|
CỤC THUẾ
THUẾ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1086/CTH-QLDN1
V/v
chính sách thuế GTGT
|
Cần Thơ, ngày
24 tháng 02 năm 2026
|
Kính gửi: Công ty Cổ phần Thuận Hải Green - Chi nhánh Thốt Nốt
Địa chỉ: Kho số 511, Tổ 18 KV Thới
An 1, phường Thốt Nốt, TP.Cần Thơ
Thuế thành phố Cần Thơ nhận được Công văn số 01.2026/CVTS
ngày 03/02/2026 của Công ty Cổ phần Thuận Hải Green - Chi nhánh Thốt Nốt (mã
số thuế: 0317066786-002) về việc thuế
suất thuế giá trị gia tăng. Về vấn đề này, Thuế thành phố Cần Thơ có ý kiến như sau:
1. Giai đoạn từ ngày 01/7/2025
đến trước ngày 01/01/2026
- Tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số
48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 quy định:
“Điều
5. Đối tượng không chịu thuế
1.
Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ
qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở
khâu nhập khẩu.”
- Tại điểm d khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 9 Luật Thuế
giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 quy định thuế suất như sau:
“Điều
9. Thuế suất
2. Mức
thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ sau đây:
...
d)
Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng,
đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường,
trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
...
3. Mức
thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có
cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua
kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.
...
5. Sản
phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế
biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được sử dụng làm
thức ăn chăn nuôi, dược liệu thì áp dụng thuế suất giá trị gia tăng theo mức
thuế suất quy định cho sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản.
Phế
phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi để tái chế, sử dụng lại khi bán ra áp
dụng mức thuế suất theo thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu bán
ra.”
- Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP
ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Thuế giá trị gia tăng quy định đối tượng không chịu thuế như sau:
"Điều
4. Đối tượng không chịu thuế
Đối
tượng không chịu thuế thực hiện theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia
tăng. Một số trường hợp được quy định chi tiết như sau:
1. Sản
phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế
biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá
nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm
chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô,
bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt,
tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương,
băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp
lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa
chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung
dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.
Trường
hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm căn cứ
vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi
trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp để xác định là sản phẩm chưa chế
biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá
nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp
luật.”
- Tại khoản 3 Điều 19 Nghị định
số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng quy định mức thuế suất 5% như sau:
"Điều
19. Mức thuế suất 5%
Mức
thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật
Thuế giá trị gia tăng. Một số trường hợp được quy định chi tiết như sau:
3.
Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng,
đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông
thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.”
2. Giai đoạn từ ngày 01/01/2026
Ngày 11/12/2025, Quốc hội thông qua Luật số 149/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/2026.
- Tại điểm a khoản 1 Điều 1
Luật số 149/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia
tăng số 48/2024/QH15 như sau:
“Điều
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng
1.
Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 5 như sau:
a)
Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
"1.
Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa
chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức,
cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh
nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng,
chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác
hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không
phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị
gia tăng đầu vào.”;”
- Tại khoản 2 Điều 1 Luật số
149/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số
48/2024/QH15 như sau:
“5. Phế
phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất thì áp dụng mức
thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu đó.”
- Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định
số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng như sau:
“Điều
1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7
năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Một số điều của Luật Thuế giá
trị gia tăng
1.
Bổ sung khoản 1b sau khoản 1 Điều 4 như sau:
“1b.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng,
chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác
hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng
được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trong
đó:
a)
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy
sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ
chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu
kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b)
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia
tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn
nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc
chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh
doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức
thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.
c)
Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực
tiếp khi bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng,
đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
ở khâu kinh doanh thương mại thì tính thuế giá trị gia tăng phải nộp theo doanh
thu bằng 1% (tỷ lệ %) nhân với doanh thu.”.”
Đề nghị Công ty Cổ phần Thuận Hải Green - Chi nhánh Thốt Nốt
nghiên cứu các quy định pháp luật thuế nêu trên, căn cứ quy trình sản xuất sản
phẩm thực tế, Công ty phân biệt từng trường hợp cụ thể để xác định đối tượng
chịu thuế hay không chịu thuế GTGT, trường hợp thuộc đối tượng chịu thuế thì áp
dụng mức thuế suất của hàng hóa cho phù hợp với quy định về thuế GTGT từng thời
kỳ.
Trường hợp Công ty cổ phần Thuận Hải Green - Chi nhánh Thốt
Nốt không xác định được sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ
qua sơ chế thông thường, thì thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi
trường.
Thuế thành phố Cần Thơ trả lời Công ty Cổ phần Thuận Hải
Green - Chi nhánh Thốt Nốt được biết và thực hiện đúng quy định pháp luật về thuế./.
|
Nơi nhận:
-
Như trên;
- P.NVDTPC “để kiểm tra";
- Phòng: KTR1, QLDN2,3,4;
- Cổng thông tin điện tử thuế TPCT;
- Lưu: VT. QLDN1 (2b).
|
KT. TRƯỞNG
THUẾ THÀNH PHỐ
PHÓ TRƯỞNG THUẾ THÀNH PHỐ
Nguyễn
Việt Thống
|