Dưới đây là bảng thanh toán tiền lương theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, quy định về hình thức và kỳ hạn trả lương.
>> Nội quy và Quy chế thi tuyển xét tuyển công chức từ ngày 10/12/2025
>> Kế hoạch tổ chức các hoạt động chăm lo cho đoàn viên, NLĐ dịp tết Nguyên đán 2026
Bảng thanh toán tiền lương theo Thông tư 200/2014/TT-BTC là mẫu số 02-LĐTL.
Lưu ý: Mẫu số 02-LĐTL về bảng thanh toán tiền lương theo Thông tư 200/2014/TT-BTC áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thực hiện kế toán theo Chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được vận dụng quy định Thông tư 200/2014/TT-BTC để kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của mình (căn cứ Điều 1 Thông tư 200/2014/TT-BTC)
![]() |
Mẫu 02-LĐTL về bảng thanh toán tiền lương theo Thông tư 200/2014/TT-BTC |
>> Xem thêm: Mẫu bảng thanh toán tiền lương làm thêm giờ mới nhất

Bảng thanh toán tiền lương theo Thông tư 200/2014/TT-BTC
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Căn cứ Điều 96 Bộ luật Lao động 2019, quy định hình thức trả lương như sau:
(i) Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.
(ii) Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.
Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
Căn cứ Điều 97 Bộ luật Lao động 2019, quy định kỳ hạn trả lương như sau:
(i) Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
(ii) Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
(iii) Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
(iv) Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày.
Nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
|





