Bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp nào?

Phan Vũ Hiền Mai 353 lượt xem
09:08 | 23/10/2025
Bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp nào? Các biện pháp nào thúc đẩy bình đẳng giới?
Nội dung chính
  1. Bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp nào?
  2. Các biện pháp nào thúc đẩy bình đẳng giới?
  3. Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới có bị xử lý hình sự không?

Bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp nào?

Ngày 09/11/1946, Quốc hội ban hành Hiến pháp 1946.

Tại Điều thứ 7 Hiến pháp 1946 quy định tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình.

Như vậy, bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp 1946

* Trên đây là thông tin về Bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp nào?

Xem thêm:

>> Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức kỳ họp Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) lần thứ 132 vào thời gian nào?

>> Tháng 9/2023, Quốc hội Việt Nam đã đăng cai tổ chức Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9 về chủ đề gì?

Bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp nào?

Bình đẳng giới lần đầu tiên được khẳng định tại bản Hiến pháp nào? (Hình từ Internet)

Các biện pháp nào thúc đẩy bình đẳng giới?

Căn cứ Điều 19 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới:

Điều 19. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
1. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:
a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;
b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;
c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;
d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;
đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;
e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;
g) Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định tại khoản 5 Điều 11, khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 13, khoản 5 Điều 14 của Luật này.
2. Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ có thẩm quyền quy định biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới quy định tại khoản 1 Điều này, có trách nhiệm xem xét việc thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới và quyết định chấm dứt thực hiện khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

Theo quy định trên, các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

- Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng

- Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam

- Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam

- Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam

- Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam

- Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

+ Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

+ Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

+ Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động

+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ

+ Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới có bị xử lý hình sự không?

Căn cứ Điều 42 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới:

Điều 42. Các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
1. Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo quy định trên, người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phan Vũ Hiền Mai
Phan Vũ Hiền Mai Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Bài viết mới nhất