|
CỤC THUẾ
THUẾ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 990/CTH-QLDN2
V/v
trả lời chính sách thuế GTGT
|
Cần Thơ, ngày 10 tháng 02 năm 2026
|
Kính gửi: Công ty TNHH
SX TM Huy Việt - Tây
Đô
Địa chỉ: 1904, Quốc lộ
91, phường Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ
Thuế thành phố Cần Thơ nhận được Công
văn số 0101/2026-CV ngày 26/01/2026 của Công ty TNHH SX TM Huy Việt - Tây Đô (viết tắt là
Công ty) đề nghị hướng dẫn Thuế suất GTGT theo Nghị định số 359/2025/NĐ-CP
ngày 31/12/2025 của Chính phủ. Thuế thành phố Cần Thơ có ý kiến như sau:
1. Chứng từ hợp pháp:
Căn cứ vào khoản 7 Điều 3 Nghị định
123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ như sau:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
…
7. Hóa đơn, chứng từ hợp pháp là hóa
đơn, chứng từ đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định
tại Nghị định này”.
Tại khoản 1, khoản 3 Điều 4 Nghị định
123/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn,
chứng từ:
“1. Khi bán hàng hóa,
cung cấp dịch vụ, người
bán phải lập hóa
đơn để giao cho người
mua (bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng
cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch
vụ dùng để cho, biếu, tặng,
trao đổi, trả thay
lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân
chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất);
xuất hàng hóa dưới các hình
thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa) và phải ghi đầy đủ nội dung theo
quy định tại Điều 10 Nghị định này, trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử thì phải
theo định dạng chuẩn dữ liệu của
cơ quan thuế theo quy định
tại Điều 12 Nghị định này.
…
3. Trước khi sử dụng hóa đơn, biên lai
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ, cá nhân kinh doanh, tổ chức
thu thuế, phí, lệ phí phải
thực hiện đăng ký sử dụng với cơ quan thuế hoặc thực hiện thông
báo phát hành theo quy định tại Điều 15, Điều 34 và khoản 1 Điều 36 Nghị định
này. Đối với hóa đơn, biên lai do cơ
quan thuế đặt in, cơ
quan thuế thực hiện
thông báo phát hành theo khoản 3 Điều 24 và khoản 2 Điều 36 Nghị định này.
…”
2. Quy định về thuế giá trị gia tăng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 1 Luật Thuế
giá trị gia tăng số 149/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế
giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định về đối tượng không chịu thuế:
“Điều 1. Sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng
1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều
5 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn
nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc
chỉ qua sơ chế
thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu
nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp
tác xã mua sản phẩm
cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản
phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh
nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai,
tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá
trị gia tăng đầu vào”.
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định
181/2025/NĐ-CP ngày 01/07/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Thuế giá trị gia tăng:
“Điều 4. Đối tượng không
chịu thuế
Đối tượng không chịu thuế thực hiện theo
quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng. Một số trường hợp được
quy định chi tiết như sau:
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn
nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc
chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu
nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới
được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ
mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh
bóng hạt, hồ
hạt,
chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối,
đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản
theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm
trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình
thức bảo quản thông thường khác.
Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi
trường có trách nhiệm
căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản
nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp để xác định là sản phẩm chưa chế
biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá
nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ khoản 3 Điều 19 Nghị định
181/2025/NĐ-CP quy định:
“Điều 19. Mức thuế suất
5%
Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng
hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng. Một số trường
hợp được quy định chi tiết như sau:
…
3. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi,
thủy sản nuôi trồng,
đánh bắt chưa chế biến thành các sản
phẩm khác hoặc chỉ
qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định
này”.
Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số
359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP
ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Thuế giá trị gia tăng
1. Bổ sung khoản 1b sau khoản 1 Điều 4 như
sau:
“1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng,
đánh bắt chưa chế
biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh
nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng
nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia
tăng đầu vào.
Trong đó:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp
tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây
trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản
nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản
phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh
thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi,
thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản
phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân
khác thì phải tính
thuế
giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản
3 Điều 19 Nghị định này.
c) Hộ, cá nhân sản xuất,
kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế
khác nộp thuế giá trị gia
tăng theo phương pháp tính trực
tiếp khi bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi,
thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm
khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì tính thuế giá trị gia
tăng phải nộp theo doanh thu bằng 1% (tỷ lệ %) nhân với
doanh thu”.
Đề nghị Công ty căn cứ các quy định của
pháp luật được trích dẫn nêu trên và đối chiếu với tình hình phát sinh thực tế
tại đơn vị để thực hiện đúng quy định.
Thuế thành phố Cần Thơ trả lời để Công
ty TNHH SX TM Huy Việt - Tây Đô biết để thực hiện./.
|
Nơi nhận:
-
Như trên;
- Phòng NVDTPC “để kiểm tra”;
- Phòng QLDN1,3,4, KT1;
- Trang Web Thuế TPCT;
- Lưu VT, QLDN2 (2)
|
KT. TRƯỞNG
THUẾ THÀNH PHỐ
PHÓ
TRƯỞNG THUẾ THÀNH PHỐ
Nguyễn
Việt Thống
|