- Bên cung ứng đối với việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng cần đáp ứng những yêu cầu nào?
- Nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được quy định như thế nào?
- Bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được quy định như thế nào?
Bên cung ứng đối với việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng cần đáp ứng những yêu cầu nào?
Căn cứ khoản 1 Điều 5 Nghị định 180/2026/NĐ-CP quy định bên cung ứng đối với việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng cần đáp ứng những yêu cầu sau:
- Xây dựng, đăng ký dự án các bon rừng; tổ chức đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; được cấp tín chỉ các bon rừng theo quy định tại Nghị định 180/2026/NĐ-CP.
- Thực hiện nghĩa vụ đóng góp kết quả giảm phát thải và các nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí (nếu có) theo quy định của pháp luật.
- Việc cung ứng dịch vụ được thực hiện thông qua trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các bon.
- Chỉ được trao đổi, chuyển nhượng lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các bon rừng sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định 180/2026/NĐ-CP.

Bên cung ứng đối với việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng cần đáp ứng những yêu cầu nào? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được quy định như thế nào?
Theo Điều 3 Nghị định 180/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng như sau:
- Hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.
- Việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng không được ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.
- Kết quả giảm phát thải, tín chỉ các bon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các bon thì bên cung ứng hoặc đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng không được trao đổi, chuyển nhượng cho các bên sử dụng khác.
- Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các-bon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các bon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (cơ quan chuyên môn cấp tỉnh) thực hiện; chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các bon rừng do chủ rừng thực hiện.
- Nguồn tiền thu được từ trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng của chủ rừng là tổ chức đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được ưu tiên hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế cho cộng đồng dân cư, xây dựng dự án các-bon rừng, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xây dựng cơ sở dữ liệu về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Việc trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng ra thị trường quốc tế thực hiện theo quy định của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải, tín chỉ các bon.
- Chủ rừng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án các-bon rừng; xây dựng, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ các-bon rừng và chia sẻ kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng theo quy định của pháp luật.
Bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được quy định như thế nào?
Điều 4 Nghị định 180/2026/NĐ-CP quy định bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được như sau:
- Bên cung ứng dịch vụ, gồm:
+ Chủ rừng quy định tại Điều 8 Luật Lâm nghiệp 2017.
+ Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức khác không quy định tại điểm a khoản này được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017.
- Bên sử dụng dịch vụ, gồm:
+ Cơ sở phát thải khí nhà kính được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn có nhu cầu tự nguyện sử dụng dịch vụ để bù trừ hạn ngạch phát thải vượt mức.
+ Tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại điểm a khoản này có nhu cầu sử dụng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng.
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan tại Việt Nam; tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài; cá nhân mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];