|
Kính gửi:
|
- Các bộ, cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ;
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
|
Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã rất
quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện các giải pháp xử lý dứt điểm
các dự án tồn đọng kéo dài, hồi sinh và đưa vào vận hành, hoạt động nhiều dự án
quy mô lớn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương. Tuy
nhiên, vẫn còn nhiều công trình, dự án chưa được các cấp, các ngành, các cơ
quan đơn vị kịp thời tháo gỡ khó khăn, để tồn đọng, dừng thi công kéo dài gây
thất thoát lãng phí nguồn lực của nhà nước và xã hội.
Để tập trung hơn nữa trong việc giải quyết có hiệu
quả, khả thi và dứt điểm các tồn tại, sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng đối với
các dự án, công trình tồn đọng, dừng thi công kéo dài trên cả nước. Phó Thủ tướng
Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình Trưởng Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn
đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng (Ban chỉ đạo 751) yêu cầu:
1. Các bộ, cơ quan trực thuộc
Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
a) Tiếp tục rà soát, cập nhật thông tin các dự án
có khó khăn, vướng mắc trên Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban chỉ đạo 751 (Hệ thống
751). Chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong trường
hợp bỏ sót, còn dự án tồn đọng, khó khăn vướng mắc không đưa vào danh mục báo
cáo theo yêu cầu của Ban chỉ đạo 751.
b) Nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật hiện
hành và chính sách đặc thù nêu tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11
năm 2024 của Quốc hội (gọi tắt là NQ170). Trên cơ sở đó, khẩn trương rà soát,
xác định tất cả các dự án có tình huống pháp lý tương tự NQ170, đề xuất cấp có
thẩm quyền cho phép áp dụng tương tự để giải quyết theo từng nhóm chính sách cụ
thể của NQ170, tổng hợp gửi về Ban chỉ đạo trên hệ thống 751 thời hạn đến hết
ngày 10 tháng 8 năm 2025, trong đó lưu ý:
- Rà soát chỉ đề xuất các dự án có khó khăn, vướng
mắc sau khi có các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án.
- Đối chiếu các vấn đề của dự án để xác định chính
xác tình huống pháp lý tương tự trường hợp quy định tại NQ170, nêu rõ điều khoản
đề xuất áp dụng cơ chế đặc thù để tháo gỡ đối với từng dự án cụ thể.
- Chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính
phủ nếu phát sinh các dự án khó khăn, vướng mắc tương tự như các dự án tại
NQ170 sau thời hạn quy định nêu trên.
c) Đối với các dự án không áp dụng cơ chế đặc thù tại
Nghị quyết số 170/2024/QH15 để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc: các cơ quan, tổ chức
chịu trách nhiệm rà soát, xác định rõ các trường hợp có thể áp dụng Dự thảo Đề
cương giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Ban chỉ đạo 751 để xử lý các dự
án tồn đọng (tại phụ lục dự thảo đề cương giải pháp gửi kèm theo). Trường hợp cần
bổ sung giải pháp khác, đề nghị nghiên cứu, đề xuất phương án xử lý cụ thể cho
từng dự án, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn, trong đó giải pháp nêu rõ
vướng mắc pháp luật, thẩm quyền xử lý cụ thể. Kết quả rà soát báo cáo về Ban chỉ
đạo 751 trước ngày 15 tháng 8 năm 2025 để tổng hợp, trình cấp thẩm quyền cho ý
kiến về chủ trương ban hành các Nghị quyết đối với cơ chế xử lý vướng mắc khó
khăn cho dự án.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương:
a) Thành lập Tổ công tác về rà soát, tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài tại địa phương do lãnh đạo Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp chỉ đạo chỉ đạo,
nghiên cứu các quan điểm, nguyên tắc, tình huống pháp lý để xem xét, đề xuất dự
án áp dụng cơ chế tháo gỡ khó khăn vướng mắc theo quy định tại NQ170, Kết luận
số 77-KL/TW của Bộ Chính trị.
b) Xây dựng cơ chế phối hợp kịp thời với Ban chỉ đạo
751 để đề xuất giải pháp tháo gỡ các khó khăn vướng mắc vượt thẩm quyền; đảm bảo
tiến độ, thông tin số liệu chính xác, báo cáo kết quả tháo gỡ kịp thời với Thủ
tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo 751./.
|
Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Kiểm toán nhà nước;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VPCP: BTCN, các PCN;
- Các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc;
- Lưu: VT, BCĐ (2b).
|
TRƯỞNG BAN
PHÓ THỦ TƯỚNG
Nguyễn Hòa Bình
|
PHỤ LỤC
DỰ THẢO ĐỀ CƯƠNG GIẢI PHÁP THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
CHO MỘT SỐ DỰ ÁN TỒN ĐỌNG
(Kèm theo văn bản số 117/CV-BCĐ751 ngày 05 tháng 8 năm 2025)
I. Nhóm giải pháp các dự án
vướng mắc, khó khăn về quy hoạch[1]
(Chính phủ ban hành Nghị quyết tháo gỡ)
1. Giải pháp số 01 đối với các dự án chưa có đầy
đủ quy hoạch: Cho phép bổ sung quy hoạch để tiếp tục triển khai thực hiện dự
án đầu tư trong trường hợp dự án phù hợp với quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt,
không có nội dung vi phạm các quy định liên quan đến quốc phòng an ninh, quy hoạch
các công trình, dự án quan trọng quốc gia.
2. Giải pháp số 2 đối với các dự án vi phạm do
chồng lấn giữa các quy hoạch: Đối với các dự án vi phạm các quy hoạch về
khoáng sản, thủy lợi, quốc phòng,... thì thực hiện đánh giá hiệu quả kinh tế xã
hội giữa việc thực hiện quy hoạch và thực hiện dự án để điều chỉnh quy hoạch bị
chồng lấn cho phù hợp hoặc tích hợp và thực hiện đồng thời cả dự án và quy hoạch
liên quan (lưỡng dụng quy hoạch).
II. Nhóm giải pháp xử lý các
dự án BT
(Chính phủ ban hành Nghị quyết tháo gỡ)
1. Giải pháp 1: Đối với dự án BT có hợp đồng ký
kết theo đúng quy định
Đối với dự án BT được xác định có hợp đồng ký kết
theo đúng quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết, Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục thực hiện, thanh toán cho nhà đầu tư
theo hợp đồng đã ký kết.
2. Giải pháp 2: Đối với dự án BT có thiếu
sót trong quá trình chuẩn bị đầu tư
Đối với dự án BT được xác định có thiếu sót trong
quá trình lập quy hoạch, thực hiện thủ tục sắp xếp, xử lý tài sản công, chuẩn bị
dự án, lựa chọn nhà đầu tư nhưng nội dung hợp đồng vẫn bảo đảm phù hợp với quy
định của pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà
soát, xử lý vi phạm hành chính của các bên liên quan (nếu có) theo quy định của
pháp luật trước khi tiếp tục thực hiện, thanh toán cho nhà đầu tư theo hợp đồng
đã ký kết.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương có trách nhiệm đề nghị Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán dự án
làm cơ sở tổ chức quyết toán giá trị công trình BT (nếu chưa thực hiện), thanh
toán, giao đất cho nhà đầu tư, bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước và nhà đầu
tư, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, sớm đưa dự án vào vận hành, khai thác, không
để lãng phí, thất thoát.
3. Giải pháp 3: Đối với hợp đồng BT có nội
dung chưa phù hợp nhưng có thể sửa đổi, bổ sung
Đối với dự án BT thanh toán bằng quỹ đất, tài sản
công được xác định hợp đồng có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật
tại thời điểm ký kết nhưng có thể sửa đổi, bổ sung ký kết phụ lục hợp đồng mà
không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng đã ký kết thì thực
hiện như sau:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương chịu trách nhiệm rà soát, thỏa thuận và thống nhất với nhà đầu tư để sửa đổi
các nội dung chưa phù hợp trong hợp đồng
- Sau khi ký kết phụ lục sửa đổi hợp đồng, nhà đầu
tư tiếp tục tổ chức đầu tư xây dựng công trình BT (nếu chưa hoàn thành) hoặc thực
hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình (nếu đã hoàn thành), Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thanh toán, quyết toán cho nhà đầu tư
theo quy định tại hợp đồng, phụ lục sửa đổi hợp đồng đã ký kết theo các nguyên
tắc sau:
+ Trường hợp giá trị quỹ đất thanh toán nhỏ hơn giá
trị hợp đồng đã ký kết, phần còn lại sẽ được thanh toán bằng tiền từ nguồn vốn
đầu tư công của địa phương.
+ Trường hợp giá trị quỹ đất thanh toán lớn hơn giá
trị hợp đồng đã ký kết và tách được phần quỹ đất có giá trị tương đương phần
giá trị quyết toán hoàn thành của công trình BT thành dự án độc lập thì thanh
toán, giao cho nhà đầu tư phân quỹ đất đó; không thanh toán phần quỹ đất còn lại.
+ Trường hợp quỹ đất thanh toán không thể tách
thành dự án độc lập, thanh toán, giao cho nhà đầu tư toàn bộ quỹ đất; nhà đầu
tư nộp bổ sung phần chênh lệch giữa giá trị quỹ đất và giá trị công trình BT
vào ngân sách nhà nước theo giá đất cụ thể xác định tại thời điểm bàn giao đất
thực tế.
+ Trường hợp trong quỹ đất thanh toán có phần đất
thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 217 Luật Đất đai
năm 2024 và không thể tách phần đặt này để thực hiện dự án độc lập thì Nhà
nước thu hồi phần đất này để thanh toán cho nhà đầu tư.
+ Trường hợp nhà đầu tư không có khả năng nộp bổ
sung phần chênh lệch thì không tiếp tục thanh toán bằng quỹ đất, xem xét bố trí
vốn ngân sách nhà nước để thanh toán chấm dứt hợp đồng BT cho nhà đầu tư.
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương chịu trách nhiệm toàn diện trong việc xác định cụ thể giá đất để tính thu
tiền sử dụng đất, tiền thu đất của các khu đất dự kiến thanh toán, bảo đảm tuân
thủ quy định của pháp luật về đất đai.
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương có trách nhiệm đề nghị Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán dự án
làm cơ sở tổ chức quyết toán giá trị công trình BT, thanh toán, giao đất cho
nhà đầu tư, bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước và nhà đầu tư, hiệu quả sử dụng
vốn nhà nước, sớm đưa dự án vào vận hành, khai thác, không để lãng phí, thất
thoát.
- Trường hợp nhà đầu tư không được thanh toán toàn
bộ quỹ đất theo hợp đồng đã ký kết, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương xem xét, bố trí ngân sách để hoàn trả cho nhà đầu tư toàn bộ hoặc một
phần giá trị nộp ngân sách nhà nước mà nhà đầu tư đã nộp tại thời điểm đấu thầu.
4. Giải pháp 4: Đối với dự án BT có nội dung
hợp đồng BT chưa phù hợp nhưng không thể sửa đổi, bổ sung
Đối với dự án BT được xác định hợp đồng có nội dung
chưa đúng quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng và không thể sửa
đổi, bổ sung ký kết phụ lục hợp đồng thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương thỏa thuận với nhà đầu tư thực hiện như sau:
- Xem xét bố trí vốn ngân sách nhà nước để thanh
toán chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cho nhà đầu tư nếu không có lỗi của nhà đầu
tư. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm đề nghị
Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán dự án làm cơ sở tổ chức quyết toán
giá trị công trình BT, thanh toán chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cho nhà đầu
tư.
- Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và không thanh
toán nếu có lỗi của nhà đầu tư.
- Xem xét, tự quyết định việc tiếp tục đầu tư xây dựng
công trình BT theo quy định của pháp luật hiện hành.
5. Giải pháp 5: Đối với dự án BT đã ký kết hợp
đồng BT nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng công trình BT
Đối với dự án BT đã ký kết hợp đồng nhưng nhà đầu
tư chưa triển khai đầu tư xây dựng công trình BT, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương thỏa thuận với nhà đầu tư về việc tiếp tục thực hiện
hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích Nhà nước và nhà đầu
tư.
6. Giải pháp 6: Đối với dự án BT có phát
sinh tăng tổng mức đầu tư
Trong quá trình xử lý vướng mắc đối với các dự án
BT, trường hợp tăng tổng mức đầu tư công trình BT do phát sinh lãi vay chậm
thanh toán, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương xem xét, quyết định
việc điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án mà không phải thực hiện thủ
tục điều chỉnh chủ trương đầu tư.
7. Giải pháp 7: Xử lý trường hợp nhà đầu tư ứng
chi phí để giải phóng mặt bằng quỹ đất đối ứng
Đối với dự án BT mà nhà đầu tư đã ứng chi phí để giải
phóng mặt bằng quỹ đất đối ứng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương thực hiện như sau:
- Đối với dự án tiếp tục thanh toán, giao đất cho
nhà đầu tư, khấu trừ chi phí này vào giá trị quỹ đất thanh toán.
- Đối với dự án phải chấm dứt hợp đồng, bố trí ngân
sách nhà nước để thanh toán chi phí này cho nhà đầu tư.
8. Giải pháp 8: Cho phép áp dụng quy định mới
về loại hợp đồng BT tại Luật PPP để xử lý vướng mắc cho dự án BT chuyển tiếp.
Các dự án BT sau khi được cấp có thẩm quyền cho phép xử lý, tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc để tiếp tục thực hiện hợp đồng thì được xem xét, áp dụng quy định về
loại hợp đồng BT tại Luật PPP (sửa đổi, bổ sung tại Luật số 57/2024/QH15) và
các văn bản hướng dẫn chi tiết nếu phù hợp.
III. Trường hợp dự án phù hợp
với quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch có liên quan do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, đã triển khai đầu tư xây dựng khi chưa đảm
bảo điều kiện khởi công xây dựng theo quy định của pháp luật xây dựng
(Chính phủ ban hành Nghị quyết để xử lý, tháo gỡ).
1. Đối với dự án, hạng mục công trình phù hợp với
quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch có liên quan do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị quyết Chính phủ tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc cho dự án tồn đọng có hiệu lực thi hành, nhà đầu tư đã triển khai
đầu tư xây dựng khi dự án chưa đảm bảo điều kiện khởi công xây dựng theo quy định
của pháp luật xây dựng, đến nay nhà đầu tư chủ động thực hiện các biện pháp khắc
phục vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
xem xét tạm ngừng phá dỡ công trình vi phạm; cho phép tồn tại đối với các hạng mục
công trình vi phạm xây dựng phù hợp với quy hoạch được duyệt khi nhà đầu tư nộp
tiền khắc phục vào ngân sách nhà nước, bao gồm: chi phí đã đầu tư xây dựng
(theo dự toán chi phí đầu tư xây dựng được phê duyệt tại báo cáo nghiên cứu khả
thi của dự án); chi phí phá dỡ công trình hiện trạng; các khoản tiền nhà đầu tư
thu được từ hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng công trình thuộc dự án nhưng
chưa được cơ quan nhà nước cấp phép xây dựng và các chi phí khác có liên quan.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm xác định
đầy đủ nghĩa vụ tài chính nhà đầu tư phải thực hiện bổ sung đối với dự án.
IV. Trường hợp dự án đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, chấp thuận hoặc cho phép đầu tư, chấp
thuận địa điểm đầu tư, nhà đầu tư hoặc chủ đầu tư không thông qua đấu giá quyền
sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư
(Chính phủ báo
cáo cấp có thẩm quyền ban hành Nghị quyết tháo gỡ)
1. Đối với dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định, chấp thuận hoặc cho phép đầu tư, chấp thuận địa điểm đầu tư,
nhà đầu tư hoặc chủ đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu
lựa chọn nhà đầu tư, đến nay chưa được giao đất, cho thuê đất để thực hiện đầu
tư xây dựng, nhà đầu tư được tiếp tục thực hiện dự án mà không phải lựa chọn lại
nhà đầu tư khi đảm bảo các điều kiện:
(i) dự án phù hợp với quy hoạch đô thị, quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch có liên quan tính đến thời điểm Nghị quyết của Quốc hội
có hiệu lực thi hành; (ii) đã được cơ quan nhà nước chấp thuận địa điểm đầu tư,
lựa chọn chủ đầu tư, nhà đầu tư của dự án theo quy định của pháp luật tại thời điểm
thực hiện; (iii) nhà đầu tư đã ứng trước kinh phí để cơ quan nhà nước thực hiện
công tác giải phóng mặt bằng hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp
thuận cho nhà đầu tư thỏa thuận với người dân, cá nhân, tổ chức về việc bồi thường,
hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong ranh giới quy hoạch dự án trước
ngày Luật Đầu tư năm 2020 có hiệu lực thi hành; (iv) nhà đầu tư thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật sau khi xác định lại giá đất;
(v) đảm bảo năng lực tiếp tục thực hiện dự án.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm xác định
rõ các trường hợp không thể thu hồi dự án do nhà đầu tư đã thực hiện cơ bản
nghĩa vụ tài chính, thỏa thuận bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất; xác định đầy đủ giá đất, nghĩa vụ tài chính của
nhà đầu tư phải thực hiện tại thời điểm ban hành quyết định giao đất, cho thuê
đất; đảm bảo biện pháp thu hồi toàn bộ lợi ích do nhà đầu tư thu được từ việc
bán, chuyển nhượng khi dự án chưa đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật
về đầu tư, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản và pháp luật có liên
quan./.
[1] Giải
pháp tương tự theo Nghị quyết số 233/NQ-CP ngày 10/12/2024 của Chính phủ (theo Báo
cáo số 321/BC- BCT ngày 12/12/2024 của Bộ Công Thương về triển khai Nghị quyết
của Chính phủ về chủ trương, phương hướng tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho các dự
án năng lượng tái tạo).