LĐLSVN kiến nghị tạm đình chỉ khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP theo Công văn 197 ra sao?
Ngày 07/5/2026, Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành Công văn 197/LĐLSVN-BTV năm 2026 đề nghị xem xét tạm đình chỉ thực hiện một số điều khoản trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Xem toàn bô Công văn 197 LĐLSVN BTV 2026 đề nghị xem xét tạm đình chỉ thực hiện một số điều khoản trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP dưới đây:
Sau khi Nghị định 109/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành, qua rà soát và tổng hợp ý kiến của nhiều luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam nhận thấy một số quy định liên quan đến việc xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư (các điều: Điều 8, Điều 12, Điều 84) có những nội dung mâu thuẫn, xung đột pháp luật giữa Luật Luật sư 2006 với các quy định pháp luật khác, cụ thể như sau:
(1) Chưa có sự nhất quán trong nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước, xung đột về thẩm quyền và xung đột quy phạm pháp luật
Khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định về việc giao quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước Chứng chỉ hành nghề luật sư là xung đột về thẩm quyền theo quy định tại Điều 83 Luật Luật sư 2006. Cụ thể tại khoản 2 Điều 83 Luật Luật sư quy định “Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:..d) Cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư".
Như vậy, thẩm quyền cấp và thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư thuộc về Bộ Tư pháp và sau khi Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư sẽ thông báo cho Liên đoàn Luật sư Việt Nam biết để tiến hành thu hồi Thẻ Luật sư theo khoản 2 Điều 18 Luật Luật sư 2006. Quy định này thể hiện sự phối hợp trong công tác quản lý Nhà nước về nghề luật sư và chế độ tự quản về luật sư.
Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định 121/2025/NĐ-CP, Chính phủ đã phân cấp, giao thẩm quyền cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh nhưng chỉ thực hiện trong gần 2 năm từ 01/7/2025 đến ngày 01/3/2027, trong bối cảnh Nhà nước thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sau đó sẽ tổng kết việc phân cấp giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố về việc thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư.
Khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền “Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý". Trong khi đó, khoản 2 Điều 5 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định: "Không quy định tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn trong các trường hợp có quy định pháp luật về việc thu hồi giấy phép, chứng chỉ hành nghề". Theo quy định nêu trên thì không nên quy định việc tước Chứng chỉ hành nghề luật sư trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP nữa vì thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư đã được quy định tại Điều 18 Luật Luật sư.
Vì vậy, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị Chính phủ rà soát, xem xét lại nội dung khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP về việc giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, Chứng chỉ hành nghề luật sư.
[...]
Trên đây là thông tin: LĐLSVN kiến nghị tạm đình chỉ khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP theo Công văn 197 LĐLSVN BTV ra sao?
Xem thêm:
>>> Mức phạt tiền Luật sư xúi giục khách hàng khai sai sự thật từ 18/5/2026 là bao nhiêu?

LĐLSVN kiến nghị tạm đình chỉ khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP theo Công văn 197 ra sao? (Hình từ Internet)
Để hành nghề luật sư phải đáp ứng điều kiện gì?
Căn cứ theo Điều 11 Luật Luật sư 2006 quy định để hành nghề luật sư thì phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.
- Có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.
Người hành nghề luật sư phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
Căn cứ theo Điều 5 Luật Luật sư 2006 được sửa đổi bởi khoản 37 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi 2012 quy định người hành nghề luật sư phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
Điều 5. Nguyên tắc hành nghề luật sư
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
2. Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
3. Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.
4. Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư.
Như vậy, người hành nghề luật sư phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
- Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
- Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.
- Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư.
Lưu ý: Nghị định 109/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 18/5/2026.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];