|
CỤC THUẾ
THUẾ TỈNH TÂY NINH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3363/TNI-QLDN1
V/v xác định cá nhân cư trú.
|
Tây Ninh, ngày 04
tháng 12 năm 2025
|
|
Kính gửi:
|
Độc giả Cam Thị Hồng Phương; Số điện thoại:
0784950367
Địa chỉ: B2-3a, Khu nhà xưởng Lô B, KCN Long Hậu, Ấp Long Hậu 3, xã Cần Giuộc,
Tây Ninh;
|
Thuế tỉnh Tây Ninh nhận được
phiếu chuyển số 1342/PC-CT ngày 14/11/2025 của Cục thuế về việc trả lời độc giả
trên Cổng thông tin điện tử - Bộ Tài Chính của độc giả Cam Thị Hồng Phương
(phiếu hỏi đáp số: 131125-8) về việc xác định cá nhân cư trú. Thuế tỉnh Tây
Ninh có ý kiến như sau:
Căn cứ Thông tư số
111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều
của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá
nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Thuế thu nhập cá nhân như sau:
+ Tại Điều 1 đã được sửa đổi,
bổ sung bởi Điều 2 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính
quy định phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế:
“Điều 1. Người nộp thuế
Người nộp thuế là cá nhân cư
trú và cá nhân không cư trú theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá
nhân, Điều 2 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 65/2013/NĐ-CP), có thu nhập
chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và
Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP.
Phạm vi xác định thu nhập
chịu thuế của người nộp thuế như sau:
Đối với cá nhân cư trú, thu
nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không
phân biệt nơi trả thu nhập;
...
Đối với cá nhân không cư
trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi
trả và nhận thu nhập”
1. Cá nhân cư trú là người
đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ
183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể
từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là
một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản
lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và
khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì
được tính chung là một ngày cư trú.
…”
+ Tại Điều 7 quy định căn cứ
tính thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công:
“Điều 7. Căn cứ tính thuế
đối với thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công
Căn cứ tính thuế đối với thu
nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập tính thuế
và thuế suất, cụ thể như sau:
1. Thu nhập tính thuế được
xác định bằng thu nhập chịu thuế theo hướng dẫn tại Điều 8 Thông tư này trừ (-)
các khoản giảm trừ sau:
a) Các khoản giảm trừ gia
cảnh theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều 9 Thông tư này.
b) Các khoản đóng bảo hiểm,
quỹ hưu trí tự nguyện theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 9 Thông tư này.
...”
+ Tại khoản 2 Điều 8 hướng dẫn
xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công:
“2. Thu nhập chịu thuế từ
tiền lương, tiền công
a) Thu nhập chịu thuế từ
tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền
thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người
nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 2 Thông
tư này.
...”
+ Tại điểm c khoản 2 Điều 9 quy
định các khoản giảm trừ:
“c) Người nước ngoài là cá
nhân cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam là cá nhân cư trú nhưng làm việc tại
nước ngoài có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công ở nước ngoài đã
tham gia đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi cá
nhân cư trú mang quốc tịch hoặc làm việc tương tự quy định của pháp luật Việt
Nam như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp bắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác (nếu có) thì
được trừ các khoản phí bảo hiểm đó vào thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, từ
tiền lương, tiền công khi tính thuế thu nhập cá nhân.
...”
Tại Điều 25 quy định về khấu
trừ thuế:
“Điều 25. Khấu trừ thuế và
chứng từ khấu trừ thuế
1. Khấu trừ thuế
...
b) Thu nhập từ tiền lương,
tiền công
…
b.3) Đối với cá nhân là
người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập căn
cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của người nộp thuế ghi trên Hợp đồng
hoặc văn bản cử sang làm việc tại Việt Nam để tạm khấu trừ thuế theo Biểu lũy
tiến từng phần (đối với cá nhân có thời gian làm việc tại Việt Nam từ 183 ngày
trong năm tính thuế) hoặc theo Biểu thuế toàn phần (đối với cá nhân có thời
gian làm việc tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế).
...”
Căn cứ điểm d.3 khoản 6 Điều 8
Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định các loại
thuế, khoản thu khai quyết toán năm:
“6. Các loại thuế, khoản thu
khai quyết toán năm và quyết toán đến thời điểm giải thể, phá sản, chấm dứt
hoạt động, chấm dứt hợp đồng hoặc tổ chức lại doanh nghiệp.
Trường hợp chuyển đổi loại
hình doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) mà doanh
nghiệp chuyển đổi kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp được chuyển
đổi thì không phải khai quyết toán thuế đến thời điểm có quyết định về việc
chuyển đổi doanh nghiệp, doanh nghiệp khai quyết toán khi kết thúc năm. Cụ thể
như sau:
…
d.3) Cá nhân cư trú có thu
nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân
với cơ quan thuế trong các trường hợp sau đây:
…
Cá nhân có mặt tại Việt Nam
tính trong năm dương lịch đầu tiên dưới 183 ngày, nhưng tính trong 12 tháng
liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên.
…”
Căn cứ các quy định trên,
trường hợp Công ty có ký hợp đồng với lao động là người nước ngoài ngày
19/9/2022, nhưng cá nhân này đã có mặt tại Việt Nam trước đó (cụ thể lần 1: từ
ngày 04/7/2015 đến ngày 19/7/2018; lần 2 từ ngày 22/4/2019 đến ngày 26/4/2019).
Công ty căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của người nộp thuế ghi trên
Hợp đồng và căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ
chiếu (hoặc giấy thông hành) của người nộp thuế khi đến và khi rời Việt Nam để
xác định tình trạng cư trú của người nộp thuế để làm cơ sở xác định nghĩa vụ
thuế TNCN của người nộp thuế theo quy định tại Điều 1 Thông tư số
111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Trường hợp cá nhân người nước
ngoài có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch
hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam thì được
xem là cá nhân cư trú nên thu nhập chịu thuế TNCN là thu nhập phát sinh trong
và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập. Cá nhân thực hiện
kê khai và quyết toán thuế TNCN trực tiếp với cơ quan Thuế theo quy định tại
điểm d.3 khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính
phủ. Căn cứ tính thuế, thu nhập tính thuế thực hiện theo quy định tại Điều 7,
Điều 8, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Công ty căn cứ tình hình thực
tế hoạt động sản xuất kinh doanh, đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên
để thực hiện.
Thuế tỉnh Tây Ninh trả lời cho
độc giả được biết và thực hiện theo đúng quy định tại văn bản quy phạm pháp luật
đã được trích dẫn tại văn bản này./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- BLĐ Thuế tỉnh Tây Ninh;
- Phòng NVDTPC, phòng KTr 1;
- Trang web Thuế tỉnh Tây Ninh;
- Lưu: VT, QLDN1, Thảo (2b).
|
KT. TRƯỞNG THUẾ
TỈNH
PHÓ TRƯỞNG THUẾ TỈNH
Nguyễn Tấn Lợi
|