lý bồi thường thiệt hại như sau:
(i) Ít nhất 05 ngày làm việc trước khi tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại, người sử dụng lao động thông báo đến các thành phần phải tham dự họp bao gồm: tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, người lao động, người bào chữa cho người lao động (nếu có), trường hợp người lao động là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật, thẩm định viên về giá (nếu có); bảo đảm các thành phần này nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp. Nội dung thông báo phải nêu rõ thời gian, địa điểm tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại; họ tên người bị xử lý bồi thường thiệt hại và hành vi vi phạm.
(ii) Khi nhận được thông báo của người sử dụng lao động, các thành phần phải tham dự họp nêu trên phải xác nhận tham dự cuộc họp với người sử dụng lao động. Trường hợp một trong các thành phần không thể tham dự họp theo thời gian, địa điểm đã thông báo thì người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận việc thay đổi thời gian, địa điểm họp; trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì người sử dụng lao động quyết định thời gian, địa điểm họp.
(iii) Người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại theo thời gian, địa điểm đã thông báo quy định tại (i) và (ii). Trường hợp một trong các thành phần phải tham dự họp quy định tại (i) không xác nhận tham dự hoặc vắng mặt thì người sử dụng lao động vẫn tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Lưu ý:
- Nội dung cuộc họp xử lý bồi thường thiệt hại phải được lập thành biên bản, thông qua trước khi kết thúc cuộc họp và có chữ ký của người tham dự cuộc họp, trường hợp có người không ký vào biên bản thì người ghi biên bản nêu rõ họ tên, lý do không ký (nếu có) vào nội dung biên bản.
- Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải được ban hành trong thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại. Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải nêu rõ mức thiệt hại; nguyên nhân thiệt hại; mức bồi thường thiệt hại; thời hạn, hình thức bồi thường thiệt hại và được gửi đến các thành phần phải tham dự họp.
(Căn cứ khoản 3 và khoản 4 Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP).
![]() |
File Word Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn mới nhất [cập nhật ngày 21/10/2024] |

Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực lao động năm 2025
(Ảnh minh hoạ - Nguồn từ Internet)
Căn cứ Điều 72 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, quy định về thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại như sau:
Điều 72. Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại
Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại tại khoản 2 Điều 130 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:
1. Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại là 06 tháng kể từ ngày người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.
2. Không xử lý bồi thường thiệt hại đối với người lao động đang trong thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật Lao động.
3. Khi hết thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật Lao động, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.


