Danh sách 4 Phòng Thi hành án dân sự khu vực tỉnh Lai Châu từ 1/7/2025 thế nào?
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu đã Thông báo 689/TB-CTHADS năm 2025 V/v cung cấp thông tin thay đổi tổ chức, bộ máy cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu.
Theo đó, từ ngày 01/7/2025, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu được đổi tên thành Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu, quản lý 4 Phòng Thi hành án dân sự khu vực.
Danh sách 4 Phòng Thi hành án dân sự khu vực tỉnh Lai Châu chi tiết như sau:
STT | Tên gọi | Địa chỉ | Số điện thoại |
1 | Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Lai Châu | Phường Đoàn Kết, tỉnh Lai Châu | 0832.848.234 |
2 | Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Lai Châu | Xã Tân Uyên | 0386.590.676 |
3 | Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Lai Châu | Thị trấn Phong Thổ, tỉnh Lai Châu | 0394.736.108 |
4 | Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Lai Châu | Xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu | 0843.132.702 |

Danh sách 4 Phòng Thi hành án dân sự khu vực tỉnh Lai Châu từ 1/7/2025 thế nào? (Hình từ Internet)
Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án dân sự phải ghi các nội dung nào?
Căn cứ theo Điều 21 Nghị định 62/2015/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP, quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án dân sự phải ghi rõ các nội dung dưới đây:
- Ngày, tháng, năm ban hành quyết định;
- Căn cứ ban hành quyết định;
- Tên tài khoản, số tài khoản của người phải thi hành án;
- Tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng nơi mở tài khoản;
- Số tiền phải khấu trừ;
- Tên tài khoản, số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận khoản tiền bị khấu trừ;
- Thời hạn thực hiện việc khấu trừ.
Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản đối với một hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án, nếu có.
Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng có trách nhiệm thực hiện ngay quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản; nếu không thực hiện ngay mà đương sự tẩu tán tiền trong tài khoản dẫn đến việc không thể thi hành được cho người được thi hành án thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong thi hành án dân sự có trách nhiệm gì?
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 62/2015/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong thi hành án dân sự có trách nhiệm dưới đây:
- Trong phạm vi quyền hạn do pháp luật quy định, Ủy ban nhân dân các cấp, Tư lệnh quân khu và tương đương có trách nhiệm phối hợp chỉ đạo và tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thực thi chính sách, pháp luật về thi hành án dân sự; chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện tốt việc quản lý hoạt động thi hành án dân sự trên địa bàn.
- Trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự để chỉ đạo đối với các việc thi hành án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương;
Theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự để tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự.
- Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được thi hành án đối với khoản tiền, tài sản thuộc sở hữu nhà nước không yêu cầu thi hành án thì cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp; cơ quan đại diện chủ sở hữu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó có trách nhiệm chỉ đạo việc yêu cầu thi hành án.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];