Mở rộng thêm một số đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ 2026 theo quy định tại Luật Việc làm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026)
>> Mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế 2026 từ ngân sách nhà nước
>> Vẫn được thanh toán khi chưa có thẻ BHYT 2025 trong một số trường hợp
Căn cứ khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm 2013 quy định đối tượng là người lao động bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:
- NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.
- NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn.
- NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
Từ năm 2026 mở rộng đối tượng là người lao động bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Việc làm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026), bao gồm:
(i) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.
(ii) Người lao động quy định tại (i) làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
(iii) Người làm việc theo hợp đồng làm việc.
(iv) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã 2023 có hưởng tiền lương.
![]() |
File Excel tính tiền bảo hiểm xã hội một lần năm 2025 theo hệ số trượt giá mới nhất |

Mở rộng đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ 2026
(Ảnh minh họa – Nguồn Internet)
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:
(i) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).
(ii) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc.
(Theo khoản 1 Điều 34 Luật Việc làm 2025)
Căn cứ Điều 35 Luật Việc làm 2025, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:
1. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
2. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp được bảo lưu theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 41 của Luật này.
3. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức.





