Quyết định 41 2026 QĐ TTg bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ chi tiết thế nào?
Ngày 5/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 41/2026/QĐ-TTg bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ.
TẢI VỀ QUYẾT ĐỊNH 41/2026/QĐ-TTg
Theo đó, từ ngày 01/10/2026, bãi bỏ toàn bộ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ:
- Quyết định 25-TTg năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật.
- Quyết định 1038/1997/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Trung tâm nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng nghiệp vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
- Quyết định 59/1998/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi tên Ban Chính sách Dự trữ Quốc gia thành Ban Pháp chế trực thuộc Cục Dự trữ Quốc gia.
- Quyết định 179/1998/QĐ-TTg ngày 19 tháng 9 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Vụ Tài chính - Kế toán thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
- Quyết định 210/1999/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
- Quyết định 228/1999/QĐ-TTg ngày 15 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung mục tiêu bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và Chương trình mục tiêu quốc gia thanh toán một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm.
- Quyết định 86/2000/QĐ-TTg ngày 18 tháng 7 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế Trường đại học dân lập.
- Quyết định 40/2001/QĐ-TTg ngày 26 tháng 3 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan.
- Quyết định 114/2001/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 210/1999/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
- Quyết định 124/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Quyết định 224/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng Giáo dục quốc phòng cấp tỉnh, cấp huyện.
- Quyết định 156/2005/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020.
- Quyết định 313/2005/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và những người trực tiếp quản lý, điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS trong các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước.
- Quyết định 01/2006/QĐ-TTg ngày 03 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020”.
- Quyết định 58/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đầu tư củng cố, bảo vệ và nâng cấp đê biển hiện có tại các tỉnh có đê từ Quảng Ninh đến Quảng Nam.
- Quyết định 75/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
- Quyết định 86/2006/QĐ-TTg ngày 20 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể Hệ thống Bảo tàng thiên nhiên ở Việt Nam đến năm 2020”.
[...]

Quyết định 41 2026 QĐ TTg bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ chi tiết thế nào? (Hình từ Internet)
Việc tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật dựa vào căn cứ nào?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 63 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 quy định như sau:
Điều 63. Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
1. Thẩm quyền, trách nhiệm kiểm tra văn bản:
a) Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành;
[...]
2. Căn cứ thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật:
a) Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành;
b) Kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật;
c) Theo yêu cầu, chỉ đạo của cơ quan, người có thẩm quyền.
3. Căn cứ thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền:
a) Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật;
b) Phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thuộc thẩm quyền kiểm tra;
c) Các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện kiểm tra văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này, văn bản hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật khi có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều này.
5. Việc xử lý văn bản trái pháp luật qua kiểm tra được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật dựa vào các căn cứ sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành;
- Kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật;
- Theo yêu cầu, chỉ đạo của cơ quan, người có thẩm quyền.
Nội dung tổ chức và trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định thế nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 59 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, nội dung tổ chức và trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
- Nội dung tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật:
+ Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
+ Giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
+ Phổ biến, giáo dục văn bản quy phạm pháp luật;
+ Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ;
+ Giám sát, kiểm tra, rà soát, hợp nhất, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.
- Tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
+ Tổ chức thi hành, theo dõi và sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
+ Báo cáo hoặc cung cấp thông tin về tổ chức thi hành, theo dõi việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];