Kính gửi: Hiệp
hội Rau quả Việt Nam.
Cục Thuế nhận được công văn số 8669/BNNMT-CCPT ngày
03/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc trả lời kiến nghị của các Hiệp
hội, doanh nghiệp tại Hội nghị với các Hiệp hội ngành hàng về thúc đẩy xuất khẩu
nông lâm nghiệp thủy sản 6 tháng cuối năm 2026, trong đó có kiến nghị của Hiệp
hội Rau quả Việt Nam.
Tại kiến nghị số 2.1 Mục 2 của Hiệp hội Rau quả Việt
Nam có nêu: “Một số quy định về chứng từ trong mua bán giữa doanh nghiệp và
hộ sản xuất gây khó cho doanh nghiệp, thuế GTGT đầu vào cho sản xuất cần được
xem xét giải quyết để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.” Về vấn đề này, Cục
Thuế có ý kiến như sau:
1. Về chứng từ trong mua bán giữa
doanh nghiệp và hộ sản xuất gây khó cho doanh nghiệp:
- Quy định hiện hành về chính sách thuế và quản lý
thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số
141/2026/NĐ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ quy định (sửa đổi, bổ sung khoản 5
Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 của Chính phủ) quy định về sử
dụng hóa đơn điện tử:
“Điều 1.
...
Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 8 Nghị định số
68/2026/NĐ-CP như sau:
“5. Sử dụng hóa đơn điện tử
a) Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh
thu năm trên 01 tỷ đồng thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế,
hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có
nhiều địa điểm kinh doanh thì sử dụng mã số thuế của hộ kinh doanh, cá nhân
kinh doanh cho tất cả các cửa hàng và phải ghi rõ mã địa điểm kinh doanh trên
hóa đơn;
b) Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh
doanh có doanh thu năm từ 01 tỷ đồng trở xuống đáp ứng điều kiện và có nhu cầu
sử dụng hóa đơn điện tử thì đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế
hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan
thuế;
c) Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới ra kinh
doanh tại Điều 9 Nghị định này hoặc hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh
thu năm trước chưa trên 01 tỷ đồng (trừ trường hợp đã đăng ký sử dụng hóa đơn
điện tử theo điểm b khoản này) nhưng trong năm tính thuế có doanh thu trên 01 tỷ
đồng trở lên thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn
điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Hộ kinh
doanh, cá nhân kinh doanh đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử trong thời gian 30
ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ tính thuế có doanh thu lũy kế trên 01 tỷ đồng.”
- Quy định hiện hành về hóa đơn điện tử, chứng từ
điện tử, tại Nghị định số 254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật quản lý
thuế số 108/2025/qh15 về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, quy định như sau:
(i) Tại điểm d khoản 1 Điều 6 quy định về đối tượng
sử dụng hóa đơn điện tử:
"Điều 6. Đối tượng sử dụng hóa đơn điện
tử
1. Đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử gồm:
...
d) Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh
thu năm trên 01 tỷ đồng hoặc hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán tài sản
phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có
mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu
với cơ quan thuế.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc
trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử mà có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử thì
đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi
tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế."
(ii) Tại khoản 1 Điều 7 quy định về trường hợp
không phải sử dụng hóa đơn điện tử:
“Điều 7. Trường hợp không phải sử dụng hóa
đơn điện tử
1. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán hàng
hóa, dịch vụ thuộc trường hợp lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định
pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trừ trường hợp đăng ký sử dụng hóa đơn điện
tử.”
Như vậy, pháp luật hiện hành đã có quy định cụ thể
về trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng
thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo
từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế; trường hợp hộ kinh doanh,
cá nhân kinh doanh không thuộc trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử nêu trên mà
có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử thì đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của
cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu
với cơ quan thuế. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán hàng hóa, dịch
vụ lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp thì không phải sử dụng hóa đơn điện tử.
2. Về thuế giá trị gia tăng (GTGT)
đầu vào cho sản xuất cần được xem xét giải quyết để tháo gỡ khó khăn cho doanh
nghiệp: Do không có hồ sơ, tài liệu cụ thể, Cục Thuế có ý kiến như sau:
Thuế GTGT thu theo hàng hóa, dịch vụ không phân biệt
đối tượng, mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Luật Thuế GTGT không có quy định
về việc miễn, giảm thuế GTGT. Pháp luật thuế GTGT đã có ưu đãi ở mức cao đối với
lĩnh vực nông nghiệp, cụ thể:
- Về đối tượng không chịu thuế:
+ Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản
nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế
thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập
khẩu. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng
trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm
khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được
khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
+ Sản phẩm giống vật nuôi theo quy định của pháp luật
về chăn nuôi, vật liệu nhân giống cây trồng theo quy định của pháp luật về trồng
trọt.
+ Thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật về
chăn nuôi; thức ăn thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản.
- Về đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% (là mức
ưu đãi so với mức thuế suất phổ thông 10%):
+ Phân bón, quặng để sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật và chất kích thích tăng trưởng vật nuôi theo quy định của pháp luật;
+ Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục
vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng;
sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp;
+ Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng),
chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác
hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm thuộc đối tượng không chịu thuế.
Như vậy, chính sách thuế GTGT đã có ưu đãi ở mức
cao đối với lĩnh vực nông nghiệp, việc đề nghị nghiên cứu chính sách thuế GTGT
đầu vào đối với hoạt động nông nghiệp sẽ dẫn đến: (i) không thể liệt kê hết các
hàng hóa, dịch vụ là đầu vào của lĩnh vực nông nghiệp và (ii) gây bất bình đẳng
với người nộp thuế khác khi sử dụng các hàng hóa, dịch vụ cùng loại. Do đó, đề
nghị Hiệp hội thực hiện theo quy định của pháp luật.
Cục Thuế có ý kiến để Hiệp hội Rau quả Việt Nam được
biết./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Phó CTrg Đặng Ngọc Minh (để b/c);
- Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi
trường - số 10 Nguyễn Công Hoan, phường Giảng Võ, TP Hà Nội (để biết);
- Cục CST - BTC (để biết);
- Website CT;
- Lưu VT, QLNT.
|
TL. CỤC TRƯỞNG
KT. TRƯỞNG BAN QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN NGUỒN THU
PHÓ TRƯỞNG BAN
Phạm Thị Minh Hiền
|