Công văn này thể hiện tinh thần của Luật BHXH năm 2014 và Luật Việc làm năm 2013. Theo đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 3, Điều 85, Luật BHXH năm 2014, người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Như vậy, trong khoảng thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, thì cả hai bên, công ty và người lao động không phải tham gia BHXH. Tuy nhiên, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian hưởng BHXH.
Đối với bảo hiểm thất nghiệp, căn cứ theo quy định tại Khoản 2, Điều 11, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12-3-2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, trường hợp người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH thì người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian này. Như vậy, trong khoảng thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, thì cả hai bên, công ty và người lao động không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Bạn lưu ý là công ty và người lao động có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm thất nghiệp, còn việc thanh toán chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ do cơ quan BHXH thực hiện, không phải là nghĩa vụ của công ty.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];