|
QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Luật số: 127/2025/QH15
|
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2025
|
LUẬT
THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
Thi hành án hình sự.
Chương
I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định về án phạt
tù, tử hình, trục xuất, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế,
tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định, án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hình phạt đình chỉ
hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động
trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, biện pháp tư pháp; quyền,
nghĩa vụ của người, pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự, biện pháp tư
pháp; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án
hình sự, biện pháp tư pháp; hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự.
Điều
2. Bản án, quyết định được thi hành
1. Bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành.
2. Bản án, quyết định của
Tòa án được thi hành ngay theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc kể từ
ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Quyết định của Tòa
án tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành
án và đã có quyết định thi hành; quyết định của Tòa án chuyển giao người đang
chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài.
4. Quyết định của Viện
kiểm sát được thi hành theo quy định của pháp luật.
5. Bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh, buộc
khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục,
ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra đối với pháp nhân thương mại thuộc thẩm quyền
của cơ quan thi hành án hình sự.
Điều
3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ
ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người chấp hành
án là người bị kết án, phải chịu hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành.
2. Phạm nhân là
người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
3. Người
thân thích của người chấp hành án (sau đây gọi là người thân thích) bao gồm
vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi,
con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột,
chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì
ruột, cô ruột, cháu ruột, chắt ruột của họ.
4. Cơ sở giam giữ phạm
nhân là nơi tổ chức quản lý, giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân, bao gồm
trại giam, trại tạm giam.
5. Thi hành án phạt
tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người
bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chịu sự quản lý giam giữ,
giáo dục cải tạo.
6. Thi hành án tử
hình là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này tước bỏ
tính mạng của người bị kết án tử hình.
7. Thi hành quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định
của Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù
trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt tù.
8. Thi hành quyết định
tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định của Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
9. Thi hành án treo
là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này quản lý, giám
sát, giáo dục người bị kết án phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử
thách.
10. Thi hành quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện là việc cơ quan, người có thẩm quyền
theo quy định của Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách.
11. Thi hành án phạt
cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của
Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án tại nơi cư trú hoặc nơi
làm việc, học tập; khấu trừ một phần thu nhập sung quỹ nhà nước, giám sát việc
thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật.
12. Thi hành án phạt
cấm cư trú là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này
buộc người chấp hành án không được tạm trú, thường trú ở một số địa phương nhất
định theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
13. Thi hành án phạt
quản chế là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc
người chấp hành án phải cư trú và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự quản
lý, kiểm soát, giáo dục của chính quyền và Nhân dân địa phương theo bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
14. Thi hành án phạt
trục xuất là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này
buộc người chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
15. Thi hành án phạt
tước một số quyền công dân là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định của
Luật này thực hiện việc tước một hoặc một số quyền công dân của người chấp hành án
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
16. Thi hành án phạt
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là việc
cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp
hành án không được đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
17.
Thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là việc cơ quan, người có
thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội hoặc người chấp hành án mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi phải điều trị tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh theo quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát.
18. Áp giải trong
thi hành án hình sự là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của
Luật này buộc người chấp hành án phạt tù, tử hình, trục xuất đến nơi để chấp
hành án hoặc buộc người có quyết định trưng cầu
giám định pháp y, pháp y tâm thần đến nơi thực hiện giám định.
19. Trích xuất
là việc thực hiện quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của
Luật này đưa phạm nhân, người bị kết án tử hình ra khỏi nơi quản lý và chuyển
giao cho cơ quan, người có thẩm quyền để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử, khám bệnh, chữa bệnh, quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, phục vụ trưng
cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần, hiến mô, bộ phận cơ thể và tham gia thực hiện quyền, nghĩa
vụ khác của phạm nhân, người bị kết án tử hình theo quy định của pháp luật
trong thời hạn nhất định.
20. Danh bản là
bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch, nhân dạng, ảnh chụp 03 tư thế, in dấu vân hai
ngón tay trỏ của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp do cơ
quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
21. Chỉ bản là bản
ghi thông tin tóm tắt về lý lịch và in dấu vân của
tất cả các ngón tay, in bàn tay trái và in bàn
tay phải của người chấp hành án do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
22. Pháp nhân thương
mại chấp hành án là pháp nhân thương mại bị kết án, phải chịu hình phạt, biện
pháp tư pháp theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
23. Thi hành hình phạt
đình chỉ hoạt động có thời hạn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải tạm dừng hoạt
động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động
có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
24. Thi hành hình phạt
đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy
định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải chấm dứt ngay hoạt
động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động
vĩnh viễn hoặc toàn bộ hoạt động bị đình chỉ vĩnh viễn theo bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
25. Thi hành hình phạt
cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là việc cơ
quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại
chấp hành án không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động đối với ngành, nghề
trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật.
26. Thi hành hình phạt
cấm huy động vốn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật
này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án không được thực hiện một hoặc một số
hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm theo bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật.
27.
Cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại chấp hành án là cơ
quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng ký, cấp giấy
phép, chấp thuận cho pháp nhân thương mại hoạt động, giám sát, theo dõi pháp nhân
thương mại hoạt động được cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền yêu cầu thực
hiện một hoặc một số nhiệm vụ để bảo đảm thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp
đối với pháp nhân thương mại chấp hành án.
Điều
4. Nguyên tắc thi hành án hình sự
1. Tuân thủ Hiến pháp,
pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
2. Bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
3. Bảo đảm nhân đạo xã
hội chủ nghĩa; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người
chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của
pháp nhân thương mại chấp hành án.
4. Kết hợp trừng trị và
giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải
trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học
vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.
5. Khuyến khích người
chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi
thường thiệt hại.
6. Bảo đảm quyền khiếu
nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền
trong thi hành án hình sự.
7. Bảo đảm sự tham gia
của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong hoạt động thi hành án hình sự,
tái hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật.
8. Ứng dụng khoa học,
công nghệ, chuyển đổi số và hiện đại hóa hoạt động thi hành án hình sự.
Điều
5. Giám sát, kiểm sát việc thi hành án hình sự
1. Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức,
người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi
hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Viện kiểm sát nhân
dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền và cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi hành án hình sự.
Điều
6. Hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự
1. Hợp tác quốc tế
trong thi hành án hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam với cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài được thực
hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với Hiến
pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trường hợp giữa Việt
Nam và nước có liên quan chưa có điều ước quốc tế thì việc hợp tác quốc tế
trong thi hành án hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng
không trái với Hiến pháp của Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập
quán quốc tế.
Điều
7. Các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự
1. Phá hủy cơ sở quản
lý, giam giữ; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cơ sở quản lý, giam giữ;
tổ chức trốn hoặc trốn khỏi nơi quản lý, giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi
đang bị áp giải, dẫn giải; đánh tháo phạm nhân, người chấp hành biện pháp tư
pháp, người bị áp giải, dẫn giải.
2. Không chấp hành quyết
định thi hành án hình sự; cản trở hoặc chống lại việc thực hiện nội quy, quy chế
về thi hành án hình sự hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền
trong thi hành án hình sự.
3. Tổ chức, kích động,
xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về
thi hành án hình sự; trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
tài sản của người có trách nhiệm thi hành án hình sự.
4. Không ra quyết định
thi hành án hình sự; không thi hành quyết định trả tự do theo quy định của pháp
luật và quyết định khác của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình
sự.
5. Đưa hối lộ, nhận hối
lộ, môi giới hối lộ, nhũng nhiễu trong thi hành án hình sự.
6. Tha trái pháp luật
người đang bị giam, người bị áp giải thi hành án; thiếu trách nhiệm trong việc
quản lý, canh gác, áp giải thi hành án để người chấp hành án phạt tù, án tử
hình hoặc án phạt trục xuất trốn.
7. Lợi dụng, lạm dụng
chức vụ, quyền hạn để đề nghị miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời
hạn có điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách cho người không đủ điều kiện;
không đề nghị cho người đủ điều kiện được miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha
tù trước thời hạn có điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách; đề nghị hoặc
không đề nghị chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp, hoãn,
đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp; cản trở người, pháp nhân thương mại chấp
hành án thực hiện các quyền theo quy định của Luật này.
8. Tra tấn và các hình
thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục người chấp hành
án, biện pháp tư pháp; lợi dụng, lạm dụng chức
vụ, quyền hạn để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án; trù dập,
trả thù người tố cáo, người khiếu nại trong thi hành án hình sự.
9. Kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của người, pháp nhân thương mại chấp hành án.
10. Cấp hoặc từ chối cấp
trái quy định của pháp luật quyết định, chứng nhận, xác nhận hoặc giấy tờ khác
về thi hành án hình sự.
11. Làm sai lệch hồ sơ,
sổ sách về thi hành án hình sự.
Điều
8. Hệ thống tổ chức thi hành án hình sự
1. Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự bao gồm:
a) Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an;
b) Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án
hình sự bao gồm:
a) Trại giam thuộc Bộ
Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng (sau đây gọi là trại giam);
b) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an tỉnh, thành phố (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh);
c) Cơ quan thi hành án
hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu).
3. Cơ quan được giao một
số nhiệm vụ thi hành án hình sự bao gồm:
a) Trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp
tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là trại tạm giam);
b) Ủy ban nhân dân cấp
xã;
c) Đơn vị quân đội cấp
trung đoàn và tương đương (sau đây gọi là đơn vị quân đội);
d) Công an xã, phường,
đặc khu (sau đây gọi là Công an cấp xã).
4.
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết tổ chức bộ máy
của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự.
Điều
9. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an
1. Giúp Bộ trưởng Bộ
Công an thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thi hành
pháp luật về thi hành án hình sự;
b) Chỉ đạo nghiệp vụ,
hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án
hình sự;
c) Tổng kết công tác
thi hành án hình sự.
2. Kiểm tra công tác
thi hành án hình sự.
3. Quyết định đưa người
chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án; quyết định điều chuyển người chấp hành án phạt tù giữa các cơ
sở giam giữ phạm nhân.
4. Trực tiếp quản lý trại
giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an.
5. Thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo.
6. Giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
7. Thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn khác theo quy định của Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ
Công an giao.
Điều
10. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng
1. Giúp Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thi hành
pháp luật về thi hành án hình sự;
b) Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng
dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự
trong quân đội;
c) Tổng kết công tác
thi hành án hình sự trong quân đội.
2. Kiểm tra công tác
thi hành án hình sự trong quân đội.
3. Quyết định đưa người
chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án; quyết
định điều chuyển người chấp hành án phạt tù giữa các cơ sở giam giữ phạm nhân.
4. Trực tiếp quản lý trại
giam thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo.
6. Giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
7. Thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn khác theo quy định của Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng giao.
Điều
11. Nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
1. Giúp Giám đốc Công
an cấp tỉnh quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn:
a) Chỉ đạo nghiệp vụ và
kiểm tra công tác thi hành án hình sự đối với trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh,
Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã;
b) Tổng kết công tác
thi hành án hình sự và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự Bộ Công an.
2. Tiếp nhận bản án,
quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách
người chấp hành án phạt tù, báo cáo Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định đưa đến nơi chấp hành án.
3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định pháp y,
pháp y tâm thần
đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần,
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
4. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn
có điều kiện, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh đối với người chấp hành án theo quy định
của Luật này.
Đề nghị Tòa án có thẩm
quyền xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho người bị kết án phạt tù
đang tại ngoại, buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm
nghĩa vụ và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp
hành, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, đối với
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, giảm thời hạn chấp hành án phạt
cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành thời hạn còn lại đối với người chấp hành
án phạt quản chế, cấm cư trú.
5. Tổ chức tiếp nhận người bị kết án phạt tù do nước ngoài
chuyển giao về Việt Nam chấp hành án theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền,
hoàn chỉnh hồ sơ thi hành án, báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự ra
quyết định đưa đến nơi chấp hành án.
Thông báo cho cơ quan đại
diện ngoại giao của nước mà người chấp hành án là người nước ngoài có quốc tịch
trong trường hợp tiếp nhận quyết định thi hành án; giảm, miễn thời hạn chấp
hành án; chấp hành xong án phạt hoặc người chấp hành án chết.
6. Tổ chức thi hành án đối với người chấp hành án treo, án phạt
cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, quản chế; tổ chức quản lý
người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện.
Tổ chức thi hành án phạt
trục xuất; tham gia thi hành án tử hình; quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm
giữ, tạm giam theo quy định của Luật này; trực tiếp quản lý cơ sở lưu trú thuộc Công an cấp tỉnh.
7. Tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt, ADN, giọng nói
của người chấp hành hình phạt chính là cảnh
cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, án treo trong trường hợp chưa có thông tin trong cơ sở dữ liệu.
8. Ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt người chấp hành
án bỏ trốn.
9. Quyết định trích xuất hoặc thực hiện lệnh trích xuất theo
yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
10. Lập hồ sơ, tổ chức thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối
với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.
11. Cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp
hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm quyền.
12. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo
quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
13. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật
này.
Điều
12. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
1. Giúp Tư lệnh cấp
quân khu quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn quân khu và
tương đương:
a) Chỉ đạo nghiệp vụ và
kiểm tra công tác thi hành án hình sự;
b) Tổng kết công tác thi hành án hình sự và thực hiện thống
kê, báo cáo theo hướng dẫn của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
2. Tiếp nhận bản án,
quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách
người chấp hành án phạt tù, báo cáo Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa đến nơi chấp hành án.
3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định pháp y,
pháp y tâm thần
đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần,
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
4. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn
có điều kiện, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh đối với người chấp hành án theo quy định
của pháp luật.
Đề nghị Tòa án có thẩm
quyền xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho người bị kết án phạt tù
đang tại ngoại, buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm
nghĩa vụ và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp
hành, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, đối với
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, giảm thời hạn chấp hành án phạt
cải tạo không giam giữ.
5. Áp giải thi hành án đối với người bị kết án phạt tù đang
được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ, người bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt
tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị Tòa án hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện.
6. Tổ chức thi hành án đối với người chấp hành án treo, án phạt
cải tạo không giam giữ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định; tổ chức quản lý người được hoãn, tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Tham gia thi hành án tử
hình; quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của Luật
này.
7. Tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt, ADN, giọng nói
của người chấp hành hình phạt chính là cảnh
cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, án treo trong
trường hợp chưa có thông tin trong cơ sở dữ liệu.
8. Ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt người chấp hành
án bỏ trốn.
9. Quyết định trích xuất hoặc thực hiện lệnh trích xuất theo
yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
10. Lập hồ sơ, tổ chức thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp
nhân thương mại theo quy định của Luật này.
11. Cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp
hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm quyền.
12. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo
quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
13. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy
định của Luật này.
Điều
13. Nhiệm vụ,
quyền hạn của trại giam
1. Trại giam có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận phạm nhân, con của phạm nhân dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào
trại giam; thu thập thông tin sinh trắc học gồm
mống mắt, ADN, giọng nói của phạm nhân trong trường hợp chưa có thông tin trong cơ sở dữ liệu; tổ chức
quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân;
b) Thông báo cho gia đình của phạm nhân về việc
tiếp nhận phạm nhân và tình hình chấp hành án của người đó;
c) Lập hồ sơ và đề nghị
Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với phạm nhân theo quy định của pháp luật;
d) Thực hiện lệnh trích
xuất của cơ quan, người có thẩm quyền;
đ) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc cung cấp
thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, việc thu, trả tiền, tài sản có
liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án dân sự, người được thi hành
án dân sự;
e) Cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, chứng nhận tha
tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Làm thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân chết, con của
phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam chết;
h) Áp giải, bàn giao phạm nhân là người nước ngoài theo quyết
định của Tòa án về việc chuyển giao phạm nhân; tiếp nhận, tổ chức quản lý giam
giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân là công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt
tù ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án; thực hiện các quy
định của Luật này về thi hành án phạt trục xuất;
i) Thực hiện thống kê, báo cáo về thi hành án phạt tù;
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp
luật.
2. Giám thị trại giam
có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của trại giam theo quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Ra quyết định phân
loại và tổ chức giam giữ phạm nhân theo loại; quyết định xếp loại chấp hành án phạt
tù, quyết định nâng, hạ loại phạm nhân, quyết định công nhận phạm nhân vi phạm
kỷ luật đã tiến bộ, quyết định một số biện pháp điều tra theo quy định của pháp
luật về tố tụng hình sự và pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự; quyết
định khen thưởng, kỷ luật phạm nhân, tập thể tổ, đội phạm nhân;
c)
Quyết định kiểm tra, thu giữ, xử lý đồ vật thuộc danh mục đồ vật cấm;
d) Quyết định trích xuất
phạm nhân;
đ) Ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức
truy bắt kịp thời phạm nhân trốn trại giam; quyết định đình nã khi bắt được phạm
nhân trốn trại giam.
3. Phó Giám thị trại
giam thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Giám thị theo sự phân công hoặc ủy quyền
của Giám thị và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
Điều
14. Nhiệm vụ,
quyền hạn của trại tạm giam trong thi hành án hình sự
1. Trực tiếp quản lý,
giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam theo quy định
của Luật này; tổ chức lao động, học nghề cho phạm
nhân bảo đảm yêu cầu phục vụ tạm giữ, tạm giam và khả năng của trại tạm giam.
2. Tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt, ADN, giọng nói
của phạm nhân trong trường hợp chưa có thông tin
trong cơ sở dữ liệu.
3. Lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định
giảm thời hạn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời
hạn có điều kiện cho phạm nhân, trưng cầu giám
định pháp y, pháp y tâm thần, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
4. Cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, chứng nhận tha
tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Quyết định trích xuất và tổ chức thực hiện trích xuất theo
quy định của Luật này.
6. Phối hợp với cơ quan thi
hành án dân sự trong việc cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản,
việc thu, trả tiền, tài sản có liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành
án dân sự, người được thi hành án dân sự.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều
15. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự
1. Ra quyết định thi hành án.
2. Quyết định thành lập
Hội đồng thi hành án tử hình.
3. Ra quyết định hoặc hủy
quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều
kiện; quyết định đình chỉ thi hành án; quyết định miễn chấp hành án, giảm thời
hạn chấp hành án; quyết định rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng
án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; quyết định buộc người
được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù
của bản án đã cho hưởng án treo; quyết định kéo
dài thời hạn trục xuất; quyết định áp dụng hoặc hủy
quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh,
quyết định đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
4. Xem xét, giải quyết
việc cho nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình.
5. Gửi bản án, quyết định
được thi hành và quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tài liệu
có liên quan cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này.
6. Ra quyết định tiếp nhận phạm nhân là công dân Việt Nam phạm
tội và bị kết án phạt tù ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành
án, chuyển giao phạm nhân là người nước ngoài.
7. Ra quyết định trưng cầu giám định pháp y,
pháp y tâm thần
đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần,
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
8. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về thi hành án hình sự
theo thẩm quyền.
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật
này.
Chương
II
THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
Mục
1. THỦ TỤC THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ VÀ CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ GIAM GIỮ, GIÁO DỤC PHẠM NHÂN
Điều 16. Quyết định thi
hành án phạt tù
1. Quyết định thi hành
án phạt tù phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định
được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án; họ,
tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; thời hạn chấp hành
án phạt tù, thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung. Trường hợp người bị kết án
đang tại ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại Công an cấp xã nơi
người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ thi hành.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày
ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân,
cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành án
và người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người chấp hành án là người
nước ngoài.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù,
Tòa án phải gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu, trại
tạm giam nơi người chấp hành án đang bị tạm giam hoặc Công an cấp xã, đơn vị quân đội nơi người
chấp hành án đang tại ngoại:
a) Bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật; trường hợp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm thì phải kèm theo bản án sơ thẩm;
b) Quyết định thi hành
án phạt tù.
Điều
17. Thi hành
quyết định thi hành án phạt tù
1. Trường hợp người bị
kết án phạt tù đang bị tạm giam thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam thuộc Công
an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam phải tống đạt quyết định
thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp
hành án phạt tù để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. Trường hợp người
bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại
tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ
sơ, lập danh sách để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. Trường hợp
người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt
quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc trại tạm
giam thuộc Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định
đưa người chấp hành án đi chấp hành án. Đối với
người chấp hành án là người nước ngoài thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày ra quyết định, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an thông báo
cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại
diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định đưa người chấp hành án đi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an phải hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển
người chấp hành án đến cơ sở giam giữ phạm nhân để thi hành án, trừ trường hợp
do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đối với người bị kết án
phạt tù đang bị tạm giam mà có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại dưới 03
tháng kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án thì chấp hành án tại cơ sở
giam giữ đang giam giữ họ.
2. Trường hợp người
bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam cấp quân khu thì trong thời
hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam phải tống đạt
quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án
phạt tù để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng. Trường hợp
người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng
thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án,
hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng. Trường hợp
người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt
quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm
giam thuộc Bộ Quốc phòng, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định
đưa người chấp hành án đi chấp hành án. Đối với
người chấp hành án là người nước ngoài thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày ra quyết định, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng thông báo
cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại
diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch.
Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Quốc
phòng phải hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển người chấp hành án đến cơ sở giam
giữ phạm nhân để thi hành án, trừ trường hợp do
tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đối với người bị kết án
phạt tù đang bị tạm giam mà có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại dưới 03
tháng kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án thì chấp hành án tại cơ sở
giam giữ đang giam giữ họ.
3. Trong thời gian chờ
chuyển đến nơi chấp hành án phạt tù, người chấp hành án được hưởng chế độ như đối
với phạm nhân.
4. Trường hợp người bị
kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở Công an cấp
xã hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định
thi hành án để làm thủ tục đi chấp hành án; quá thời hạn này mà người đó không
có mặt thì Trưởng
Công an cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định
áp giải thi hành án, trừ trường hợp do tình trạng
khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan mà người bị kết án phạt tù đang tại ngoại không
có mặt trong thời hạn 07 ngày thì ngay sau khi hết lý do tình trạng khẩn cấp, bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở
Công an cấp xã hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định
trong quyết định thi hành án để làm thủ tục đi chấp hành án.
Trường hợp người bị kết
án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi
người đó cư trú trước khi bỏ trốn ra quyết định
truy nã và tổ chức truy bắt; trường hợp người đó có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần,
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện trưng
cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần; trường hợp kết quả giám định xác định người đó mắc bệnh
tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
thì cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề
nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh.
Trường hợp người bị kết
án phạt tù đang tại ngoại chết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu báo cáo Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra
quyết định đình chỉ thi hành án.
Điều
18. Thủ tục
hoãn chấp hành án phạt tù
1. Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại
ngoại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo
đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp hành án cư trú, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư
trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị
phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có
liên quan.
2. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù,
Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù hoặc không chấp nhận đề nghị hoãn
chấp hành án phạt tù. Quyết định hoãn chấp hành
án phạt tù phải nêu rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ cư trú (thường trú, tạm trú); bản án, quyết
định thi hành án, tội danh, mức án phạt tù, hình phạt bổ sung; trường hợp hoãn,
thời hạn hoãn; tên cơ quan thi hành án hình sự có nhiệm vụ thi hành, tên Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội có trách nhiệm quản lý, giám
sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù.
Trường hợp không chấp nhận đề nghị hoãn chấp
hành án phạt tù thì quyết định không chấp nhận
phải nêu rõ lý do. Quyết định không chấp nhận đề nghị hoãn chấp
hành án phạt tù được gửi cho người có đơn đề
nghị hoặc cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi
quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hoãn chấp
hành án phạt tù và người đại diện trong trường hợp người được hoãn chấp hành án
là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hoãn
chấp hành án cư trú, làm việc;
d) Bộ Ngoại giao trong
trường hợp người được hoãn chấp hành án là người nước ngoài;
đ) Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
được hoãn chấp hành án phạt tù.
Điều
19. Thi hành
quyết định hoãn chấp hành án phạt tù
1. Ngay sau khi nhận được quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công
an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ngừng việc làm thủ tục
đưa người chấp hành án phạt tù đi chấp hành án.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Công
an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được
hoãn chấp hành án đến Công an cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản
lý người đó để thông báo quyết định và yêu cầu người đó cam kết bằng văn bản chấp
hành nghiêm nghĩa vụ của người được hoãn chấp hành án phạt tù. Người được hoãn
chấp hành án phạt tù phải có mặt theo giấy triệu tập và viết cam kết, trừ trường
hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp người được
hoãn chấp hành án phạt tù không cam kết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập
biên bản, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù xử lý theo thẩm quyền.
Trường hợp người được
hoãn chấp hành án không có mặt theo yêu cầu triệu tập thì Công an cấp xã, đơn vị
quân đội xác minh và yêu cầu họ có mặt tại trụ sở Công an cấp xã, đơn vị quân đội
để làm thủ tục thông báo và cam kết chấp hành nghiêm nghĩa vụ.
Trường hợp người được
hoãn chấp hành án phạt tù vẫn không có mặt sau khi đã có yêu cầu lần thứ hai hoặc
không cam kết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án đã
ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trường hợp người được
hoãn chấp hành án vì lý do bệnh nặng đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
hoặc tại nhà mà không thể có mặt theo yêu cầu triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với Công an
cấp xã, đơn vị quân đội và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi điều trị, gia đình
người được hoãn để làm thủ tục thông báo và cam kết chấp hành nghĩa vụ.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoãn chấp hành
án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù và
bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục người được hoãn chấp hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:
a) Quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù;
b) Bản án, quyết định thi hành án;
c) Cam kết của người được hoãn chấp hành án phạt
tù hoặc cam kết của đại diện gia đình họ;
d) Tài liệu khác có liên quan.
4. Hằng tháng, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù phải
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành
án.
Người được hoãn chấp hành án không được đi khỏi
nơi cư trú trong thời gian được hoãn chấp hành án nếu không được sự đồng ý của
Công an cấp xã, đơn vị quân đội và phải có mặt theo yêu cầu triệu tập của Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được
hoãn chấp hành án.
Trường hợp đi khỏi nơi cư trú do tình trạng khẩn
cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì ngay sau khi hết lý do,
người được hoãn chấp hành án phải trình diện hoặc báo cáo Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Việc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc của người
được hoãn chấp hành án thực hiện theo quy định tại Điều 66 của
Luật này.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án vì lý do
bệnh nặng đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài nơi cư trú thì
Công an cấp xã, đơn vị quân đội có trách nhiệm phối hợp với gia đình để quản
lý, giám sát, giáo dục người đó.
5. Trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt
tù mà người được hoãn chấp hành án thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn hoặc
vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được
hoãn chấp hành án báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét ra quyết
định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc từ ngày nhận được
đề nghị hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù của cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Tòa án ra quyết định
hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù hoặc không chấp nhận đề nghị hủy quyết
định hoãn chấp hành án phạt tù và nêu rõ lý do, gửi cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra
quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho cá nhân, cơ quan được quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật
này. Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức thi hành
án.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án bỏ trốn
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
6. Trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt
tù mà người được hoãn chấp hành án chết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phải báo cáo và
bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù ra quyết định đình chỉ thi hành án và giải quyết các thủ tục có
liên quan.
7. Việc thi hành án phạt tù đối với người được
hoãn chấp hành án phạt tù:
a) Trường hợp chưa hết thời hạn hoãn chấp hành
án phạt tù, người được hoãn chấp hành án phạt tù tự giác đến Công an cấp xã,
đơn vị quân đội trình diện xin đi chấp hành án thì Công an cấp xã, đơn vị quân
đội lập biên bản tiếp nhận và tiến hành đưa người được hoãn chấp hành án phạt
tù đến cơ sở giam giữ theo chỉ định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đưa đi chấp hành án.
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo cho Tòa án đã ra
quyết định hoãn chấp hành án phạt tù để hủy quyết định hoãn;
b) Hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù, người
được hoãn chấp hành án phạt tù phải trình diện tại Công an cấp xã, đơn vị quân
đội để thực hiện thủ tục đi chấp hành án phạt tù.
Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn
chấp hành án phạt tù mà người được hoãn chấp hành án phạt tù không có mặt để thực
hiện thủ tục đi chấp hành án thì Trưởng Công an cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải thi hành án, trừ trường hợp
do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp tại thời điểm hết thời hạn hoãn chấp
hành án phạt tù mà người được hoãn chấp hành án phạt tù đang được xem xét giải
quyết tiếp tục cho hoãn thì tạm ngừng việc thi hành án phạt tù cho đến khi có
quyết định của Tòa án.
8. Đối với người được hoãn chấp hành án phạt tù
vì lý do bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu phục hồi sức khỏe mà vẫn lấy lý
do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án hoặc người được hoãn chấp hành
án phạt tù có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
nơi người được hoãn chấp hành án phạt tù cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu nơi đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó có
trách nhiệm yêu cầu xác định tình trạng bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp
cơ bản trở lên hoặc trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Trường hợp kết quả giám định xác định người được
hoãn chấp hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện việc đưa người đó
đến nơi chấp hành án và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án
để ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trường hợp kết quả giám định xác định người đó
đang mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra
quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án và quyết định áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt
tù đối với người đang được hoãn do bệnh nặng mà bệnh án của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đang điều trị hoặc kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
cấp cơ bản trở lên xác định sức khỏe của họ chưa phục hồi, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu nơi đơn vị được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó thông báo bằng
văn bản cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định
việc tiếp tục cho họ được hoãn chấp hành án. Các tài liệu gửi kèm theo văn bản
của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu gồm: đơn xin tiếp tục được hoãn chấp hành án phạt tù của người
được hoãn chấp hành án hoặc đại diện gia đình của họ, có xác nhận của Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp
hành án; bản sao bệnh án hoặc kết luận về tình trạng bệnh của người được hoãn
chấp hành án.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án phạt tù
từ chối yêu cầu xác định tình trạng bệnh của cơ quan có thẩm quyền mà không có
lý do chính đáng thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù lập biên bản và báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ cư trú, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó để đề
nghị Tòa án đã ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Trong thời
hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải xem xét ra quyết
định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra
quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho cá nhân, cơ quan được quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật
này. Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức thi hành
án.
Điều
20. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong quản
lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù
1. Ủy ban nhân dân cấp
xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy
ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt
tù và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức
quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù; bổ sung tài
liệu trong quá trình quản lý, giám sát, giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
b) Yêu cầu người được hoãn chấp hành án phạt tù
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người
đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Giải quyết cho người được hoãn chấp hành án
phạt tù được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và
pháp luật về cư trú;
d) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hoãn chấp hành
án phạt tù cư trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi phạm
tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự,
an toàn xã hội;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh khi người được hoãn chấp hành án phạt tù chết, vắng mặt, thay đổi nơi cư
trú khi chưa được sự đồng ý của Công an cấp xã;
g) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp
hành án phạt tù;
h) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo
quy định của Luật này.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo
định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm b và điểm
d khoản 2 Điều này;
b) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức
quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù; bổ sung tài
liệu trong quá trình quản lý, giám sát, giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu;
c) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho
người được hoãn chấp hành án phạt tù được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú
theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi phạm
tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự,
an toàn xã hội;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu khi người được hoãn chấp hành án phạt tù chết, bỏ trốn, vắng mặt, thay đổi
nơi cư trú khi chưa được sự đồng ý của đơn vị quân đội;
e) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành
án phạt tù.
Điều
21. Nghĩa vụ của
người được hoãn chấp hành án phạt tù
1. Có mặt theo giấy triệu
tập và cam kết bằng văn bản về việc chấp hành nghĩa vụ.
2. Thực hiện nghiêm
cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của
nơi cư trú, làm việc.
3. Chấp hành sự quản
lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục.
4. Phải có mặt theo yêu
cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục.
5. Báo cáo bằng văn bản hoặc hình thức khác về tình hình chấp hành pháp luật theo yêu cầu của Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Tự giác trình diện tại
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản quản lý, giám sát, giáo dục trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù hoặc khi sức khỏe hồi
phục để tiếp tục chấp hành án.
7. Người được hoãn chấp hành án
phạt tù bị tạm
hoãn xuất cảnh trong thời gian hoãn chấp hành án phạt tù.
Điều
22. Hồ sơ đưa
người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù
1. Hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành
án phạt tù phải có đủ các tài liệu sau đây:
a) Bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật; trường hợp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm thì phải có bản án sơ thẩm kèm theo;
b) Quyết định thi hành
án phạt tù; quyết định tổng hợp hình phạt (nếu
có); quyết định thi hành án treo và quyết định
của Tòa án buộc
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, quyết định của Tòa án hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện (nếu có);
c) Quyết định của cơ
quan quản lý thi hành án hình sự đưa người chấp hành án phạt tù đến trại giam,
trại tạm giam;
d) Danh bản của người
chấp hành án phạt tù;
đ) Bản sao hộ chiếu hoặc
giấy tờ chứng minh quốc tịch đối với người chấp hành án phạt tù là người nước
ngoài;
e) Phiếu khám sức khỏe
và tài liệu khác có liên quan đến sức khỏe của người chấp hành án phạt tù;
g) Bản nhận xét việc chấp
hành nội quy của trại tạm giam đối với người bị tạm giam;
h) Tài liệu khác có
liên quan (nếu có).
2. Trường hợp con của
người bị kết án phạt tù theo mẹ vào trại giam thì phải có giấy khai sinh. Trường
hợp chưa có giấy khai sinh thì phải có giấy chứng sinh do cơ quan y tế nơi trẻ
em được sinh ra cấp hoặc văn bản của người làm chứng nếu trẻ em được sinh ra
ngoài cơ sở y tế; trường hợp không có các giấy tờ nêu trên thì phải có báo cáo
bằng văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, trại tạm giam
chuyển người bị kết án phạt tù đến trại giam để chấp hành án kèm theo giấy cam
đoan của mẹ về việc sinh con.
Trại giam có trách nhiệm
tổ chức thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em theo mẹ vào trại giam theo
quy định của pháp luật về hộ tịch.
3. Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu,
Công an cấp xã có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, tổ
chức đưa người bị kết án phạt tù và hồ sơ kèm theo đến bàn giao cho trại giam,
trại tạm giam đã được chỉ định để thi hành án.
Điều
23. Quyền và
nghĩa vụ của phạm nhân
1. Phạm nhân có các quyền
sau đây:
a) Được bảo hộ tính mạng,
sức khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ
của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân;
b) Được hiến mô, bộ phận
cơ thể; được hưởng chế độ, chính sách theo quy định pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thể người;
c) Được bảo đảm chế độ
ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận
thư, nhận tiền, đồ vật theo quy định; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều
kiện của nơi chấp hành án;
d) Được tham gia hoạt động
thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ;
đ) Được lao động, học tập,
học nghề;
e) Được gặp, liên lạc với
người thân thích,
đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài
được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
g) Được tự mình hoặc
thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp
luật;
h) Được bảo đảm quyền
khiếu nại, tố cáo; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
i) Được tham gia bảo hiểm
xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật;
k) Được sử dụng kinh
sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật;
l) Được khen thưởng khi
có thành tích trong quá trình chấp hành án.
2. Phạm nhân có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan quản lý thi
hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự trong quá trình thi hành án hình sự
và các quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến bản án
mà phạm nhân đang chấp hành án;
b)
Chấp hành nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án;
c) Chấp hành yêu cầu, mệnh
lệnh, hướng dẫn của cán bộ cơ sở giam giữ phạm nhân;
d) Lao động, học tập, học
nghề theo quy định;
đ) Phạm nhân làm hư hỏng,
làm mất hoặc hủy hoại tài sản của người khác thì phải bồi thường.
3. Phạm nhân có quyền
và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.
Điều
24. Tiếp nhận
người chấp hành án phạt tù
1. Trại giam, trại tạm giam được chỉ định thi
hành án phải tiếp nhận người chấp hành án phạt tù khi có đủ hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật này.
2. Khi tiếp nhận người
chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm sau đây:
a) Kiểm tra thông tin để
xác định đúng người chấp hành án phạt tù theo quyết định thi hành án của Tòa án;
b) Lập biên bản giao nhận
người chấp hành án phạt tù; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;
c) Kiểm tra người chấp
hành án phạt tù; kiểm tra và xử lý đồ vật mang theo trước khi đưa vào buồng
giam;
d) Tổ chức khám sức khỏe
cho người chấp hành án phạt tù và trẻ em dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại
giam (nếu có); tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học của phạm nhân gồm mống mắt,
ADN, giọng nói
đối với những trường hợp chưa có thông tin. Kết
quả thu thập thông tin được chia sẻ cho cơ quan
quản lý căn cước để cập nhật, điều chỉnh vào Cơ sở dữ liệu căn cước;
đ) Giải thích quyền,
nghĩa vụ của phạm nhân; phổ biến nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Cơ quan tiếp nhận phổ
biến cho phạm nhân thực hiện các quy định sau đây:
a) Chỉ được đưa vào buồng
giam những đồ dùng theo quy định; trường hợp có tư trang chưa dùng đến, có tiền,
giấy tờ có giá, các loại thẻ thanh toán bằng hình thức điện tử, vàng, bạc, đá
quý, kim loại quý thì phải gửi trại giam, trại tạm giam quản lý; trường hợp phạm
nhân có nhu cầu được chuyển số tiền, đồ dùng, tư trang cho người thân thích hoặc
người đại diện và tự chịu chi phí thì trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm
thực hiện việc chuyển hoặc giao trực tiếp cho người thân thích hoặc người đại
diện của phạm nhân tại nơi chấp hành án;
b) Không được sử dụng tiền,
giấy tờ có giá tại nơi chấp hành án. Việc phạm nhân mua lương thực, thực phẩm
và các hàng hóa khác để phục vụ đời sống, sinh hoạt tại nơi chấp hành án được
thực hiện bằng hình thức mua qua sổ lưu ký;
c) Không được đưa vào nơi
chấp hành án đồ vật thuộc danh mục đồ vật cấm do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
tiếp nhận người chấp hành án, trại giam, trại tạm
giam phải thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, gia đình của người chấp hành án phạt tù biết và báo cáo cơ quan quản
lý thi hành án hình sự. Trường hợp người chấp
hành án là người nước ngoài, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp
nhận người chấp hành án, trại giam, trại tạm
giam phải thông báo cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người
đó có quốc tịch.
Điều
25. Hồ sơ phạm
nhân
1. Hồ sơ, tài liệu theo
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 22 của Luật này.
2. Biên bản giao nhận
người chấp hành án phạt tù; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu; biên bản giao nhận
tiền, tài sản khác của người chấp hành án phạt tù gửi lưu ký hoặc giao cho người thân thích, người đại
diện của họ quản lý; quyết định, biên bản xử lý đồ vật thuộc danh mục đồ vật cấm (nếu có).
3. Tài liệu phản ánh kết
quả chấp hành các quy định về thi hành án phạt tù; tài liệu về sức khỏe, khám bệnh,
chữa bệnh; tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người chấp
hành án phạt tù trong thời gian chấp hành án; tài liệu về việc thực hiện nghĩa
vụ dân sự; biên bản, quyết định kỷ luật về việc vi phạm nội quy cơ sở giam giữ
phạm nhân, pháp luật về thi hành án phạt tù, tài liệu liên quan đến việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, đề nghị của người chấp hành án, tài liệu về
thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự (nếu có).
4. Tài liệu khác có
liên quan trong quá trình chấp hành án.
Điều
26. Giam giữ phạm
nhân
1. Trại giam tổ chức giam giữ phạm nhân như sau:
a) Khu giam giữ đối với
phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc trường
hợp tái phạm nguy hiểm;
b) Khu giam giữ đối với
phạm nhân có mức án phạt tù từ 15 năm trở xuống; phạm nhân có mức án phạt tù
trên 15 năm đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và thời hạn chấp hành án
còn lại dưới 15 năm; phạm nhân thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã chấp
hành một phần hai thời hạn chấp hành án phạt tù và đã được giảm thời hạn chấp
hành án;
c) Trường hợp để bảo đảm
chế độ ở của phạm nhân quy định tại điểm b khoản này, Giám thị trại giam có thể
bố trí giam tại khu giam giữ quy định tại điểm a khoản này nhưng không được
giam cùng buồng với phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, thuộc
trường hợp tái phạm nguy hiểm;
d) Buồng kỷ luật đối với
phạm nhân bị kỷ luật.
2. Trong các khu giam
giữ quy định tại khoản 1 Điều này, những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ
riêng:
a) Phạm nhân nữ;
b) Phạm nhân là người nước ngoài;
c) Phạm nhân là người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;
d) Phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi trong thời gian chờ đưa đi
giám định pháp y, pháp y tâm thần, chờ kết quả giám định và quyết định của Tòa
án;
đ) Phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam;
phạm nhân có thai;
e) Phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm
nhân.
3. Phạm nhân là người đồng
tính, người chuyển giới hoặc trường hợp vì lý
do giới tính khác có thể được giam giữ riêng.
4. Trong trại tạm giam,
những phạm nhân quy định tại điểm a và điểm e khoản 2 Điều này được bố trí giam giữ riêng.
5. Phạm nhân được chia
thành các tổ, đội để lao động, học tập và sinh hoạt. Căn cứ vào tính chất của tội
phạm, mức hình phạt, đặc điểm nhân thân của phạm nhân, kết quả chấp hành án,
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định việc phân loại, chuyển
khu giam giữ.
Điều
27. Chế độ học
tập, học nghề của phạm nhân
1. Phạm nhân được phổ
biến pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hóa, học nghề. Phạm nhân chưa
biết chữ phải học văn hóa để xóa mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được
khuyến khích học tiếng Việt. Phạm nhân được bố trí 01 ngày trong tuần để học tập,
trừ ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật và được bố trí thời gian học nghề tùy thuộc vào trình độ
đào tạo.
2. Căn cứ yêu cầu quản
lý, giáo dục cải tạo phạm nhân và thời hạn chấp hành án, trại giam, trại tạm
giam tổ chức dạy học cho phạm nhân.
3. Chương trình, nội
dung học tập, học nghề của phạm nhân do Chính phủ quy định.
Điều
28. Chế độ lao
động của phạm nhân
1. Phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ
tuổi, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng. Phạm
nhân lao động phải dưới sự giám sát, quản lý của trại giam, trại tạm giam. Thời
giờ lao động của phạm nhân không quá 08 giờ trong 01 ngày và 05 ngày trong 01
tuần, được nghỉ vào các ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật. Phạm
nhân là người nước ngoài còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01
ngày Quốc khánh của nước mà họ có quốc tịch.
Trường hợp đột xuất hoặc
thời vụ, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm
giam có thể yêu cầu phạm nhân làm thêm giờ
nhưng không được vượt quá tổng số giờ làm thêm trong ngày theo quy định của
pháp luật về lao động. Trường hợp phạm nhân lao động thêm giờ hoặc lao động
trong ngày nghỉ thì được nghỉ bù hoặc được bồi dưỡng bằng tiền, hiện vật.
Trại giam, trại tạm giam phải áp dụng
các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho phạm nhân.
2. Phạm nhân nữ được bố
trí làm công việc phù hợp với giới tính; không được bố trí làm công việc không
sử dụng lao động nữ theo quy định của pháp luật về lao động.
3. Phạm nhân bị bệnh hoặc
có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì tùy mức độ, tính chất của bệnh và trên
cơ sở chỉ định của y tế trại giam, trại tạm giam được miễn hoặc giảm thời gian
lao động, giảm chỉ tiêu, định mức lao động.
4. Phạm nhân được nghỉ
lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Phạm nhân bị bệnh,
không đủ sức khỏe lao động và được y tế cơ sở
giam giữ phạm nhân xác nhận;
b) Phạm nhân đang điều
trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Phạm nhân có con dưới
36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong trại giam mà bị bệnh, được y tế trại giam
xác nhận;
d) Phạm nhân nữ có thai
được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao
động;
đ) Phạm nhân thực hiện
các chế độ học tập, học nghề, chế độ thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự và chế độ liên
lạc.
Điều
29. Tổ chức lao
động cho phạm nhân
1. Trại giam tổ chức cho phạm nhân lao động
trong và ngoài trại giam nhằm giáo dục cải tạo, rèn luyện kỹ năng lao động, góp
phần chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng.
2. Căn cứ vào độ tuổi, sức khỏe, giới tính, mức án, tính chất,
mức độ hành vi phạm tội của phạm nhân; điều kiện đất đai, tài nguyên, ngành nghề;
trang thiết bị, phương tiện, vật tư, nguồn vốn; điều kiện cơ sở vật chất, khả
năng hợp tác với tổ chức, cá nhân để tổ chức lao động cho phạm nhân, Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam lập kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân, gửi Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để phê duyệt.
Kế hoạch tổ chức lao động
cho phạm nhân gồm kế hoạch theo giai đoạn, kế hoạch năm và có nội dung cơ bản
sau đây:
a) Tổng số phạm nhân,
trong đó có số lượng phạm nhân đủ điều kiện, không đủ điều kiện lao động theo
quy định của pháp luật;
b) Tổng diện tích đất
đang sử dụng phục vụ tổ chức lao động cho phạm
nhân và cơ cấu sử dụng đất;
c) Dự kiến chỉ tiêu, định
mức lao động cho phạm nhân;
d) Dự kiến chi phí cho
lao động; trích khấu hao tài sản cố định;
đ) Dự kiến kết quả lao
động của phạm nhân; chênh lệch thu, chi trong tổ chức lao động của phạm nhân;
e) Dự kiến, đề xuất kế
hoạch sử dụng kết quả lao động của phạm nhân.
3. Việc tổ chức cho phạm
nhân lao động ngoài trại giam phải bảo đảm an ninh, an toàn trong quá trình tổ
chức lao động; phục vụ hiệu quả công tác giáo dục cải tạo, tái hòa nhập cộng đồng
cho phạm nhân; tạo điều kiện giúp phạm nhân tìm kiếm việc làm sau khi chấp hành
xong án phạt tù.
4. Phạm nhân thuộc một
trong các trường hợp sau đây thì không được đưa ra lao động, hướng nghiệp, dạy
nghề ngoài trại giam:
a) Phạm nhân phạm một trong các tội về xâm phạm
an ninh quốc gia, phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
b) Phạm nhân có thời
gian chấp hành án phạt tù còn lại trên 07 năm đối với phạm nhân có mức án từ 15
năm trở xuống và trên 10 năm đối với phạm nhân có mức án trên 15 năm;
c) Phạm nhân là người
nước ngoài;
d) Phạm nhân đang mắc bệnh
truyền nhiễm nhóm A;
đ) Phạm nhân là người
dưới 18 tuổi;
e) Phạm nhân từ đủ 60
tuổi trở lên;
g) Phạm nhân đang xếp
loại chấp hành án phạt tù loại “Kém”;
h) Phạm nhân đã có hành
vi trốn khỏi cơ sở giam giữ hoặc trốn khỏi cơ sở giáo dục bắt buộc;
i) Phạm nhân thuộc một
trong các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 28 của
Luật này.
5. Trại giam, trại tạm giam tổ chức lao động cho phạm nhân theo kế hoạch được cấp có thẩm
quyền quy định tại khoản 2 Điều này phê duyệt.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
30. Sử dụng kết
quả lao động của phạm nhân
1. Kết quả lao động của phạm nhân sau khi trừ
các chi phí hợp lý được sử dụng như sau:
a) Bổ sung mức ăn cho
phạm nhân;
b) Lập Quỹ hòa nhập cộng
đồng để chi hỗ trợ cho phạm nhân khi chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù;
c) Bổ sung vào quỹ phúc
lợi, khen thưởng của cơ sở giam giữ phạm nhân;
d) Chi hỗ trợ đầu tư trở
lại cho cơ sở giam giữ phạm nhân phục vụ việc tổ chức lao động, giáo dục, dạy nghề cho phạm
nhân; nâng cao tay nghề cho phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù;
đ) Chi trả một phần
công lao động cho phạm nhân trực tiếp tham gia lao động; chi hỗ trợ cho phạm
nhân bị tai nạn lao động.
Trường hợp kết quả lao
động của phạm nhân vượt chỉ tiêu được giao thì phần kết quả vượt chỉ tiêu được
sử dụng để chi trả cho phạm nhân trực tiếp tham gia lao động vượt chỉ tiêu và bổ
sung quỹ phúc lợi của cơ sở giam giữ phạm nhân.
2. Phạm nhân được sử dụng
theo quy định số tiền thưởng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này và số tiền được
nhận quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này hoặc gửi cơ sở giam giữ phạm nhân quản
lý và được nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù.
3. Việc thu, chi từ hoạt
động lao động, học nghề của phạm nhân được thực hiện như sau:
a) Trại giam, trại tạm giam mở
sổ sách kế toán và việc ghi chép, hạch toán nghiệp vụ thu, chi tài chính phát
sinh, báo cáo tài chính thực hiện theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp.
Mọi khoản thu, chi từ
hoạt động lao động, học nghề của phạm nhân được phản ánh qua hệ thống sổ sách
tài vụ - kế toán của trại giam, trại tạm giam;
b) Trại giam, trại tạm giam tập
hợp đầy đủ các chi phí theo quy định vào giá thành sản phẩm;
c) Báo cáo kết quả thu,
chi từ hoạt động lao động của phạm nhân trong trại
giam, trại tạm giam là báo cáo tổng hợp về số
liệu, tình hình và kết quả thu, chi từ hoạt động tổ chức lao động cho phạm
nhân. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam chịu trách nhiệm lập báo cáo tổng hợp và báo cáo thuyết
minh chi tiết về kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân gửi cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;
d) Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm thẩm định và phê duyệt
báo cáo kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân và báo cáo cơ quan
quản lý tài chính của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để tổng hợp chung vào báo cáo
quyết toán ngân sách hằng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo quy định của
pháp luật.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
31. Xếp loại chấp
hành án phạt tù
1. Trong thời gian chấp
hành án phạt tù, phạm nhân được nhận xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù
theo các ngày trong tuần và xếp loại chấp hành án phạt tù theo tháng, quý. Việc
nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù phải bảo đảm khách quan,
công bằng, công khai, dân chủ và bảo đảm tính liên tục.
2. Căn cứ kết quả thực
hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, nội quy cơ sở giam giữ phạm
nhân, học tập, lao động cải tạo để nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án
phạt tù cho phạm nhân theo một trong các mức tốt, khá, trung bình, kém.
3. Kết quả xếp loại chấp
hành án phạt tù theo quý phải bằng văn bản, được lưu hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân
lập công thì được nâng mức xếp loại chấp hành án phạt tù.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
32. Thủ tục đề
nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Thẩm quyền đề nghị tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù được quy định như sau:
a) Trại giam, trại tạm
giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;
b) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
c) Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
2. Cơ quan có thẩm quyền
nơi phạm nhân đang chấp hành án quy định tại
khoản 1 Điều này có trách nhiệm lập hồ sơ đề
nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xem
xét, quyết định.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành
án phải xem xét, ra quyết định tạm đình chỉ hoặc
không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ.
Quyết định tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù phải ghi rõ: họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ cư trú (thường trú, tạm trú); bản án, quyết
định thi hành án, tội danh, mức án phạt tù, hình phạt bổ sung; ngày chấp hành
án phạt tù, nơi chấp hành án phạt tù; cơ quan đề nghị tạm đình chỉ; trường hợp
tạm đình chỉ, thời hạn tạm đình chỉ; tên cơ quan thi hành án hình sự có nhiệm vụ
thi hành, tên Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội có trách
nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Trường hợp không chấp nhận đề nghị tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù thì quyết định không
chấp nhận phải nêu rõ lý do. Quyết định không chấp nhận đề nghị tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù được gửi đến cơ quan đề
nghị tạm đình chỉ, Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Việc tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do người đã
kháng nghị quyết định.
Điều
33. Thi hành
quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Ngay sau khi ra quyết định tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được tạm đình
chỉ và người đại diện trong trường hợp người được tạm đình chỉ là người dưới 18 tuổi;
b) Cơ quan đề nghị tạm
đình chỉ, trại giam, trại tạm giam nơi người được tạm đình chỉ đang chấp hành
án;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án về cư trú;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người được tạm đình chỉ về cư trú, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
đ) Viện kiểm sát cùng cấp;
e) Tòa án đã ra quyết định thi hành án;
g) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được tạm đình chỉ là
người nước ngoài.
2. Trường hợp Viện trưởng
Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thì phải gửi quyết định
đó cho cá nhân, cơ quan quy định tại các điểm a, b, c, d, e và g khoản 1 Điều này.
3. Trại giam, trại tạm
giam đang quản lý người được tạm đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ
cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
đó; gia đình của
người được tạm đình chỉ có trách nhiệm tiếp nhận người được tạm đình chỉ.
Trường hợp người được tạm
đình chỉ bị bệnh nặng đang phải điều trị tại cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh thì trại giam, trại tạm
giam giao người được tạm đình chỉ cho gia đình người đó tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh, lập biên bản giao người, thông báo
và gửi biên bản giao người cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được giao
quản lý, giám sát, giáo dục có trách nhiệm phối hợp với gia đình của người đó để quản
lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ trong thời gian người đó điều trị
tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp người được tạm đình chỉ xuất viện thì cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội để quản lý, giám sát, giáo dục.
4. Ngay sau khi tiếp nhận
người được tạm đình chỉ, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục yêu cầu người đó cam kết bằng văn bản chấp hành nghiêm nghĩa
vụ của người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan.
Trường hợp bàn giao người
được tạm đình chỉ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
nơi điều trị, gia đình người được tạm đình chỉ để yêu cầu người được tạm đình
chỉ viết cam kết chấp hành nghĩa vụ.
Trường hợp người được tạm
đình chỉ cố tình không viết cam kết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để làm thủ tục hủy quyết định tạm
đình chỉ.
5.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án
phạt tù và bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:
a) Quyết định tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù;
b) Bản sao bản án, quyết
định thi hành án;
c) Văn bản đề nghị tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù; đơn xin tạm đình chỉ và tài liệu về đề nghị tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù;
d) Bệnh án hoặc kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp tạm đình
chỉ do bị bệnh nặng;
đ) Tài liệu khác có
liên quan.
6. Trong thời gian tạm
đình chỉ, người được tạm đình chỉ không được đi khỏi nơi cư trú nếu không được
sự đồng ý của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục; báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật theo yêu cầu của Công an cấp xã,
đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; phải tự giác trình báo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục khi hết thời hạn tạm đình chỉ hoặc khi
sức khỏe hồi phục để tiếp tục chấp hành án.
Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ có trách
nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho người đó được
đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc; triệu tập người được tạm đình chỉ để yêu cầu
báo cáo việc chấp hành pháp luật trong thời gian tạm đình chỉ; hằng tháng, phải báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về
việc quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ.
7. Việc thay đổi nơi cư
trú, nơi làm việc của người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được thực hiện
theo quy định tại Điều 66 của Luật này.
8. Việc tiếp tục thi
hành án đối với người được tạm đình chỉ thực hiện như sau:
a) Hết thời hạn tạm
đình chỉ, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù phải trình diện tại Công
an cấp xã, đơn vị quân đội để thực hiện thủ tục đi chấp hành án.
Sau thời hạn 07 ngày kể
từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù mà người được tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù không có mặt để làm thủ tục đi chấp hành án thì Trưởng
Công an cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định
áp giải thi hành án, trừ trường hợp do tình trạng
khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
b) Đối với người được tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù vì lý do bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu
phục hồi sức khỏe mà vẫn lấy lý do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án
hoặc người được tạm đình chỉ chấp hành án có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh
khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục báo cáo cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh nơi người được tạm đình chỉ cư trú, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó để yêu cầu xác định tình trạng
bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên hoặc trưng cầu
giám định pháp y,
pháp y tâm thần.
Trường hợp kết quả giám
định xác định người được tạm đình chỉ chấp hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu thực hiện việc đưa người đó đến nơi chấp hành án và thông báo cho Tòa án đã
ra quyết định tạm đình chỉ.
Trường hợp kết quả giám
định xác định người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ và quyết định áp dụng biện pháp
tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp hết thời hạn
tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người đang được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù do bệnh nặng mà bệnh án của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên xác định sức khỏe của họ chưa phục hồi, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao
quản lý, giám sát, giáo dục người đó thông báo bằng văn bản cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định việc tiếp tục cho họ được tạm
đình chỉ hoặc không được tiếp tục tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Các tài liệu gửi kèm
theo văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu gồm: đơn xin tiếp tục được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của
người được tạm đình chỉ hoặc gia đình của họ, có xác nhận của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ; bản sao bệnh án hoặc
kết luận về tình trạng bệnh của người được tạm đình chỉ.
Trường hợp người được tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù từ chối yêu cầu xác định tình trạng bệnh của cơ
quan có thẩm quyền mà không có lý do chính đáng thì Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
được tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù lập biên bản và báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ
về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản
lý, giám sát người đó để đề nghị Tòa án đã ra
quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải xem xét ra quyết định hủy
quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày ra quyết định hủy quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi
quyết định đó cho cá nhân, cơ quan được quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này. Ngay sau
khi nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức thi hành án.
9. Trong thời gian được tạm đình chỉ, người được tạm đình chỉ
lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng
xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra
quyết định tạm đình chỉ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ phải xem xét ra quyết định hủy
quyết định tạm đình chỉ và gửi quyết định đó cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp người được tạm
đình chỉ bỏ trốn, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
10. Trường hợp người được tạm
đình chỉ chết, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người đó báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm
đình chỉ và Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trường hợp người được tạm đình
chỉ chết khi đang điều trị tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh theo quy định tại khoản 3 Điều này
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết
định thi hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải
ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b,
c, d, đ và g khoản 1 Điều này và Tòa án
đã ra quyết định tạm đình chỉ.
Điều
34. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong quản
lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát,
giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
2. Công an cấp xã có
nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức
quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ; bổ sung tài liệu trong quá
trình quản lý, giám sát, giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh;
b) Yêu cầu người được tạm đình chỉ chấp hành án
phạt tù thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa
khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Giải quyết cho người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật
này và pháp luật về cư trú;
d) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù cư trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi
phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật
tự, an toàn xã hội;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh khi người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chết, bỏ trốn, vắng mặt,
thay đổi nơi cư trú khi chưa được sự đồng ý của Công an cấp xã;
g) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo
định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b
và điểm d khoản 2 Điều này;
b) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức
quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ; bổ sung tài liệu trong quá
trình quản lý, giám sát, giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu;
c) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết người
được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú
theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi
phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật
tự, an toàn xã hội;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi người
được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chết, bỏ trốn, vắng mặt, thay đổi nơi cư
trú khi chưa được sự đồng ý của đơn vị quân đội;
e) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc quản lý,
giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Điều
35. Nghĩa vụ của
người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Có mặt theo giấy triệu
tập và cam kết bằng văn bản về việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
2. Thực hiện nghiêm
chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế
của nơi cư trú, làm việc.
3. Chấp hành sự quản
lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục.
4. Phải có mặt theo yêu
cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục.
5. Báo cáo về tình hình
chấp hành pháp luật theo yêu cầu của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Tự giác trình báo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục khi hết thời hạn tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù hoặc khi sức khỏe hồi phục để tiếp tục chấp hành án.
7. Người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù bị
tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Điều
36. Thủ tục giảm
thời hạn chấp hành án phạt tù
1. Cơ quan quy định tại
điểm a và điểm b khoản 1 Điều 32 của Luật này có thẩm quyền đề nghị giảm thời
hạn chấp hành án phạt tù.
2. Cơ quan có thẩm quyền
đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển
cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp
hành án xem xét, quyết định, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ
bao gồm:
a) Trích sao bản án;
trường hợp xét giảm án từ lần hai thì trích sao bản án được thay bằng bản sao
quyết định thi hành án;
b) Văn bản của cơ quan
có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;
c) Kết quả xếp loại chấp
hành án phạt tù theo quý; quyết định khen thưởng hoặc xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền về việc phạm nhân lập công;
d) Kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở
lên đối với trường hợp phạm nhân bị bệnh hiểm
nghèo hoặc tài liệu thể hiện phạm nhân là người quá già yếu;
đ) Bản sao quyết định
giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với trường hợp đã được giảm;
e) Tài liệu chứng minh
kết quả bồi thường nghĩa vụ dân sự và kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm
tội gây ra của người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận giảm
thời hạn chấp hành án phạt tù.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
4. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt
tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, cơ quan đề nghị giảm
thời hạn chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được giảm thời hạn chấp hành
án là người nước ngoài.
5. Việc xét giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 đợt. Người chấp hành án mỗi năm
chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần. Trường hợp sau khi được giảm thời
hạn chấp hành án mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng thêm như đã lập
công, đã quá già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm tiếp
nhưng không quá 02 lần trong 01 năm.
Điều
37. Thủ tục miễn
chấp hành án phạt tù
1. Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù
đang cư trú hoặc làm việc lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án
quân sự cấp quân khu xét miễn chấp hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Văn bản đề nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền;
c) Đơn xin miễn chấp
hành án phạt tù của người bị kết án;
d) Đối với người bị kết
án đã lập công hoặc lập công lớn thì phải có bản tường trình có xác nhận của cơ
quan có thẩm quyền; đối với người bị kết án bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết
luận về tình trạng
bệnh của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên; đối với
người bị kết án chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó
khăn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người đó cư trú.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm phán chủ trì
phiên họp để xét miễn chấp hành án phạt tù. Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét miễn chấp hành
án phạt tù và ra quyết định về việc miễn thời hạn chấp hành án phạt tù; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận miễn chấp hành án phạt tù.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt tù, Tòa
án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát đề nghị, Viện
kiểm sát cấp trên, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh nơi
người được miễn chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu, Tòa án đã ra quyết định thi hành
án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được miễn chấp hành án cư trú, đơn vị quân
đội được giao quản lý người đó, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được miễn
chấp hành án là người nước ngoài.
4. Ngay sau khi nhận được
quyết định miễn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam phải làm thủ tục
trả tự do cho người được miễn chấp hành án và báo cáo kết quả cho cơ quan quản
lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu.
Điều
38. Thực hiện
trích xuất phạm nhân
1. Cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân phải gửi văn bản
yêu cầu cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu nơi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất để
yêu cầu người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này ra lệnh trích xuất.
Khi nhận được yêu cầu trích xuất phạm nhân, người có thẩm quyền phải ra lệnh
trích xuất.
2. Thẩm quyền trích xuất phạm nhân để phục vụ điều
tra, truy tố, xét xử được thực hiện như sau:
a) Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự
Bộ Công an ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại
giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an; Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại
tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh;
b) Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự
Bộ Quốc phòng ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại
giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng; Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm
giam cấp quân khu.
3. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam ra
lệnh trích xuất phạm nhân trong trường hợp sau:
a) Phục vụ yêu cầu quản lý giam giữ, giáo dục cải
tạo;
b) Khám bệnh, chữa bệnh hoặc hiến mô, bộ phận cơ
thể;
c) Đến khu điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
để phục vụ phạm nhân bị bệnh nặng không tự phục vụ bản thân được, chăm sóc con
của phạm nhân đang ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân phải đưa đi khám bệnh,
chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tiêm chủng;
d) Phục vụ trưng cầu giám định hoặc tham gia thực
hiện quyền, nghĩa vụ khác của phạm nhân theo quy định của pháp luật.
4. Lệnh trích xuất phạm
nhân phải có các nội dung sau đây:
a) Cơ quan, họ, tên, chức vụ, cấp bậc người ra lệnh;
b) Họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú,
ngày bị bắt, tội danh, thời hạn và nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù;
c) Mục đích và thời hạn trích xuất;
d) Cơ quan, người nhận phạm nhân được trích xuất
(nếu có);
đ) Ngày, tháng, năm ra lệnh; chữ ký của người ra
lệnh và đóng dấu.
5. Giám thị trại giam, Giám
thị trại tạm giam có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao, lập biên bản giao nhận phạm
nhân được trích xuất. Trường hợp thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành
án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất thì bàn giao phạm nhân cùng với
hồ sơ và giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân được trích
xuất để cơ quan, người có thẩm quyền nhận phạm nhân trích xuất cấp chứng nhận
chấp hành xong án phạt tù khi hết thời hạn và ghi sổ theo dõi trích xuất.
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng có yêu cầu trích xuất có nhiệm vụ tiếp nhận, áp giải, quản lý phạm
nhân và hồ sơ phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất.
6. Trường hợp đưa phạm nhân được trích xuất ra
khỏi nơi chấp hành án thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu tiếp nhận phạm nhân được trích xuất phải bảo đảm
chế độ ăn, ở, sinh hoạt cho người đó theo quy định của pháp luật trong thời
gian trích xuất. Căn cứ lệnh trích xuất, trại tạm giam nơi cơ quan điều tra,
truy tố, xét xử có yêu cầu phải quản lý phạm nhân được trích xuất theo quy định
của pháp luật.
7. Trường hợp không đưa phạm nhân được trích xuất
ra khỏi nơi chấp hành án thì trại giam, trại tạm giam bảo đảm chế độ ăn, ở,
sinh hoạt và quản lý phạm nhân đó ngoài thời gian cơ quan, người nhận phạm nhân
được trích xuất làm việc với phạm nhân.
8. Hết thời hạn trích xuất,
cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan quản lý
thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và bàn giao phạm nhân được
trích xuất cho trại giam, trại tạm giam để tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp
thời hạn trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại quy định tại
khoản 5 Điều này; nếu có nhu cầu tiếp tục trích xuất thì đề nghị gia hạn trích
xuất; thời hạn trích xuất và gia hạn trích xuất không được kéo dài hơn thời hạn
chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân.
9. Thời gian trích xuất được tính vào thời hạn
chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp phạm nhân đó bỏ trốn trong thời gian được
trích xuất.
Đối với phạm nhân được trích xuất không phải với
vai trò bị can, bị cáo thì việc trích xuất không ảnh hưởng đến việc xếp loại chấp
hành án phạt tù, xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn
có điều kiện và xét đặc xá của người được trích xuất.
Điều
39. Khen thưởng
phạm nhân, tập thể tổ, đội phạm nhân
1. Trong thời gian chấp
hành án phạt tù, phạm nhân chấp hành tốt nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, có
thành tích trong lao động, học tập hoặc lập công thì được khen thưởng theo một
hoặc nhiều hình thức sau đây:
a) Tặng giấy khen;
b) Biểu dương;
c) Thưởng tiền hoặc hiện
vật;
d) Tăng số lần được
liên lạc với người thân thích, tăng thời gian mỗi lần gặp và số lần gặp người thân thích, số lần được
nhận quà.
2. Trong thời gian chấp
hành án phạt tù, tập thể tổ, đội phạm nhân chấp hành tốt nội quy cơ sở giam giữ
phạm nhân, có thành tích trong lao động, học tập thì được khen thưởng theo một
hoặc nhiều hình thức sau đây:
a) Tặng giấy khen;
b) Biểu dương;
c) Thưởng tiền hoặc hiện
vật.
3.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu quyết định khen thưởng phạm nhân, tập thể tổ, đội
phạm nhân. Việc khen thưởng phải bằng văn bản, được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Phạm
nhân được khen thưởng có thể được nâng mức xếp loại chấp hành án phạt tù và được
đề nghị xét nâng mức giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp
luật.
Điều
40. Giải quyết
trường hợp phạm nhân bỏ trốn
1. Khi phạm nhân bỏ trốn,
trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu phải tổ chức truy bắt ngay, báo cáo cơ quan quản
lý thi hành án hình sự và thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời
hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện phạm nhân bỏ trốn mà việc truy bắt không có kết
quả thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ra quyết định truy nã và tổ chức
truy bắt.
Mọi trường hợp phạm
nhân bỏ trốn đều phải được lập biên bản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều
tra, xử lý theo quy định của pháp luật về hình
sự, tố tụng hình sự.
2. Phạm nhân đã bỏ trốn
ra đầu thú thì cơ quan tiếp nhận phạm nhân đầu thú lập biên bản, xử lý theo thẩm
quyền hoặc giao phạm nhân đó cho cơ quan thi hành án hình sự nơi gần nhất để xử
lý theo quy định của pháp luật.
Điều
41. Xử lý phạm
nhân vi phạm
1. Phạm nhân vi phạm nội
quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị kỷ luật bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Giam tại buồng kỷ luật
đến 10 ngày.
2. Trong thời gian bị
giam tại buồng kỷ luật, phạm nhân không được gặp người
thân thích và có thể bị cùm 01 chân. Không áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân
là người đủ 70 tuổi trở lên, phạm nhân là người
khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
3. Khi xem xét kỷ luật phạm nhân, Giám thị trại giam, Giám
thị trại tạm giam xét thấy có tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ thì có thể tăng hoặc hạ hình thức kỷ luật hoặc không xử lý kỷ luật mà áp dụng hình thức xử lý phù hợp.
4. Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam quyết định kỷ luật phạm nhân bằng văn bản và lưu hồ sơ
phạm nhân.
5. Trường hợp hành vi
vi phạm của phạm nhân có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của
Giám thị trại giam thì Giám thị trại giam ra quyết định khởi tố vụ án, tiến
hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật. Trường hợp không
thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì phải kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm
quyền khởi tố theo quy định của pháp luật.
Trường hợp hành vi vi
phạm của phạm nhân đang giam giữ tại trại tạm giam có dấu hiệu của tội phạm thì
Giám thị trại tạm giam kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố theo
quy định của pháp luật.
6. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
42. Thông báo
tình hình chấp hành án; phối hợp với gia đình phạm nhân, cơ quan, tổ chức, cá
nhân tham gia giáo dục cải tạo phạm nhân
1. Định kỳ 06 tháng, trại giam, trại tạm giam có
trách nhiệm thông báo tình hình chấp hành án cho gia
đình phạm nhân.
2. Trại giam, trại tạm
giam phối hợp với gia đình phạm nhân, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức,
cá nhân quan tâm động viên phạm nhân tích cực học tập, lao động, rèn luyện để
được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước; hỗ trợ các hoạt động giáo dục, dạy nghề
cho phạm nhân và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng
đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù.
Điều
43. Tái hòa nhập
cộng đồng
1. Trại giam, trại tạm
giam có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng trước khi phạm nhân
chấp hành xong án phạt tù, được đặc xá, được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Nội dung chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng bao gồm:
a) Tư vấn tâm lý, hỗ trợ
các thủ tục pháp lý;
b) Định hướng nghề nghiệp,
tìm kiếm việc làm;
c) Hỗ trợ một phần kinh
phí từ Quỹ hòa nhập cộng đồng.
2. Kinh phí bảo đảm cho
việc thực hiện tái hòa nhập cộng đồng bao gồm:
a) Kinh phí do ngân
sách nhà nước cấp;
b) Quỹ hòa nhập cộng đồng
và các quỹ khác theo quy định của pháp luật;
c) Nguồn đóng góp tự
nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác.
3. Ủy ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù,
người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tái hòa nhập cộng
đồng bằng các biện pháp sau đây:
a) Thông tin, truyền
thông, giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng;
b) Dạy nghề, vay vốn, tìm việc làm;
c) Trợ giúp về tâm lý
và hỗ trợ các thủ tục pháp lý;
d) Các biện pháp hỗ trợ
khác.
4. Công an cấp xã tham mưu,
giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với
người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này.
Nhà nước khuyến khích
cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tạo điều kiện, giúp đỡ người chấp hành xong
án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
tái hòa nhập cộng đồng bằng các biện pháp quy định
tại khoản 3 Điều này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 44. Trả tự do cho phạm nhân
1. 02 tháng trước khi phạm nhân
hết thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu thông báo cho Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ
quan, tổ chức nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú, làm việc, Bộ Ngoại
giao trong trường hợp phạm nhân là người nước ngoài. Nội dung thông báo bao gồm
kết quả chấp hành án phạt tù, hình phạt bổ sung mà phạm nhân còn phải chấp hành
và thông tin cần thiết khác có liên quan để xem xét, sắp xếp, tạo lập cuộc sống
bình thường cho người đó.
Trường hợp không xác định
được nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú thì trại giam, trại tạm giam
thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
phạm nhân chấp hành án hoặc cơ quan, tổ chức khác để tiếp nhận người chấp hành
xong án phạt tù về cư trú.
2.
Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu hoàn chỉnh thủ tục theo quy định của pháp luật để trả tự do cho phạm
nhân; cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người đã chấp hành xong án
phạt tù, cấp khoản tiền từ Quỹ hòa nhập cộng đồng, cấp tiền tàu xe, tiền ăn
trong thời gian đi đường trở về nơi cư trú hoặc nơi làm việc; trả lại đầy đủ giấy
tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác mà phạm nhân đã gửi tại nơi chấp hành án phạt tù
quản lý.
3. Trường hợp phạm nhân
được trả tự do theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì căn cứ quyết định
trả tự do, trại giam, trại tạm giam, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải thực hiện ngay thủ tục theo quy định tại
khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp phạm nhân đang bị
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh mà
hết thời hạn chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu đã đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phối hợp
với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định bắt buộc chữa bệnh cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù
theo quy định khoản 2 Điều này.
5. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều tra,
truy tố, xét xử mà thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn
lại thì cơ quan có thẩm quyền nhận phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm
thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, cấp chứng nhận chấp hành xong án
phạt tù, trả tự do cho người được trích xuất và giải quyết các thủ tục, nghĩa vụ,
quyền, lợi ích có liên quan của người được trích xuất theo quy định tại khoản 2
Điều này nếu người đó không bị tạm giam về tội khác theo quyết định của cơ quan
có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
6. Phạm nhân là người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù
thì được cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù và phải lưu trú tại cơ sở lưu
trú do Cơ quan
quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an chỉ định trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh.
7. Cơ quan đã cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù có
trách nhiệm gửi chứng nhận đó cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan
chịu trách nhiệm thi hành các hình phạt bổ sung, cơ quan được thông báo quy định
tại khoản 1 Điều này và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành phần dân sự
trong bản án, quyết định hình sự.
8. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Mục
2. CHẾ ĐỘ ĂN, MẶC, Ở, SINH HOẠT, CHĂM SÓC Y TẾ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN
Điều 45. Chế độ ăn, ở đối với
phạm nhân
1. Phạm nhân được bảo đảm
tiêu chuẩn định lượng về lương thực, thực phẩm,
nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ sinh hoạt để bảo đảm sức khỏe. Đối với phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định
của pháp luật thì định lượng ăn được tăng thêm nhưng không quá 02 lần tiêu chuẩn
ăn ngày thường. Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, phạm nhân được ăn
thêm nhưng mức ăn không quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.
Căn cứ yêu cầu bảo đảm
sức khỏe của phạm nhân trong quá trình giam giữ, lao động, học tập tại nơi chấp
hành án, Chính phủ quy định cụ thể định mức ăn phù hợp với điều kiện kinh tế,
ngân sách và biến động giá cả thị trường. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm
giam có thể quyết định hoán đổi định lượng ăn cho phù hợp với thực tế để phạm
nhân có thể ăn hết tiêu chuẩn.
2. Ngoài tiêu chuẩn ăn
quy định tại khoản 1 Điều này, phạm nhân được sử dụng tiền của mình để mua đồ
ăn thêm tại căng tin do cơ sở giam giữ phạm
nhân tổ chức nhưng không quá 05 lần định lượng trong 01 tháng cho mỗi phạm nhân.
3. Phạm nhân được bảo đảm
ăn, uống hợp vệ sinh. Giám thị trại giam, Giám
thị trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức bếp ăn
cho phạm nhân bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đúng định lượng.
Bếp ăn cho phạm nhân được
cấp các dụng cụ cần thiết cho việc nấu ăn, đun nước uống và chia đồ ăn cho phạm
nhân theo khẩu phần tiêu chuẩn.
4. Phạm nhân được ở
theo buồng giam tập thể, trừ phạm nhân đang bị giam riêng theo quy định tại các
điểm c, d, đ, e khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của Luật này. Chỗ
nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 m2. Đối với phạm nhân có con dưới
36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối
thiểu là 03 m2.
5. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
46. Chế độ mặc
và tư trang của phạm nhân
1. Phạm nhân được cấp
quần áo theo mẫu thống nhất, khăn mặt, chăn, chiếu, màn, dép, mũ hoặc nón, xà
phòng, kem và bàn chải đánh răng; phạm nhân nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết
cho vệ sinh của phụ nữ. Phạm nhân tham gia lao động được cấp thêm quần áo để
lao động và căn cứ vào điều kiện công việc cụ thể được cấp dụng cụ bảo hộ lao động
cần thiết.
2. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
47. Chế độ hoạt
động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh sách, bày tỏ
niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân
1. Phạm nhân được hoạt
động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài,
xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án.
Mỗi phân trại của trại
giam có thư viện, khu vui chơi, sân thể thao, được trang bị một hệ thống truyền
thanh nội bộ, mỗi buồng giam tập thể được trang bị 01 ti vi.
2. Thời gian hoạt động
thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem
truyền hình của phạm nhân được thực hiện theo nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Phạm nhân theo tôn giáo được sử dụng kinh sách xuất bản dưới
hình thức sách in, phát hành hợp pháp và được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn
giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
48. Chế độ đối
với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi
1. Phạm nhân nữ có thai
nếu không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí nơi giam hợp
lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần
thiết, được giảm thời gian lao động, được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe.
2. Phạm nhân nữ có thai
được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao
động. Trong thời gian nghỉ sinh con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng
ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết
cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Phạm nhân nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố
trí thời gian phù hợp để chăm sóc, nuôi dưỡng con.
3. Trẻ em dưới 36 tháng
tuổi, trẻ em từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội là con của
phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm
giam được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, cấp phát nhu
yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện quyền của
trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em.
4. Trại giam, trại tạm
giam có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh cho con của phạm
nhân. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án có trách nhiệm đăng ký
và cấp giấy khai sinh.
5. Phạm nhân nữ
có con từ 36 tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho người thân thích nuôi dưỡng.
Trường hợp con của phạm nhân không có người
thân thích nhận nuôi dưỡng thì trại giam, trại
tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải đề nghị Sở Y tế nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân
chỉ định cơ sở trợ giúp xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được đề nghị, Sở Y tế phải chỉ định cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm tiếp nhận,
nuôi dưỡng. Người chấp hành xong án phạt tù được nhận lại con đang được cơ sở trợ giúp xã hội nuôi dưỡng.
6. Trại giam phải tổ chức
nhà trẻ ngoài khu giam giữ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của phạm nhân
dưới 36 tháng tuổi và con của phạm nhân từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời
gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
49. Chế độ gặp,
nhận quà của phạm nhân
1. Phạm nhân được gặp người thân thích 01 lần
trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành
án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân, Giám
thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định kéo dài thời gian gặp người thân thích nhưng không
quá 03 giờ hoặc được gặp vợ, chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Phạm nhân được
khen thưởng hoặc lập công thì được gặp người
thân thích thêm 01 lần trong 01 tháng.
Phạm nhân vi phạm nội
quy cơ sở giam giữ phạm nhân thì 02 tháng được gặp người thân thích 01 lần, mỗi
lần không quá 01 giờ.
Thời gian gặp người thân thích của phạm
nhân được thực hiện theo giờ làm việc của cơ sở giam giữ phạm nhân trong tất cả
các ngày, kể cả ngày nghỉ, lễ, tết.
2. Trường hợp đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định.
3. Người thân thích, đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được gặp trực tiếp phạm nhân; trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan hoặc không thể bố trí gặp trực tiếp
thì có thể gặp bằng hình thức trực tuyến.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết
định hình thức gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
4. Khi gặp người thân thích, đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền, đồ vật, trừ đồ vật thuộc danh mục đồ vật cấm. Đối với tiền, phạm nhân phải gửi trại giam, trại tạm giam
quản lý.
Phạm nhân được nhận quà
là tiền và đồ vật qua đường bưu chính, ngân hàng không quá 02 lần trong 01 tháng.
Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam tổ chức tiếp nhận, kiểm tra định mức quà là đồ vật, loại
bỏ các vật thuộc danh mục đồ vật cấm và giao đầy đủ cho phạm nhân; kiểm tra,
phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi chiếm đoạt quà, đồ dùng cá nhân của phạm
nhân.
5.
Người thân thích của phạm nhân đến gặp phạm nhân phải mang theo sổ thăm gặp hoặc
hình thức xác nhận khác. Trại giam, trại tạm giam phải phổ biến cho người thân
thích của phạm nhân về quy định gặp phạm nhân; người thân thích của phạm nhân
phải chấp hành các quy định này.
Đối với phạm nhân là
người nước ngoài, trường hợp người thân thích là người nước ngoài thì phải có đơn xin gặp gửi cơ quan quản
lý thi hành án hình sự, đơn phải viết bằng tiếng Việt hoặc được dịch ra tiếng
Việt và có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà
người đó có quốc
tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam nơi người đó làm việc;
trường hợp người thân thích là người Việt Nam thì đơn xin gặp phải có xác nhận của Công
an cấp xã nơi người đó cư trú. Trong thời hạn 10
ngày kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan quản lý
thi hành án hình sự có trách nhiệm trả lời người có đơn; trường hợp đặc biệt có
thể kéo dài nhưng thời hạn trả lời không quá 20
ngày.
Người thân thích của phạm nhân đăng ký gặp tại trại giam, trại tạm giam hoặc
thăm gặp trực tuyến.
6. Trại giam, trại tạm giam bố trí nơi phạm nhân gặp người thân thích, đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
7. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi
tiết Điều này.
Điều
50. Thủ tục
thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự
1. Cơ quan đại diện ngoại
giao, lãnh sự nước ngoài có yêu cầu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm
nhân có quốc tịch
nước mình đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị đến Bộ
Ngoại giao. Nội dung văn bản đề nghị bao gồm:
a) Tên cơ quan đại diện
ngoại giao, lãnh sự gửi văn bản;
b) Họ, tên, quốc tịch
phạm nhân cần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
c) Trại giam nơi phạm
nhân đang chấp hành án;
d) Họ, tên, chức vụ của
những người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
đ) Họ, tên người phiên
dịch.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm
thông báo cho Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng. Trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý thi hành
án hình sự có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao để thông
báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự đã đề nghị liên hệ với cơ quan quản lý thi hành án
hình sự có thẩm quyền cấp giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.
3. Thời gian thăm gặp,
tiếp xúc lãnh sự được thực hiện trong giờ làm việc, ngày làm việc. Căn cứ kết
quả xếp loại chấp hành án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập
của phạm nhân, Giám thị trại giam quyết định số lần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự
trong tháng và thời gian mỗi lần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan hoặc không thể thu xếp gặp trực tiếp
thì phạm nhân có thể được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự bằng hình thức trực tuyến.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều
này.
Điều
51. Chế độ liên
lạc của phạm nhân
1. Phạm nhân được gửi mỗi tháng 02 lá thư. Giám
thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải kiểm tra, kiểm duyệt thư mà phạm
nhân gửi và nhận.
2. Phạm nhân được liên
lạc điện thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích ở trong nước
mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 10 phút, trừ trường hợp cấp bách. Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc
và tổ chức kiểm soát việc liên lạc.
3. Chi phí cho việc
liên lạc của phạm nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do phạm nhân
chi trả.
4. Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều
52. Chế độ chăm
sóc y tế đối với phạm nhân
1. Phạm nhân được bảo đảm
chăm sóc y tế, chế độ phòng, chống dịch bệnh. Trại giam, trại tạm giam phối hợp
với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở
lên nơi trại giam, trại tạm giam đóng hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong
Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho phạm
nhân.
2. Phạm nhân bị bệnh, bị thương tích thì được
khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại bệnh xá của trại giam, trại tạm giam hoặc
tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất. Trường hợp phạm nhân
bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh đó thì trại giam, trại tạm giam phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
đang điều trị phạm nhân giới thiệu, chuyển phạm
nhân đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác phù hợp tình trạng bệnh để điều trị; trại giam, trại tạm giam phải thông báo cho gia đình hoặc đại diện của
người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng
cho phạm nhân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định.
Trại giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối
hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhà nước, cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân,
Quân đội nhân dân xây dựng hoặc bố trí một số buồng riêng trong cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh để điều trị cho phạm nhân. Việc quản lý, giám sát phạm nhân trong thời
gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do trại giam, trại tạm giam chịu
trách nhiệm.
3. Đối với phạm nhân có
dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi, trại giam, trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu
nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trưng cầu
giám định pháp y, pháp y tâm thần. Khi có kết luận giám định là người đó mắc bệnh
tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
thì Chánh án Tòa
án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án ra
quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và quyết định áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đó.
Việc quản lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện
theo quy định tại Chương IX của Luật này.
4. Phạm nhân nghiện ma
túy được trại giam phối hợp với các đơn vị chức năng liên quan tổ chức cai nghiện.
5. Kinh phí phòng, chống
dịch bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức cai nghiện ma túy và kinh phí xây dựng,
bố trí các buồng chữa bệnh dành cho phạm nhân tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
do Nhà nước cấp. Đối với trường hợp phạm nhân có thẻ bảo hiểm y tế thì tiếp tục
được hưởng quyền lợi về bảo hiểm y tế theo quy định, nếu vượt quá định mức chi
trả của bảo hiểm y tế thì Nhà nước chi trả phần vượt quá.
6. Phạm nhân được nhận
và sử dụng các loại thuốc phòng bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ, y sĩ tại cơ sở giam giữ phạm nhân
hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đã được khám và điều trị bệnh khi được
sự đồng ý của Giám thị trại giam, Giám thị trại
tạm giam.
7. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
53. Giải quyết
trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người
1. Phạm nhân được hiến
mô, bộ phận cơ thể khi bảo đảm đủ các điều kiện sau:
a) Tự nguyện hiến mô, bộ
phận cơ thể;
b) Hiến mô, bộ phận cơ
thể cho người thân thích của phạm nhân;
c) Đủ điều kiện sức khỏe
để hiến mô, bộ phận cơ thể và bảo đảm sức khỏe để tiếp tục chấp hành án sau khi
hiến mô, bộ phận cơ thể;
d) Tự chịu các chi phí
hiến mô, bộ phận cơ thể và chăm sóc sức khỏe bản thân sau khi hiến mô, bộ phận
cơ thể;
đ) Là người bị kết án về
tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng thuộc trường hợp phạm tội lần
đầu và thời gian chấp hành án còn lại dưới 03 năm.
2.
Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân
có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể.
Điều
54. Thủ tục giải
quyết trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết
1. Khi phạm nhân, con của
phạm nhân ở cùng mẹ
chết tại trại giam, trại tạm giam, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thì
cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm
sát nhân dân khu vực, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi có
phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết để xác định nguyên nhân. Trại giam,
trại tạm giam có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
trại giam, trại tạm giam đóng và thông báo cho gia
đình hoặc đại diện của người chết trước khi làm
thủ tục mai táng. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết ở cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó gửi giấy báo tử cho trại
giam, trại tạm giam.
Trường hợp phạm nhân,
con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài chết, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải báo ngay cho
cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cơ quan điều tra và Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ
trong trại giam, trại tạm giam chết để xác định nguyên nhân; đồng thời báo cáo cơ quan quản
lý thi hành án hình sự Bộ Công an hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ
Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của
nước mà người đó có quốc tịch. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trại
giam, trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức mai táng.
Đối với trường hợp không xác định được quốc tịch
của người chết thì giải quyết như đối với phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ
trong cơ sở giam giữ là người Việt Nam chết.
2. Khi cơ quan có thẩm
quyền cho phép làm các thủ tục mai táng người chết thì trại giam, trại tạm giam
có trách nhiệm thông báo về việc mai táng cho gia
đình hoặc người đại diện của người chết. Trường
hợp gia đình của
người chết có đơn đề nghị thì bàn giao tử thi đó cho họ, trừ trường hợp có căn
cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Sau thời
hạn 48 giờ kể từ
khi thông báo mà họ không nhận thì trại giam, trại tạm giam tổ chức mai táng
theo quy định của pháp luật và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành
án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã
ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù
và gửi cho gia đình của người chết, trại giam, trại tạm giam nơi phạm nhân chết,
Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi trại giam, trại tạm giam đóng có phạm nhân, con của phạm
nhân ở cùng mẹ chết có trách nhiệm phối hợp với trại giam, trại tạm giam trong
việc mai táng và quản lý mộ của phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ. Kinh
phí cho việc mai táng được Nhà nước cấp.
Trường hợp phạm nhân,
con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài chết, trong thời hạn 48 giờ kể
từ khi thông báo về phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết, nếu cơ quan đại
diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch không đề nghị nhận tử thi thì trại giam, trại tạm giam tổ chức mai
táng.
3. Trường hợp gia đình hoặc đại diện của
người chết có đơn đề nghị được nhận tử thi, tro cốt hoặc hài cốt của người chết
và tự chịu chi phí thì trại giam, trại tạm giam có thể xem xét, giải quyết, trừ
trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và vệ sinh
môi trường. Việc nhận hài cốt chỉ được giải quyết sau thời hạn 03 năm kể từ
ngày mai táng. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước
ngoài thì việc nhận tử thi hoặc hài cốt phải được cơ quan quản lý thi hành án
hình sự xem xét, quyết định.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Mục
3. THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN
Điều 55. Thời điểm xét tha
tù trước thời hạn có điều kiện
Việc xét tha tù trước
thời hạn có điều kiện được thực hiện mỗi năm 03 đợt vào thời điểm kết thúc xếp
loại quý I, kết thúc xếp loại quý II và kết thúc xếp loại quý IV.
Điều
56. Hồ sơ đề
nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trại giam, trại tạm
giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha
tù trước thời hạn có điều kiện và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.
2. Hồ sơ đề nghị tha tù
trước thời hạn có điều kiện bao gồm:
a) Đơn xin tha tù trước
thời hạn có điều kiện của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật,
các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn;
b) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;
c) Tài liệu thể hiện phạm
nhân có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt là các quyết định hoặc bản sao quyết
định xếp loại chấp hành án phạt tù;
d) Bản sao quyết định
giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm
trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
đ) Văn bản, tài liệu thể
hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại, án phí;
e) Tài liệu để xác định
thời gian thực tế đã chấp hành án phạt tù;
g) Trường hợp phạm nhân
là người có công với cách mạng hoặc thân nhân của người có công với cách mạng,
người từ đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng,
phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải có tài liệu chứng minh;
h) Văn bản đề nghị tha
tù trước thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu.
3. Người đã được tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù được bảo lưu kết quả xếp loại chấp hành án phạt
tù và được tính liên tục liền kề với thời gian sau khi trở lại tiếp tục chấp
hành án; nếu được Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục xác nhận họ chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và có đủ các điều kiện theo quy định thì có thể được xem xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều
kiện.
Người bị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được bảo lưu kết
quả xếp loại chấp hành án phạt tù và được tính liên tục liền kề với thời gian
sau khi trở lại tiếp tục chấp hành án; được xem xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu họ có đủ điều kiện theo quy định.
4. Trường hợp phạm nhân
được trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc trường hợp đang bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thì trại giam, trại tạm giam nơi
nhận phạm nhân trích xuất có văn bản đề nghị trại giam, trại tạm giam nơi đang
quản lý hồ sơ phạm nhân xem xét, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều
kiện nếu họ có đủ điều kiện theo quy định.
Điều
57. Thi hành
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Ngay sau khi nhận được
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, trại giam, trại tạm giam phải
niêm yết danh sách phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện tại cơ sở
giam giữ phạm nhân. Ngay sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có hiệu lực
pháp luật, trại giam, trại tạm giam cấp chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều
kiện và tha phạm nhân. Thời gian thử thách được tính từ ngày quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật.
Trại giam, trại tạm
giam có trách nhiệm bàn giao hồ sơ phạm nhân cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu.
2. Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về
cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiếp nhận, quản lý hồ sơ phạm
nhân; lập hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, giao cho
Công an cấp xã,
đơn vị quân đội để tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục.
Trong thời hạn 05 ngày
kể từ ngày được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện phải trình diện Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục để cam kết chấp hành nghĩa vụ, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan. Trường hợp hết thời hạn 05 ngày mà
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không trình diện, Công an cấp xã,
đơn vị quân đội triệu tập người đó đến trụ sở để cam kết việc chấp hành nghĩa vụ.
Trường hợp người đó không có mặt theo đúng thời hạn triệu tập hoặc không cam kết
thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
Công an cấp xã, đơn vị
quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu kết quả việc trình diện và cam kết của người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện.
3. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện do quân đội quản lý nhưng sau đó không còn
phục vụ trong quân đội thì cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao
người đó kèm theo hồ sơ phạm nhân, hồ sơ quản lý cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh nơi người đó về cư trú để tiếp tục thi hành án và giao cho
Công an cấp xã để quản lý, giám sát, giáo dục.
4. Cấp chứng nhận chấp
hành xong án phạt tù cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện như sau:
a) 03 ngày trước khi hết thời hạn thử thách hoặc ngay sau khi nhận
được quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách tha tù trước thời hạn có điều kiện, Công
an cấp xã, đơn vị quân đội bàn giao hồ sơ quản lý cho cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi quản lý người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Việc giao nhận hồ sơ được lập thành
biên bản và lưu hồ sơ phạm nhân.
Vào ngày cuối cùng của
thời gian thử thách hoặc ngày quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách có hiệu
lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù
cho họ và gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền, Tòa án đã ra quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, trại giam, trại
tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó đã chấp hành
án, Công an cấp xã nơi người đó cư trú;
b) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chưa cấp chứng
nhận chấp hành xong án phạt tù nếu người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
vi phạm pháp luật trong thời gian thử thách bị khởi tố bị can hoặc đang bị đề
nghị hủy quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Ngay sau khi nhận được
quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện không vi phạm pháp luật hình sự hoặc Tòa án không chấp nhận đề
nghị hủy quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì thực hiện cấp chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
5. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện chết, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục người đó báo cáo và bàn giao hồ sơ quản lý cho cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông
báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án và
Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải
ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
đó.
Điều
58. Hồ sơ quản
lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Hồ sơ quản lý người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện do cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;
b) Quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện;
c) Chứng nhận tha tù
trước thời hạn có điều kiện;
d) Bản nhận xét quá
trình chấp hành án phạt tù của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
đ) Cam kết của người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
e) Phiếu thông tin của
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Tài liệu khác có
liên quan.
2. Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện có trách nhiệm tiếp nhận và bổ sung vào hồ sơ quản lý các tài
liệu sau đây:
a) Bản nhận xét của
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
b) Báo cáo của người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện về việc thực hiện nghĩa vụ;
c) Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 64 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm, biên bản cuộc
họp kiểm điểm và tài liệu có liên quan;
d) Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện được rút ngắn thời gian thử thách thì phải
có quyết định của Tòa án;
đ) Tài liệu khác có
liên quan.
Điều
59. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát,
giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy
ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, quản
lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; bàn giao
hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa
khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện được vắng mặt ở nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định
của Luật này và pháp luật về cư trú, được ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện làm việc, học tập trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người
đó;
e) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định rút ngắn thời
gian thử thách;
g) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành trong trường
hợp người đó vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật
Hình sự;
h) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn;
i) Nhận xét bằng văn bản quá trình chấp hành
nghĩa vụ trong thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện;
k) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm
quyền về kết quả quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện trong thời gian thử thách.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo
định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại các điểm a, b, c, i và k khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được vắng mặt ở nơi cư trú hoặc
thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình của người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện trong việc quản lý người đó;
d) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định rút ngắn thời
gian thử thách;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tha
tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành trong trường hợp
người đó vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn.
Điều
60. Nghĩa vụ của
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc
tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm
việc, học tập.
2. Trình diện và cam kết theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật này.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục và chỉ được cư trú trên địa bàn cấp xã theo quyết định của Tòa án
có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 và Điều 67 của
Luật này.
4. Chấp hành quy định tại Điều
65 và Điều 67 của Luật này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân
cấp xã, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Hằng tháng, phải trình diện và báo cáo bằng
văn bản với Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại
khoản 1 Điều 65 và Điều 67 của Luật này thì khi hết thời hạn
vắng mặt, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải báo cáo về tình
hình chấp hành nghĩa vụ của mình.
Điều
61. Việc lao động,
học tập của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thì được hưởng tiền
lương và chế độ khác phù hợp với công việc đảm nhiệm, được tính vào thời gian
công tác theo quy định của pháp luật.
2. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp
tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy định của pháp luật.
3. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này thì được Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện tìm việc làm.
Điều
62. Rút ngắn thời
gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ
các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một
phần hai thời gian thử thách;
b) Có nhiều tiến bộ
trong thời gian thử thách;
c) Có đơn đề nghị rút
ngắn thời gian thử thách tha tù trước thời hạn có điều kiện.
2. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện mỗi năm có thể được rút ngắn thời gian thử thách 01
lần từ 03 tháng đến 02 năm. Trường hợp thời gian thử thách của người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện còn lại dưới 03 tháng thì Tòa án có thể quyết định
rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
Người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng
phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ít nhất ba phần tư thời gian thử thách, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện là người đã lập công, người đã quá già yếu
hoặc người bị bệnh hiểm nghèo và có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này
thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
Điều
63. Thủ tục rút
ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Việc rút ngắn thời gian thử
thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện mỗi năm 03 đợt,
vào dịp tết Dương lịch, ngày Chiến thắng và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện có trách nhiệm rà soát lập danh sách người đủ điều kiện theo quy
định của Bộ luật Hình sự, lập hồ sơ và có báo
cáo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách gửi cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận được
hồ sơ và báo cáo đề
nghị của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu xem xét, có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử
thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện gửi Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người đó
cư trú xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện
kiểm sát cùng cấp với Tòa án.
Trường hợp xét thấy
không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản
thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục.
4. Hồ sơ đề nghị rút ngắn
thời gian thử thách bao gồm:
a) Văn bản đề nghị rút
ngắn thời gian thử thách của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo
tài liệu thể hiện người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiều tiến bộ trong thời
gian thử thách;
b) Đơn đề nghị rút ngắn
thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
c) Bản sao quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
d) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian
thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định
thi hành án phạt tù;
đ) Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện lập công được khen thưởng thì hồ sơ phải có
quyết định khen thưởng hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người đó lập công; trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận hoặc xác nhận của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên về
tình trạng bệnh của họ;
e) Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải
có bản sao quyết định rút ngắn thời gian thử thách;
g) Tài liệu khác có
liên quan.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ và văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án
quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cư trú,
làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét rút ngắn thời gian thử thách. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công,
Thẩm phán phải mở phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách và ra quyết định về việc
rút ngắn thời gian thử thách; quyết định phải
nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận rút
ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn thời
gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Điều
64. Việc kiểm
điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trong thời gian thử thách, người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện vi phạm lần đầu nghĩa vụ quy định tại Điều 60 của Luật này hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính lần
đầu thì Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục phải phối hợp với Ủy
ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở tổ chức
họp tại cộng đồng dân cư nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cư
trú để kiểm điểm người đó; trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện đang làm việc tại đơn vị quân đội thì việc kiểm điểm được thực hiện tại
đơn vị quân đội nơi người đó làm việc.
Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện không có mặt để kiểm điểm theo đúng thời hạn triệu tập mà không có lý
do chính đáng thì tiến hành lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
2. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản,
lưu hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu.
Điều
65. Giải quyết việc vắng mặt tại
nơi cư trú của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo
quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của
pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú được tính vào thời gian
thử thách nhưng mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi
cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp quy
định tại Điều 66 của Luật này hoặc trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh đó.
2. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép gửi
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục. Trường hợp do tình trạng khẩn
cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà vắng mặt tại nơi cư trú, người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn lý do vắng mặt.
Ngay sau khi nhận được
đơn xin phép, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục quyết định bằng văn bản về việc giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú của người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện; trường hợp không đồng ý thì phải nêu rõ lý do.
Người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã
nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của
Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện vi phạm pháp luật, Công an cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu
trú phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục.
3. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện bị tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Điều
66. Giải quyết
trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thay đổi nơi cư trú,
nơi làm việc
1. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện vì lý do chính đáng mà phải thay đổi nơi cư
trú, nơi làm việc thì phải làm đơn gửi Công an cấp xã, đơn vị quân đội để giải quyết theo thẩm quyền.
Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được đơn của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, Công an cấp xã, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối
hợp với các đơn vị có liên quan kiểm tra, xác minh và quyết định bằng văn bản cho
người đó thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc, trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do.
2. Người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện được xem xét, giải quyết cho thay đổi nơi cư trú
nếu bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Bảo đảm các yêu cầu
theo quy định của pháp luật về cư trú;
b) Được sự đồng ý của
Công an cấp xã trong trường hợp thay đổi nơi cư trú trong phạm vi đơn vị hành
chính cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong trường hợp
thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh.
3. Việc thay đổi nơi
làm việc của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong phạm vi quân
khu do cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định.
Việc thay đổi nơi làm
việc của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện ngoài phạm vi quân khu
do Cơ quan quản
lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng quyết định.
Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện không tiếp tục phục vụ trong quân đội thì
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục chuyển hồ sơ cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện về cư trú để quản lý, giám sát, giáo dục theo quy định tại khoản
3 Điều 57 của Luật này.
4. Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều
67. Giải quyết
trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nguyện vọng làm việc,
học tập ngoài nơi cư trú
1. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện có nguyện vọng lựa chọn làm việc, học tập
ngoài nơi cư trú thì phải xin phép và được sự đồng ý bằng văn bản của Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý phải
nêu rõ lý do.
2. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về kế hoạch lao động, hợp đồng lao động,
chương trình học tập có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người đó làm
việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc sau khi được Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện làm việc, học tập ngoài nơi cư trú thì người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến làm việc, học tập; khi
kết thúc hợp đồng lao động, chương trình học tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi mình làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc giải quyết cho người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện đi khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập.
5. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện trong thời gian làm việc, học tập ngoài nơi cư trú phải chấp
hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện vi phạm pháp luật tại nơi làm việc,
học tập, Công an cấp xã, đơn vị quân đội nơi người
đó đến làm việc, học tập phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục để phối hợp giải quyết.
Điều
68. Xử lý người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ hoặc vi phạm pháp luật
1. Người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều
60 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị
quân đội lập biên bản vi phạm; trường hợp cố ý
vi phạm lần thứ hai thì lập biên bản vi phạm và báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu.
2. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở
lên thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội quản lý, giám sát, giáo dục báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kèm theo biên bản vi phạm nghĩa vụ
hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các tài liệu khác có liên quan của
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành thủ tục đề nghị hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện.
4. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc
thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để quản lý, giám sát, giáo dục họ.
5. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam thì
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu, Công an cấp xã, đơn vị quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
đang thụ lý vụ án để phục vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều
69. Giải quyết
trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm
nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc vi phạm pháp luật
1. Trường hợp phạm nhân
đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở
giam giữ phạm nhân và bị xử lý kỷ luật hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước
khi có quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án thì cơ quan đã
đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này có văn bản gửi Viện kiểm sát, Tòa án đề nghị rút hồ sơ và
xóa tên trong danh sách đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.
2. Trường hợp phạm nhân
đã có quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa có hiệu
lực pháp luật mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân và bị xử lý kỷ luật
hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét hủy quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của Luật này và Điều 368 của Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Điều
70. Hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trường hợp người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm quy định tại khoản 4
Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ chuyển đến Tòa án đã ra quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
b) Biên bản vi phạm nghĩa vụ, quyết định xử phạt
vi phạm hành chính hoặc quyết định khởi tố bị can;
c) Báo cáo của Công an cấp xã, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu về việc thực hiện nghĩa vụ của người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách;
d) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án; bản
sao quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Tòa án phải mở phiên họp để xem xét,
quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người
đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại; trường hợp không chấp nhận
đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện phải nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày ra quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa
án phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền, Tòa án đã ra
quyết định thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người đó đã chấp hành án,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu đang quản lý, giám sát, giáo dục người đó.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp
luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu phải thông báo bằng văn bản cho người bị hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo,
người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện phải có mặt tại cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu để chấp hành phần hình phạt tù còn lại; quá thời hạn trên mà người đó không
có mặt thì Công an cấp xã hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải thi
hành án. Trường hợp người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện
bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã.
4. Trường hợp phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở
giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 69 của Luật này thì cơ quan đã đề nghị tha
tù trước thời hạn có điều kiện lập hồ sơ, chuyển đến Tòa án đã ra quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát có thẩm quyền. Hồ
sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện;
b) Quyết định kỷ luật phạm nhân kèm theo biên bản
vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc văn bản về việc vi phạm pháp luật;
c) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trình tự, thủ tục Tòa án xem xét, quyết định
hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo quy định tại Điều 368 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
71. Trách nhiệm
quản lý, giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện
1. Cơ quan, tổ chức có
liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã,
đơn vị quân đội trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ
sở phân công người tham gia quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý,
giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người đó.
Chương
III
THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH
Điều
72. Quyết định
thi hành án tử hình
1. Chánh án Tòa án đã
xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án tử hình. Quyết định phải ghi rõ ngày,
tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; bản án, quyết
định được thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết
án.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho các cơ quan sau đây:
a) Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Trại tạm giam nơi
người chấp hành án đang bị giam giữ.
Điều
73. Quyết định
thành lập Hội đồng thi hành án tử hình
1. Ngay khi có quyết định thi hành án tử hình,
Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có văn bản yêu cầu Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cử đại diện lãnh đạo tham
gia Hội đồng thi hành án tử hình. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được văn bản yêu cầu, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu phải có văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng thi hành án
tử hình.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng
thi hành án tử hình của các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa
án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành
án tử hình. Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình phải ghi rõ ngày,
tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra
quyết định; họ, tên, chức vụ của người tham gia Hội đồng.
3. Hội đồng thi hành án
tử hình bao gồm:
a) Chánh án hoặc Phó
Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án làm Chủ tịch Hội đồng;
b) Viện trưởng hoặc Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Thủ trưởng hoặc Phó
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu.
4. Giúp việc cho Hội đồng
thi hành án tử hình có Thư ký là cán bộ, công chức của Tòa án, do Chánh án Tòa
án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phân công.
Điều
74. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Hội đồng thi hành án tử hình
1. Hội đồng thi hành án
tử hình có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quyết định kế hoạch
và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm cho việc thi hành án;
b) Tổ chức kiểm tra các
điều kiện về người chấp hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ
luật Tố tụng hình sự; ra quyết định hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án
đã ra quyết định thi hành án khi người bị kết án không đủ điều kiện để thi hành
án;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ
chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thi hành án;
yêu cầu đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan, tổ chức hỗ trợ bảo đảm an toàn việc
thi hành án trong trường hợp cần thiết;
d) Điều hành việc thi
hành án theo kế hoạch;
đ) Thông báo kết quả
thi hành án cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự;
e) Hội đồng tự giải thể
sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình.
2. Chủ tịch Hội đồng
thi hành án tử hình triệu tập họp, công bố các quyết định có liên quan đến việc
thi hành án tử hình, quyết định thời gian thi hành án; những nội dung cần giữ
bí mật; các điều kiện bảo đảm việc tổ chức thực hiện kế hoạch thi hành án; địa
điểm mai táng đối với trường hợp không được nhận tử thi hoặc không có đơn đề
nghị được nhận tử thi. Cuộc họp phải được lập biên bản, lưu hồ sơ thi hành án tử
hình.
Điều
75. Hồ sơ thi
hành án tử hình
1. Hồ sơ thi hành án tử
hình gồm các tài liệu sau đây:
a) Bản án sơ thẩm có hiệu
lực pháp luật; bản án phúc thẩm trong trường hợp bản án sơ thẩm có kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm (nếu có);
c) Quyết định không
kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d) Quyết định thi hành
án tử hình;
đ) Quyết định thành lập
Hội đồng thi hành án tử hình;
e) Biên bản họp Hội đồng
thi hành án tử hình;
g) Kế hoạch thi hành án
tử hình;
h) Danh bản, chỉ bản,
biên bản kiểm tra căn cước người bị thi hành án tử hình;
i) Biên bản kiểm tra,
xác minh người bị thi hành án tử hình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự;
k) Tài liệu có liên
quan đến việc hoãn thi hành án tử hình trong trường hợp hoãn thi hành án tử
hình;
l) Biên bản giám định
pháp y tử thi người đã bị thi hành án tử hình;
m) 01 ảnh của người đã
bị thi hành án tử hình;
n) Biên bản thi hành án
tử hình;
o) Báo cáo kết quả thi
hành án tử hình;
p) Tài liệu khác có
liên quan.
2. Hồ sơ thi hành án tử
hình do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu lập, quản lý và được lưu giữ, bảo quản theo chế độ hồ sơ do Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
Điều
76. Hoãn thi hành
án tử hình
1. Hội đồng thi hành án
tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Người bị kết án tử
hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật
Hình sự;
b) Do tình trạng khẩn cấp, lý do bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
c) Ngay trước khi thi
hành án người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.
2. Khi quyết định hoãn
thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình phải lập biên bản ghi rõ
ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm thi hành án; họ, tên, chức vụ của thành viên Hội
đồng; lý do hoãn thi hành án. Biên bản hoãn thi hành án phải được tất cả các
thành viên Hội đồng ký, lưu hồ sơ thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa
án đã ra quyết định thi hành án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Cảnh sát thi hành án
hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp áp giải, bàn giao người
được hoãn thi hành án tử hình cho trại tạm giam để tiếp tục quản lý giam giữ
người đó. Việc giao nhận người được hoãn thi hành án tử hình phải được lập
thành biên bản.
4. Trường hợp hoãn thi
hành án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì Hội đồng thi hành án tử
hình hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án để
báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
Trường hợp hoãn thi
hành án theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này mà lý do hoãn không
còn thì Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành án yêu cầu Hội đồng tiếp tục thực
hiện việc thi hành án. Trường hợp có sự thay đổi thành viên Hội đồng thì Chánh
án Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định thay đổi thành viên Hội đồng
hoặc thành lập Hội đồng thi hành án tử hình theo quy định tại Điều
73 của Luật này.
Điều
77. Hình thức
và trình tự thi hành án tử hình
1.
Thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc. Quy trình thực hiện việc
tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định.
2. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tử
hình phải kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tử
hình; trường hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu
liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật
Hình sự.
3. Trước khi bị đưa ra thi hành án tử hình, người
chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người
chấp hành án.
4. Trình tự thi hành án tử hình được thực hiện
như sau:
a) Căn cứ quyết định thi hành án tử hình và yêu
cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, Cảnh sát thi hành án hình sự và
hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án
đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình;
b) Thực hiện yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử
hình, cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành
lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên
quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản;
báo cáo Hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra;
c) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố
quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp
nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản thông báo của cơ quan có thẩm
quyền về việc không có quyết định ân giảm hình phạt tử hình.
Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công
bố các quyết định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ
trợ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người
đó tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt
hoặc không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc
hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc
các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ thi hành
án tử hình;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử
hình, cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và
báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng;
đ) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử
hình, bác sĩ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và
báo cáo kết quả cho Hội đồng;
e) Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản thi
hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm
thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án;
g) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức
mai táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai
táng có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người
đã bị thi hành án;
h) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu thông báo cho gia đình của người đã bị thi hành án biết,
trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.
Điều
78. Giải quyết
việc xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt của người bị thi hành án tử hình
1. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã
ra quyết định thi hành án phải thông báo cho gia
đình hoặc người đại diện của người bị thi hành
án tử hình biết. Trường hợp gia đình hoặc người đại diện của người bị thi hành án tử hình có nguyện vọng nhận tử thi về mai táng thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông
báo, phải có
đơn xin gửi Chánh án Tòa án đã ra thông báo. Đơn xin nhận tử thi về mai táng phải
ghi rõ họ, tên, địa chỉ người nhận tử thi; quan hệ với người bị thi hành án;
cam kết bảo đảm yêu cầu về an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và tự chịu chi
phí. Đơn phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi cư trú, trường hợp người bị
thi hành án tử hình là người nước ngoài, người
không xác định được quốc tịch thì đơn phải có
xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đại diện của nước mà người đó có quốc tịch và phải được dịch
sang tiếng Việt.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn xin nhận tử thi về mai táng của gia đình hoặc người đại diện
của người bị thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án
tử hình phải thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hay không chấp nhận cho
nhận tử thi về mai táng. Nếu không chấp nhận cho nhận tử thi về mai táng thì
nêu rõ lý do.
3. Trước khi thi hành
án tử hình 03 ngày làm việc, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử
hình phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu biết để giải quyết việc cho nhận
tử thi của người đã bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức việc mai
táng người đã bị thi hành án tử hình.
4. Trường hợp Chánh án
Tòa án đã ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình chấp nhận cho nhận
tử thi của người đã bị thi hành án tử hình, nhưng trong quá trình triển khai
thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình xét thấy việc cho nhận tử thi
không bảo đảm an ninh, trật tự thì quyết định không cho nhận và thông báo bằng
văn bản cho gia đình của người đã bị thi hành án tử hình, đồng thời giao cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu tổ chức mai táng và báo cáo lại Chánh án Tòa án đã ra quyết định.
5. Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm
thông báo cho người có đơn đề nghị ngay sau khi thi hành án để đến nhận tử thi
về mai táng. Việc giao, nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình phải được
thực hiện trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thông báo và do cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện.
Việc giao, nhận tử thi phải được lập thành văn bản, có chữ ký của bên giao và
bên nhận. Hết thời hạn này mà người có đơn đề nghị không đến nhận tử thi thì cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu có trách nhiệm mai táng.
6. Trường hợp gia đình hoặc người đại diện
của người bị thi hành án tử hình muốn nhận tro cốt của người bị thi hành án và
tự chịu chi phí hỏa táng thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao tử thi và hỗ trợ đưa tử thi về
nơi hỏa táng.
7. Trường hợp cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
tổ chức việc mai táng người bị thi hành án tử hình thì sau 03 năm kể từ ngày
thi hành án, gia đình hoặc người đại diện của người đã bị thi hành án được làm đơn
đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu nơi đã thi hành án cho nhận hài cốt.
Đơn phải ghi rõ họ,
tên, địa chỉ người nhận hài cốt; quan hệ với người đã bị thi hành án; cam kết bảo
đảm yêu cầu về an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và tự chịu chi phí. Đơn phải
có xác nhận của Công an cấp xã nơi cư trú, trường hợp người bị thi hành án là
người nước ngoài, người không xác định được quốc
tịch thì đơn đề nghị phải có xác nhận của cơ
quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đại diện của nước mà người đó có quốc tịch và phải được dịch
ra tiếng Việt.
Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm xem xét giải quyết.
Chương
IV
THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT
CẢNH CÁO, CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Mục
1. THI HÀNH ÁN TREO
Điều 79. Quyết định thi
hành án treo
1. Quyết định thi hành
án treo phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được
thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi
cư trú của người được hưởng án treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của
người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt
tiền; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định
tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hưởng án treo và người đại diện trong trường
hợp người được hưởng án treo là người dưới
18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao
quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu nơi người được hưởng án treo làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo.
Điều
80. Thi hành
quyết định thi hành án treo
1. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án treo, Công an cấp xã,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hưởng án
treo, người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Công
an cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết
việc chấp hành án. Người được hưởng án treo, người đại diện của người được hưởng
án treo phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan.
Trường hợp người được
hưởng án treo không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì Công an cấp
xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
Trường hợp có căn cứ
xác định người được hưởng án treo đã thay đổi nơi cư trú, không còn cư trú tại
nơi chấp hành án thì Công an cấp xã báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ủy thác thi hành án, trả lại ủy thác hoặc thông báo cho
cơ quan thi hành án hình sự tổ chức thi hành án.
2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án
treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
3. Hồ sơ thi hành án bao gồm:
a) Bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành
án treo;
c) Cam kết của người được
hưởng án treo. Đối với người được hưởng án treo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải có xác nhận của người đại diện;
d) Bản nhận xét của
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về việc
chấp hành nghĩa vụ của người được hưởng án treo;
đ) Bản tự nhận xét của
người được hưởng án treo về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành pháp luật; trường
hợp người được hưởng án treo bị kiểm điểm theo quy định tại Điều
86 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm và biên bản cuộc họp kiểm điểm;
e) Trường hợp người được
hưởng án treo được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có quyết định của Tòa
án;
g) Tài liệu khác có
liên quan.
4.
Trong thời gian thử thách, Công an cấp xã, đơn vị quân đội thực hiện các biện
pháp quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án, phòng ngừa người chấp hành
án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật; hằng tháng, đánh giá, nhận xét và báo
cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu kết quả quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
5. Ba ngày trước khi hết thời gian thử thách hoặc
kể từ ngày nhận được quyết định về rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại,
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục bàn giao
hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu.
Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách hoặc
ngày quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách của Tòa án có hiệu lực pháp luật,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu phải cấp chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách. Chứng nhận phải
gửi cho người được hưởng án treo, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi
hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp hành án treo bị khởi tố bị
can hoặc đang bị đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo thì chưa cấp chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách. Ngay sau khi
nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người chấp hành án treo
không vi phạm pháp luật hình sự hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thực hiện cấp chứng nhận chấp
hành xong thời gian thử thách.
6. Trường hợp người được hưởng án treo chết,
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thông báo
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ
thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c và d
khoản 2 Điều 79 của Luật này.
Điều
81. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát,
giáo dục người được hưởng án treo.
2. Công an cấp xã có
nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức
quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; bàn giao hồ sơ cho cơ
quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người được hưởng án treo thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu
vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người được hưởng án treo có nhiều
tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người được hưởng án treo được
vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư
trú, được ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án treo
làm việc, học tập trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định việc rút ngắn thời
gian thử thách;
g) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc
người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản
án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;
h) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh khi người được hưởng án treo bỏ trốn;
i) Hằng tháng, nhận xét bằng văn bản về quá
trình chấp hành án của người được hưởng án treo và lưu hồ sơ;
k) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm
quyền về kết quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo
định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại các điểm a, b, c, i và k khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho
người được hưởng án treo được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của
Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia
đình và Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người được hưởng án treo cư
trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án quân sự khu vực xem xét, quyết định
việc rút ngắn thời gian thử thách;
đ) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết
định buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù
của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;
e) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu khi người được hưởng án treo bỏ trốn.
Điều
82. Nghĩa vụ của
người được hưởng án treo
1. Có mặt theo giấy triệu
tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều
80 của Luật này.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc
tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm
việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,
trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc;
chỉ được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của
Tòa án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 87 và Điều
88 của Luật này.
4. Chấp hành quy định tại Điều
87 của Luật này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân
cấp xã, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
6. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về tình
hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt,
người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.
Điều
83. Việc lao động,
học tập của người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án
treo là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ
quan, chiến sĩ, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được
tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu
quản lý, giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với
công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ
theo quy định của pháp luật.
2. Người được hưởng án
treo được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì
được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó.
3. Người được hưởng án
treo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người được hưởng án
treo thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người
đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều
84. Rút ngắn thời
gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo được đề nghị rút ngắn
thời gian thử thách khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một
phần hai thời gian thử thách;
b) Trong thời gian thử
thách, người được hưởng án treo đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa
vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; tích cực học tập,
lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh,
trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;
c) Có đơn đề nghị rút
ngắn thời gian thử thách án treo.
2. Người được hưởng án
treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi năm 01 lần, thời gian rút ngắn mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm. Trường
hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể được rút ngắn hết
thời gian thử thách còn lại. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời
gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ba phần tư thời
gian thử thách.
3. Trường hợp người được
hưởng án treo lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện quy định
tại khoản 1 Điều này thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
4. Trường hợp người được
hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ
quy định tại Điều 82 của Luật này và bị Tòa án quyết định
buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì
thời gian thử thách đã được rút ngắn không được tính để trừ vào thời gian chấp
hành án phạt tù.
Điều
85. Thủ tục rút
ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Việc rút ngắn thời gian thử
thách đối với người được hưởng án treo được thực
hiện mỗi năm 03 đợt, vào dịp tết Dương lịch,
ngày Chiến thắng và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có
trách nhiệm rà soát, lập danh sách những người đủ điều kiện rút ngắn thời gian
thử thách, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu kèm theo tài liệu có liên quan để đề nghị xét rút
ngắn thời gian thử thách.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối
với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường
hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
có văn bản thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
4. Hồ sơ đề nghị rút ngắn
thời gian thử thách bao gồm:
a) Văn bản đề nghị rút
ngắn thời gian thử thách của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Đơn đề nghị rút ngắn
thời gian thử thách của người được hưởng án treo;
c) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian
thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định
thi hành án treo;
d) Báo cáo đề nghị rút ngắn thời
gian thử thách của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người được hưởng án treo;
đ) Trường hợp người được
hưởng án treo được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen
thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; trường hợp người được hưởng án treo bị
bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận hoặc xác
nhận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đang điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp
cơ bản trở lên;
e) Trường hợp người được
hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định
rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người
được hưởng án treo cư trú, làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét rút ngắn thời gian thử thách. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công,
Thẩm phán phải mở phiên họp và ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận
rút ngắn thời gian thử thách đối với người được
hưởng án treo.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người
chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn
thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định cho hưởng án treo.
Điều
86. Việc kiểm
điểm người được hưởng án treo
1. Trong thời gian thử thách, người được hưởng
án treo thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao giám sát tổ chức kiểm điểm:
a) Vi phạm nghĩa vụ quy
định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 82 của Luật này và
đã bị nhắc nhở bằng văn bản về việc vi phạm mà tiếp tục vi phạm;
b) Đã bị xử phạt vi phạm
hành chính;
c) Thực hiện một trong
các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc
khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Việc kiểm điểm phải
được lập thành biên bản, lưu hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu.
Điều
87. Giải quyết
việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án
treo
1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại
nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2
Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư
trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời
gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử
thách, trừ trường hợp quy định tại Điều 88 của Luật này hoặc
trường hợp người được hưởng án treo bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh đó.
2. Người được hưởng án
treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp
không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và
nêu rõ lý do.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan tại nơi cư trú, người được hưởng án
treo phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn lý do vắng mặt.
Người được hưởng án
treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm
trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Công an cấp xã
nơi tạm trú, lưu trú.
Trường hợp người được
hưởng án treo vi phạm pháp luật, Công an cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông
báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường
hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện
theo quy định tại Điều 66 của Luật này.
4. Người được hưởng án
treo bị tạm hoãn
xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Điều
88. Giải quyết
trường hợp người được hưởng án treo có nguyện vọng làm việc, học tập ngoài nơi
cư trú
1. Trường hợp người được
hưởng án treo có nguyện vọng lựa chọn làm việc, học tập ngoài nơi cư trú thì phải xin phép và được sự
đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục;
trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Người được hưởng án
treo có trách nhiệm báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục về kế hoạch lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập
có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc sau khi được Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho người được hưởng án treo làm việc, học tập
ngoài nơi cư trú thì người được hưởng án treo phải trình báo với Công an cấp xã
nơi mình đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp đồng lao động, kết thúc học tập
phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi họ làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải
thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu về việc giải quyết cho người được hưởng án treo ra khỏi
nơi cư trú để làm việc, học tập.
5. Người được hưởng án
treo trong thời gian làm việc, học tập ngoài nơi cư trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình.
Trường hợp người
được hưởng án treo vi phạm pháp luật tại nơi làm việc, học tập, Công an cấp xã
nơi người đó đến làm việc, học tập phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục để phối hợp giải quyết.
Điều
89. Xử lý vi phạm
đối với người được hưởng án treo
1. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm
nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 82 của Luật này thì Công
an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm, đồng thời yêu cầu người được
hưởng án treo phải có mặt trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm.
Hết thời hạn này mà người được hưởng án treo vẫn không có mặt thì Công an cấp
xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án nhân
dân khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú, Tòa án quân sự khu vực nơi người
được hưởng án treo làm việc quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt
tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Trong thời gian thử
thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 86 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi
phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã,
đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có
thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã
cho hưởng án treo.
Trường hợp người được
hưởng án treo bỏ đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc không xin phép, Công an cấp
xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, nhắc nhở bằng văn bản và triệu
tập người được hưởng án treo đến làm việc nhưng họ vẫn không có mặt thì thực hiện
kiểm điểm vắng mặt và lập biên bản kiểm điểm vắng mặt. Sau khi kiểm điểm, Công
an cấp xã, đơn vị quân đội tiếp tục triệu tập người được hưởng án treo đến làm
việc mà họ vẫn không có mặt thì lập biên bản và nhắc nhở bằng văn bản, tiếp tục
triệu tập nhưng họ vẫn không có mặt thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập
biên bản xác nhận sự vắng mặt và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề
nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù
của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu lập hồ sơ đề
nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo gửi Tòa án có
thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này để xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ
bao gồm:
a) Văn bản đề nghị của
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu;
b) Báo cáo của Công an
cấp xã hoặc của đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được
hưởng án treo về việc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở
lên;
c) Biên bản người được
hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;
d) Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị
xử phạt vi phạm hành chính;
đ) Biên bản kiểm điểm
người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;
e) Tài liệu khác có
liên quan.
4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân
sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì
phiên họp để xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp
xét buộc chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
và ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt
tù của bản án đã cho hưởng án treo; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phiên họp có sự tham gia của
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì
thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
Trong thời hạn
03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt
tù của bản án đã cho hưởng án treo, Tòa án phải gửi quyết định cho cá
nhân, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này.
5. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
phải làm thủ tục đưa người bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo đi chấp hành án phạt tù. Trường hợp người bị Tòa án quyết định chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo bỏ trốn thì cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết
định truy nã và tổ chức truy bắt.
Trường hợp Tòa án không
chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu lưu quyết định và các tài liệu có liên quan vào hồ sơ thi hành án treo
và thông báo quyết định cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
người được hưởng án treo để tiếp tục quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Trường hợp người được
hưởng án treo bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để quản
lý, giám sát, giáo dục họ.
7. Trường hợp người được
hưởng án treo bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp
xã, đơn vị quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án để phục
vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều
90. Trách nhiệm
quản lý, giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người được
hưởng án treo
1. Cơ quan, tổ chức có
liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã,
đơn vị quân đội trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ
sở phân công người tham gia quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án treo
theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người được
hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý, giám sát, giáo dục và
thông báo kết quả chấp hành án của người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân
cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải
có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục.
Mục
2. THI HÀNH ÁN PHẠT CẢNH CÁO
Điều 91. Thi hành án phạt cảnh
cáo
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày bản án có
hiệu lực pháp luật, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải gửi bản án cho người bị phạt
cảnh cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
nơi người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc làm việc.
2. Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm
theo dõi, thống kê, báo cáo theo quy định của Luật này.
Mục
3. THI HÀNH ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Điều 92. Quyết định thi
hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Quyết định thi hành
án phạt cải tạo không giam giữ phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định;
bản án, quyết định được thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của
người chấp hành án; thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; hình phạt
bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; nơi chấp hành án, tên cơ quan
có nhiệm vụ thi hành; Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành án,
người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao
quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu nơi người chấp hành án làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp
hành án.
Điều
93. Thi hành
quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án phạt cải tạo không
giam giữ, Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập
người chấp hành án, người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người
dưới 18 tuổi đến
trụ sở Công an cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc
để cam kết việc chấp hành án. Người chấp hành án, người đại diện của người chấp
hành án phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan.
Trường hợp người chấp
hành án không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì Công an cấp xã,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu lập hồ sơ thi hành án và bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật;
b) Quyết định thi hành án;
c) Cam kết của người chấp hành án. Đối với người
chấp hành án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người
đó phải có xác nhận của người đại diện;
d) Bản nhận xét của Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghĩa vụ của người
chấp hành án;
đ) Bản tự nhận xét việc thực hiện nghĩa vụ của
người chấp hành án;
e) Trường hợp được giảm thời hạn chấp hành án,
miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thì phải có quyết định của Tòa
án;
g) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trong thời gian chấp
hành án, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án, phòng
ngừa người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật; hằng tháng, đánh
giá, nhận xét và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu kết quả quản lý, giám sát, giáo dục người chấp
hành án.
4. Ba ngày trước khi hết thời hạn chấp hành án
hoặc kể từ ngày nhận được quyết định miễn, giảm hết thời hạn chấp hành án, Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ
thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu.
Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt
cải tạo không giam giữ hoặc ngày quyết định miễn, giảm hết thời hạn chấp hành
án có hiệu lực, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu phải cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo
không giam giữ.
Chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp hành án bỏ đi khỏi địa
phương chưa xác định nơi cư trú cụ thể hoặc đang bị cơ quan, người có thẩm quyền
xử lý vì hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chưa cấp chứng nhận chấp
hành xong án phạt cải tạo không giam giữ.
5. Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thông báo và bàn giao
hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành
án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ
thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c và d
khoản 2 Điều 92 của Luật này.
Điều
94. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát,
giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy
ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức
quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi
hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người chấp hành án thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu
vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người chấp hành án có nhiều tiến bộ
hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt
hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú; giải
quyết trường hợp người chấp hành án ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc,
học tập trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp
hành án, miễn chấp hành án;
g) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thực
hiện khấu trừ một phần thu nhập của người chấp hành án theo quyết định của Tòa
án để sung quỹ nhà nước;
h) Tổ chức giám sát người chấp hành án thực hiện
một số công việc lao động phục vụ cộng đồng;
i) Đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính hoặc xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự người chấp hành
án trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật này;
k) Hằng tháng, nhận xét bằng văn bản về quá
trình chấp hành án của người chấp hành án và lưu hồ sơ;
l) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm
quyền về kết quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo
định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại các điểm a, b, c, g, i, k và l khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho
người chấp hành án được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật
này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình và Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú trong việc quản lý, giám sát,
giáo dục người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành
án, miễn chấp hành án.
Điều
95. Nghĩa vụ của
người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Có mặt theo giấy triệu
tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều
93 của Luật này.
2. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp
luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi
làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại, các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án.
3. Thực hiện nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu
trừ; thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của
pháp luật.
4. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc;
chỉ được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của
Tòa án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 96 và Điều
97 của Luật này.
5. Chấp hành quy định tại Điều
96 của Luật này.
6. Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
7. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt
theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật này thì khi hết
thời hạn vắng mặt, người chấp hành án phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa
vụ của mình.
Điều
96. Giải quyết
việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án
có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo
quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của
pháp luật về cư trú.
Thời gian vắng mặt tại nơi
cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú
không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp quy định tại Điều 97 của Luật này hoặc
trường hợp người chấp hành án bị bệnh phải điều
trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
2. Người chấp hành án
khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Công an
cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không
đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ
lý do.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan mà vắng mặt tại nơi cư trú, người chấp
hành án phạt cải tạo không giam giữ phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn
lý do vắng mặt.
Người chấp hành án khi
đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu
trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm
trú, lưu trú.
Trường hợp người chấp
hành án vi phạm pháp luật, Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú phải thông
báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường
hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực
hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật này.
4. Người chấp hành án bị tạm hoãn xuất cảnh trong
thời gian chấp hành án.
Điều
97. Giải quyết
trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có nguyện vọng làm việc, học tập
ngoài nơi cư trú
1. Trường hợp người chấp
hành án phạt cải
tạo không giam giữ có nguyện vọng lựa chọn việc làm, học tập ngoài nơi cư trú
thì phải xin phép và được sự đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục phải trả
lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ có trách nhiệm báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục về kế hoạch lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập
có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc sau khi được Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ làm việc ngoài nơi cư trú thì người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp đồng lao động,
chương trình học
tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi mình làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu về việc giải quyết cho người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ đi khỏi nơi
cư trú để làm việc, học tập.
5. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ trong thời gian làm việc, học tập ngoài nơi cư trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình.
Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ vi phạm pháp luật tại nơi làm việc, học tập, Công an cấp xã nơi
người đó đến làm việc, học tập phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục người này để phối hợp giải quyết.
Điều
98. Việc lao động,
học tập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án
là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan,
chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người lao động
nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm
yêu cầu quản lý, giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp
với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại
ngũ theo quy định của pháp luật.
2. Người chấp hành án
được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được
hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó.
3. Người chấp hành án
không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi người đó chấp hành án tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người chấp hành án
thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người
đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Người chấp hành án
không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành án thì phải thực
hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày người chấp hành án được xác định là không có việc làm hoặc
bị mất việc làm, Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Ủy ban nhân dân cấp
xã phải xem xét, quyết định buộc người chấp hành án thực hiện một số công việc
lao động phục vụ cộng đồng. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã phải nêu rõ loại công việc, thời gian
lao động phục vụ cộng đồng dự kiến buộc người chấp hành án phải thực hiện. Công an cấp xã có trách nhiệm giám sát người chấp hành án
thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Ngay sau khi người chấp
hành án có việc làm, Công an cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết
định chấm dứt việc lao động phục vụ cộng đồng.
Điều
99. Giảm thời hạn
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án
có thể được giảm thời hạn chấp hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được
một phần ba thời hạn án phạt; đối với người dưới
18 tuổi thì phải chấp hành được một phần tư thời
hạn án phạt;
b) Trong thời gian chấp
hành án phạt cải
tạo không giam giữ người chấp hành án đã chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ
theo quy định tại Điều 95 của Luật này; tích cực học tập,
lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo đảm an ninh, trật tự được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;
c) Bồi thường được một
phần nghĩa vụ dân sự trong trường hợp có nghĩa vụ dân sự;
d) Có đơn đề nghị giảm
thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
2. Người chấp hành
án mỗi năm có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần, mỗi lần có thể được
giảm từ 03 tháng đến 09 tháng.
3. Người chấp hành
án có thể được giảm thời hạn chấp hành án nhiều lần nhưng phải bảo đảm thời
gian thực tế chấp hành án là một phần hai mức án, đối với người chấp hành án là
người dưới 18 tuổi thì phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là hai phần
năm mức án.
4. Người chấp hành
án đã lập công, người đã quá già yếu hoặc người bị bệnh hiểm nghèo đã chấp hành
được một phần tư thời hạn án phạt thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành
án, mức giảm mỗi lần cao nhất là 01 năm nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp
hành án là hai phần năm mức án.
5. Người chấp hành
án là người dưới 18 tuổi nếu lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm
ngay. Trường hợp đã chấp hành được hai phần năm mức án thì có thể được giảm hết
thời hạn còn lại.
Điều
100. Thủ tục giảm
thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Việc giảm thời hạn chấp hành
án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện mỗi năm 03 đợt, vào dịp tết Dương lịch, ngày Chiến thắng và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án có trách
nhiệm rà soát người đủ điều kiện giảm thời hạn chấp hành án, báo cáo cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
kèm theo tài liệu có liên quan để đề nghị giảm thời hạn chấp hành án.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án đối với người có
đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường hợp xét thấy
không đủ điều kiện lập hồ sơ giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản
thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục người chấp hành án.
4. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án bao gồm:
a) Văn bản của cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ;
b) Đơn đề nghị giảm thời
hạn chấp hành án của người chấp hành án;
c) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét giảm thời hạn chấp
hành án từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi
hành án;
d) Báo cáo đề nghị giảm thời hạn
chấp hành án của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người chấp hành án;
đ) Trường hợp người chấp hành án được khen thưởng
hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của
cơ quan có thẩm quyền về việc người chấp hành án lập công; trường hợp bị bệnh
hiểm nghèo thì phải có kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
đang điều trị cho người chấp hành án, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở
lên; tài liệu thể hiện đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự;
e) Trường hợp người chấp
hành án đã được giảm thời hạn chấp hành án thì phải có bản sao quyết định giảm
thời hạn chấp hành án;
g) Tài liệu khác có
liên quan.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành
án, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án
Tòa án quân sự khu vực nơi người chấp hành án cư trú, làm việc phân công 01 Thẩm
phán chủ trì phiên họp để xét giảm thời hạn chấp
hành án phạt cải tạo không giam giữ. Trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét giảm thời hạn
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và ra quyết định về việc giảm thời hạn
chấp hành án; quyết định phải nêu rõ việc chấp
nhận hoặc không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Tòa án đã ra quyết
định thi hành án.
Điều
101. Thủ tục miễn
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Viện kiểm sát nhân
dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người chấp hành án đang cư trú,
làm việc, tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa
án cùng cấp xét
miễn chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Văn bản đề nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát;
c) Văn bản đề nghị của
cơ quan thi hành án hình sự trong trường hợp cơ quan này đề nghị;
d) Đơn xin miễn chấp
hành án của người bị kết án hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật;
đ) Xác nhận của cơ quan
có thẩm quyền về việc người bị kết án đã lập công; kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị cho người chấp
hành án hoặc cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên; xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết án
chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm
phán phải mở phiên họp xét miễn chấp hành án phạt cải
tạo không giam giữ và ra quyết định về việc miễn
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; quyết định phải nêu rõ việc
chấp nhận hoặc không chấp nhận miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
Điều
102. Xử lý vi
phạm đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trường hợp người chấp hành án cố ý vi phạm
nghĩa vụ quy định tại Điều 95 của Luật này thì Công an cấp
xã, đơn vị quân đội lập biên bản về việc vi phạm.
2. Trường hợp đã lập
biên bản về việc vi phạm nghĩa vụ 02 lần nhưng người chấp hành án vẫn tiếp tục
vi phạm hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc thực hiện một trong các hành
vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì Công an cấp xã tổ chức kiểm điểm người đó; trường hợp
người chấp hành án do đơn vị quân đội quản lý, giám sát, giáo dục thì đơn vị
quân đội tổ chức kiểm điểm người đó. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ và
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu.
3. Người chấp hành án
đã bị kiểm điểm nhưng tiếp tục cố ý không chấp hành nghĩa vụ hoặc tiếp tục bị xử
phạt vi phạm hành chính hoặc tiếp tục thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,
đặc khu theo
quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì không được xem xét giảm thời hạn chấp hành án và Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu đề nghị Tòa án có thẩm quyền xử lý. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi
vi phạm, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục đề nghị cơ quan, người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét truy cứu trách nhiệm hình
sự.
4. Trường hợp người chấp
hành án phạt cải tạo không giam giữ bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc
thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để quản lý, giám sát, giáo dục họ.
5. Trường hợp người chấp
hành án phạt cải tạo không giam giữ bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu, Công an cấp xã, đơn vị quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
đang thụ lý vụ án để phục vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều
103. Trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người chấp hành án phạt cải tạo không
giam giữ
1. Cơ quan, tổ chức có
liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã,
đơn vị quân đội trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ
sở phân công người tham gia quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án theo
quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người chấp hành án có trách nhiệm phối hợp trong
việc quản lý, giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người chấp
hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát,
giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người chấp hành án
theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Chương
V
THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM CƯ
TRÚ, QUẢN CHẾ
Mục
1. THI HÀNH ÁN
PHẠT CẤM CƯ TRÚ
Điều
104. Thủ tục
thi hành án phạt cấm cư trú
1. 02 tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm cư trú,
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm
thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 44
của Luật này cho Công an cấp xã nơi người đó về cư trú và nơi người đó bị cấm
cư trú.
2. Ngay sau khi phạm
nhân có hình phạt bổ sung là cấm cư trú chấp hành xong án phạt tù, trại giam,
trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu nơi người đó chấp hành án phải gửi chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp hành án về cư trú.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại
khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp
hành án về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án phạt cấm cư trú và bàn
giao cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú, thông báo Công an cấp
xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ thi hành án, Công an cấp xã nơi người chấp
hành án về cư trú triệu tập người chấp hành án đến trụ sở, yêu cầu cam kết việc
chấp hành án và sao gửi các tài liệu cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm
cư trú.
Trường hợp người chấp
hành án thay đổi nơi cư trú, Công an cấp xã báo cáo và bàn giao hồ sơ thi hành án
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để bàn giao cho cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người chấp hành án đến cư
trú.
4. Hồ sơ thi hành án phạt
cấm cư trú bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Bản sao quyết định
thi hành án phạt tù;
c) Chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù;
d) Cam kết của người chấp
hành án; nhận xét về quá trình chấp hành án phạt cấm cư trú;
đ) Biên bản vi phạm
nghĩa vụ của người chấp hành án (nếu có);
e) Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính đối với người chấp hành án (nếu có);
g) Quyết định của Tòa
án về miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại (nếu có);
h) Tài liệu khác có
liên quan.
5. 03 ngày trước khi hết thời hạn cấm
cư trú hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định miễn chấp
hành thời hạn cấm cư trú còn lại, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú
bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để
cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt cấm cư trú. Chứng nhận phải gửi cho người
chấp hành án, Công an cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú, Tòa án đã ra
quyết định thi hành án.
6. Trường hợp người chấp
hành án chết, Công an cấp xã thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải
ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Công an cấp
xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú.
Điều
105. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát,
giáo dục người chấp hành án phạt cấm cư trú về cư trú.
2. Công an cấp xã có
nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành
án phạt cấm cư trú về cư trú và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a)
Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án; tạo điều
kiện để họ lao động, học tập bình thường;
b) Triệu tập người chấp
hành án để thông báo thi hành bản án; phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định
có liên quan đến việc chấp hành án;
c) Nhận xét bằng văn bản
và lưu hồ sơ theo dõi về quá trình chấp hành án phạt cấm cư trú khi người đó
chuyển nơi cư trú;
d) Yêu cầu người chấp
hành án cam kết và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục,
phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
đ) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc
miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại cho người chấp hành án;
e) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh về kết quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp
xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản
2 Điều này.
Điều
106. Quyền và
nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm cư trú
1. Người chấp hành án phạt cấm cư trú có các quyền
sau đây:
a) Khi có lý do chính
đáng và được sự đồng ý của Công an cấp xã nơi bị cấm cư trú thì người chấp hành
án phạt cấm cư trú được đến địa phương đó; thời gian lưu trú do Công an cấp xã
nơi đến quyết định nhưng mỗi lần không quá 05 ngày;
b) Khi có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật thì được Công an cấp xã nơi cư trú đề nghị miễn chấp
hành thời hạn cấm cư trú theo quy định của Luật này.
2. Người chấp
hành án phạt cấm cư trú có các nghĩa vụ sau đây:
a) Cam kết việc chấp
hành án;
b) Không được cư trú ở
những nơi đã bị cấm cư trú, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh
cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật;
d) Có mặt theo yêu cầu
của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.
Điều
107. Thủ tục miễn
chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại
1. Khi người chấp hành
án phạt cấm cư trú có đủ điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 62
của Bộ luật Hình sự, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú báo cáo
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi người chấp hành án cư trú xét miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại, đồng thời
sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án;
b) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
c) Báo cáo đề nghị của Công an cấp xã;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của người bị cấm cư trú;
đ) Tài liệu khác có
liên quan.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm
phán phải mở phiên họp xét miễn chấp hành thời hạn
cấm cư trú còn lại và ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại; quyết định phải nêu rõ việc
chấp nhận hoặc không chấp nhận miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư
trú còn lại, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm
sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó cư trú và nơi người đó bị cấm
cư trú.
Điều
108. Xử lý người
chấp hành án phạt cấm cư trú vi phạm nghĩa vụ
1. Trường hợp người chấp hành án đến lưu trú mà
chưa được phép hoặc lưu trú quá thời hạn cho phép thì Trưởng Công an cấp xã, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, buộc họ
rời khỏi địa phương và thông báo cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư
trú.
2. Trường hợp người chấp
hành án phạt cấm cư trú không chấp hành nghĩa vụ quy định tại điểm
b và điểm c khoản 2 Điều 106 của Luật này thì không được xem xét miễn chấp
hành thời hạn cấm cư trú còn lại.
Mục
2. THI HÀNH ÁN PHẠT QUẢN CHẾ
Điều 109. Thủ tục thi hành
án phạt quản chế
1. 02 tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế,
Giám thị trại giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại
khoản 1 Điều 44 của Luật này cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó về cư trú để chấp hành án phạt quản
chế.
Trường hợp phạm nhân
không còn nơi cư trú tại địa chỉ quản chế theo bản án đã tuyên thì trại giam
xác minh nơi phạm nhân sẽ về cư trú và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó về cư trú để tiếp nhận và thực hiện
quản chế người chấp hành án.
2. Ngay sau khi phạm nhân có
hình phạt bổ sung là quản chế chấp hành xong án phạt tù, trại giam phải giao
người bị quản chế kèm theo bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án, chứng
nhận chấp hành xong án phạt tù, nhận xét kết quả chấp hành án phạt tù và tài liệu
có liên quan cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh tại trụ sở Công
an cấp xã nơi người đó về cư trú.
Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh phải yêu cầu người chấp hành án phạt quản chế cam kết
việc chấp hành án và giao ngay người đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp
xã để quản lý, kiểm soát, giáo dục.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận người chấp hành án, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải lập hồ sơ thi hành án phạt quản chế và
bàn giao cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Bản sao quyết định
thi hành án phạt tù;
c) Chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù;
d) Biên bản giao người
bị quản chế;
đ) Tài liệu về quá
trình chấp hành án phạt tù và tài liệu khác có liên quan;
e) Cam kết của người chấp
hành án phạt quản chế;
g) Nhận xét về quá
trình chấp hành án phạt quản chế;
h) Biên bản vi phạm
nghĩa vụ của người chấp hành án (nếu có);
i) Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính đối với người chấp hành án (nếu có);
k) Quyết định của Tòa
án về miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại (nếu có).
4. 03 ngày trước khi hết thời hạn quản
chế hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án về
miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, Công an cấp xã bàn giao hồ sơ thi
hành án phạt quản chế cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để cấp
chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế. Chứng nhận phải gửi cho người chấp
hành án, Công an cấp xã nơi người đó cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành
án.
5. Trường hợp người chấp
hành án chết,
Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú báo cáo và bàn giao hồ sơ thi hành
án phạt quản chế cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo
cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định
đình chỉ thi hành án và gửi cho Viện kiểm sát cùng
cấp, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư
trú.
Điều
110. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người chấp hành án phạt quản chế về cư
trú
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, kiểm soát,
giáo dục người chấp hành án phạt quản chế về cư trú.
2. Công an cấp xã có
nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, kiểm soát, giáo dục người chấp
hành án phạt quản chế về cư trú và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a)
Tiếp nhận người chấp hành án và hồ sơ thi hành án phạt quản chế; tổ chức quản
lý, kiểm soát, giáo dục người chấp hành án; tạo điều kiện để họ lao động, học tập
bình thường tại nơi bị quản chế; nhận xét bằng văn bản và lưu hồ sơ theo dõi về
quá trình chấp hành án;
b) Triệu tập người chấp
hành án để thông báo thi hành bản án, phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định
có liên quan đến việc chấp hành án;
c) Yêu cầu người chấp
hành án thực hiện cam kết và nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng
ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật; triệu tập người bị quản chế
trong trường hợp cần thiết; cấp giấy phép cho người chấp hành án đi khỏi nơi quản
chế theo quy định tại Điều 112 của Luật này; giải quyết trường
hợp người chấp hành án phạt quản chế ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
d) Định kỳ 01 tháng 01 lần nhận xét quá
trình chấp hành án gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
đ) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc
miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại cho người chấp hành án;
e) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp
xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản
2 Điều này.
Điều
111. Quyền và
nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế
1. Người chấp hành án có các quyền sau đây:
a) Sinh sống tại nơi quản
chế;
b) Lựa chọn việc làm
thích hợp, trừ những ngành, nghề hoặc công việc mà người chấp hành án không được
làm theo quy định của pháp luật; được hưởng thành quả lao động do mình làm ra;
c) Tự do đi lại trong
phạm vi xã, phường, đặc khu nơi quản chế;
d) Được xét miễn chấp
hành thời hạn quản chế còn lại theo quy định tại Điều 115 của
Luật này.
2. Người chấp hành án
có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chịu sự quản lý, kiểm
soát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã và Nhân dân địa phương; không
được tự ý rời khỏi nơi quản chế;
b) Mỗi tháng một lần
vào tuần đầu của tháng, trình diện và báo cáo với Công an cấp xã nơi quản chế
việc chấp hành quy định về quản chế;
c) Có mặt tại địa điểm
quy định khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã triệu tập, nếu vắng mặt phải
có lý do chính đáng;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh
chính sách, pháp luật và quy định của chính quyền địa phương; tích cực lao động,
học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội;
đ) Trường hợp được phép
đi khỏi nơi quản chế, người chấp hành án phải khai báo tạm vắng; trình diện, xuất
trình giấy phép, làm thủ tục đăng ký tạm trú, lưu trú với Công an cấp xã nơi đến
theo quy định; trở về nơi quản chế đúng thời hạn và trình diện với Công an cấp
xã.
Điều
112. Giải quyết
trường hợp người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế
1. Trường hợp có lý do
chính đáng, người chấp hành án có thể được cấp giấy phép đi khỏi nơi quản chế.
Thẩm quyền cấp giấy phép như sau:
a) Trưởng Công an cấp
xã nơi quản chế cấp giấy phép đi lại trong phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế;
b) Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh cấp giấy phép đi ra ngoài phạm vi cấp tỉnh
nơi quản chế.
2. Thời hạn người chấp
hành án được phép đi khỏi nơi quản chế do người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết
định, nhưng mỗi lần không quá 10 ngày.
Trường hợp người chấp
hành án phải đi chữa bệnh thì thời gian đi khỏi nơi quản chế theo thời gian đi chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều
113. Giải quyết
trường hợp người chấp hành án phạt quản chế có nguyện vọng làm việc, học tập ngoài nơi quản chế
1. Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế
có nguyện vọng lựa chọn việc làm, học tập ngoài nơi quản chế thì phải xin phép
và được sự đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã được giao quản lý, kiểm soát,
giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã phải trả lời bằng văn bản
và nêu rõ lý do.
2. Người chấp hành án phạt quản chế có trách
nhiệm báo cáo Công an cấp xã được giao quản lý, kiểm
soát, giáo dục về kế hoạch lao động, hợp đồng
lao động, chương trình học tập có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi
người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày được Công an cấp xã đồng ý về việc cho người chấp hành án phạt quản chế làm việc, học tập ngoài nơi quản chế thì người chấp hành
án phạt quản chế
phải trình báo với Công an cấp xã nơi đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp
đồng lao động, học tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi làm việc, học
tập.
4. Công an cấp xã được
giao quản lý, kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh về việc giải quyết cho người chấp hành án phạt quản chế ra khỏi nơi
quản chế để làm
việc, học tập.
5. Người chấp hành án phạt quản chế trong thời
gian làm việc, học tập ngoài nơi quản chế phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình. Trường hợp
người chấp hành án phạt quản chế vi phạm pháp luật tại nơi làm việc, học tập,
Công an cấp xã nơi người đó đến làm việc, học tập phải thông báo cho Công an cấp
xã được giao quản lý, kiểm soát, giáo dục để phối hợp giải quyết.
Điều
114. Xử lý người
chấp hành án phạt quản chế vi phạm nghĩa vụ
1. Trường hợp người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ
quy định tại khoản 2 Điều 111 của Luật này thì Công an cấp
xã lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người chấp hành án có thể
bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Người chấp hành án
phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế mà không có giấy phép hoặc vi phạm quy định
ghi trong giấy phép nếu không có lý do chính đáng thì thời gian này không được
tính vào thời hạn chấp hành án phạt quản chế.
Điều
115. Thủ tục miễn
chấp hành thời hạn quản chế còn lại
1. Khi người chấp hành
án phạt quản chế có đủ điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 62 của
Bộ luật Hình sự, Công an cấp xã nơi quản chế báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi quản chế xét
miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ
bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
b) Văn bản đề nghị của
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
c) Báo cáo đề nghị của Công an cấp xã nơi quản chế;
d) Đơn xin miễn chấp
hành án của người chấp hành án phạt quản chế;
đ) Tài liệu khác có
liên quan.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm
phán phải mở phiên họp xét miễn chấp hành thời hạn
quản chế còn lại và ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại; quyết định phải nêu rõ việc
chấp nhận hoặc không chấp nhận miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ
phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn quản chế
còn lại, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã.
Chương
VI
THI HÀNH ÁN PHẠT TRỤC XUẤT
Điều
116. Quyết định
thi hành án phạt trục xuất
1. Trường hợp trục xuất
là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt chính
là phạt tiền thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án. Quyết
định phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án được thi hành; họ,
tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành án; hình phạt bổ
sung; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.
2. Trường hợp trục xuất
là hình phạt bổ sung thì quyết định thi hành án phải ghi đầy đủ hình phạt chính
và hình phạt bổ sung, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều
117. Thông báo
thi hành án phạt trục xuất
1. Trường hợp ra quyết
định thi hành án phạt trục xuất theo quy định tại khoản 1 Điều 116
của Luật này, Tòa án phải gửi ngay quyết định cho cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh và Viện kiểm sát cùng cấp. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải tống đạt
quyết định thi hành án cho người chấp hành án và thông báo ngay cho Bộ Ngoại
giao, cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có
quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc
tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam.
Trường hợp người chấp hành án đang bị tạm giam thì phải gửi quyết định này cho
trại tạm giam nơi đang tạm giam người đó để tống đạt cho người chấp hành án.
2. Trường hợp phạm nhân
có hình phạt bổ sung là trục xuất theo quy định tại khoản 2 Điều
116 của Luật này thì 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù,
Giám thị trại giam phải thông báo bằng văn bản cho phạm nhân đó và cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi trại giam đóng. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh phải thông báo cho Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có
quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc
tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam.
Điều
118. Hồ sơ thi
hành án phạt trục xuất
1. Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ thi hành án phạt trục xuất.
2. Hồ sơ thi hành án phạt
trục xuất bao gồm:
a) Bản sao bản án có hiệu
lực pháp luật; quyết định thi hành án phạt trục xuất hoặc bản sao quyết định
thi hành án phạt tù trong trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung;
b) Bản sao hộ chiếu hoặc
bản sao giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu của người chấp hành án;
c) Giấy tờ chứng nhận
đã chấp hành xong hình phạt, nghĩa vụ khác;
d) Tài liệu khác có
liên quan.
Điều 119. Lưu trú trong thời
gian chờ xuất cảnh
1. Trong thời gian chờ
xuất cảnh, người chấp hành án phải lưu trú tại nơi lưu trú hoặc cơ sở lưu trú do cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh chỉ định.
2. Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh đưa người chấp hành án phạt trục xuất vào cơ sở lưu trú thuộc Công an cấp tỉnh hoặc cơ sở lưu trú thuộc Bộ Công an nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có nơi thường
trú, tạm trú;
b) Nhập cảnh trái phép
hoặc phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
c) Tự ý rời khỏi nơi
lưu trú được chỉ định hoặc không chấp hành các biện pháp quản lý, giám sát,
giáo dục của cơ quan có thẩm quyền;
d) Có hành vi vi phạm
pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật trong thời gian chờ xuất cảnh;
đ) Có hành vi bỏ trốn,
chuẩn bị bỏ trốn hoặc hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án phạt trục
xuất;
e) Mắc bệnh truyền nhiễm
nhóm A;
g) Tự nguyện xin vào cơ
sở lưu trú.
3. Thủ tục đưa người chấp
hành án phạt trục xuất vào cơ sở lưu trú được thực hiện như sau:
a) Trường hợp người chấp
hành án đang tại ngoại thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải áp
giải người chấp hành án đến cơ sở lưu trú;
b) Trường hợp người chấp
hành án đang bị tạm giam thì sau khi nhận được quyết định thi hành án, trại tạm
giam nơi tạm giam phải giao người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh để áp giải vào cơ sở lưu trú;
c) Khi phạm nhân có
hình phạt bổ sung là trục xuất chấp hành xong án phạt tù thì trại giam phải
giao người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để áp
giải vào cơ sở lưu trú.
4. Trường hợp người chấp
hành án chết trong thời gian chờ xuất cảnh thì cơ sở lưu trú hoặc nơi lưu trú
được chỉ định phải báo ngay cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết. Cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo bằng văn bản cho Tòa
án đã ra quyết định thi hành án phạt trục xuất, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện
ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có
quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc
tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam.
Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức mai táng. Trường hợp gia đình hoặc đại diện hợp
pháp của người chấp hành án đề nghị được nhận tử thi, tro cốt về mai táng và tự chịu chi
phí thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, giải quyết.
5.
Chính phủ quy định chi tiết chế độ ăn, ở, sinh hoạt, thăm gặp, khám bệnh, chữa
bệnh đối với người chấp hành án phạt trục xuất trong thời gian lưu trú tại cơ sở
lưu trú, chi phí mai táng đối với người chấp hành án phạt trục xuất chết tại cơ
sở lưu trú.
Điều
120. Giải quyết
trường hợp người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn
1. Trường hợp người chấp
hành án bỏ trốn thì cơ quan, đơn vị đang quản
lý phải lập biên bản và thông báo ngay cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để tổ chức truy bắt. Trường hợp truy bắt không có kết quả thì
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi người chấp hành án bỏ trốn, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh phải ra quyết định truy nã.
2. Người chấp hành án bỏ
trốn ra đầu thú thì cơ quan tiếp nhận lập biên bản và thông báo cho cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh đến nhận và đưa người đó vào cơ sở lưu trú.
Điều
121. Thực hiện
buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam
1. Đến thời hạn người
chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền tiến hành
kiểm tra căn cước của người chấp hành án phạt trục xuất và áp giải người đó đến
địa điểm xuất cảnh và buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Người chấp hành án phạt
trục xuất được mang theo tài sản hợp pháp của mình khi rời khỏi lãnh thổ Việt
Nam. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thi hành xong án phạt trục xuất, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo việc thi hành án phạt trục xuất
cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
2. Tòa án đã ra quyết định
thi hành án có thẩm quyền quyết định kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh
thổ Việt Nam đối với người chấp hành án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đang ốm nặng, đang
phải cấp cứu không thể đi lại được và được cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên xác nhận;
b) Phải chấp hành bản
án khác hoặc thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam;
c) Có lý do chính đáng
khác chưa thể rời khỏi lãnh thổ Việt Nam được Thủ trưởng cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh xác nhận.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh
thổ Việt Nam đối với người chấp hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đang
thi hành án phạt trục xuất, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều
122. Chi phí trục
xuất
Người chấp hành án phạt trục xuất phải chịu chi
phí vé máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu biển để rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp
người chấp hành án phạt trục xuất không có khả năng tự chịu chi phí thì cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan chức năng của Bộ Ngoại
giao, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người
đó có quốc tịch
hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức
đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam giải quyết kinh phí đưa người chấp hành án phạt
trục xuất về nước. Trường hợp đã yêu cầu mà cơ quan, tổ chức đó vẫn chưa giải
quyết được kinh phí nhưng vì lý do an ninh quốc gia, yêu cầu đối ngoại cần phải
trục xuất ngay thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh báo
cáo Cơ quan quản
lý thi hành án hình sự Bộ Công an quyết định việc sử dụng ngân sách nhà nước
chi trả vé máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu biển cho người chấp hành án phạt trục xuất.
Chương
VII
THI HÀNH ÁN PHẠT TƯỚC MỘT
SỐ QUYỀN CÔNG DÂN
Điều
123. Thủ tục
thi hành án phạt tước một số quyền công dân
1. 02 tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là tước một số
quyền công dân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm thông
báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 44 của
Luật này cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực nơi người đó về cư trú.
2. Ngay sau khi phạm
nhân có hình phạt bổ sung là tước một số quyền công dân chấp hành xong án phạt
tù, trại giam, trại tạm giam nơi người đó chấp hành án phải gửi chứng nhận chấp hành xong
án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp hành án về cư trú.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại
khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp
hành án về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án và bàn giao cho Công an
cấp xã nơi người đó về cư trú.
4. Hồ sơ thi hành án phạt tước một số quyền công
dân bao gồm:
a) Bản sao bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
b) Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;
c) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trường hợp người chấp hành án là người được
hưởng án treo thì sau khi nhận được bản án, quyết định thi hành án do Tòa án ra
quyết định thi hành án gửi, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ
sơ thi hành án và bàn giao cho Công an cấp xã nơi người đó về cư trú.
6. Công an cấp xã nơi người
chấp hành án về cư trú có nhiệm vụ quản lý, theo dõi, giám sát việc thực hiện
thi hành án phạt tước một số quyền công dân theo bản án của Tòa án; cung cấp
danh sách người chấp hành án khi có đề nghị của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp
hành án thay đổi nơi cư trú, Công an cấp xã bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để bàn giao cho cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người chấp hành án đến cư trú tiếp
tục thi hành án.
7. 03 trước khi hết thời hạn chấp hành án, Công an cấp xã bàn giao hồ sơ
thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để cấp chứng nhận
đã chấp hành xong án phạt tước một số quyền công dân. Chứng nhận phải gửi cho
người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người đó cư trú,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
8. Trường hợp người chấp
hành án chết, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải
ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp xã nơi người
chấp hành án cư trú.
Điều
124. Tước quyền
ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước
Trong thời gian bị tước
quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước, người chấp hành án không được
tham gia ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước.
Điều
125. Tước quyền
làm việc trong cơ quan nhà nước
1. Trong thời gian bị
tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước, người chấp hành án không được dự
tuyển hoặc tiếp tục làm việc trong cơ quan nhà nước.
2. Trường hợp người chấp
hành án đang là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước mà bị tước
quyền làm việc trong cơ quan nhà nước thì cơ quan nơi người đó làm việc phải ra
quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định buộc thôi việc hoặc
đình chỉ công tác trong thời hạn bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước
đối với người đó.
Điều 126. Tước quyền phục vụ
trong lực lượng vũ trang nhân dân
1. Người bị tước quyền
phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân, người chấp hành án không được đăng
ký, dự tuyển tham gia lực lượng vũ trang nhân
dân.
2. Trường hợp người chấp hành án đang phục vụ
trong lực lượng vũ trang nhân dân mà bị tước quyền này thì cơ quan, đơn vị có
thẩm quyền phải ra quyết định buộc người đó ra khỏi lực lượng vũ trang nhân
dân.
Chương
VIII
THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM ĐẢM
NHIỆM CHỨC VỤ, CẤM HÀNH NGHỀ HOẶC LÀM CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH
Điều
127. Thủ tục
thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
1. 02 tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, Giám thị trại giam, Giám
thị trại tạm giam nơi người đó đang chấp hành án phạt tù phải thông báo bằng
văn bản về việc thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực nơi người đó về cư trú, cơ
quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị
quân đội người đó làm việc.
2. Ngay sau khi phạm
nhân có hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm giam phải gửi chứng nhận
chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực
nơi người chấp hành án về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị quân đội người đó làm việc.
Trường hợp người có
hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định phải chấp hành hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam
giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo thì thời hạn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Tòa án ra quyết định thi hành án phải gửi bản án, quyết định thi hành án cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực nơi
người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu nơi có đơn vị người đó làm việc.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại
khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và bàn giao cho Công an cấp xã nơi
người chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; bản sao
quyết định thi hành án phạt tù;
b) Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;
c) Tài liệu khác có liên quan.
4. Công an cấp xã, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ quản lý, theo dõi, giám sát việc
thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
theo bản án của Tòa án. Trong thời gian chấp hành án, nếu phát hiện người chấp
hành án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc bị cấm thì Công an cấp
xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho cơ quan, tổ chức nơi
người đó làm việc để buộc người đó nghiêm chỉnh chấp hành bản án.
5. Trường hợp người chấp
hành án thay đổi nơi cư trú, Công an cấp xã bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo và bàn giao cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người chấp hành án đến
cư trú tiếp tục thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định.
6. 03 ngày trước khi hết thời
hạn chấp hành án, Công an cấp xã, đơn vị quân đội bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu để cấp chứng nhận đã chấp hành xong án
phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Chứng nhận phải gửi cho
người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người đó cư trú,
cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc, Tòa án đã ra quyết định
thi hành án.
7. Trường hợp người chấp
hành án chết, Công an cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó
làm việc thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi
hành án.
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải
ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp xã,
đơn vị quân đội nơi người chấp hành án làm việc.
Điều
128. Nghĩa vụ của
người chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định
1. Báo cáo về chức vụ, nghề hoặc công việc bị cấm
đảm nhiệm cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, Công an cấp xã nơi người
đó cư trú.
2. Không được tiếp tục
hoặc phải từ chối đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định đã
bị cấm.
3. Không được ứng cử
vào chức vụ đã bị cấm.
4. Trường hợp không còn
làm việc trong cơ quan, tổ chức hoặc thay đổi nơi làm việc phải báo cáo Công an
cấp xã nơi cư trú.
5. Có mặt khi cơ quan
có thẩm quyền triệu tập liên quan đến việc chấp hành án của mình.
Điều
129. Trách nhiệm
thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
1. Cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm
việc có trách nhiệm sau đây:
a) Ra quyết định cách
chức hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định cách chức người chấp hành án
khỏi chức vụ bị cấm đảm nhiệm và thông báo công khai trong cơ quan, tổ chức nơi
người đó làm việc;
b) Không được đề cử, đề
bạt, bổ nhiệm, bố trí người chấp hành án vào chức vụ, công việc, nghề bị cấm;
c) Báo cáo kết quả thi
hành án cho Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
d) Thông báo cho cơ
quan, tổ chức nơi người chấp hành án được chuyển đến làm việc về việc người đó
đang chấp hành án; cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án chuyển đến có trách
nhiệm thực hiện các quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
2. Công an cấp xã nơi
người chấp hành án cư trú có trách nhiệm sau đây:
a) Thông báo công khai
bản án tại nơi người chấp hành án về cư trú;
b) Báo cáo kết quả thi
hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
c) Trường hợp người chấp
hành án chuyển đến nơi cư trú mới phải thông báo cho Công an cấp xã nơi chuyển
đến về việc người đó đang chấp hành án. Công an cấp xã nơi người đó chuyển đến
có trách nhiệm thực hiện quy định tại điểm a khoản này.
Chương
IX
THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ
PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
Điều
130. Quyết định
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Quyết định áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bao gồm: quyết định của Tòa án, quyết
định của Viện kiểm sát về áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Quyết định áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải ghi rõ tên cơ quan, họ, tên, chức vụ
người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp
hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.
3. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, cơ quan ra quyết định phải gửi quyết định
đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, người đại diện của người đó;
b) Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp
Tòa án ra quyết định;
c) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
cư trú;
d) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định bắt buộc chữa
bệnh;
đ) Cơ quan đề nghị Tòa
án, Viện kiểm sát áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều
131. Cơ quan, tổ
chức được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
được chỉ định bắt
buộc chữa bệnh có nhiệm vụ thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị áp
dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều
132. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát trong thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong việc áp dụng và thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được thực
hiện theo quy định tại Chương này.
2. Viện kiểm sát
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong việc thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Điều
133. Bảo đảm điều
kiện thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
Nhà nước bảo đảm các điều
kiện về cơ sở vật chất, kinh phí để thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều
134. Thẩm quyền
đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, hồ sơ đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt
buộc chữa bệnh
1. Thẩm quyền đề nghị
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định như sau:
a) Cơ quan đang thụ lý
giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra có quyền đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền;
b) Trại giam, trại tạm
giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ
Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong giai đoạn thi hành án
có quyền đề nghị Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm
nhân chấp hành án.
2. Cơ quan đề nghị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm lập hồ sơ đưa người vào cơ
sở khám bệnh,
chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh. Hồ sơ bao gồm:
a) Quyết định của Viện
kiểm sát hoặc Tòa án về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Kết luận giám định pháp y; kết luận giám
định pháp y tâm thần;
c) Lý lịch cá nhân, lý lịch bị can hoặc lý lịch
phạm nhân của
người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Tài liệu khác có
liên quan.
3. Trường hợp Viện kiểm
sát, Tòa án tự mình quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì
Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị cơ
quan đang thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại
tạm giam trong giai đoạn thi hành án đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh.
Điều
135. Đưa người
vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh
1. Ngay sau khi nhận được
quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ quan đang giải quyết
vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam trong giai đoạn
thi hành án, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu trong trường hợp hoãn, tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù có nhiệm vụ giao người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định
theo quyết định của Viện kiểm sát hoặc quyết định của Tòa án; trường hợp người
bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là phạm nhân thì sao gửi quyết định áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh được Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định có trách nhiệm tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo, lập biên bản giao nhận. Cơ quan có trách nhiệm
đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thông báo cho gia đình của người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh về nơi người đó đang chữa bệnh.
Khi tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được
chỉ định có trách nhiệm sau đây:
a) Kiểm tra thông tin để
xác định đúng người bị áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa
bệnh theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Lập biên bản giao nhận
người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;
c) Tổ chức khám sức khỏe cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh. Trường hợp chưa đủ hồ sơ quy định
tại khoản 2 Điều 134 của Luật này thì cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh yêu cầu cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp
tư pháp bắt buộc chữa bệnh cung cấp đầy đủ.
3. Thời gian bắt buộc
chữa bệnh thực tế
của phạm nhân tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Đối với người đang chấp
hành án phạt tù, nếu thời gian chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng hoặc dài hơn thời gian phải chấp hành án phạt
tù thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu nơi đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho họ.
Điều 136. Tổ chức quản lý,
điều trị cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm quản
lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh; việc điều trị bệnh không được phân biệt đối xử.
2. Trong thời gian bắt
buộc chữa bệnh, gia đình của người bị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được gặp và phối
hợp chăm sóc người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và phải chấp hành đúng nội quy của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quy định về thăm gặp,
chăm sóc.
Trường hợp cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh có căn cứ cho rằng người bị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không mắc
bệnh như kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần thì đề nghị cơ quan đã ban hành quyết định
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định lại.
3. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh bỏ trốn, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải lập biên bản và thông
báo ngay cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, Công
an cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng trụ sở, Công an cấp xã nơi người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh cư trú và gia đình của người đó biết để phối hợp truy tìm, áp giải người đó trở lại cơ
sở khám bệnh,
chữa bệnh.
Hết thời hạn 03 ngày kể
từ ngày phát hiện người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn
mà việc truy tìm không có kết quả thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để tổ chức truy nã, áp giải người
đó trở lại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4.
Chính phủ quy định về biện pháp tổ chức quản lý người bị áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều
137. Chấm dứt thi hành biện pháp
tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Khi người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển
hành vi, thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp
tư pháp bắt buộc chữa bệnh để tiến hành trưng cầu
giám định pháp y, pháp y tâm thần về tình trạng
bệnh của người đó.
Căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần về
việc người đó đã khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển
hành vi, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đề nghị
Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.
2. Tòa án hoặc Viện kiểm
sát đã ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có
trách nhiệm gửi quyết định cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh để thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và gia đình của người đó.
3. Sau khi nhận được
quyết định đình chỉ, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
phải đến nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Việc giao nhận phải lập biên bản, trong
đó ghi rõ thời gian chữa bệnh tại cơ sở sở khám
bệnh, chữa bệnh.
4. Trường hợp quyết định
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bị hủy thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
bàn giao người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ quan đề
nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều
138. Giải quyết
trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chết
1. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh chết, thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết, thông báo cho gia đình của người chết, cơ
quan quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 134 của Luật này.
2. Sau khi được cơ quan
điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền cho phép, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có
trách nhiệm mai táng. Kinh phí cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp. Trường
hợp gia đình của
người chết đề nghị nhận tử thi để mai táng và tự chịu chi phí thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh giao
cho họ thực hiện. Việc tổ chức mai táng phải bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh
môi trường.
Chương
X
THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI
PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI
Điều
139. Cơ quan được
giao nhiệm vụ thi hành án
1. Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thi hành
hình phạt, biện pháp tư pháp quy định tại các điều 78, 79, 80,
81 và điểm b, điểm c khoản 1 Điều 82 của Bộ luật Hình sự
theo quy định của Luật này.
2. Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt
tiền quy định tại Điều 77 của Bộ luật Hình sự, biện pháp tư
pháp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 82 của Bộ luật Hình sự
theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Điều
140. Quyết định
thi hành án
1. Quyết định thi hành
án phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được
thi hành; cơ quan thi hành án hình sự; tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp, mã số
thuế; hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp; thời hạn chấp hành
án.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa án đã ra quyết định phải
gửi quyết định thi hành án cho các cơ quan, tổ chức sau đây:
a) Pháp nhân thương mại
chấp hành án;
b) Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
c) Viện kiểm sát cùng cấp;
d) Cổng thông tin quốc
gia về đăng ký doanh nghiệp.
Điều
141. Thủ tục
thi hành án
1. Pháp nhân thương mại
chấp hành án thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Khi được cơ quan thi hành án hình sự triệu tập
để thông báo, yêu cầu thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp, người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt, trừ trường hợp do tình trạng
khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại phải công bố quyết định đó
trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm của pháp nhân thương mại và niêm yết công
khai tại trụ sở chính và địa điểm kinh doanh của pháp nhân thương mại trong thời
gian chấp hành án; thông báo việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
c) Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động có
thời hạn phải tạm dừng hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh
vực bị đình chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật;
d) Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động
vĩnh viễn phải chấm dứt ngay hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số
lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc toàn bộ hoạt động bị đình chỉ
vĩnh viễn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
đ) Pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm
hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thì không được tiếp tục kinh doanh,
hoạt động đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án,
quyết định của Tòa án. Pháp nhân thương mại không được tiếp tục kinh doanh, hoạt
động kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
e) Pháp nhân thương mại bị cấm huy động vốn thì
không được thực hiện một hoặc một số hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm
theo bản án, quyết định của Tòa án. Pháp nhân thương mại không được thực hiện
việc huy động vốn kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
g) Pháp nhân thương mại bị áp dụng biện pháp tư
pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm
khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra thì phải thi hành theo bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
h) Pháp nhân thương mại chấp hành án phải báo
cáo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý nhà nước đối
với pháp nhân thương mại về việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp theo bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
i) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp
luật có liên quan.
2. Cơ quan thi hành án hình sự thực hiện các thủ
tục sau đây:
a) Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành
án, cơ quan thi hành án hình sự phải công bố ngay quyết định đó trên trang
thông tin điện tử của cơ quan mình và triệu tập người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân thương mại để thông báo, yêu cầu thi hành án. Người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân thương mại được triệu tập hợp lệ mà không có mặt thì cơ
quan thi hành án hình sự phải lập biên bản vắng mặt và tiếp tục tổ chức thi
hành án;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi văn bản yêu cầu
cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại thực hiện một hoặc một số
biện pháp quy định tại Điều 145 của Luật này;
c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước
đối với pháp nhân thương mại và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát
trong quá trình pháp nhân thương mại chấp hành án;
d) Ra quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy
định của Luật này; chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp
nhân thương mại và cơ quan, tổ chức khác có liên quan cưỡng chế thi hành án đối
với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan;
đ) Cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng
nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp, công bố và gửi các văn bản này theo quy
định tại Điều 140 của Luật này. Trường hợp pháp nhân thương
mại bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, sau khi cơ quan quản lý nhà nước đối với
pháp nhân thương mại thực hiện các biện pháp quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 145 của Luật này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra thông báo kết thúc việc thi hành
án;
e) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp
luật.
3. Cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân
thương mại chấp hành án thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Thực hiện biện pháp quy định tại Điều 145 của Luật này ngay sau khi nhận được văn bản yêu cầu của
cơ quan thi hành án hình sự kèm theo bản sao quyết định thi hành án và thông
báo cho cơ quan thi hành án hình sự kết quả thực hiện;
b) Công bố ngay trên cổng thông tin, trang thông
tin điện tử của cơ quan mình, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
quyết định thi hành án, các biện pháp đã được áp dụng đối với pháp nhân thương
mại quy định tại Điều 145 của Luật này, chứng nhận chấp
hành xong hình phạt, chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp;
c) Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và
cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân thương mại trong quá
trình chấp hành án;
d) Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và
cơ quan, tổ chức khác có liên quan cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân
thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan;
đ) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp
luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
142. Hồ sơ thi
hành án
Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm
lập hồ sơ thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Hồ sơ bao gồm:
1. Bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật;
2. Quyết định thi hành
án;
3. Giấy triệu tập người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại;
4. Văn bản của cơ quan
thi hành án hình sự yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án;
5. Thông báo của cơ
quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại cho cơ quan thi hành án hình
sự về thực hiện yêu cầu trong thi hành án và việc chấp hành án của pháp nhân
thương mại;
6. Báo cáo của pháp
nhân thương mại về việc chấp hành án;
7. Tài liệu thể hiện việc
công bố thông tin về thi hành án theo quy định của Luật này;
8. Biên bản về thi hành
án;
9. Tài liệu về việc cưỡng
chế thi hành án (nếu có);
10. Tài liệu về việc chấp
hành xong hình phạt, chấp hành xong biện pháp tư pháp theo quy định của Luật
này;
11. Tài liệu khác có
liên quan.
Điều
143. Quyền,
nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án
1. Pháp nhân thương mại
chấp hành án có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về việc
thi hành án;
b) Được nhận các quyết
định liên quan trong quá trình chấp hành án;
c) Được khiếu nại về
thi hành án;
d) Được cấp chứng nhận
chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp theo quy
định của Luật này;
đ) Được bồi thường thiệt
hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
2. Pháp nhân thương mại
chấp hành án có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định, yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền trong thi hành án;
b) Người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan
thi hành án hình sự;
c) Công bố và niêm yết
công khai quyết định thi hành án; thông báo việc chấp hành hình phạt và biện
pháp tư pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Luật
này;
d) Báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự về việc chấp hành án.
3. Pháp nhân thương mại
chấp hành án có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Điều
144. Cưỡng chế
thi hành án
1. Pháp nhân thương mại chấp hành án không chấp
hành hoặc chấp hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án thì bị áp dụng
biện pháp cưỡng chế thi hành án. Pháp nhân thương mại phải chịu chi phí cưỡng
chế thi hành án.
2. Cơ quan thi hành án
hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
3. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
145. Trách nhiệm
của cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại
1. Căn cứ vào bản án,
quyết định thi hành án và văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự, cơ
quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Sửa đổi hoặc đình chỉ
hiệu lực giấy phép thành lập và hoạt động hoặc văn bản khác có giá trị tương
đương đối với pháp nhân thương mại trong thời gian bị đình chỉ hoạt động có thời
hạn; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành
hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án;
b) Thu hồi hoặc xóa bỏ
nội dung đăng ký của pháp nhân thương mại hoặc văn bản khác có giá trị tương
đương; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của pháp nhân thương mại,
không cấp lại giấy phép thành lập, hoạt động đối với pháp nhân thương mại đã bị
đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật
để bảo đảm thi hành hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo bản án, quyết định
của Tòa án;
c) Xóa bỏ nội dung đăng
ký; sửa đổi, tạm dừng hiệu lực, thu hồi, từ chối hoặc không cấp lại một phần hoặc
toàn bộ giấy phép hoặc văn bản khác có giá trị tương đương; đình chỉ một phần
hoặc toàn bộ ngành, nghề, hoạt động của pháp nhân thương mại trong thời hạn bị
cấm hoạt động, cấm kinh doanh đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm; áp dụng
biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt cấm
kinh doanh, cấm hoạt động theo bản án, quyết định của Tòa án;
d) Tự mình hoặc yêu cầu
cơ quan, tổ chức thuộc lĩnh vực quản lý sửa đổi, đình chỉ, hủy bỏ, thu hồi giấy
phép; từ chối cấp phép, chấp thuận, tiến hành thủ tục để huy động vốn trong thời
hạn bị cấm đối với pháp nhân thương mại; áp dụng biện pháp khác theo quy định của
pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt cấm huy động vốn theo bản án, quyết định
của Tòa án;
đ) Áp dụng các biện
pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành biện pháp tư pháp buộc
khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục,
ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra theo bản án, quyết định của Tòa án.
2. Phối hợp với cơ quan
thi hành án hình sự và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân
thương mại trong quá trình chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp.
3. Thông báo bằng văn bản
cho cơ quan thi hành án hình sự về việc thực hiện yêu cầu trong thi hành án và
việc chấp hành án của pháp nhân thương mại.
4. Phối hợp với cơ quan
thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức khác có liên quan thi hành biện pháp cưỡng
chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
5. Công bố quyết định,
văn bản của cơ quan thi hành án hình sự và biện pháp được áp dụng đối với pháp
nhân thương mại theo quy định của Luật này.
6. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
146. Chuyển giao
nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp pháp nhân thương mại tổ chức lại
1. Trường hợp pháp nhân thương mại chấp hành án
được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật thì pháp nhân thương mại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của
pháp nhân thương mại chấp hành án có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Pháp
nhân thương mại không được lợi dụng việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển
đổi loại hình doanh nghiệp hoặc giải thể, phá sản để trốn tránh nghĩa vụ thi
hành án.
2. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều
147. Cấp chứng
nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp
1. Pháp nhân thương mại
chấp hành xong hình phạt, chấp hành xong biện pháp tư pháp thì được cơ quan thi
hành án hình sự có thẩm quyền cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận
chấp hành xong biện pháp tư pháp, trừ trường hợp pháp nhân thương mại bị kết án
đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp
hành xong biện pháp tư pháp cho pháp nhân thương mại, cơ quan thi hành án hình
sự phải công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan mình và gửi cho cơ
quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại, Tòa án đã ra quyết định thi
hành án, cơ quan quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 của Luật
này.
Chương
XI
KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN
HÌNH SỰ
Điều
148. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án hình sự, thi hành biện pháp tư pháp
1. Yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền ra quyết định thi hành án hình sự, yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền áp giải theo quy định của pháp luật;
yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ
thi hành án hình sự, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
tự kiểm tra việc thi hành án hình sự, thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và thông báo kết quả cho Viện
kiểm sát; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến thi hành án hình sự, thi hành biện pháp tư pháp.
2. Trực tiếp kiểm sát
việc thi hành án hình sự của cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một
số nhiệm vụ thi hành án hình sự, cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh; kiểm sát hồ sơ thi hành án hình sự, hồ sơ thi hành biện pháp tư pháp của cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số
nhiệm vụ thi hành án hình sự, cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu trực tiếp kiểm sát việc thi hành án phạt tù của
trại giam đóng tại địa phương, địa bàn; kiểm sát việc thi hành án đối với pháp
nhân thương mại.
3. Quyết định trả tự do
ngay cho người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật.
4. Đề nghị miễn, hoãn,
tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án; tham gia phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án, miễn
chấp hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện, buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo, rút ngắn thời gian thử thách.
5. Kháng nghị, kiến nghị,
yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ
thi hành án hình sự, người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự và trong thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết
định có vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm
pháp luật.
6. Tiếp nhận và giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, giáo dục
cải tạo người chấp hành án phạt tù theo thẩm quyền; kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi
hành án hình sự.
7. Khởi tố hoặc yêu cầu
cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm
trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
8. Thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn khác trong kiểm sát thi hành án hình sự.
Điều
149. Kiểm sát
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự
1. Viện kiểm sát trực
tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án, cơ quan quản lý thi
hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ
thi hành án hình sự.
2. Khi kiểm sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu
Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ
quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự thực hiện nhiệm vụ sau đây:
a) Ra văn bản giải quyết
khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XIII của Luật này;
b) Kiểm tra việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp dưới; thông báo kết quả giải
quyết cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp hồ sơ, tài
liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.
Điều
150. Trách nhiệm
thực hiện yêu cầu, quyết định, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát về thi
hành án hình sự
1. Đối với yêu cầu Tòa
án ra quyết định thi hành án hình sự và cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến
thi hành án hình sự phải thực hiện ngay; đối với yêu cầu Tòa án, cơ quan thi
hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự tự kiểm
tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát phải thực
hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 3 Điều 148 của Luật này, cơ quan thi hành án hình sự phải
thi hành ngay; nếu không nhất trí với quyết định đó thì vẫn phải thi hành,
nhưng có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn
10 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp phải giải quyết.
3. Đối với kháng nghị về quyết định giảm thời hạn
chấp hành án, miễn chấp hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện, buộc chấp hành hình phạt tù của bản án
đã cho hưởng án treo, rút ngắn thời gian thử thách quy định tại khoản
4 Điều 148 của Luật này thì việc giải quyết kháng nghị được thực hiện theo
quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
4. Đối với kháng nghị quyết định về việc hoãn, tạm
đình chỉ, đình chỉ chấp hành án của Tòa án quy định tại khoản 4
Điều 148 của Luật này và kháng nghị quy định tại khoản 5 Điều
148 của Luật này, Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một
số nhiệm vụ thi hành án hình sự có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị; nếu không nhất trí với kháng nghị
đó thì các cơ quan này có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp;
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại. Quyết định của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải
được thi hành.
5. Đối với kiến nghị quy định tại khoản
5 Điều 148 của Luật này phải được xem xét, giải quyết, trả lời bằng văn bản
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị.
Chương
XII
BẢO ĐẢM ĐIỀU KIỆN CHO
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 151. Bảo đảm biên chế, nhân lực, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng
cán bộ thi hành án hình sự
1. Nhà
nước bảo đảm biên chế, nhân lực cho các cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ
quan thi hành án hình sự.
2. Người
làm công tác thi hành án hình sự phải được đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật và kiến
thức khác phù hợp với nhiệm vụ,
quyền hạn được giao.
Điều 152. Bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thi hành án hình
sự
1. Căn
cứ yêu cầu công tác thi hành án hình sự, địa bàn hoạt động và điều kiện kinh tế
- xã hội, Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của cơ quan quản lý thi hành án hình sự,
cơ quan thi hành án hình sự, bao gồm đất đai, trụ sở, công trình; trang thiết bị,
vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật
nghiệp vụ và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác; ưu tiên bảo đảm cơ sở vật
chất cho cơ quan đóng ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa
bàn trọng yếu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
2. Căn
cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ ứng dụng
công nghệ số trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định việc sử dụng, ứng dụng khoa
học, công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động thi hành án hình sự.
Điều 153. Trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ,
công cụ hỗ trợ trong thi hành án hình sự
Sĩ
quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ thi hành án hình sự được trang bị và sử dụng vũ
khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Điều 154. Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự
1. Cơ
sở dữ liệu về thi hành án hình sự do Bộ Công an quản lý là một bộ phận của hệ
cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin phòng, chống tội phạm nhằm phục vụ công tác
quản lý nhà nước về thi hành án hình sự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
2. Việc xây dựng, thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng
cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự do Chính phủ quy định.
Điều 155. Bảo đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự
Nhà nước
bảo đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự. Việc lập dự toán, sử dụng
và quyết toán kinh phí bảo đảm cho hoạt động thi hành án hình sự được thực hiện
theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
Chương
XIII
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Mục
1. KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 156. Quyền khiếu nại
trong thi hành án hình sự
1. Người, pháp nhân
thương mại chấp hành án hình sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan
(sau đây gọi là người khiếu nại) có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi
của cơ quan, người có thẩm quyền thi hành án hình sự nếu có căn cứ cho rằng quyết
định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Việc khiếu nại của pháp nhân thương mại chấp hành án được thực hiện thông qua
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại.
2. Thời hiệu khiếu nại lần đầu là 30 ngày kể từ ngày nhận hoặc
biết được quyết định, hành vi thi hành án hình sự mà người khiếu nại cho rằng
có vi phạm pháp luật. Thời hiệu khiếu nại lần hai là 15 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan mà người khiếu nại không thực hiện
được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do tình trạng khẩn cấp, bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Điều
157. Các trường
hợp khiếu nại về thi hành án hình sự không được thụ lý giải quyết
1. Quyết định, hành vi
bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
khiếu nại.
2. Người khiếu nại là
cá nhân không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện không
có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại
đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có
quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.
Điều
158. Thẩm quyền
giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành
vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có
liên quan trong quản lý, giám sát, kiểm soát, giáo dục người
chấp hành án hình sự ở xã, phường, đặc khu.
2. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định,
hành vi sau đây:
a) Quyết định, hành vi
trái pháp luật của Phó thủ trưởng, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản
lý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại
khoản 6 Điều
này;
b) Quyết định, hành vi
trái pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã, Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được Tòa án
giao quản lý, giám sát, kiểm soát, giáo dục đối với người chấp hành án;
c) Quyết định giải quyết
khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã được Tòa án giao quản lý, giám sát, kiểm soát, giáo dục đối với
người chấp hành án;
d) Quyết định, hành vi
trái pháp luật của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong thi hành án hình sự đối
với pháp nhân thương mại.
3. Giám đốc Công an cấp
tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định, hành vi
trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
b) Quyết định giải quyết
khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
4. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái
pháp luật của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.
5. Bộ trưởng Bộ Công an
giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định
tại khoản 6 Điều
này:
a) Quyết định, hành vi
trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an;
b) Quyết định giải quyết
khiếu nại của Giám đốc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự Bộ Công an.
6. Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân khu vực giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi
trái pháp luật trong quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân của người được giao quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu
nại của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết khiếu
nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu. Quyết định giải
quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có hiệu lực thi hành.
Điều
159. Thẩm quyền
giải quyết khiếu nại về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân
1. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành
vi trái pháp luật trong thi hành án hình sự của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
hạ sĩ quan, chiến sĩ của đơn vị quân đội, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 158 của Luật này.
2. Tư lệnh quân khu và tương đương giải quyết
khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 158 của Luật này:
a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự
Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của
sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của
Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 158 của Luật này.
4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại
đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản
6 Điều 158 của Luật này:
a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ
trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng;
b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Tư lệnh
quân khu và tương đương;
c) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng
Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, Tư lệnh quân khu và tương đương.
Điều
160. Quyền và
nghĩa vụ của người khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người khiếu nại có
các quyền sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc
thông qua người đại diện để khiếu nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình
thi hành án hình sự;
b) Rút khiếu nại trong
bất kỳ thời gian nào của quá trình giải quyết khiếu nại;
c) Được nhận văn bản trả
lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
d) Được khôi phục quyền,
lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của
pháp luật.
2. Người khiếu nại có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực
sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại cho người giải
quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc
cung cấp các thông tin, tài liệu đó;
b) Chấp hành quyết định
giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.
Điều
161. Quyền và
nghĩa vụ của người bị khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người bị khiếu nại
có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội
dung khiếu nại;
b) Đưa ra bằng chứng về
tính hợp pháp của quyết định, hành vi thi hành án hình sự bị khiếu nại;
c) Được nhận quyết định
giải quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại
có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết
định, hành vi thi hành án hình sự bị khiếu nại, cung cấp thông tin, tài liệu
liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định
giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành;
c) Hoàn trả, khắc phục hậu quả
do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều
162. Nhiệm vụ
và quyền hạn của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án
hình sự
1. Tiếp nhận, giải quyết
khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại.
2. Yêu cầu người khiếu
nại, người bị khiếu nại giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến
việc khiếu nại.
3. Thông báo bằng văn bản
về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại.
4. Chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.
Điều
163. Thời hạn
giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ ngày thụ lý khiếu nại.
2. Thời hạn giải quyết
khiếu nại lần hai là 30 ngày kể từ ngày thụ lý khiếu nại.
3. Trường hợp cần thiết,
đối với những vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này có thể kéo dài thêm nhưng không quá 30 ngày.
Điều
164. Tiếp nhận,
thụ lý khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Cơ quan, người có thẩm
quyền phải tiếp nhận các khiếu nại trong thi hành án hình sự. Đối với khiếu nại
của phạm nhân quy định tại khoản 6 Điều 158 của Luật này
thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Giám thị trại giam, Giám thị trại
tạm giam phải chuyển ngay khiếu nại cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được khiếu nại, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này, Điều 158 và Điều 159 của Luật này phải thụ lý để giải quyết và
thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp không thụ lý khiếu
nại để giải quyết thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều
165. Hồ sơ giải
quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Hồ sơ giải quyết khiếu
nại bao gồm:
a) Đơn khiếu nại hoặc
văn bản ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của
người bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra,
xác minh, kết luận;
d) Quyết định giải quyết
khiếu nại;
đ) Tài liệu khác có
liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu
nại phải được đánh số bút lục và lưu giữ tại cơ quan giải quyết khiếu nại.
Điều
166. Trình tự,
thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự
1. Sau khi thụ lý khiếu
nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều
158 và Điều 159 của Luật này tiến hành xác minh, yêu cầu người khiếu nại,
người bị khiếu nại giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc
khiếu nại; gặp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu
nại và ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
2. Quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu có hiệu lực thi hành nếu trong thời hiệu do Luật này quy định
mà người khiếu nại không khiếu nại tiếp.
Điều
167. Nội dung
quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự
1. Ngày, tháng, năm ra
quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của
người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội
dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để
giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung
khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi,
hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc
chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt
hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra (nếu có).
9. Hướng dẫn quyền khiếu
nại tiếp theo của đương sự.
Điều
168. Trình tự,
thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự
1. Trường hợp tiếp tục
khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại lần hai.
2. Trong quá trình giải
quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 158 và Điều 159 của Luật này có quyền yêu cầu người giải
quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu tập người bị khiếu nại,
người khiếu nại khi cần thiết; xác minh, tiến hành các biện pháp khác theo quy
định của pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận
được yêu cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
3. Quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành.
Điều
169. Nội dung
quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự
1. Ngày, tháng, năm ra
quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của
người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội
dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để
giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung
khiếu nại và việc giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi,
hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc
chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
Mục
2. TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 170. Người có quyền tố
cáo trong thi hành án hình sự
Người chấp hành án và mọi
công dân có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm
pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền nào trong thi hành án hình sự mà gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều
171. Quyền và
nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự
Quyền và nghĩa vụ của
người tố cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự được thực hiện theo quy
định của Luật Tố cáo.
Điều
172. Thẩm quyền
và thời hạn giải quyết tố cáo
1. Thẩm quyền giải quyết
tố cáo như sau:
a) Người đứng đầu cơ
quan, tổ chức giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc
thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã;
c) Giám đốc Công an cấp
tỉnh giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Trưởng
Công an cấp xã;
d) Tư lệnh Quân khu và
tương đương giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
đ) Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật
của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc phạm vi quản lý;
e) Viện trưởng Viện kiểm
sát có thẩm quyền
giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân của người
được giao quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.
2. Thời hạn giải quyết
tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc
phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày;
đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo 02 lần,
mỗi lần không quá 30 ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi
phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Điều
173. Trách nhiệm
giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, người có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi
phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm
cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm
trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại
thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương
XIV
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI
HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều
174. Nội dung
quản lý nhà nước về thi hành án hình sự
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự; tổ chức thực hiện pháp luật
về thi hành án hình sự.
2. Chỉ đạo nghiệp vụ,
hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án
hình sự.
3. Đình chỉ, bãi bỏ
theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về thi
hành án hình sự trái với quy định của Luật này.
4. Quyết định phân bổ
kinh phí, bảo đảm điều kiện cho hoạt động thi hành án hình sự.
5. Xây dựng, quản lý cơ
sở dữ liệu về thi hành án hình sự.
6. Thực hiện công tác
thống kê nhà nước về thi hành án hình sự; báo cáo Quốc hội về công tác thi hành
án hình sự.
7. Quản lý hệ thống tổ
chức, biên chế, nhân lực; đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật và kiến thức khác
về thi hành án hình sự.
8. Tổ chức sơ kết, tổng
kết, nghiên cứu khoa học về thi hành án hình sự; nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ
khoa học và công nghệ trong thi hành án hình sự.
9. Kiểm tra, thanh tra,
khen thưởng, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về thi
hành án hình sự.
10. Hợp tác quốc tế về
thi hành án hình sự.
Điều
175. Trách nhiệm
quản lý nhà nước về thi hành án hình sự
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi
hành án hình sự trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Công an là cơ quan đầu
mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án hình sự; phối hợp
với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng hướng
dẫn việc phối hợp trong thi hành án hình sự; xây dựng mẫu thiết kế cơ sở giam
giữ phạm nhân, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng các hạng mục công trình
trại giam và các hệ thống khác phục vụ quản lý cơ sở giam giữ của trại giam thuộc
Bộ Công an quản lý.
Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ yêu cầu quản lý người
bị tạm giữ, tạm giam và yêu cầu quản lý giam giữ để quyết định đưa người chấp
hành án phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống không phải là người dưới 18 tuổi,
người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy chấp
hành án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm giam để phục vụ việc
tạm giữ, tạm giam và tổ chức lao động, học nghề. Số lượng người chấp hành án phạt
tù phục vụ việc tạm giữ, tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm
giữ, tạm giam hoặc tổng số quy mô giam giữ nhưng không vượt quá 15%.
3. Bộ Quốc phòng phối hợp
với Bộ Công an quản lý nhà nước về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân;
xây dựng mẫu thiết kế cơ sở giam giữ phạm nhân, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn
xây dựng các hạng mục công trình trại giam và các hệ thống khác phục vụ quản lý
cơ sở giam giữ của trại giam thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn cứ yêu cầu quản lý
người bị tạm giữ, tạm giam trong các cơ sở giam giữ phạm nhân của Bộ Quốc phòng
để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống
không phải là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm hoặc nghiện ma túy chấp hành án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam
thuộc trại tạm giam để phục vụ việc tạm giữ, tạm giam và tổ chức lao động, học
nghề.
4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực
hiện và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước liên quan
đến thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan.
Điều
176. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự
1. Phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa
các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.
2. Hướng dẫn Tòa án các
cấp trong việc ra quyết định thi hành án hình sự, tổng hợp hình phạt, gửi bản án, quyết định của Tòa án; phối hợp với cơ quan quy định
tại Điều 8 của Luật này
trong công tác thi hành án hình sự.
3. Phối hợp với Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng trong việc tổng kết công tác thi hành án hình sự.
4. Phối hợp với Bộ Công
an trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo,
số hóa về công tác thi hành án hình sự.
Điều
177. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự
1.
Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ
quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc
phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành
án hình sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo
Viện kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Phối hợp với Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng trong việc tổng kết công tác thi hành án hình sự.
4. Phối hợp với Bộ Công
an trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo,
số hóa về công tác thi hành án hình sự.
Chương
XV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
178. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 4 của
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 116/2025/QH15 như sau:
“6. Thu nhập từ hoạt động giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề nghiệp
dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt, đối tượng tệ nạn xã hội; hoạt động tổ chức lao động, hướng nghiệp, dạy
nghề cho phạm nhân.”.
Điều
179. Hiệu lực
thi hành
1. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Luật Thi hành án
hình sự số 41/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15, Nghị quyết số 54/2022/QH15
ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội thí
điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân
ngoài trại giam hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 180 của Luật này.
Điều
180. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được thi hành
hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành.
2. Đối với việc thi
hành bản án, quyết định theo quy định của Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15
mà đến ngày Luật
này có hiệu lực thi hành còn khiếu nại, tố cáo hoặc
kháng nghị của Viện kiểm sát thì việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, kháng nghị được áp dụng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự số
41/2019/QH14 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15.
3. Các khu lao động, hướng nghiệp, dạy nghề ngoài trại giam đã
được phê duyệt, thành lập theo quy định của Nghị quyết số 54/2022/QH15 được tiếp tục hoạt động đến
hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng hợp tác đã được ký kết giữa trại giam với
tổ chức hợp tác. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, việc gia hạn hợp đồng hợp tác áp dụng
theo quy định của Luật này.
Luật này được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|