Danh sách các tỉnh yêu cầu kê khai chủ sở hữu hưởng lợi trước 31/10 gồm gì?
Theo tinh thần của Công văn 3164/DNTN-GS năm 2026 của Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể đã có nội dung chỉ đạo như sau:
Căn cứ các quy định về xác định, kê khai, lưu giữ thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, Cục DNTN gửi Quý Sở danh sách các doanh nghiệp đã thống kê và đề nghị Quý Sở chỉ đạo Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh khẩn trương tiến hành rà soát, kiểm tra và tổng hợp, báo cáo kết quả kiểm tra theo chế độ cập nhật báo cáo tại Công văn số 13767/BTC-DNTN.
Theo đó, Sở Tài chính các tỉnh thành sẽ chỉ đạo việc rà soát, kiểm tra và tổng hợp, báo cáo kết quả kiểm tra việc kê khai chủ sở hữu hưởng lợi.
Trong đó, có những tỉnh, thành phố đã yêu cầu hạn kê khai chủ sở hữu hưởng lợi trước ngày 31/10/2026.
Doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố này cần chủ động kiểm tra, kê khai bổ sung thông tin chủ sở hữu hưởng lợi theo thời hạn này.
Dưới đây là bảng tổng hợp các tỉnh, thành phố yêu cầu doanh nghiệp kê khai chủ sở hữu hưởng lợi trước ngày 31/10/2026.
STT | Tỉnh, Thành phố | Hạn chót (trước ngày) | Hướng dẫn chi tiết |
1 | Quảng Ninh | 31/10/2026 | |
2 | Lâm Đồng | 31/10/2026 | Xem chi tiết |
Đang cập nhật | Đang cập nhật | Đang cập nhật | Đang cập nhật |

Danh sách các tỉnh yêu cầu kê khai chủ sở hữu hưởng lợi trước 31/10 gồm gì? (Hình từ Internet)
Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp được xác định như thế nào?
Căn cứ vào Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 296/2026/NĐ-CP có quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp như sau:
Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:
(1) Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.
Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.
(2) Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại (1), hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại (1) không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
(3) Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại (1) và (2), doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.
Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm nào?
Căn cứ Điều 5 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định kỳ tính thuế như sau:
Kỳ tính thuế
1. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính do doanh nghiệp lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn năm tài chính khác với năm dương lịch thì thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thực hiện.
2. Kỳ tính thuế đối với doanh nghiệp quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật này thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo đó, kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính do doanh nghiệp lựa chọn. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.
Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn năm tài chính khác với năm dương lịch thì thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thực hiện.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];