|
BỘ TÀI CHÍNH
CỤC HẢI QUAN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 15317/CHQ-NVTHQ
V/v hướng dẫn xác định trị giá hải quan
|
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2026
|
Kính gửi: Công
ty TNHH Zoetis Việt Nam
(Địa chỉ: Phòng 25.04 tầng 24 tháp A Tòa nhà Viettel, 285 Cách Mạng Tháng Tám,
phường Hòa Hưng, tp Hồ Chí Minh)
Cục Hải quan nhận được công văn số 0126-CV-HQ ngày
03/03/2026 của Công ty TNHH Zoetis Việt Nam về việc đề nghị hướng dẫn về ghi
nhận giá trị lô hàng trên tờ khai hải quan. Về vấn đề này, Cục Hải quan có ý
kiến như sau:
Căn cứ quy định tại Điều 3 Thông tư số 39/2015/TT-BTC
ngày 25/03/2015 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Thông tư
60/2019/TT-BTC ngày 30/8/2019 của Bộ Tài chính về trị giá hải quan đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì: Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị
giá hải quan theo các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy
định tại Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014, Nghị định số
08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về tính chính xác, tính trung thực của các nội dung kê khai và kết quả tự xác
định trị giá hải quan.
Căn cứ Điều 5 Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015
được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày
30/8/2019 của Bộ Tài chính thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu là giá
thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên.
Căn cứ Điều 6 Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015
được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày
30/8/2019 của Bộ Tài chính quy định phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa
nhập khẩu thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương
pháp này là trị giá giao dịch, là giá thực tế mà người mua đã thanh toán hay sẽ
phải thanh toán cho người bán để mua và nhập khẩu hàng hóa sau khi đã được điều
chỉnh theo quy định tại Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Thông tư này.
Căn cứ Điều 13 Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015
của Bộ Tài chính quy định:
“ Điều 13. Các khoản điều chỉnh cộng
1. Chỉ điều chỉnh cộng nếu đáp ứng đủ các điều
kiện sau:
a) Do người mua thanh toán và chưa được tính trong
trị giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán;
b) Phải liên quan đến hàng hóa nhập khẩu;
c) Có số liệu khách quan, định lượng được, phù hợp
với các chứng từ có liên quan.
Trường hợp lô hàng nhập khẩu có các khoản điều chỉnh
cộng nhưng không có các số liệu khách quan, định lượng được để xác định trị giá
hải quan thì không xác định theo phương pháp trị giá giao dịch và phải chuyển
sang phương pháp tiếp theo.
2. Các khoản điều chỉnh cộng:
....
g) Chi phí vận tải và chi phí có liên quan đến việc
vận chuyển hàng hóa nhập khẩu đến cửa khẩu nhập đầu tiên, không bao gồm chi phí
bốc, dỡ, xếp hàng từ phương tiện vận tải xuống cửa khẩu nhập đầu tiên.
Trường hợp các chi phí bốc, dỡ, xếp hàng từ phương
tiện vận tải xuống cửa khẩu nhập đầu tiên đã bao gồm trong chi phí vận tải quốc
tế hoặc đã bao gồm trong giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán thì
được trừ ra khỏi trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu nếu đáp đủ các điều
kiện quy định tại khoản 1 Điều 15 Thông tư này.
g.1) Trị giá của khoản điều chỉnh này được xác định
trên cơ sở hợp đồng vận tải, các chứng từ, tài liệu liên quan đến vận tải hàng
hóa;
g.2) Trường hợp giá mua chưa bao gồm chi phí vận tải
nhưng người mua không có hợp đồng vận tải, các chứng từ tài liệu liên quan đến
Vận tải hàng hóa, hoặc có nhưng không hợp pháp, thì không được áp dụng phương
pháp trị giá giao dịch;
g.3) Trường hợp lô hàng có nhiều loại hàng hóa khác
nhau nhưng hợp đồng Vận tải hoặc các chứng từ, tài liệu liên quan đến vận tải
hàng hóa không ghi chi tiết cho từng loại hàng hóa thì người khai hải quan lựa
chọn một trong các phương pháp phân bổ sau:
g.3.1) Phân bố trên cơ sở biểu giá vận tải của người
vận tải hàng hóa;
g.3.2) Phân bổ theo trọng lượng hoặc thể tích của
hàng hóa;
g.3.3) Phân bổ theo tỷ lệ trị giá mua của từng loại
hàng hóa trên tổng trị giá lô hàng.
h) Chi phí bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu đến cửa khẩu
nhập đầu tiên.
h.1) Trường hợp người nhập khẩu không mua bảo hiểm
cho hàng hóa thì không phải cộng thêm chi phí này vào trị giá hải quan:
h.2) Phí bảo hiểm mua cho cả lô hàng gồm nhiều loại
hàng hóa khác nhau, nhưng chưa được ghi chi tiết cho từng loại hàng hóa, thì
phân bổ theo trị giá của từng loại hàng hóa.”
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên thì cước vận
chuyển quốc tế, chi phí bảo hiểm hàng hóa quốc tế và chi phí liên quan đến việc
vận chuyển hàng hóa đến cửa khẩu nhập đầu tiên là khoản điều chỉnh cộng theo
quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2015/TT-BTC và được cộng vào
trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy
định tại Khoản 1 Điều 13 Thông tư 39/2015/TT-BTC. Người khai hải quan tự kê
khai và tự phân bổ (nếu có) đối với khoản chi phí vận chuyển quốc tế và chi phí
bảo hiểm quốc tế cho hàng hóa nhập khẩu theo nguyên tắc và phương pháp được quy
định tại điểm g và điểm h Khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2015/TT-BTC.
Về bản chất, trị giá hải quan được xác định theo đúng
những nguyên tắc và quy định nêu trên không liên quan đến trị giá lô hàng thể
hiện trên Giấy phép nhập khẩu. Do vậy, đề nghị Công ty căn cứ vào hồ sơ và thực
tế nhập khẩu, đối chiếu với các quy định nêu trên để thực hiện khai báo và tính
thuế (nếu có) theo đúng quy định. Trường hợp có vướng mắc thì liên hệ trực tiếp
với cơ quan cấp phép để được hướng dẫn cụ thể.
Cục Hải quan thông báo để Quý Công ty được biết./.
|
Nơi nhận:
- Như
trên;
- PCT. Nguyễn Thành Hưng (để b/c);
- TB. Nguyễn Sỹ Hoàng (để b/c);
- Lưu: VT, NVTHQ (3b).
|
TL. CỤC TRƯỞNG
KT. TRƯỞNG BAN NGHIỆP VỤ THUẾ HQ
PHÓ TRƯỞNG BAN
Đào Thu
Hương
|