TOÀN VĂN Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp thế nào?
Ngày 12/2/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT TẠI ĐÂY quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp.
Trong đó, tại Điều 5 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT quy định giờ chuẩn, thời gian giảng dạy đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp như sau:
- Một giờ chuẩn được tính đối với việc giảng dạy lý thuyết cho 01 lớp tối đa 35 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc kết hợp lý thuyết và thực hành (sau đây gọi là tích hợp) cho 01 lớp tối đa 18 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc tích hợp các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cho 01 lớp tối đa 10 học viên, học sinh, sinh viên.
- Thời gian giảng dạy trong kế hoạch đào tạo được tính bằng giờ chuẩn, trong đó:
- Một giờ giảng lý thuyết là 45 phút được tính bằng 01 giờ chuẩn;
- Một giờ dạy tích hợp là 60 phút được tính bằng 01 giờ chuẩn;
- Một giờ dạy thực hành là 60 phút được tính bằng 01 giờ chuẩn.
Xem chi tiết TOÀN VĂN Thông tư 05 2026 TT BGDĐT chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp
Trên đây là thông tin về TOÀN VĂN Thông tư 05 2026 TT BGDĐT chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp thế nào?

TOÀN VĂN Thông tư 05 2026 TT BGDĐT chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp thế nào? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc xác định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp là gì?
Căn cứ Điều 4 Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT quy định nguyên tắc xác định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp như sau:
- Thời gian làm việc của nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được xác định theo số tuần và định mức giờ chuẩn trong một năm học sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định, bảo đảm không vượt quá thời giờ làm việc tối đa theo quy định.
- Định mức giờ chuẩn của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham gia giảng dạy nhiều trình độ trong một năm học áp dụng theo định mức giờ chuẩn ở trình độ cao nhất trên cơ sở tỉnh hệ số quy đổi giờ chuẩn giảng dạy các trình độ thấp hơn sang giờ chuẩn giảng dạy trình độ cao nhất.
- Một giờ chuẩn giảng dạy trực tuyến được tính bằng một giờ chuẩn giảng dạy trực tiếp.
- Thời gian nhà giáo giáo dục nghề nghiệp không sử dụng hết để học tập, bồi dưỡng, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới được quy đổi ra giờ chuẩn. Số giờ quy đổi được xác định theo tỷ lệ giữa thời gian nhà giáo không sửdụng hết để thực hiện các nhiệm vụ học tập, bồi dưỡng, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới với thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng dạy tương ứng trình độ đào tạo. Số giờ quy đổi được cộng thêm vào định mức giờ chuẩn trong năm học của nhà giáo.
- Đối với các nhiệm vụ đã được bố trí kinh phí để chỉ trả thù lao cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp theo quy định thì không thực hiện giảm định mức giờ chuẩn và không quy đổi thời gian thực hiện nhiệm vụ đó ra giờ chuẩn.
- Việc phân công, bố trí nhiệm vụ cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp phải đảm bảo:
+ Phù hợp với định mức giờ chuẩn, thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật năng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới;
+ Tuân thủ quy định của pháp luật về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi,
+ Công khai, minh bạch trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để thống nhất thực hiện.
- Chế độ làm việc của giảng viên đồng cơ hữu thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay thế nào?
Căn cứ theo Điều 6 Luật Nhà giáo 2025 quy định về chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo như sau:
[1]. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo; bảo đảm số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ nhà giáo.
[2]. Thu hút, trọng dụng người có trình độ cao, người có tài năng, người có năng khiếu đặc biệt, người có kỹ năng nghề cao làm nhà giáo.
[3]. Thu hút nhà giáo tham gia giảng dạy, giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
[4]. Bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm của nhà giáo trong hoạt động nghề nghiệp.
[5]. Ưu tiên về tiền lương, chế độ đãi ngộ đối với nhà giáo.
[6]. Khuyến khích nhà giáo đổi mới, sáng tạo trong hoạt động nghề nghiệp.
[7]. Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp liên tục đối với nhà giáo.
[8]. Khuyến khích, tạo điều kiện để nhà giáo là công dân Việt Nam tham gia học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật với cơ sở giáo dục và tổ chức nước ngoài; nhà giáo, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật với cơ sở giáo dục và tổ chức ở Việt Nam.
[9]. Huy động các nguồn lực xã hội cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];