Phương án để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 52,752 lượt xem
14:36 | 21/07/2026
Phương án để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động?
Nội dung chính
  1. Phương án để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động?
  2. Chi từ 05 triệu đồng/lần phải khấu trừ 10% thuế TNCN: Tách nhiều lần để tránh khấu trừ có được không?
  3. Quy định cá nhân có thu nhập từ tiền công, tiền lương trực tiếp khai thuế TNCN ra sao?

Phương án để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động?

Đầu tiên, tại Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã quy định về các trường hợp phải khấu trừ thuế TNCN như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...

Như vậy, có thể thấy tiền lương chi trả sau khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động sẽ phải khấu trừ thuế TNCN 10% nếu mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.

Điều này khiến nhiều người lao động băn khoăn: Có phương án nào để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động không?

Phương án 1: Doanh nghiệp thanh toán tiền lương cho người lao động trước ngày chấm dứt hợp đồng lao động (Đây là phương án an toàn nhất về mặt pháp lý)

Vì nếu doanh nghiệp hoàn tất việc chi trả tiền lương, tiền thưởng hoặc các khoản thu nhập khác trước thời điểm hợp đồng lao động chấm dứt, thì tại thời điểm trả thu nhập, người lao động vẫn thuộc đối tượng ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên.

Khi đó, doanh nghiệp thực hiện tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần, không áp dụng cơ chế khấu trừ 10% thuế TNCN đối với trường hợp trả thu nhập sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 1 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Phương án 2: Người lao động có thể làm bản cam kết để không bị khấu trừ thuế TNCN hay không? (Đây là vấn đề hiện nay còn có nhiều cách hiểu).

Cụ thể, khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CPP quy định trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%, nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì được làm cam kết để tổ chức trả thu nhập tạm thời không khấu trừ thuế TNCN.

Trong khi đó, cũng tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, pháp luật đã bổ sung trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động vào nhóm đối tượng áp dụng khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%.

Từ cách quy định này có thể phát sinh hai cách hiểu:

- Quan điểm thứ nhất: do trường hợp trả tiền lương sau khi chấm dứt hợp đồng lao động cũng thuộc khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP nên nếu người lao động đáp ứng đủ điều kiện về thu nhập thì vẫn có thể lập cam kết để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế TNCN.

- Quan điểm thứ hai: điều kiện để được làm cam kết là cá nhân "chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%". Trong thực tế, người lao động nghỉ việc thường đã có thời gian làm việc theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên và trong thời gian này thu nhập đã được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần, không phải theo tỷ lệ 10%.

Do đó, có thể cho rằng người lao động không còn đáp ứng điều kiện "chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%", nên không thuộc trường hợp được làm cam kết.

Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn hoặc giải thích chính thức của cơ quan có thẩm quyền để làm rõ cách hiểu này. Vì vậy, chưa có đủ căn cứ pháp lý để khẳng định người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động có được lập cam kết để doanh nghiệp tạm thời không khấu trừ 10% thuế TNCN hay không.

Do đó, doanh nghiệp không nên khi áp dụng phương án này mà chờ thêm hướng dẫn chính thức của Bộ Tài chính hoặc cơ quan thuế để bảo đảm thực hiện đúng quy định.

Xem thêm: Cơ quan thuế trả lời về việc có phải khấu trừ thuế TNCN 10% dù cá nhân đã làm cam kết không?

Phương án 3: Chấp nhận khấu trừ 10% thuế TNCN và thực hiện quyết toán thuế

Trong trường hợp doanh nghiệp trả tiền lương sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động và không thuộc trường hợp được tạm thời không khấu trừ thuế (hoặc chưa có căn cứ áp dụng cam kết), doanh nghiệp sẽ thực hiện khấu trừ 10% theo quy định.

Sau khi kết thúc năm tính thuế, người lao động thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Nếu tổng thu nhập sau khi tính các khoản giảm trừ chưa đến mức phải nộp thuế hoặc số thuế phải nộp nhỏ hơn số đã bị khấu trừ thì người lao động được hoàn lại phần thuế nộp thừa theo quy định theo Điều 6 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.

Như vậy, "phương án để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động nào an toàn nhất?"

Hiện nay, phương án an toàn nhất để không phát sinh việc khấu trừ 10% thuế TNCN là doanh nghiệp thanh toán đầy đủ tiền lương và các khoản thu nhập trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Đối với trường hợp trả thu nhập sau khi hợp đồng lao động đã chấm dứt, doanh nghiệp nên thực hiện khấu trừ thuế theo đúng quy định hiện hành. Riêng việc người lao động có được làm cam kết để tạm thời không bị khấu trừ thuế hay không vẫn còn là vấn đề cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể để bảo đảm áp dụng thống nhất.

Lưu ý: Bài viết này được phân tích trên cơ sở quy định tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP nhằm giúp khách hàng có cái nhìn tổng quan về quy định pháp luật và những vấn đề có thể phát sinh trong quá trình áp dụng. Do đây là nội dung còn có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau nên chỉ mang tính chất tham khảo, bài viết không thay thế văn bản hướng dẫn hoặc giải thích chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp Bộ Tài chính, cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn hoặc giải thích chính thức thì việc áp dụng sẽ thực hiện theo các văn bản đó.

Phương án để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động?

Phương án để không bị khấu trừ 10% thuế TNCN khi nhận lương sau ngày chấm dứt hợp đồng lao động? (Hình từ Internet)

Chi từ 05 triệu đồng/lần phải khấu trừ 10% thuế TNCN: Tách nhiều lần để tránh khấu trừ có được không?

Đầu tiên, tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã trích tại Mục 1.

Đồng thời, tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC (hết hiệu lực từ ngày 01/7/2026) quy định ngưỡng thu nhập khấu trừ thuế TNCN như sau:

Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế
1. Khấu trừ thuế
...
i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác
Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
...

Theo đó, từ ngày 01/07/2026 thì cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng mà mức thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập đó phải khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.

Do đó, từ ngày 01/07/2026 ngưỡng thu nhập khấu trừ thuế TNCN sẽ tăng 3 triệu so với quy định trước đó.

Từ quy định trên, nhiều doanh nghiệp đặt ra câu hỏi: Việc chia nhỏ khoản chi thành nhiều lần dưới 05 triệu đồng/lần để không phải khấu trừ thuế TNCN 10% có được hay không?

Đối với vấn đề này trước đây Cục Thuế đã có Công văn trả lời về trường hợp Công ty ký hợp đồng thuê mướn lao động dưới 3 tháng như sau:

Mặc dù Công văn được ban hành trên cơ sở quy định cũ với ngưỡng 2.000.000 đồng/lần, tuy nhiên từ ngày 01/7/2026 ngưỡng này được điều chỉnh lên 5.000.000 đồng/lần theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Do đó, nguyên tắc xử lý về việc tổng hợp thu nhập để thực hiện khấu trừ thuế vẫn có thể được tham khảo khi áp dụng quy định mới.

Như vậy, từ những căn cứ trên, việc Công ty ký hợp đồng theo mùa vụ với người lao động dưới 3 tháng trở xuống thanh toán lương theo tuần với mức chi trả dưới 5.000.000 đồng/lần thì vào mỗi lần chi trả (thấp hơn 5.000.000 đồng/lần) Công ty tạm thời không phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi chi trả cho người lao động.

Nhưng đến cuối tháng Công ty tổng hợp thu nhập đã chi trả cho từng cá nhân trong tháng, tính và kê khai nộp thuế TNCN (theo mức 10%) đối với những cá nhân có tổng thu nhập từ 5.000.000 đồng trở lên.

Như vậy, việc chia nhỏ khoản chi thành nhiều lần dưới 05 triệu đồng/lần không đồng nghĩa với việc không phải khấu trừ thuế TNCN. Trường hợp cuối tháng tổng hợp thu nhập chi trả cho cá nhân vẫn từ 05 triệu đồng trở lên thì tổ chức trả thu nhập vẫn phải thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế TNCN theo quy định. Do đó, doanh nghiệp không nên cho rằng việc tách nhỏ khoản chi sẽ làm phát sinh quyền không phải khấu trừ thuế.

Quy định cá nhân có thu nhập từ tiền công, tiền lương trực tiếp khai thuế TNCN ra sao?

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC quy định trường hợp khai thuế TNCN trực tiếp đối với cá nhân có đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công cụ thể như sau:

(1) Các trường hợp khai thuế theo quý:

- Cá nhân cư trú, cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức Quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam trả nhưng chưa thực hiện khấu trừ thuế;

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức, cá nhân trả từ nước ngoài;

- Cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam do tổ chức nước ngoài không đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả;

- Cá nhân khi chuyển nhượng cổ phiếu thưởng, cổ phiếu mua với giá ưu đãi theo kế hoạch phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (cổ phiếu ESOP) nhận được từ tổ chức, cá nhân trả thu nhập (trừ trường hợp tổ chức khấu trừ thuế và nộp thay số thuế đã khấu trừ theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC);

(2) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm quyết toán thuế theo năm theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân;

(3) Tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai thuế:

*Cơ quan thuế tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai thuế đối với hồ sơ khai thuế theo quý:

- Đối với trường hợp quy định tại điểm c.1.1 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC là cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập;

- Đối với trường hợp quy định tại điểm c.1.2 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC là cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi cá nhân cư trú;

- Đối với trường hợp quy định tại điểm c.1.3 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC là cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi phát sinh thu nhập tại Việt Nam;

- Đối với trường hợp quy định tại điểm c.1.4 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC là cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập hoặc cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi cá nhân cư trú trong trường hợp tổ chức trả thu nhập ở nước ngoài.

*Cơ quan thuế tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai thuế đối với hồ sơ quyết toán thuế:

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại một nơi và thuộc trường hợp phải khai thuế theo quý thì cơ quan thuế tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai quyết toán thuế là cơ quan thuế nơi tiếp nhận hồ sơ khai thuế theo quý;

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại một nơi và không thuộc trường hợp phải khai thuế theo quý, không ủy quyền quyết toán thuế theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân thì cơ quan thuế tiếp nhận, xửlý hồ sơ khai quyết toán thuế là cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức, cá nhân trả thu nhập trong năm;

- Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại hai nơi trở lên, bao gồm cả trường hợp vừa có thu nhập phải khai theo quý, vừa có thu nhập do tổ chức, cá nhân chi trả đã khấu trừ thì cơ quan thuế tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai quyết toán thuế là cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức, cá nhân trả thu nhập lớn nhất trong năm. Trường hợp có nhiều hơn một nơi trả thu nhập lớn nhất trong năm thì cá nhân tự lựa chọn nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế tại một trong những cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức, cá nhân trả thu nhập đó.

(4) Hồ sơ khai thuế:

- Hồ sơ khai thuế TNCN theo quý và hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo quy định tại điểm 7.1 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC;

(5) Tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ phiếu thưởng cho người lao động, cổ phiếu ESOP:

- Tổ chức khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân thực hiện khai theo tháng hoặc theo quý cùng với kỳ khai thuế giá trị gia tăng;

- Cơ quan thuế tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai thuế là cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức khấu trừ thuế;

- Hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định tại điểm 7.1 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất