|
BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------
|
|
Số:
1382/TCT-CS
V/v trả lời chính sách thuế
|
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2010
|
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Long An
Trả lời công văn số
1868/CT-TTHT ngày 09/6/2009 của Cục thuế tỉnh Long An đề nghị hướng dẫn về xác
định thời gian hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Tổng cục Thuế có
ý kiến như sau:
1. Xác định năm đầu tiên để
được hưởng ưu đãi về thuế suất và thời gian miễn, giảm:
1.1. Đối với kỳ tính thuế
năm 2007 và 2008
Tại Điểm 4 và Điểm
6, Mục II, Phần E, Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 21/11/2007 của Bộ Tài
chính quy định:
“Trong thời gian đang thực hiện
miễn thuế, giảm thuế, nếu cơ sở kinh doanh thực hiện nhiều hoạt động sản xuất
kinh doanh miễn thuế, giảm thuế. Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán
riêng thì phần thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh ) tổng thu nhập chịu
miễn thuế nhân (x) với tỷ doanhthuế, giảm thuế xác định bằng ( lệ phần trăm
(%) của thu hoạt động sản xuất kinh doanh miễn thuế, giảm thuế so với tổng
doanh thu của cơ sở kinh doanh trong kỳ tính thuế"
“Năm miễn thuế, giảm thuế xác định
phù hợp với Kỳ tính thuế. Thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế
tính liên tục kể từ Kỳ tính thuế đầu tiên cơ sở kinh doanh bắt đầu có thu nhập
chịu thuế (chưa trừ số lỗ các Kỳ tính thuế trước chuyển sang)"
Tại Điểm 4, Mục
III, Phần E, Thông tư số 134/2007/TT-BTC nêu trên quy định:
"Năm bắt đầu đi vào hoạt động
kinh doanh để xác định thời áp dụng thuế suất là năm đầu tiên cơ sở kinh doanh
phát sinh doanh thu"
Căn cứ theo các quy định nêu
trên thì:
- Thời gian áp dụng thuế suất
ưu đãi được tính từ năm đầu tiên cơ sở kinh doanh phát sinh doanh thu.
- Thời gian miễn, giảm thuế: Thời
điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế tính liên tục kể từ Kỳ tính
thuế đầu tiên cơ sở kinh doanh bắt đầu có thu nhập chịu thuế (chưa trừ số lỗ
các Kỳ tính thuế trước chuyển sang) .
1.2. Đối với kỳ tính thuế từ
năm 2009
Tại Điểm 6, Mục
II, Phần H, Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính
quy định:
"Thời gian áp dụng thuế suất
ưu đãi quy định tại Phần này được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có
doanh thu từ hoạt động được hưởng ưu đãi thuế"
Tại Điểm 4, Mục
III, Phần H, Thông tư số 130/200/TT-BCTC nêu trên quy định:
"Thời gian miễn thuế, giảm
thuế quy định tại Mục này được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có
thu nhập từ dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế; Trường hợp doanh nghiệp không
có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự
án đầu tư thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư".
Căn cứ theo các quy định nêu
trên thì:
- Thời gian áp dụng thuế suất
ưu đãi: Được tính từ năm đầu tiên cơ sở kinh donh có doanh thu từ hoạt động được
hưởng ưu đãi thuế.
- Thời gian miễn, giảm: Được
tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu
tư được hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế
trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư thì thời gian
miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.
2. Về xác định năm miễn thuế
đầu tiên đối với trường hợp kỳ tính thuế đầu tiên trên 12 tháng.
Tại Điểm 3, Phần
B, Thông tư số 130/2008/TT-BTC nêu trên quy định:
"Trường hợp kỳ tính thuế
năm đầu tiên của doanh nghiệp mới thành lập kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh và kỳ tính thuế năm cuối cùng đối với doanh nghiệp chuyển đổi
loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia,
tách, giải thể, phá sản có thời gian ngắn hơn 03 tháng thì được cộng với kỳ
tính thuế năm tiếp theo (đối với doanh nghiệp mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế
năm tiếp theo (đối với doanh nghiệp mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế năm trước
đó (đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức
sở hữu, họp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản) để hình thành một kỳ
kính thuế thu nhập doanh nghiệp. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm đầu
tiên hoặc kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm cuối cùng không vượt quá 15
tháng.
Tại Điểm 5, Mục
III, Phần H, Thông tư số 130/2008/TT-BTC nêu trên quy định:
"Năm miễn thuế, giảm thuế
xác định phù hợp với kỳ tính thuế. Thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế,
giảm thuế tính liên tục kể từ kỳ tính thuế đầu tiên doanh nghiệp bắt đầu có thu
nhập chịu thuế (chưa trừ số lỗ các kỳ tính thuế trước chuyển sang). Trường hợp,
kỳ tính thuế đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, nhưng thời gian hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ dưới 12 tháng thì doanh nghiệp có
quyền đăng ký với cơ quan thuế tính thời gian miễn thuế, giảm thuế ngay kỳ tính
thuế đầu tiên đó hoặc tính từ kỳ tính thuế tiếp theo. Trường hợp doanh nghiệp
đăng ký thời gian miễn giảm thuế vào kỳ tính thuế tiếp theo thì phải xác định số
thuế phải nộp của kỳ tính thuế đầu tiên để nộp vào. Ngân sách Nhà theo quy định.
Kỳ tính thuế hướng dẫn tại điểm 3 Phần B không áp dụng để xác định ưu đãi
miễn thuế, giảm thuế theo quy định tại điểm này"
Căn cứ theo các quy định trên
thì năm miễn thuế, giảm thuế được xác định phù hợp với kỳ tính thuế là 12
tháng, không áp dụng để xác định ưu đãi miễn thuế giảm thuế theo hướng dẫn tại điểm 3 Phần B Thông tư số 130/2008/TT-BTC nêu trên.
Đề nghị Cục thuế tỉnh Long An
căn cứ hướng dẫn nêu trên và thực tế của doanh nhiệp để xác định năm miễn, giảm
thuế cho phù hợp.
Tổng cục Thuế trả lời để cục
Thuế tỉnh Long An biết.
|
|
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Phạm Duy Khương
|