Có các phương thức mua bán nợ ngân hàng nào?
Căn cứ theo Điều 10 Thông tư 33/2026/TT-NHNN quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định lựa chọn một trong các phương thức mua bán nợ sau:
- Thỏa thuận: Mua, bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới.
- Đấu giá: Bên bán nợ ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.
Vừa rồi là thông tin về câu trả lời câu hỏi: "Có các phương thức mua bán nợ ngân hàng nào?"
>>> Xem thêm: Thông tư 50/2026/TT-NHNN quy định giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn của ngân hàng thương mại thế nào?
>>> Xem thêm: DATC là gì? Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Mua bán nợ Việt Nam quy định ra sao?

Có các phương thức mua bán nợ ngân hàng nào? (Hình từ Internet)
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện định giá khoản nợ để xác định nội dung gì?
Căn cứ tại Điều 11 Thông tư 33/2026/TT-NHNN quy định về định giá khoản nợ như sau:
Điều 11. Định giá khoản nợ
1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện định giá khoản nợ để xác định:
a) Giá khởi điểm đối với trường hợp mua, bán nợ theo phương thức bán đấu giá;
b) Giá để đàm phán mua, bán nợ đối với trường hợp mua, bán nợ theo phương thức thỏa thuận.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được quyền xem xét lựa chọn việc định giá khoản nợ theo các phương thức sau:
a) Tự định giá khoản nợ;
b) Thuê doanh nghiệp thẩm định giá có đủ điều kiện theo quy định pháp luật về Giá để thực hiện xác định giá trị khoản nợ.
3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tự định giá khoản nợ theo một hoặc các cơ sở sau:
a) Giá trị ghi sổ khoản nợ được mua, bán tại thời điểm định giá, phân loại nhóm khoản nợ, tài sản bảo đảm (nếu có), tình hình tài chính của bên nợ và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá trị khoản nợ (nếu có) tại thời điểm định giá;
b) Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành.
Như vậy, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện định giá khoản nợ để xác định:
- Giá khởi điểm đối với trường hợp mua, bán nợ theo phương thức bán đấu giá;
- Giá để đàm phán mua, bán nợ đối với trường hợp mua, bán nợ theo phương thức thỏa thuận.
Mua bán nợ trong trường hợp bên mua nợ chưa thanh toán đủ số tiền mua nợ theo Thông tư 33 thế nào?
Theo Điều 12 Thông tư 33/2026/TT-NHNN quy định mua bán nợ trong trường hợp bên mua nợ chưa thanh toán đủ số tiền mua nợ như sau:
Trường hợp bên mua nợ và bên bán nợ có thỏa thuận về việc bên mua nợ được trả tiền mua nợ (một phần hoặc toàn bộ số tiền mua nợ) sau thời điểm bên mua nợ đã nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán nợ thì các bên phải đảm bảo các yêu cầu sau:
(1) Thời hạn hoàn thành thanh toán số tiền mua, bán nợ còn lại của bên mua nợ cho bên bán nợ tối đa là 60 ngày, tính từ ngày bên mua nợ nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán nợ.
(2) Trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, số tiền mà bên mua nợ chưa thanh toán đủ cho bên bán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán nợ phải được bảo đảm 100% khả năng thanh toán bằng các loại tài sản có tính thanh khoản cao, bao gồm:
- Tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành;
- Vàng miếng theo quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh vàng;
- Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
- Trái phiếu doanh nghiệp được xếp hạng mức AA- trở lên (theo Standard & Poor's hoặc Fitch Ratings) hoặc từ mức Aa3 trở lên (theo Moody's) và được niêm yết trên thị trường chứng khoán;
- Cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (trừ: các cổ phiếu bị cảnh cáo, kiểm soát, bị tạm ngừng, đình chỉ hoặc hạn chế giao dịch theo quy định của pháp luật và quy chế của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam tại thời điểm ký hợp đồng bảo đảm và các cổ phiếu có khối lượng giao dịch dưới 300.000 cổ phiếu/ngày, tính trong 10 ngày giao dịch liền kề trước ngày ký hợp đồng bảo đảm).
(3) Giá trị của các tài sản dùng để bảo đảm cho số tiền mua nợ được trả sau quy định tại khoản 2 Điều 12 Thông tư 33/2026/TT-NHNN được xác định theo nguyên tắc xác định giá trị tài sản bảo đảm để tính khấu trừ khi trích lập dự phòng rủi ro tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm.
(4) Trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt mua nợ theo phương án cơ cấu lại được cấp có thẩm quyền phê duyệt và sử dụng khoản nợ được mua này để làm tài sản bảo đảm cho khoản vay đặc biệt tại Ngân hàng Nhà nước, việc bảo đảm cho số tiền mua nợ mà bên mua nợ được trả sau thời điểm bên mua nợ đã nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ được mua từ bên bán nợ (nếu có) do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
(5) Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm cho số tiền mua nợ được trả sau bị suy giảm, việc bổ sung, thay thế tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận nhưng tài sản bảo đảm được bổ sung, thay thế phải đáp ứng quy định tại khoản 2, 3 Điều 12 Thông tư 33/2026/TT-NHNN. Việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ và các vấn đề khác phát sinh trong trường hợp mua, bán nợ quy định tại Điều này do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định pháp luật có liên quan.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];