11:14 | 12/10/2022
Loading...

Trong tất cả trường hợp vận chuyển chậm thì hãng hàng không có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không?

Hãng hàng không có phải bồi thường thiệt hại xảy ra trong tất cả trường hợp vận chuyển hàng hóa bị chậm không? Người vận chuyển hàng hóa tại cảng hàng không có được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vận chuyển hàng hóa bị lỗi không? Mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển hàng hóa tại cảng hàng không được quy định như thế nào?  Kính chào anh chị Luật sư. Tôi thường xuyên phải di chuyển đi công tác và tôi hay chọn máy bay để đi lại. Vừa qua, sau khi đáp sân bay thì tôi đợi để lấy hành lý đi cùng nhưng đợi 2h đồng hồ không thấy hành lý đâu cả. Vậy trường hợp này, hãng hàng không có phải bồi thường thiệt hại xảy ra trong tất cả trường hợp vận chuyển hàng hóa bị chậm không? Mong anh chị tư vấn. Tôi cảm ơn. 

1. Hãng hàng không có phải bồi thường thiệt hại xảy ra trong tất cả trường hợp vận chuyển hàng hóa bị chậm không? 

Tại Điều 163 Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006 quy định bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển, theo đó: 

Người vận chuyển phải mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tính mạng, sức khoẻ của hành khách, việc mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hàng hóa, hành lý và do vận chuyển chậm hoặc thực hiện các biện pháp bảo đảm khác đến mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển quy định tại Điều 166 của Luật này.

Điều 164 Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006 quy định bồi thường thiệt hại do vận chuyển chậm, như sau: 

1. Người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra do vận chuyển chậm, trừ trường hợp chứng minh được mình, nhân viên và đại lý của mình không thể áp dụng hoặc đã áp dụng mọi biện pháp để tránh thiệt hại nhưng thiệt hại vẫn xảy ra.

2. Việc bồi thường thiệt hại do vận chuyển chậm không vượt quá mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 166 của Luật này.

Với quy định này, thì hãng hàng không sẽ không phải bồi thường thiệt hại xảy ra cho bạn trong tất cả các trường hợp vận chuyển hành lý bị chậm nếu phía hãng hàng không chứng minh được nhân viên và đại lý của họ không thể áp dụng, hoặc đã áp dụng mọi biện pháp để tránh thiệt hại nhưng thiệt hại vẫn xảy ra.

2. Người vận chuyển hàng hóa tại cảng hàng không có được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vận chuyển hàng hóa bị lỗi không? 

Theo Khoản 30 Điều 1 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi 2014 có quy định như sau: 

3. Người vận chuyển được miễn một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hàng hóa tương ứng với mức độ thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

a) Do đặc tính tự nhiên hoặc khuyết tật vốn có của hàng hóa;

b) Do quyết định của Tòa án hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hàng hóa;

c) Do xảy ra chiến tranh hoặc xung đột vũ trang;

d) Do lỗi của người gửi, người nhận hàng hóa hoặc do lỗi của người áp tải được người gửi hàng hoặc người nhận hàng cử đi kèm hàng hóa.

Theo đó, người vận chuyển hàng hóa tại cảng hàng không sẽ được miễn một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vận chuyển hàng hóa bị lỗi nếu thuộc một trong các trường hợp trên. 

3. Mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển hàng hóa tại cảng hàng không được quy định như thế nào? 

Căn cứ Điều 166 Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006 quy định mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển, cụ thể như sau: 

1. Người vận chuyển được hưởng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

a) Đối với vận chuyển hành khách, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của hành khách là một trăm nghìn đơn vị tính toán cho mỗi hành khách;

b) Đối với vận chuyển hành khách, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vận chuyển chậm là bốn nghìn một trăm năm mươi đơn vị tính toán cho mỗi hành khách;

c) Đối với vận chuyển hành lý, bao gồm cả hành lý ký gửi và hành lý xách tay, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc do vận chuyển chậm là một nghìn đơn vị tính toán cho mỗi hành khách; trường hợp hành khách có kê khai giá trị của việc nhận hành lý ký gửi tại địa điểm đến và trả một khoản phí bổ sung thì người vận chuyển phải bồi thường theo mức giá trị đã được kê khai, trừ trường hợp người vận chuyển chứng minh được rằng giá trị đã kê khai lớn hơn giá trị thực tế;

d) Đối với vận chuyển hàng hóa, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc do vận chuyển chậm là mười bảy đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam hàng hóa; trường hợp người gửi hàng có kê khai giá trị của việc nhận hàng hóa tại nơi đến và trả một khoản phí bổ sung thì người vận chuyển phải bồi thường theo mức giá trị đã được kê khai, trừ trường hợp người vận chuyển chứng minh được rằng giá trị đã kê khai lớn hơn giá trị thực tế.

2. Đơn vị tính toán là đơn vị tiền tệ do Quỹ tiền tệ quốc tế xác định và được quy ước là Quyền rút vốn đặc biệt. Đơn vị tính toán được chuyển đổi sang Đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán.

3. Trọng lượng của kiện hàng hóa bị mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc bị vận chuyển chậm được sử dụng để xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển trong trường hợp vận chuyển hàng hóa. Trường hợp phần hàng hóa bị mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc vận chuyển chậm làm ảnh hưởng đến giá trị của các kiện hàng hóa khác trong cùng một vận đơn hàng không hoặc biên lai hàng hóa thì trọng lượng của toàn bộ các kiện hàng hóa được sử dụng để xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển.

4. Người vận chuyển chỉ được hưởng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại điểm a khoản 1 Điều này trong trường hợp người vận chuyển chứng minh được rằng thiệt hại xảy ra không phải do lỗi của mình hoặc hoàn toàn do lỗi của bên thứ ba.

5. Người vận chuyển không được hưởng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này trong trường hợp người vận chuyển, nhân viên hoặc đại lý của người vận chuyển thực hiện hành vi gây thiệt hại một cách cố ý hoặc do sự cẩu thả nhưng với nhận thức rằng thiệt hại có thể xảy ra. Trong trường hợp hành vi đó do nhân viên hoặc đại lý thực hiện thì phải chứng minh được rằng nhân viên hoặc đại lý đó đã hành động khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

6. Trong trường hợp cần thiết, Chính phủ quyết định tăng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này.

Như vậy, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển hàng hóa tại cảng hàng không được thực hiện theo quy định nêu trên.

Trân trọng!

Đi đến trang Tìm kiếm nội dung Tư vấn pháp luật - Bồi thường thiệt hại

Nguyễn Minh Tài

TRA CỨU HỎI ĐÁP
Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại
Hỏi đáp mới nhất về Bồi thường thiệt hại
Hỏi đáp pháp luật
Tiktoker có đang xúc phạm danh dự của người khác khi đăng clip chê người khác nghèo không?
Hỏi đáp pháp luật
Có phải bồi thường thiệt hại khi giao xe máy cho người có nồng độ cồn điều khiển gây tai nạn không?
Hỏi đáp pháp luật
Xây nhà để nước mưa chảy qua nhà hàng xóm có được không?
Hỏi đáp pháp luật
Có được dẫn nước mưa xả qua nhà hàng xóm không?
Hỏi đáp pháp luật
Người bị phạt tù oan thì ai chịu trách nhiệm bồi thường?
Hỏi đáp Pháp luật
Chính thức: Đã có Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Hỏi đáp pháp luật
Kế hoạch phục hồi môi trường có những nội dung gì? Nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường?
Hỏi đáp pháp luật
Phục hồi môi trường sau sự cố môi trường được thực hiện ra sao?
Hỏi đáp pháp luật
Trong tất cả trường hợp vận chuyển chậm thì hãng hàng không có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không?
Hỏi đáp pháp luật
Trường hợp mua hàng kém chất lượng có nên kiện không? Bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra?
Căn cứ pháp lý
Đặt câu hỏi

Quý khách cần hỏi thêm thông tin về Bồi thường thiệt hại có thể đặt câu hỏi tại đây.

Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Giấy phép số: 27/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 09/05/2019.
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3930 3279
Địa chỉ: P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;
Địa điểm Kinh Doanh: Số 17 Nguyễn Gia Thiều, P. Võ Thị Sáu, Q3, TP. HCM;
Chứng nhận bản quyền tác giả số 416/2021/QTG ngày 18/01/2021, cấp bởi Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch
Thông báo
Bạn không có thông báo nào