Kính gửi: Các ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc
Trung ương
Trên cơ sở tổng hợp các nội
dung đề xuất, khó khăn vướng mắc của các địa phương, cơ quan, đơn vị trong triển
khai các văn bản mới của Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương đã hoàn thiện nội
dung trao đổi, giải đáp đối với các kiến nghị, đề xuất liên quan đến các lĩnh vực:
Tổ chức, bộ máy, biên chế, vị trí việc làm; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
chính sách cán bộ; cơ sở đảng, đảng viên và công tác bảo vệ chính trị nội bộ (Phụ
lục gửi kèm). Riêng đối với các kiến nghị, đề xuất liên quan đến nội dung
Quy định 377-QĐ/TW, ngày 8/10/2025 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ,
quy hoạch cán bộ, bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử, Ban Tổ chức Trung ương
sẽ nghiên cứu và tích hợp trong Hướng dẫn thực hiện Quy định.
Trân trọng gửi các đồng chí
để nghiên cứu, tham mưu cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy triển khai thực hiện.
|
Nơi nhận:
- Như trên,
- Đ/c Trưởng Ban (để b/c),
- Các đồng chí Phó Trưởng Ban,
- Các vụ, cục, đơn vị,
- Lãnh đạo Văn phòng Ban,
- Lưu VP, TH.
|
K/T TRƯỞNG
BAN
PHÓ TRƯỞNG BAN THƯỜNG TRỰC
Hoàng Đăng Quang
|
PHỤ LỤC
TRAO ĐỔI, GIẢI ĐÁP ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG,
ĐƠN VỊ TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC VĂN BẢN MỚI CỦA TRUNG ƯƠNG
I. VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY, BIÊN
CHẾ
Câu 1: Tại Điều 1, Quy định
số 362-QĐ/TW, ngày 30/8/2025 của Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ, mối
quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở Ủy ban nhân dân trực thuộc đảng ủy
xã, phường, đặc khu: Tại mục 3, Điều 3, nhiệm vụ của Đảng ủy
UBND cấp xã có quy định nhiệm vụ lãnh đạo về công tác cán bộ; còn đối với nhiệm
vụ của chi ủy, chi bộ UBND cấp xã nêu tại Điều 5 thì không
quy định nhiệm vụ lãnh đạo về công tác cán bộ. Từ đó, khó khăn trong việc trình
Ban Thường vụ Đảng ủy xã trong công tác cán bộ. (Lâm Đồng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung
ương ghi nhận ý kiến của Tỉnh ủy Lâm Đồng về việc quy định nhiệm vụ lãnh đạo
công tác cán bộ của chi ủy, chi bộ UBND cấp xã để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm
quyền.
Câu 2: Thực hiện các Quy định, Kết luận,
các văn bản chỉ đạo của Trung ương về thực hiện mô hình chính quyền địa phương
02 cấp, hiện nay số đầu mối tổ chức đảng, số lượng đảng viên ở một số đảng ủy
trực thuộc Thành ủy có chênh lệch khá lớn, cụ thể: Đảng ủy các cơ quan Đảng
thành phố hiện có 12 tổ chức cơ sở đảng (10 đảng bộ cơ sở, 02 chi bộ cơ sở) với
1.848 đảng viên, Đảng ủy UBND thành phố hiện có 64 tổ chức cơ sở đảng (55 đảng
bộ cơ sở, 09 chi bộ cơ sở) với 14.770 đảng viên.
Việc chênh lệch khá lớn về số lượng tổ chức đảng,
đảng viên trực thuộc dẫn đến khối lượng công việc của các Đảng ủy trực thuộc
như công tác phát triển đảng (hiện đang tính chỉ tiêu dựa trên tổng số đảng
viên hiện có) và công tác nghiệp vụ tổ chức đảng, đảng viên khác cũng chênh lệch
lớn trong khi số lượng tổ chức bộ máy biên chế gần tương đồng. Do vậy, kính đề
nghị Trung ương nghiên cứu xem xét, điều chỉnh mô hình tổ chức đảng trực thuộc
Đảng ủy các cơ quan Đảng cấp tỉnh và Đảng ủy UBND cấp tỉnh phù hợp. (Đà
Nẵng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung
ương ghi nhận ý kiến của Thành ủy Đà Nẵng về mô hình tổ chức đảng trực
thuộc Đảng ủy các cơ quan Đảng và Đảng ủy UBND cấp tỉnh để tổng hợp, nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền. Hiện tại, đề nghị địa
phương căn cứ các Quy định, Kết luận, Hướng dẫn của Trung ương hiện hành để thực
hiện.
Câu 3: Về Quy định số
360-QĐ/TW, ngày 29/8/2025 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy
trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu
(1) Theo quy định, có quy chế phối hợp giữa đảng
uỷ cấp xã nơi có trụ sở trung tâm chính trị với các đảng uỷ cấp xã thuộc phạm
vi thực hiện nhiệm vụ của trung tâm chính trị cấp xã; song trong thực tế còn
khó khăn trong việc lãnh đạo, chỉ đạo của đảng uỷ cấp xã nơi có trụ sở trung
tâm chính trị trong việc thực hiện nhiệm vụ ở các xã, phường, đặc khu khác được
phân công.
Đề nghị Trung ương tiếp tục nghiên
cứu theo hướng: Trung tâm chính trị là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trường Chính
trị tỉnh, thành phố nhằm phù hợp và thuận lợi hơn trong việc lãnh đạo, chỉ đạo
và hướng dẫn và thực hiện nhiệm chuyên môn, nghiệp vụ.
(2) Theo Hướng dẫn số 31-HD/BTCTW, ngày
23/4/2025 của Ban Tổ chức Trung ương thì trung tâm chính trị cấp
xã được bố trí không quá 03 biên chế; song tại Quy định số 360-QĐ/TW thì
biên chế trung tâm chính trị cấp xã gồm: Giám đốc, 1 phó giám đốc, giảng viên
và viên chức; với số lượng biên chế như trên sẽ không thể bố trí đủ cán bộ
chuyên trách.
Đề nghị: Trung ương tăng số lượng
biên chế để bố trí đủ các chức danh, vị trí theo quy định hoặc với số lượng
biên chế như hiện nay thì hướng dẫn việc thực hiện chế độ kiêm nhiệm đối với
các chức danh, vị trí của trung tâm chính trị cấp xã. (Quảng Trị)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận các ý kiến phản
ánh, đề xuất của Tỉnh Quảng Trị: (1) Đối với đề xuất quy định “Trung tâm chính
trị là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trường Chính trị tỉnh, thành phố” nhằm
phù hợp, thuận lợi hơn trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện; Ban Tổ
chức Trung ương sẽ tổng hợp, nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền trong thời
gian tới. (2) Đối với việc tăng số lượng biên chế hoặc hướng dẫn việc thực hiện
chế độ kiêm nhiệm đối với các chức danh, vị trí của trung tâm chính trị cấp xã,
đề nghị Ban Thường vụ cấp ủy cấp tỉnh và cấp xã căn cứ các quy định, hướng dẫn
hiện hành phân bổ biên chế, sắp xếp cán bộ cho phù hợp tình hình thực tiễn, đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Câu 4: Tại Quy định số 343-QĐ/TW ngày
23/7/2025 của Bộ Chính trị về tổ chức đảng trong Công an nhân dân Việt Nam:
(1) Nội dung 2.3 điểm 2 Mục I Quy định số
343-QĐ/TW quy định: “Đảng ủy cơ sở đơn vị trực thuộc Bộ Công an là đảng ủy
cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở (trừ quyền thành lập tổ chức cơ sở đảng và
quyền được lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc)”.
(2) Nội dung 6.5 điểm 6 Mục II Quy định số
343-QĐ/TW quy định: “Đảng bộ cơ sở mà đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở
có chức năng, nhiệm vụ như chức năng, nhiệm vụ của loại hình cơ sở đó”.
Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn cụ thể
Đảng ủy cơ sở, Ban Thường vụ Đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở (trừ
quyền thành lập tổ chức cơ sở đảng và quyền được lập các cơ quan chuyên trách
tham mưu, giúp việc) được thực hiện tất cả các quyền hạn còn lại như Đảng ủy,
Ban Thường vụ Đảng ủy cấp trên cơ sở, để bảo đảm công tác xây dựng đảng, công
tác tổ chức cán bộ ở các đơn vị cấp Cục trong Công an nhân dân thực hiện đồng bộ,
thống nhất. (Đảng ủy Công an Trung ương).
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Tại Mục 1, Phần VII, Quy định số 343-QĐ/TW quy định:
“Căn cứ Quy định này, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Ban Thường vụ Đảng
ủy Công an Trung ương hướng dẫn tổ chức thực hiện”. Do đó, trên cơ sở đề
nghị cần hướng dẫn những vấn đề cụ thể thi hành Quy định số 343-QĐ/TW, Ban Tổ
chức Trung ương phối hợp Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương để xây dựng
hướng dẫn.
Câu 5: Đề nghị xem
xét, hướng dẫn việc bố trí cấp phó các tổ chức chính
trị - xã hội cấp xã là chức danh lãnh đạo chuyên trách hay kiêm nhiệm?
Lý do: Tại
Khoản 2, Điều 3, Quy định số 368-QĐ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ
Chính trị về Danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ
thống chính trị nêu: “…Chỉ xem xét, sắp xếp đưa vào Danh mục các chức danh,
chức vụ lãnh đạo chuyên trách, không sắp xếp các chức danh kiêm nhiệm…”.
Tại Danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống
chính trị (ban hành kèm theo Quy định số 368-QĐ/TW), thì cấp phó
các tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, đặc khu ở bậc 10, nhóm IV.
Tại Khoản
3, Điều 1, Quy định số 301-QĐ/TW, ngày 09/6/2025 của Ban Bí thư về chức
năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh,
cấp xã nêu: “Bố trí cán bộ, công chức, viên chức ở cấp xã và người hoạt động
không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố kiêm nhiệm cấp phó của các tổ chức
chính trị - xã hội ở xã, phường, đặc khu. Khi đại hội của mỗi tổ chức thực hiện
theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền”.
Tại Khoản
4, Điều 2 Quy định số 301-QĐ/TW của Ban Bí thư nêu: “Biên chế Cơ
quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã: Định hướng khoảng 8 - 10 biên chế, gồm:
Chủ tịch, Phó Chủ tịch, công chức giúp việc…”. Như vậy, nếu cấp phó của
các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã là chức danh lãnh đạo chuyên trách thì có
trường hợp cấp phó của các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã nằm trong biên chế
của Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã (ví dụ: Hiện nay, Phó Chủ tịch Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc kiêm Phó Chủ tịch Hội phụ nữ xã đang nằm trong biên chế của
Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã) thì không đúng theo cơ cấu biên chế
theo Quy định 301-QĐ/TW đã nêu trên (Tuyên Quang)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ngày 09/6/2025, Ban Bí thư ban hành Quy định số
301-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã; trong đó quy định: Bố trí cán bộ, công chức, viên chức
ở cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố kiêm nhiệm cấp
phó của các tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, đặc khu. Khi đại hội của mỗi
tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền (Khoản 3,
Điều 2) và Biên chế Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã: Định hướng khoảng
8 - 10 biên chế, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, công chức giúp việc. Trước mặt có
thể bố trí biên chế nhiều hơn (bao gồm cán bộ, công chức cơ quan đảng, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể của huyện, xã hiện có và có thể một số cán
bộ, công chức cấp tỉnh); sau khi hoàn thiện vị trí việc làm, tối đa sau thời
gian 5 năm phải thực hiện theo đúng quy định của cấp có thẩm quyền" (Khoản 4, Điều 2).
Do đó, đề nghị các đồng chí thực hiện bố trí cấp
phó kiêm nhiệm theo Quy định số 301-QĐ/TW nêu trên.
II. VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
2.1. Về Quy
định số 368-QĐ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị về Danh mục vị trí chức
danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị
Câu 1. Tại Bậc 10, Nhóm IV: Khung chức
danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị
quản lý; đề nghị xác định rõ hơn “các tổ chức chính trị xã, phường, đặc khu” là
những tổ chức cụ thể nào (Đắk Lắk, Lâm Đồng).
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Theo Quy định số 368, chức danh Phó Chủ tịch Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (không là Ủy viên Trung ương Đảng,
không là người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương) xếp
ngang chức danh Phó trưởng các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, gồm các
chức danh sau: Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội
Cựu chiến binh Việt Nam; tương tự đối với các chức danh này ở cấp tỉnh được xếp
cùng Bậc 6, Nhóm IV, ở cấp xã được xếp cùng Bậc 10, Nhóm IV. Đề nghị các đồng
chí căn cứ quy định của Bộ Chính trị để cụ thể hóa theo phù hợp với tình hình
thực tiễn của địa phương mình.
Câu 2:
- Đề nghị hướng dẫn thêm về việc xác định
bậc đối với các chức danh: (1) Cấp phó các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp
việc Đảng ủy các cơ quan Đảng, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh (không là Ủy viên
Ban Chấp hành chuyên trách Đảng ủy các cơ quan Đảng, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh);
(2) Ủy viên Ủy ban kiểm tra đảng ủy xã, phường, đặc khu. (Lâm Đồng, Phú
Thọ)
- Hiện nay trong bảng danh mục vị trí chức
danh lãnh đạo, nhiều chức danh chuyên trách của cấp tỉnh, cấp xã chưa có trong
danh mục vì vậy cấp ủy thành phố dự kiến cụ thể hóa để thực hiện, tuy nhiên xét
vị trí của cơ quan đơn vị theo mô hình chức danh hiện nay không thể bổ sung vào
bậc thấp nhất của Quy định 368-QĐ/TW là Bậc 10, vậy cấp ủy cấp tỉnh, thành phố
có thể mở rộng thêm số lượng bậc để phù hợp với thực tiễn hay không (ví dụ
thêm Bậc 11, 12…). (Huế)
- Các chức
danh, chức vụ trong đơn vị sự nghiệp thuộc khối chính quyền cấp tỉnh, cấp sở, cấp
xã do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành theo khung do Chính phủ quy định. Hiện nay
Chính phủ chưa hướng dẫn nên địa phương gặp khó khăn trong việc xác định vị trí
của các chức danh, chức vụ này trong hệ thống chính quyền. (An Giang)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Quy định số 368 xác định nguyên tắc “việc sắp
xếp các chức danh, chức vụ lãnh đạo phải theo nguyên tắc cấp trưởng, cấp trên
trực tiếp xếp theo nhóm, bậc chức vụ nào thì cấp phó, cấp dưới trực tiếp xếp
theo nhóm, bậc tương ứng” (tại điểm 2 Điều 3) và yêu cầu
“các ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương rà soát,
kịp thời điều chỉnh, bổ sung chức danh, chức vụ theo phân cấp quản lý” (tại
điểm 1 Điều 5).
Chức danh “Uỷ viên ban thường vụ chuyên trách
đảng uỷ các cơ quan đảng, đảng uỷ uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố” xếp ở Bậc
8, chức danh “Uỷ viên ban chấp hành chuyên trách đảng uỷ các cơ quan đảng, đảng
uỷ uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố” xếp ở Bậc 9; đối với chức danh “Cấp
phó các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Đảng ủy các cơ quan Đảng, Đảng
ủy UBND tỉnh (không là Ủy viên BCH chuyên trách Đảng ủy các cơ quan Đảng, Đảng ủy
UBND tỉnh)” chưa có trong Danh mục, vì vậy, đề nghị các đồng chí nghiên cứu,
cụ thể hóa vào Danh mục của địa phương mình phù hợp với tình hình thực tiễn.
- Theo Quy định số 368, Bộ Chính trị ban hành
quy định khung gồm 10 bậc đối với các chức danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện cấp
uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý; đồng thời, yêu cầu các cấp ủy,
tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tiếp tục xem xét, cụ thể hoá theo thẩm quyền đối
với các chức danh, chức vụ có bậc thấp hơn chức danh, chức vụ quy
định trong Danh mục (tại điểm 1 Điều 5). Như vậy, Ban Thường
vụ tỉnh ủy có thể mở rộng thêm số lượng bậc (Bậc 11, 12…) để phù hợp với tình
hình thực tiễn.
Chức danh “Cấp trưởng các cơ quan tham mưu,
giúp việc, đơn vị sự nghiệp thuộc đảng uỷ xã, phường, đặc khu” (được hiểu
là Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy cấp xã) xếp ở Bậc 9, chức danh “Cấp phó
các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp thuộc đảng uỷ xã, phường, đặc
khu” (được hiểu là Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy cấp xã) xếp ở Bậc
10. Chức danh “Ủy viên Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường, đặc khu” là
chức danh thấp hơn; vì vậy, đề nghị các đồng chí nghiên cứu, tiếp tục cụ thể
hóa vào bảng Danh mục của địa phương mình bảo đảm không trái với quy định của Bộ
Chính trị.
- Trong thời gian tới, các chức danh, chức vụ
trong đơn vị sự nghiệp thuộc khối chính quyền cấp tỉnh, cấp xã sẽ được Chính phủ
quy định riêng, để làm cơ sở cho các địa phương cụ thể hoá theo thẩm quyền.
Câu 3. Quy định số 368-QĐ/TW yêu cầu sự “đồng
bộ, thống nhất, liên thông giữa các chức danh, chức vụ trong hệ thống chính trị”
và “phù hợp tiêu chuẩn chức danh, chức vụ, vị trí việc làm của từng cơ quan,
địa phương, đơn vị”. Thực tế hiện nay, nhiều văn bản hiện hành (quy định
chức năng, nhiệm vụ; phân cấp quản lý; hệ số phụ cấp; xác định vị trí việc làm)
chưa được điều chỉnh kịp thời để phù hợp với Quy định số 368, dẫn tới lúng túng
trong xác định chức danh, phụ cấp, tiêu chuẩn (Lâm Đồng).
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng Quy định số
368, Ban Tổ chức Trung ương đã chỉ đạo các vụ chức năng phối hợp chặt chẽ để
tham mưu các văn bản trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư bảo đảm đồng bộ (về phân cấp,
quản lý cán bộ, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, về đào tạo lý luận chính trị).
Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang tiếp tục phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ
quan chức năng rà soát, xây dựng các quy định về tiền lương, phụ cấp chức vụ… đối
với cán bộ trong hệ thống chính trị để bảo đảm đồng bộ, tổng thể, liên thông
phù hợp với tình hình thực tiễn và dễ thực hiện.
Câu 4:
- Chức danh “Cấp trưởng phòng thuộc
các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp ủy cấp tỉnh” thuộc
nhóm IV, bậc 8, cao hơn 02 bậc đối với “Cấp phó trưởng phòng thuộc các cơ
quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp ủy cấp tỉnh” dẫn đến ảnh hưởng
đến quyền lợi (phụ cấp, trách nhiệm, định hướng quy hoạch, bổ nhiệm…). (Lâm
Đồng)
- Khó khăn, vướng mắc trong
thực hiện Quy định 368-QĐ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị quy định về Danh
mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị,
cụ thể như sau:
(1) Đối với việc xếp bậc:
Nhóm 4 bậc 10:
“- Phó trưởng phòng thuộc các cơ quan tham
mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp thuộc Tỉnh ủy,
- Phó trưởng phòng thuộc cơ quan chuyên môn,
tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
- Phó trưởng phòng thuộc Văn phòng Đoàn đại
biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh,
- Cấp phó các đơn vị, cấp phó đơn vị sự nghiệp
thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh,
- Ủy viên ban chấp hành các tổ chức chính trị -
xã hội tỉnh,
- Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
xã, phường, đặc khu; cấp phó các tổ chức chính trị xã, phường, đặc khu,
- Cấp phó các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị
sự nghiệp thuộc đảng ủy xã, phường, đặc khu,
- Cấp phó các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành
chính khác thuộc ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu,
- Cấp phó các ban chuyên môn của hội đồng nhân
dân xã, phường, đặc khu.”
Đề nghị nâng từ bậc 10 lên bậc 9, tương
đương Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã, phường, đặc khu, đối với các chức vụ:
- Phó trưởng phòng thuộc các cơ quan tham mưu,
giúp việc, đơn vị sự nghiệp thuộc Tỉnh ủy,
- Phó trưởng phòng thuộc cơ quan chuyên môn, tổ
chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
- Phó trưởng phòng thuộc Văn phòng Đoàn đại biểu
Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh,
- Cấp phó các đơn vị, cấp phó đơn vị sự nghiệp
thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh.
Lý do: Xét vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ, phó trưởng phòng các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh có vai trò quan trọng
hơn phó trưởng các phòng cấp xã.
* Tỉnh ủy Quảng Trị: Việc phân hạng đối với
một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp tỉnh và cấp xã có những bất cập;
02 chức danh liền kề (cấp trưởng và cấp phó) nhưng xếp cách nhau 02 bậc, cụ thể
như: (i) Cấp trưởng cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh (tại Bậc 4); Cấp phó cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính
khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Bậc 6); (ii) Cấp trưởng phòng thuộc các cơ
quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp ủy cấp tỉnh; Cấp trưởng phòng thuộc
cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Bậc
8); Cấp phó trưởng phòng thuộc các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp
cấp ủy cấp tỉnh; Cấp phó trưởng phòng thuộc cơ quan chuyên môn, tổ chức hành
chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Bậc 10).
Quy định như vậy sẽ khó khăn khi thực hiện công
tác quy hoạch (xác định đối tượng 1 và đối tượng 02 cho chức danh) cũng như
trong công tác bổ nhiệm cán bộ.
Đề nghị: rà soát, sắp xếp lại các chức
danh theo hướng các chức danh liền kề thì được xếp vào bậc liền kề.
Bên cạnh đó, căn cứ để phân chia bậc đối với các
chức danh cần xem xét đến vị trí, tính chất, tầm quan trọng của chức năng, nhiệm
vụ được giao. Việc quy định như hiện nay, một số chức danh cán bộ cấp tỉnh như:
Cấp phó trưởng phòng thuộc các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp
ủy cấp tỉnh; Cấp phó trưởng phòng thuộc cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính
khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; cấp phó trưởng phòng thuộc văn phòng đoàn đại
biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân cấp tỉnh, được xếp cùng bậc 10 với: Cấp phó
các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp thuộc đảng ủy xã, phường, đặc
khu; cấp phó cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân
xã, phường, đặc khu; cấp phó các ban chuyên môn của hội đồng nhân dân xã, phường,
đặc khu là chưa phù hợp và khó khăn trong việc bố trí cán bộ. (An Giang)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Đối với các chức danh tại Nhóm IV, Quy định số
368 của Bộ Chính trị chỉ ban hành quy định khung chức danh, chức vụ lãnh đạo,
quản lý cho cả hệ thống chính trị; do vậy, đề nghị các đồng chí căn cứ vào cơ cấu
tổ chức của địa phương mình để cụ thể hóa cho phù hợp.
Việc xác định bậc liền kề của chức danh, chức vụ
phải căn cứ vào vị trí, vai trò, cơ cấu tổ chức và chức danh, chức vụ của cơ
quan, tổ chức đó. Theo đó, chức danh trưởng phòng cấp tỉnh (Bậc 8) là chức danh
cấp trên liền kề với chức danh phó trưởng phòng cấp tỉnh (Bậc 10). Tương tự đối
với các chức danh khác
Tại điểm 2 Điều 3 Quy định số
368 đã xác định nguyên tắc “chức danh, chức vụ được xác định là tương đương
khi được xếp cùng nhóm, cùng bậc, cùng hệ số phụ cấp, cùng đối tượng quản lý”;
do vậy, để xác định vị trí, vai trò, chức năng quan trọng hơn của các chức danh
cấp tỉnh so với cấp xã, Ban Tổ chức Trung ương sẽ trao đổi với Bộ Nội vụ để căn
cứ vào chức năng, nhiệm vụ, vai trò của phó trưởng phòng cấp tỉnh với phó trưởng
phòng cấp xã để xác định hệ số phụ cấp cho phù hợp.
Câu 5. Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng
dẫn rõ việc sử dụng danh mục chức danh, chức vụ thực hiện các khâu của công tác
cán bộ (quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, thực hiện chính sách….) đối với
các chức danh trong cùng nhóm, cùng bậc (Lạng Sơn).
- Ví dụ 1 (bổ nhiệm vào chức vụ cùng nhóm, cùng
bậc): Bí thư đảng uỷ cấp xã cùng nhóm, cùng bậc với Phó giám đốc sở (nhóm IV, bậc
6); Trưởng phòng A thuộc sở (nhóm IV, bậc 8) là cấp dưới liền kề để thực hiện
quy trình bổ nhiệm chức danh phó giám đốc sở (nhóm IV, bậc 6) thì có thể thực
hiện quy trình điều động, bổ nhiệm trưởng phòng A vào chức danh Bí thư đảng uỷ
cấp xã hay không?
- Ví dụ 2 (bổ nhiệm cán bộ cùng nhóm, cùng bậc
vào chức vụ cao hơn): Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy cấp xã cùng nhóm, cùng bậc
với Trưởng phòng A thuộc sở (nhóm IV, bậc 8); Trưởng phòng A là cấp dưới liền kề
để thực hiện quy trình bổ nhiệm chức danh phó giám đốc sở (nhóm IV, bậc 6); thì
có thể hiện quy trình điều động, bổ nhiệm Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy cấp xã
vào chức danh phó giám đốc sở hay không?
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Tại điểm 2 Điều 34 Quy định số
377 quy định cán bộ được giới thiệu từ nguồn nhân sự tại chỗ phải được quy
hoạch vào chức danh bổ nhiệm hoặc được quy hoạch chức danh tương đương trở lên.
Đối với nhân sự từ nguồn ở bên ngoài phải được quy hoạch chức danh tương đương
trở lên. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ xem xét, quyết
định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Tại điểm 3 Điều 3 Quy định số
368 xác định những chức danh, chức vụ được là tương đương khi được xếp cùng
nhóm, cùng bậc, cùng hệ số phụ cấp, cùng đối tượng quản lý.
Theo đó, chức danh bí thư đảng ủy cấp xã tương
đương với chức danh phó giám đốc sở (cùng ở Nhóm IV, Bậc 6); vì vậy, có thể thực
hiện quy trình điều động, bổ nhiệm trưởng phòng thuộc sở giữ chức bí thư đảng ủy
xã nếu có quy hoạch chức danh phó giám đốc sở hoặc chức danh tương đương. Tương
tự như vậy, đối với trường hợp ủy viên ban thường vụ cấp xã có thể thực hiện
quy trình bổ nhiệm phó giám đốc sở.
Câu 6. Theo
Quy định 368-QĐ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị thì “cấp phó các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính
khác thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường” là các chức danh tương đương, theo
đó chức danh Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công trực thuộc Ủy ban
nhân dân xã được hiểu là chức danh tương đương với cấp phó các cơ quan chuyên
môn của Ủy ban nhân dân xã. Tuy nhiên, theo Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày
09/6/2025 của Chính phủ thì “Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công
tương đương Trưởng phòng thuộc Ủy ban nhân dân xã”. Như vậy giữa Quy định
368-QĐ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị và Nghị định số 118/2025/NĐ-CP, ngày
09/6/2025 của Chính phủ chưa thống nhất với nhau. Do đó đề nghị hướng dẫn cụ thể.
(Tuyên Quang)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Đối với các chức danh tại Nhóm IV, Quy định số
368 của Bộ Chính trị chỉ ban hành khung chức danh, chức vụ để các địa phương,
đơn vị làm căn cứ cụ thể hóa, xây dựng Danh mục chức danh, chức vụ của địa
phương, đơn vị mình; theo đó, chức danh “cấp phó
các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường”
được xếp ở Bậc 10.
Chức danh “Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ
hành chính công trực thuộc Ủy ban nhân dân xã” là chức danh mới được hình
thành trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền 02 cấp và được quy định
riêng tại Nghị định số 118/2025/NĐ-CP của Chính phủ được hiểu là trường hợp đặc
biệt (tại điểm 3 Điều 3 quy định “Trường hợp đặc biệt do
cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”).
Câu 7: Theo Điều 5 Quy định
số 368-QĐ/TW quy định về các bậc đối với các chức danh, chức vụ các đơn vị
thực hiện đảm bảo thống nhất với quy định của Trung ương, tuy nhiên, Quy định số
368-QĐ/TW chỉ quy định đến bậc 10 Nhóm IV (Khung chức danh, chức vụ lãnh đạo).
Đề nghị có hướng dẫn cụ thể việc xác định các nhóm và bậc đối với cán bộ, lãnh
đạo, quản lý phải cần có hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo sự thống nhất, tránh kéo
dài thời gian rà soát, phân nhóm cũng như phòng ngừa tình trạng xác định nhóm
và bậc sai lệnh, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của cán bộ. (Đảng ủy
Chính phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Quy định 368 của Bộ Chính trị về Danh mục vị trí
chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị gồm 04 nhóm,
trong đó 03 nhóm (từ nhóm I đến nhóm III) đã quy định đầy đủ các chức danh lãnh
đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước; các chức danh, chức vụ
lãnh đạo thuộc diện Bộ Chính trị và Ban Bí thư quản lý. Việc hướng dẫn, thực hiện
các nội dung công tác cán bộ đối với nhóm các chức danh này đã được quy định cụ
thể trong các văn bản, hướng dẫn của Trung ương, do vậy các cấp ủy, cơ quan,
đơn vị căn cứ vào các quy định này để thực hiện theo thẩm quyền.
Riêng Đối với nhóm IV, Bộ Chính trị chỉ quy định
khung chức danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện cấp ủy, lãnh đạo cơ
quan, đơn vị quản lý, gồm 10 bậc; đồng thời giao các cấp ủy, cơ quan, đơn vị rà
soát hệ thống chức danh, chức vụ của tổ chức mình để kịp thời điều chỉnh, bổ
sung cho phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tiễn của địa phương, cơ
quan, đơn vị theo nguyên tắc tại điểm 2, điểm 3 Điều 3
của Quy định này.
Theo các quy định của Trung ương, việc xác định,
phân nhóm, phân cấp, cụ thể hóa, mở rộng đối tượng thuộc trách nhiệm
của các cấp ủy, cơ quan, đơn vị để bảo đảm thực hiện đúng quy định của Trung ương,
vừa phù hợp với yêu cầu quản lý của từng địa phương, đơn vị, qua đó tạo sự thống
nhất trong tổ chức thực hiện, tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng đến
quyền lợi chính đảng của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
Câu 8: Qua nghiên cứu Quy định số
368-QĐ/TW, các chức danh là cấp trưởng, cấp phó các đơn vị sự nghiệp công lập
thuộc Ủy ban nhân dân thành phố (và xã, phường) chưa được đề cập trong
quy định. Tuy nhiên, tại Công văn số 20/CV-BCĐ ngày 17/10/2025 của Ban Chỉ đạo
về việc thành lập đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng các dịch vụ sự nghiệp đa
ngành, đa lĩnh vực ở cấp xã có hướng dẫn đối với tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền
hạn của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, trong đó,
có hướng dẫn đối với cơ cấu tổ chức và số lượng cấp phó.
Trên cơ sở đó, đề xuất Ban Tổ chức Trung ương có
hướng dẫn, làm rõ về vị trí, chức danh, chức vụ tương ứng của các đơn vị sự
nghiệp nêu trên để đảm bảo phân cấp phù hợp, đúng với vai trò, nhiệm vụ của các
đơn vị sự nghiệp công lập. (Cần Thơ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Quy định 368 chỉ quy định các chức danh lãnh đạo,
quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh ủy, thành ủy; chưa
quy định các chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND tỉnh,
thành phố do hiện nay quy mô, số lượng, chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, hệ
số phụ cấp chức vụ lãnh đạo quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
UBND đang rất phong phú, đa dạng, cần có sự quy định thống nhất từ cơ quan quản
lý nhà nước; do vậy tại điểm 2, Điều 5, Bộ Chính trị đã
giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Chính phủ sớm cụ thể hóa, ban hành khung quy định
các loại hình đơn vị sự nghiệp thuộc khối chính quyền để làm cơ sở cho các địa
phương cụ thể hoá theo thẩm quyền.
Câu 9: Khoản 3 Điều 5 Quy
định số 368-QĐ/TW quy định “Quân ủy Trung ương, Đảng ủy CATW chỉ đạo xây
dựng Danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trong Quân đội nhân
dân và CAND bảo đảm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang; đồng bộ,
thống nhất với chức danh, chức vụ lãnh đạo trong hệ thống chính trị”.
Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, có hướng
dẫn để đảm bảo thuận lợi trong xây dựng danh mục chức vụ, chức danh phù hợp với
đặc thù của lực lượng vũ trang (không chia nhiều bậc chức vụ, chức danh như Quy
định số 368-QĐ/TW). (Đảng ủy Công an)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Quy định 368 của Bộ Chính trị về Danh mục vị trí
chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị đã quy định
đầy đủ các chức danh lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước,
các chức danh, chức vụ lãnh đạo thuộc diện Bộ Chính trị, diện Ban Bí thư quản
lý và khung chức danh, chức vụ lãnh đạo
thuộc diện cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý cho cả hệ thống chính trị chứ
không phải xây dựng khung cho riêng lực lượng vũ trang; do vậy đã yêu cầu
Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Công an Trung ương căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ
và tổ chức bộ máy của lực lượng mình để cụ thể hóa, bảo đảm đồng bộ, thống nhất
với các chức danh, chức vụ lãnh đạo trong hệ thống chính trị.
Đề nghị các đồng chí căn cứ vào các quy định của
Bộ Chính trị nhất là các quan điểm, nguyên tắc đã đề ra; trên cơ sở đó, tiến
hành rà soát, kịp thời điều chỉnh, bổ sung chức danh, chức vụ theo phân cấp quản
lý phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của lực lượng vũ trang để sửa đổi,
hoàn thiện hệ thống các văn bản có liên quan, bảo đảm phù hợp với các quy định
của Trung ương, không nhất thiết Trung ương có khung chức danh,
chức vụ nào thì Quân đội và Công an cũng phải có chức danh, chức vụ tương ứng.
Câu 10: Việc sắp xếp các chức danh lãnh đạo
chưa theo nguyên tắc cấp trưởng, cấp trên trực tiếp xếp theo nhóm, bậc chức vụ
nào thì cấp phó, cấp dưới trực tiếp xếp theo nhóm, bậc tương ứng, cụ thể như:
- Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương (không
là Uỷ viên Trung ương Đảng) xếp ở bậc 2, nhóm II; trong khi đó, Phó trưởng
ban, cơ quan đảng ở Trung ương (không là Uỷ viên Trung ương Đảng) xếp ở
bậc 1, nhóm III (tức là thấp hơn Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương). Nhưng
ở địa phương, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ được xếp chung với cấp
phó các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp uỷ tỉnh xếp ở bậc 6,
nhóm IV. Như vậy, có sự khác biệt trong phân cấp cán bộ giữa Trung ương và địa
phương.
- Uỷ viên ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ xếp ở
bậc 2, Nhóm IV; Uỷ viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố lại xếp ở bậc 4,
Nhóm IV.
- Cấp trưởng các cơ quan tham mưu, giúp việc,
đơn vị sự nghiệp cấp uỷ cấp tỉnh; cấp trưởng cơ quan chuyên môn, tổ chức hành
chính khác thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cấp trưởng các ban chuyên môn của hội
đồng nhân dân, chánh văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân cấp
tỉnh; Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là trưởng tổ chức chính trị
- xã hội cấp tỉnh xếp ở bậc 4, Nhóm IV. Trong khi đó, cấp phó các cơ
quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp uỷ cấp tỉnh; cấp phó cơ quan
chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cấp phó các
ban chuyên môn của hội đồng nhân dân, phó chánh văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội
và hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cấp
phó các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh lại xếp ở bậc 6, Nhóm IV.
- Cấp trưởng phòng thuộc các cơ quan tham mưu,
giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp uỷ cấp tỉnh; cấp trưởng phòng thuộc cơ quan
chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cấp trưởng
phòng thuộc văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân cấp tỉnh xếp ở
bậc 8, Nhóm IV. Trong khi đó, cấp phó trưởng phòng thuộc các cơ quan
tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp uỷ cấp tỉnh; cấp phó trưởng phòng thuộc
cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cấp
phó trưởng phòng thuộc văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân cấp
tỉnh lại xếp ở bậc 10, Nhóm IV.
- Việc sắp xếp các chức danh lãnh đạo giữa cấp tỉnh
và cấp xã chưa phù hợp nên rất khó khăn trong công tác luân chuyển, điều động,
bố trí cán bộ về cơ sở. Ví dụ: Trưởng phòng của các cơ quan cấp tỉnh tương
đương với Uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ cấp xã (bậc 8, nhóm IV), trong khi Uỷ
viên ban chấp hành đảng bộ cấp xã (bậc 9, nhóm IV) lại cao hơn Phó Trưởng phòng
của các cơ quan cấp tỉnh (bậc 10, nhóm IV) là chưa phù hợp. Như vậy, rất khó
khăn trong công tác luân chuyển, bố trí cán bộ tăng cường cho các xã, phường. (Đồng
Tháp)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Tại điểm 3 Điều 3 của Quy định
xác định nguyên tắc “Đối với các chức danh, chức vụ thuộc diện Bộ Chính trị,
Ban Bí thư quản lý thì ngoài Quy định này còn thực hiện theo các quy định khác
của Trung ương. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”.
Chức danh “Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung
ương (không là Uỷ viên Trung ương Đảng)” và chức danh “Phó trưởng
ban, cơ quan đảng ở Trung ương (không là Uỷ viên Trung ương Đảng)” là
các chức danh, chức vụ thuộc diện Trung ương quản lý, đã có quy định
riêng của Bộ Chính trị[1], theo đó chức danh “Phó
Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương (không là Uỷ viên Trung ương Đảng)”
thuộc diện Bộ Chính trị quản lý, còn chức danh “Phó trưởng ban, cơ quan đảng
ở Trung ương (không là Uỷ viên Trung ương Đảng)” thuộc diện Ban Bí
thư quản lý.
Trong Quy định 368, Bộ Chính trị đã quy định
khung các chức danh “Cấp trưởng các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp
cấp ủy cấp tỉnh” cùng 1 bậc và chức danh “Cấp trưởng các cơ quan tham mưu, giúp
việc, đơn vị sự nghiệp cấp ủy cấp xã” cùng 1 bậc, do vậy, đề nghị các đồng chí
cụ thể hóa chức danh “Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ” theo thẩm
quyền, bảo đảm đồng bộ với các chức danh khác theo đúng quy định của Bộ Chính
trị.
- Đối với các chức danh tại Nhóm IV, Quy định số
368 của Bộ Chính trị chỉ ban hành quy định khung chức danh, chức vụ lãnh đạo,
quản lý cho cả hệ thống chính trị; do vậy, đề nghị các đồng chí căn cứ vào cơ cấu
tổ chức của địa phương mình để cụ thể hóa cho phù hợp.
Việc xác định bậc liền kề của chức danh, chức vụ
phải căn cứ vào vị trí, vai trò, cơ cấu tổ chức và chức danh, chức vụ của cơ
quan, tổ chức đó; theo đó:
+ Chức danh “Uỷ viên ban thường vụ tỉnh uỷ,
thành uỷ xếp” (Bậc 2) là chức danh cấp trên liền kề với chức danh “Uỷ
viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố” (Bậc 4);
+ Chức danh “Cấp trưởng các cơ quan tham mưu,
giúp việc, đơn vị sự nghiệp cấp uỷ cấp tỉnh; cấp trưởng cơ quan chuyên môn, tổ
chức hành chính khác thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh…” (Bậc 4) là chức danh
liền kề với chức danh “cấp phó các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự
nghiệp cấp uỷ cấp tỉnh; cấp phó cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc
uỷ ban nhân dân cấp tỉnh…” (Bậc 6)
+ Chức danh trưởng phòng cấp tỉnh (Bậc 8) là chức
danh cấp trên liền kề với chức danh phó trưởng phòng cấp tỉnh (Bậc 10).
Tương tự như vậy đối với các chức danh
khác.
- Tại điểm 2 Điều 3 Quy định số
368 đã xác định nguyên tắc “chức danh, chức vụ được xác định là tương
đương khi được xếp cùng nhóm, cùng bậc, cùng hệ số phụ cấp, cùng đối tượng quản
lý”. Các chức danh cùng cấp, cùng bậc nhưng hệ số phụ cấp chức vụ khác nhau
cũng không xác định là tương đương. Việc xếp “Phó trưởng phòng các cơ quan cấp
tỉnh cùng bậc với phó phòng, ban ở cấp xã” chưa hẳn là 02 chức danh này bằng
nhau vì còn phải căn cứ vào vị trí, vai trò, chức năng quan trọng của các chức
danh cấp tỉnh so với cấp xã để xác định hệ số phụ cấp. Ban Tổ chức Trung ương sẽ
phối hợp, trao đổi với Bộ Nội vụ phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, vai trò của
chức danh “Phó trưởng phòng cấp tỉnh” với chức danh “Phó trưởng phòng
cấp xã” để xác định hệ số phụ cấp cho phù hợp.
Câu 11: Chức danh Thư ký các đồng chí bí
thư tỉnh ủy, thành ủy quy định bậc chưa đồng nhất với quy định hiện hành, cụ thể:
+ Theo Quy định 368-QĐ/TW thì chức danh này xếp ở
bậc 5, trên 1 bậc so với cấp phó các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc,
đơn vị sự nghiệp cấp ủy cấp tỉnh; cấp phó các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành
chính khác thuộc ủy ban nhân dân tỉnh.
+ Theo Quy định 30-QĐ/TW, ngày 19/8/2021 của Bộ
Chính trị thì chức danh này được hưởng lương và chính sách, chế độ tương đương
phó vụ trưởng hoặc phó ban cấp ủy tỉnh và tương đương của cơ quan, đơn vị cùng
cấp (Tỉnh ủy Hà Tĩnh)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Đối với các chức danh tại Nhóm IV, Quy định số
368 của Bộ Chính trị chỉ ban hành khung chức danh, chức vụ để các địa phương,
đơn vị làm căn cứ cụ thể hóa, xây dựng Danh mục chức danh, chức vụ của địa
phương, đơn vị mình; theo đó, chức danh “Thư ký các đồng chí Uỷ viên Trung
ương Đảng; bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc
hội; bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ” được xếp ở Bậc 5.
Tại điểm 3 Điều 3 quy định “Trường
hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”; theo đó, chức danh
Thư ký các đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ được quy định riêng trong Quy định
30-QĐ/TW, ngày 19/8/2021 của Bộ Chính trị được hiểu là trường hợp đặc biệt và
chức danh này được hưởng lương và chính sách, chế độ tương đương phó vụ trưởng
hoặc phó ban cấp ủy tỉnh và tương đương của cơ quan, đơn vị cùng cấp.
Câu 12:
- Một số chức danh chuyên trách hiện có trong thực
tế nhưng hiện chưa xếp bậc nào trong Quy định 368-QĐ/TW, cụ thể: Ủy viên chuyên
trách Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã, phường; Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kiểm tra
Đảng ủy các cơ quan đảng tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh (Tỉnh ủy Hà Tĩnh)
- Trong danh mục vị trí chức danh, nhóm chức
danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị ban hành kèm theo Quy định số
368-QĐ/TW chưa có chức danh Ủy viên Ủy ban Kiểm tra đảng ủy trực thuộc Tỉnh
ủy. Đề xuất bổ sung chức danh Ủy viên Ủy ban Kiểm tra đảng ủy trực
thuộc Tỉnh ủy vào danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ
lãnh đạo của hệ thống chính trị ban hành kèm theo Quy định số 368-QĐ/TW (Tỉnh
ủy Cà Mau)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Chức danh “Cấp trưởng các cơ quan tham mưu,
giúp việc, đơn vị sự nghiệp thuộc đảng uỷ xã, phường, đặc khu” (trong đó có
chức danh “Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy cấp xã”) xếp ở Bậc 9, Nhóm
IV; chức danh “Cấp phó các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp thuộc
đảng uỷ xã, phường, đặc khu” (trong đó có chức danh “Phó Chủ nhiệm Ủy
ban kiểm tra Đảng ủy cấp xã”) xếp ở Bậc 10, Nhóm IV. Chức danh “Ủy viên Ủy
ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường, đặc khu” là chức danh thấp hơn liền kề với
chức danh nêu trên; do vậy, đề nghị các đồng chí nghiên cứu, tiếp tục cụ thể
hóa, mở rộng bậc chức danh vào bảng Danh mục chức danh, chức vụ của địa phương
mình cho phù hợp, bảo đảm không trái với quy định của Bộ Chính trị.
Câu 13: Tại nhóm IV: Khung chức danh, chức
vụ thuộc diện cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý:
Bậc 10 bao gồm: “... Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường; cấp phó các tổ chức chính trị - xã hội ở xã,
phường”.
Xếp chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam xã, phường cùng bậc với chức danh phó các tổ chức
chính trị - xã hội ở xã, phường: Hiện nay, các đồng chí giữ chức vụ Phó
Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã đồng thời là cấp trưởng của các tổ
chức chính trị - xã hội ở xã, phường. Nếu tiếp tục xếp chức danh Phó Chủ tịch Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường cùng bậc với phó các tổ chức chính trị
- xã hội ở xã, phường thì rất khó xác định thẩm quyền, trách nhiệm trong từng tổ
chức chính trị - xã hội. Do vậy, đề xuất xếp thấp hơn bậc 10 (bổ sung thêm bậc
11) đối với: Cấp phó các tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường.
(Tỉnh ủy Cà Mau)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Theo Quy định số 368, chức danh Phó Chủ tịch Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (không là Ủy viên Trung ương Đảng,
không là người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương) xếp ngang
chức danh Phó trưởng các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, gồm các chức
danh sau: Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Cựu
chiến binh Việt Nam; tương tự đối với các chức danh này ở cấp tỉnh được xếp
cùng Bậc 6, Nhóm IV, ở cấp xã được xếp cùng Bậc 10, Nhóm IV. Đây là nội dung đã
được Bộ Chính trị quyết định, trong quá trình xây dựng Đề án cũng đã được đa số
cấp ủy, tổ chức đảng đồng thuận; đề nghị các đồng chí thực hiện theo đúng Quy định
của Bộ Chính trị.
2.2. Về Quy định số
365-QĐ/TW, ngày 30/8/2025 của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chức danh cán bộ thuộc
diện Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và khung
tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp
Câu 1: Đề nghị hướng dẫn thêm đối với
khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp[2], trong đó có tiêu chuẩn cấp ủy viên
cấp xã với cơ cấu là bí thư chi bộ thôn, tổ dân phố để thực hiện thống nhất,
vì nếu quy định cứng trình độ tối thiểu đại học thì rất khó khăn hoặc không có
nhân sự phù hợp tại địa bàn các xã khó khăn, vùng sâu, vùng xa. (Đắk Lắk)
Câu 2: Tại Mục IV của Quy
định số 365-QĐ/TW chưa có quy định về khung tiêu chuẩn đối với chức danh ủy
viên ban chấp hành và ủy viên ban thường vụ cấp ủy các cấp, do đó việc cụ thể
hóa và triển khai thực hiện tại địa phương cũng gặp một số khó khăn, đặc biệt
là việc quy định tiêu chuẩn để tham gia ban chấp hành đối với những trường hợp
là bí thư chi bộ thôn, tổ dân phố… được cơ cấu vào ban chấp hành đảng bộ cấp
xã. (Lâm Đồng)
Câu 3: Quy định số 365 -QĐ/TW, ngày
30/8/2025 của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chức danh cán bộ diện Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và khung tiêu chuẩn chức danh
cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp chưa nêu cụ thể về tiêu chuẩn trình độ lí luận
chính trị và trình độ quản lý nhà nước đồng bộ với các tiêu chuẩn được nêu tại
Nghị định số 29/2024/NĐ-CP, ngày 06/3/2024 của Chính phủ quy định
tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà
nước. (Phú Thọ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương đối với câu 1, 2, 3:
Ngày 30/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Quy
định số 365-QĐ/TW, 30/8/2025 của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chức danh cán bộ
thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và
khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đây là quy định
khung, mang tính nguyên tắc, chỉ đạo định hướng, lần đầu tiên đã xây dựng định
lượng các tiêu chuẩn theo các khối, ngành, lĩnh vực, làm căn cứ để các cấp ủy,
tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn
chức danh phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu thực tiễn bảo đảm đồng bộ, thống
nhất trong hệ thống chính trị. Cụ thể:
(1) Đối với kiến nghị của Đắk
Lắk, Lâm Đồng: Tiêu chuẩn chức danh đối với các chức danh cấp ủy viên
các cấp sẽ do cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng chịu trách nhiệm
cụ thể hóa, hướng dẫn thực hiện, bảo đảm đồng bộ với các quy định hiện hành.
(2) Đối với kiến nghị của
Phú Thọ: Việc quy định, hướng dẫn cụ thể về trình độ lý luận chính trị
và quản lý nhà nước sẽ do các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ
chịu trách nhiệm cụ thể hóa, hướng dẫn triển khai theo phân cấp quản lý cán bộ,
bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các quy định có liên quan.
Câu 4: Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn
và tiêu chuẩn về năng lực lãnh đạo, điều hành, quản lý rất chung chung và định
tính nên khó khăn trong việc áp dụng. Đề nghị xem xét điều chỉnh lại mục 3.4 (3.II) quy định về tiêu chuẩn chung để bổ nhiệm chức
danh Phó trưởng phòng và tương đương: “Có năng lực và kinh nghiệm lãnh đạo, quản
trị, quản lý” và mục 6.II “có kinh nghiệm lãnh đạo, quản
lý” vì trên thực tế các đối tượng này chưa qua các vị trí lãnh đạo, quản lý. (Đảng
ủy Chính phủ)
Câu 5: Tại Quy
định số 365-QĐ/TW, ngày 30/8/2025 nêu lên 06 tiêu chuẩn chung đối với cán bộ
lãnh đạo, quản lý các cấp; Theo đó, việc đáp ứng được các chỉ tiêu nói trên đối
với cán bộ lãnh đạo, quản lý là điều khách quan và nhu cầu của thực tiễn; Tuy
nhiên, thực tế tại các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thành viên của
Tổng công ty nói riêng hiện nay, nguồn cán bộ hạn hẹp, việc có một hoặc vài
tiêu chuẩn chưa đáp ứng toàn diện sẽ khiến việc đánh giá, bổ nhiệm… gặp khó
khăn, dẫn đến công tác quản lý, điều hành chưa được xuyên suốt, đôi khi cần thời
gian để đáp ứng các tiêu chuẩn.
Đề nghị có cơ chế đặc thù đối với doanh nghiệp. (Đảng
ủy Chính phủ)
Câu 6: Tại điểm
1.2 khoản 1 Phần I Quy định chung về phạm vi và đối tượng áp dụng: cán bộ
được xem xét quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bố trí, luân chuyển, bổ
nhiệm, giới thiệu ứng cử vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; khoản 5 Phần II tiêu chuẩn chung đối với cán bộ lãnh đạo, quản
lý các cấp, về kết quả công tác: Có thành tích, kết quả trong công tác lãnh
đạo, chỉ đạo, điều hành gắn với sản phẩm cụ thể theo chức trách, nhiệm vụ được
giao hoặc tiêu chí kết quả công tác cụ thể theo quy định của ngành, lĩnh vực;
được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ.
Đề nghị bổ sung “Trường hợp đặc
biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”. (Đảng ủy Chính
phủ)
Câu 7: Theo Quy định số 377-QĐ/TW của Bộ
Chính trị, ban thường vụ tỉnh, thành ủy quản lý đối tượng “bí thư, phó bí thư đảng
ủy xã, phường”; tuy nhiên Quy định số 365-QĐ/TW chưa quy định tiêu chuẩn cụ thể
của các chức danh này. Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, bổ sung để địa
phương thuận lợi trong tổ chức thực hiện. (Hà Tĩnh)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương đối với câu 4, 5, 6, 7:
- Đối với các đề xuất, kiến nghị nêu trên của Đảng
ủy Chính phủ, Ban Tổ chức Trung ương có ý kiến
như sau: Về phạm vi, Quy định 365-QĐ/TW quy định về khung tiêu chuẩn chức danh
cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị ở Trung ương và địa
phương. Điểm 2.2, Khoản 2, Phần I, Quy định số 365-QĐ/TW đã
nêu rõ yêu cầu Quy định này “… là cơ sở để các cấp uỷ, tập thể lãnh đạo cơ
quan, đơn vị cụ thể hoá, xây dựng, ban hành tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo,
quản lý thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm khách quan, dân chủ, công bằng...”. Bên
cạnh đó, tại Khoản 3, Phần VI, Quy định số 365-QĐ/TW đã
quy định: “Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp trực
thuộc Trung ương căn cứ Quy định này và yêu cầu thực tiễn của địa phương, cơ
quan, đơn vị để xây dựng và ban hành tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản
lý thuộc thẩm quyền để thực hiện việc đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
điều động, bố trí, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”.
Các tiêu chuẩn và chức danh nêu tại các câu hỏi
đều thuộc nội dung phải cụ thể hóa của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị
và đây là trách nhiệm của Đảng ủy Chính phủ. Do đó, căn cứ nội dungquy định nêu
trên, Ban Tổ chức Trung ương đề nghị Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo các cấp ủy, tổ
chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong đó có các đơn vị sự nghiệp, doanh
nghiệp trực thuộc Trung ương tập trung nghiên cứu kỹ quy định, chịu trách nhiệm
cụ thể hóa xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chuẩn chức danh theo phân cấp quản
lý cán bộ, bảo đảm phù hợp, bám sát đặc điểm, tình hình thực tiễn của ngành,
lĩnh vực, địa phương thuộc phạm vi quản lý.
- Đối với đề xuất, kiến nghị tại Câu 3: Nội
dung này đã được Ban Tổ chức Trung ương xin ý kiến nhiều lần của các địa
phương, cơ quan, đơn vị có liên quan. Các ý kiến tham gia góp ý (trong đó có Đảng
ủy Chính phủ) cơ bản thống nhất. Việc đề nghị bổ sung nội dung “Trường hợp đặc
biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định” vào quy định theo kiến nghị của
Đảng ủy Chính phủ là không phù hợp vì tiêu chuẩn chung đối với cán bộ lãnh đạo,
quản lý các cấp đòi hỏi phải “hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ” là phù hợp,
đảm bảo thống nhất, đồng bộ với các quy định hiện hành. Do đó, đề nghị Đảng ủy
Chính phủ thực hiện theo đúng quy định đã ban hành.
2.3. Về Quy định số
350-QĐ/TW, ngày 29/8/2025 của Ban Bí thư về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp
đào tạo chính trị
Câu 1: Về đối tượng học Trung cấp Lý luận
chính trị được quy định tại Tiết a, Điểm 1.1, Khoản 1, Điều 4
chỉ có “Cấp ủy viên của chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở trở lên”. Điều này khi áp dụng
vào thực tế tại cấp xã, không đáp ứng được việc đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn bị
lực lượng cho việc bố trí hoặc trẻ hóa đội ngũ bí thư chi bộ thôn, tổ dân phố.
Lý do, hiện tại chi bộ thôn tổ dân phố vẫn là chi bộ trực thuộc.
Đề nghị: Xem xét bổ sung thêm đối tượng
là cấp ủy viên của chi bộ thôn, tổ dân phố. (Hải Phòng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Đào tạo lý luận chính trị (trung cấp, cao cấp) để
phục vụ công tác bổ nhiệm chức danh, chức vụ lãnh đạo quản lý các cấp theo quy
định, chỉ dành riêng cho đối tượng quy hoạch lãnh đạo, quản lý; việc bồi dưỡng
lý luận chính trị cho các đối tượng khác sẽ có chương trình riêng.
Câu 2:
- Tại Điều 4, Điều 5 về
điều kiện xem xét đi học trung cấp, cao cấp lý luận chính trị đều có nội dung:
“Trường hợp đặc biệt, cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”. Đề nghị: Hướng
dẫn cụ thể, trong điều kiện nào được áp dụng trường hợp đặc biệt để cấp cơ sở dễ
thực hiện. (Hải Phòng)
- Tại Khoản 3, Điều 4 và Khoản
3, Điều 5 Quy định số 350-QĐ/TW, ngày 29/8/2025 của
Ban Bí thư về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị có
nêu “Trường hợp đặc biệt, cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”; đồng
thời tại Khoản 3, Điều 9 quy định “Ban Tổ chức Trung ương xem xét, quyết định các trường
hợp đặc biệt về đào tạo lý luận chính trị”. Do đó, đề nghị Ban Tổ chức
Trung ương sớm xem xét hướng dẫn cụ thể về trường hợp đặc biệt để đảm bảo thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thực hiện. (Khánh
Hòa, Đảng ủy Chính phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Trường hợp đặc biệt là các đối tượng thuộc diện
thu hút, trọng dụng người có tài năng theo Quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí
thư. Các cơ quan, đơn vị, địa phương gửi danh sách các trường hợp trên về Ban Tổ
chức Trung ương xem xét, quyết định.
Câu 3: Theo Quy định 350-QĐ/TW của
Ban Bí thư về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính
trị được ban hành ngày 29/08/2025, đối tượng học Trung cấp và Cao cấp lý luận
chính trị không có các đối tượng là cán bộ thuộc các tổ chức chính trị xã
hội (Công đoàn; Đoàn thanh niên), Ủy ban Kiểm tra cấp ủy các cấp, tuy
nhiên trong quy định Trung ương, Tổng liên đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam ban hành về tiêu chuẩn chức danh cán bộ có yêu cầu trình độ lý luận
chính trị[3].
Đề xuất bổ sung đối tượng cán bộ
thuộc các tổ chức chính trị xã hội (Công đoàn; Đoàn thanh niên), Ủy ban Kiểm
tra cấp ủy các cấp được cử đi đào tạo trình độ lý luận chính trị Trung
cấp, cao cấp lý luận chính trị tương ứng với quy định tiêu chuẩn chức danh cán
bộ lãnh đạo quản lý do Trung ương, Tổng liên đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam ban hành. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 4: Theo Khoản 1. Điều
5 Quy định 350 quy định đối tượng học cao cấp lý luận chính trị:
Điều 5. Cao cấp lý luận chính trị
1. Đối tượng
1.1. Cán bộ đương chức: (i) Ủy viên ban
chấp hành đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng trở lên.
(ii) Trưởng phòng (tương đương) cấp xã trở lên.
1.2. Cán bộ đương chức hoặc quy hoạch:
a) Cấp ủy đảng: Ủy viên ban thường vụ đảng
ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng trở lên.
b) Cán bộ, công chức, viên chức: Chỉ huy trưởng
ban chỉ huy quân sự, chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã (tương đương) trở lên; trưởng phòng (tương đương) cấp tỉnh
trở lên; trưởng phòng (tương đương) trở lên thuộc ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn
vị ở Trung ương.
c) Cán bộ quân đội: Trung đoàn trưởng, chính ủy
trung đoàn (tương đương); chỉ huy cấp lữ đoàn, sư đoàn, bộ chỉ huy quân sự cấp
tỉnh (tương đương); chỉ huy các cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược; ban giám đốc
bệnh viện, viện nghiên cứu, chủ tịch, ban giám đốc công ty (tổng công ty) doanh
nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng trở lên.
d) Cán bộ công an: Trưởng công an cấp xã, phó
trưởng phòng (tương đương) trở lên.
e) Cán bộ doanh nghiệp: Hội đồng thành viên
(quản trị), ban giám đốc (tương đương) trở lên ở các công ty (tổng công ty) nhà
nước trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hội đồng thành viên (quản trị), ban
giám đốc (tương đương) trở lên ở các tập đoàn, công ty (tổng công ty), ngân
hàng thương mại nhà nước.
1.3. Giảng viên có đủ 3 năm công tác và sẽ trực
tiếp giảng dạy chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị ở các học viện có
nhiệm vụ đào tạo cao cấp lý luận chính trị.
- Đề xuất có hướng dẫn cụ thể đối với cán
bộ đương chức danh ủy viên ban chấp hành; đương chức hoặc quy hoạch ủy viên ban
thường vụ các đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở có/không thuộc đối tượng học
cao cấp lý luận chính trị. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 5:
Hiện tại cấp phó cơ quan/đơn vị là Phó bí thư cấp ủy trực thuộc yêu cầu
trung cấp lý luận chính trị, nhưng đối tượng này chỉ khi trong quy hoạch cấp
trưởng cơ quan/đơn vị mới thuộc đối tượng học Trung cấp lý luận chính trị.
Đề nghị có hướng dẫn chi tiết
hơn về yêu cầu lý luận chính trị đối với từng cấp cán bộ công ty cổ phần (liên
thông với Quy định 350 về đi học lý luận chính trị). (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 6: Tại điểm b, khoản
1 Điều 4, đề nghị bổ sung 02 đối tượng là: “Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban
chỉ huy quân sự” cần qua đào tạo trung cấp lý luận chính trị, cụ thể như sau:
“b) Cán bộ, công chức, viên chức: Phó Chỉ huy
trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự, Phó Trưởng phòng (tương đương) trở lên của
các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cấp xã, cấp tỉnh và thuộc
ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị ở Trung ương”.
Lý do: Để phù hợp với điểm d,
khoản 1 Điều 4 Quy định này, bảo đảm được nguồn đã qua đào tạo lý luận
chính trị, làm cơ sở bổ sung cán bộ Ban Chỉ huy quân sự ở cấp xã hiện nay.
(Quân ủy Trung ương)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương đối với câu 3, 4, 5, 6:
- Đề nghị đơn vị thực hiện nghiêm Quy định số
350-QĐ/TW, ngày 29/8/2025 của Ban Bí thư về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp
đào tạo chính trị.
- Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận đề nghị trên
và sẽ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Câu 7:
(1) Khoản 3, Điều 5, Quy định
350 nêu rõ đối tượng đào tạo cao cấp lý luận chính trị là “hội đồng
thành viên (quản trị), ban giám đốc (tương đương) trở lên ở các công ty (tổng
công ty) nhà nước trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hội đồng thành viên (quản
trị), ban giám đốc (tương đương) trở lên ở các tập đoàn, công ty (tổng công
ty), ngân hàng thương mại nhà nước”. Một số cán bộ trong quy hoạch, đủ điều
kiện bổ nhiệm nhưng chưa có bằng cao cấp lý luận chính trị. Trong khi đó, quy định
đối tượng đào tạo phải từ “hội đồng thành viên/ quản trị, ban giám đốc (tương
đương) trở lên ở các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng thương mại nhà nước”,
làm hạn chế cơ hội đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận.
Đề nghị Trung ương nghiên cứu bổ sung hướng dẫn
xác định đối tượng và tiêu chuẩn đào tạo trung cấp và cao cấp lý luận chính trị
đối với các đơn vị, doanh nghiệp trực thuộc các Tập đoàn, tổng công ty, ngân
hàng thương mại nhà nước. Đồng thời, cho phép mở rộng hình thức đào tạo linh hoạt
(tập trung, bán tập trung, trực tuyến) để vừa đảm bảo chương trình, thời gian,
chất lượng đào tạo mà vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị tại đơn vị.
(2) Tại điểm 1.2 khoản 1 Điều 5
Quy định số 350-QĐ/TW về đối tượng đào tạo cao cấp lý luận chính trị tại
doanh nghiệp gồm cán bộ đương chức và quy hoạch: Hội đồng thành viên (quản
trị), ban giám đốc (tương đương) trở lên ở các tập đoàn, công ty (tổng công
ty), ngân hàng thương mại nhà nước. Do đó, gây ra khó khăn, bất cấp trong
triển khai, thực hiện. (Đảng ủy Chính phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Quy định số 350-QĐ/TW chỉ yêu cầu lý luận chính
trị với các đối tượng khi bổ nhiệm cần trung cấp, cao cấp lý luận chính trị và
sau khi lấy ý kiến các cấp ủy và tổ chức đảng, tổ biên tập đã tiếp thu, đưa vào
Quy định hiện hành.
Câu 8: Theo điểm 2.3 khoản
2 Điều 4 và điểm 2.3 khoản 2 Điều 5 về tiêu chuẩn học trung cấp, cao cấp lý
luận chính trị quy định: “Hai năm liên tục liền kề thời điểm cử đi học được
xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên”.
Đề nghị làm rõ nội dung 02 năm liên tục hoàn
thành tốt nhiệm vụ trở lên là xếp loại đối với chuyên môn hay xếp loại đảng
viên. Trường hợp đảng viên xếp loại chuyên môn hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên
trong năm 2023, 2024, tuy nhiên năm 2023 không được xếp loại đảng viên do thời
gian kết nạp đảng không đủ 06 tháng thì có đảm bảo quy định tại điểm
2.3 khoản 2 Điều 4 và điểm 2.3 khoản 2 Điều 5 không. (Đảng ủy Chính
phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Hai năm liên tục liền kề thời điểm cử đi học
được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (cả về chuyên môn và đảng viên).
- Đối với đảng viên có thời gian kết nạp đảng
chưa đủ 02 năm thì tính 01 năm liền kề xếp loại đảng viên và 02 năm liền kề xếp
loại chuyên môn.
Câu 9: Theo Công văn số
6747-CV/TWĐTN-CTĐ ngày 26/8/2025 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn hướng dẫn một số
nội dung tổ chức Đại hội đoàn các cấp, tiêu chuẩn của cán bộ Đoàn cấp trên trực
tiếp cơ sở được áp dụng như cán bộ đoàn cấp huyện (quy định tại Điều 10, Quy chế
cán bộ Đoàn hiện hành), trong đó "Bí thư và Phó Bí thư có trình độ lý
luận chính trị tương đương trung cấp trở lên".
Đề nghị bổ sung đối tượng học
trung cấp lý luận chính trị là Bí thư, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên cấp trên trực
tiếp cơ sở đương chức hoặc được quy hoạch. (Đảng ủy Chính phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Đề nghị đơn vị thực hiện nghiêm Quy định số
350-QĐ/TW, ngày 29/8/2025 của Ban Bí thư về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp
đào tạo chính trị.
- Quy định số 350-QĐ/TW được ban hành, thay thế
các điều khoản trong các quy định trước đây không còn phù hợp.
Câu 10:
(1) Tại điểm 1.1, khoản
1, Điều 4 quy định đối tượng đào tạo trung cấp lý luận chính trị “Cán bộ
đương chức hoặc quy hoạch phó trưởng phòng (tương đương) trở lên của các cơ
quan, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cấp xã, cấp tỉnh và thuộc ban, bộ,
ngành, cơ quan, đơn vị ở Trung ương”. Đề nghị bổ sung đối tượng đương chức
và quy hoạch “phó trưởng phòng và tương đương trở lên thuộc các đơn vị sự
nghiệp trực thuộc các sở, ngành cấp tỉnh” được đi đào tạo trung cấp lý
luận chính trị.
(2) Tại khoản 1, Điều 5 về đối
tượng đào tạo cao cấp lý luận chính trị: Đề nghị nghiên cứu, bổ sung đối tượng
đương chức và quy hoạch “phó trưởng ban, phó chánh văn phòng, ủy viên ủy
ban kiểm tra Đảng ủy các cơ quan Đảng, Đảng ủy UBND tỉnh, thành phố”. (Lai
Châu)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Địa phương, đơn vị căn cứ Quy định số 368-QĐ/TW
ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị về Danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh,
chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị để xác định các chức danh, chức vụ
tương đương được đào tạo lý luận chính trị.
2.4. Về Hướng
dẫn số 36-HD/BTCTW, ngày 09/9/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân
sự đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ
2026 - 2031
Câu 1. Về Tiêu chuẩn chức danh phó trưởng ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân cấp
xã
Tại mục b, phần
2.3 quy định: “người ứng cử phó trưởng ban chuyên trách của Hội đồng nhân
dân phải có thời gian giữ ngạch chuyên viên hoặc tương đương từ 5 năm trở lên”,
đồng thời cho phép vận dụng: “Trước mắt, cho phép vận dụng, bố trí cán bộ có
năng lực, kinh nghiệm, khả năng đáp ứng công việc nhưng còn thiếu tiêu chuẩn về
trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý nhà nước, chức danh quy hoạch để
tham gia ứng cử phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, trưởng ban, phó trưởng ban
chuyên trách của Hội đồng nhân dân cấp xã bảo đảm đúng số lượng được phê duyệt;
đồng thời, khẩn trương tiến hành đào tạo, hoàn thiện tiêu chuẩn trình độ lý luận
chính trị, trình độ quản lý nhà nước và quy hoạch chức danh theo quy định”.
Quy định như trên
cho phép vận dụng đối với các tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, chức danh quy hoạch,
nhưng chưa đề cập đến việc vận dụng đối với thời gian giữ ngạch.
Sau sắp xếp, đội
ngũ cán bộ ở một số xã, phường còn mỏng (nhất là những quận, huyện chia nhiều
đơn vị hành chính mới), nên thực trạng các đơn vị đã bố trí cán bộ giữ chức vụ
phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp xã nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn giữ
ngạch chuyên viên hoặc tương đương 5 năm. Ngoài ra, quy định như trên còn khó
khăn cho việc sử dụng cán bộ trẻ, có năng lực, trình độ, tâm huyết với công việc.
Do vậy, đề xuất
Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, trước mắt cho phép vận dụng đối với tiêu chuẩn
giữ ngạch chuyên viên hoặc tương đương 5 năm trở lên, nhất là đối với các trường
hợp tái cử. (Hà Nội)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Hướng dẫn 36 đã yêu cầu: “Người ứng cử phó
trưởng ban chuyên trách hội đồng nhân dân cấp xã phải có thời gian giữ ngạch
chuyên viên và tương đương từ 5 năm trở lên”. Đây là yêu cầu bắt buộc vì
cán bộ phải có thời gian giữ ngạch chuyên viên và tương đương từ 5 năm trở lên
thì mới có đủ kinh nghiệm công tác và vốn sống để đảm nhận chức danh lãnh đạo,
quản lý này. Đề nghị Thành ủy Hà Nội và các tỉnh ủy, thành ủy thực hiện đúng
quy định.
Câu 2. Hướng dẫn số 36 -HD/BTCTW, ngày
09/9/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội khóa
XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031: Thiếu tiêu chuẩn Ủy
viên của các Ban của HĐND cấp tỉnh có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên
trách (theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương). (Phú Thọ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Mục 2.1 Hướng dẫn 36 đã yêu cầu các tiêu chuẩn
chung đối với đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Mục 2.3
đã yêu cầu các tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với người ứng cử đại biểu hội đồng
nhân dân hoạt động chuyên trách. Mục 5. Hướng dẫn 36 yêu cầu: “Các tỉnh ủy,
thành ủy nếu thấy cần thiết, có thể ban hành hướng dẫn việc thực hiện cụ thể ở
địa phương mình”. Vì vậy, nếu tỉnh Phú Thọ và những địa phương bố trí ủy
viên các ban của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố là đại biểu HĐND hoạt động
chuyên trách thì trên cơ sở Mục 2.1 và Mục 2.3 của Hướng dẫn 36, Tỉnh ủy Phú Thọ
và các tỉnh ủy, thành ủy cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với chức danh này cho phù hợp.
Câu 3. Do đại hội đảng cấp xã nhiệm kỳ
2025 - 2030 không có nội dung công tác nhân sự; đến nay, các xã đều chưa thực
hiện quy hoạch, chưa thực hiện quy trình nhân sự các chức danh lãnh đạo HĐND,
UBND, các ban của HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2026 - 2031 (do mới thành lập từ
01/7/2025). Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn công tác chuẩn bị, xây dựng
đề án nhân sự các chức danh lãnh đạo HĐND, lãnh đạo các ban của Hội đồng nhân
dân cấp xã nhiệm kỳ 2026 - 2031 để thống nhất thực hiện, kịp thời chuẩn bị nhân
sự bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã vào ngày 15/3/2026. (Lạng
Sơn)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Hướng dẫn 36 yêu cầu: “Việc giới thiệu nhân sự
ứng cử các chức danh lãnh đạo chủ chốt HĐND, UBND các cấp phải căn cứ vào
phương án nhân sự do cấp ủy chuẩn bị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (gắn với
công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 – 2030)”. Vừa qua,
do thực hiện chủ trương hợp nhất, sáp nhập cấp xã, cho nên, đại hội đảng bộ cấp
xã nhiệm kỳ 2025 – 2030 không thực hiện nội dung bầu cử cấp ủy tại đại hội và bầu
ban thường vụ, bí thư, phó bí thư tại hội nghị lần thứ nhất ban chấp hành như
trước. Cấp ủy cấp trên chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí
thư cấp ủy cấp xã nhiệm kỳ 2025 – 2030. Tuy nhiên, việc xây dựng đề án nhân sự
để trình cấp có thẩm quyền chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó
bí thư cấp ủy cấp xã nhiệm kỳ 2025 – 2030 gắn với từng cơ cấu nhân sự cụ thể,
trong đó có các chức danh lãnh đạo HĐND, UBND cấp xã nhiệm kỳ 2026 - 2031. Vì vậy,
các cấp ủy địa phương căn cứ vào cơ cấu nhân sự khi chỉ định ban chấp hành, ban
thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy cấp xã nhiệm kỳ 2025 – 2030 để chỉ đạo và
triển khai thực hiện quy trình nhân sự các chức danh lãnh đạo HĐND, UBND cấp xã
nhiệm kỳ 2026 – 2031 theo quy định của pháp luật và đảm bảo đúng yêu cầu Hướng
dẫn 36: “Đối với mỗi chức danh lãnh đạo HĐND, UBND thì cấp ủy có thẩm quyền
chỉ giới thiệu một đại biểu ứng cử theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Câu
4: Kết luận số
150-KL/TW, ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị về hướng dẫn xây dựng phương án nhân
sự cấp ủy cấp tỉnh diện hợp nhất, sáp nhập và cấp xã thành lập mới; Chỉ thị số
45-CT/TW, ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng các cấp tiến tới đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng quy định Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết
định chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm
tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã nhiệm kỳ 2025-2030.
Theo Hướng dẫn số 1309/HD-UBTVQH15, ngày
11/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn một số nội dung và hoạt động
của Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XV, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã nhiệm kỳ
2021-2026 sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 quy định Thường trực Hội đồng
nhân dân tỉnh ban hành nghị quyết chỉ định Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch,
Phó Chủ tịch UBND cấp xã nhiệm kỳ 2021-2026.
Theo điểm 3.3, mục 3, Hướng dẫn số 36-HD/TW của
Ban Tổ chức Trung ương, việc giới thiệu nhân sự ứng cử các chức danh lãnh đạo
chủ chốt Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp phải căn cứ vào phương án
nhân sự do cấp ủy chuẩn bị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (gắn với công
tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030); trường hợp cần thiết nếu
phải thay đổi thì báo cáo cấp ủy có thẩm quyền xem xét, quyết định; chưa hướng
dẫn quy trình giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo chủ chốt Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2026-2031.
Để thuận lợi, thống nhất trong triển khai thực
hiện, đề nghị Trung ương hướng dẫn cụ thể quy trình giới thiệu nhân sự các chức
danh lãnh đạo chủ chốt Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nhiệm kỳ
2026-2031 (Lai Châu).
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ngày 08/10/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định
số 377-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ và quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng
cử, tạm đình chỉ công tác, cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm đối với
cán bộ và yêu cầu: “Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị căn cứ Quy định
này để quy định cụ thể việc phân cấp, thẩm quyền, trách nhiệm, nội dung quản lý
cán bộ; quy trình, thủ tục quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử…đối với cán bộ
trong diện được phân cấp quản lý”.
Các chức danh lãnh đạo chủ chốt hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân cấp xã thuộc thẩm quyền quản lý của ban thường vụ tỉnh ủy,
thành ủy. Vì vậy, quy trình giới thiệu nhân sự do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy
quy định.
Câu 5: Tại điểm b, mục 2.3, phần 2 hướng
dẫn: người ứng cử phó trưởng ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân phải có thời
gian giữ ngạch chuyên viên hoặc tương đương từ 5 năm trở lên.
Thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp,
một số xã ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn còn thiếu
nguồn cán bộ; để bảo đảm cơ cấu và tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số…,
đề nghị Trung ương cho vận dụng tiêu chuẩn, điều kiện này như tiêu chuẩn, điều
kiện về trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý nhà nước và chức danh quy
hoạch đối với nhân sự phó trưởng ban chuyên trách của Hội đồng nhân dân là cán
bộ người dân tộc thiểu số (Lai Châu).
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Hướng dẫn 36 đã yêu cầu: “Người ứng cử phó trưởng
ban chuyên trách hội đồng nhân dân cấp xã phải có thời gian giữ ngạch chuyên
viên và tương đương từ 5 năm trở lên”. Đây là yêu cầu bắt buộc vì cán bộ phải
có thời gian giữ ngạch chuyên viên và tương đương từ 5 năm trở lên thì mới có đủ
kinh nghiệm công tác và vốn sống để đảm nhận chức danh lãnh đạo, quản lý này.
Nguồn cán bộ có thời gian giữ ngạch chuyên viên và tương đương từ 5 năm trở lên
để giới thiệu cho chức danh phó trưởng ban chuyên trách hội đồng nhân dân cấp
xã hiện nay ở các địa phương rất dồi dào (cán bộ từ cấp huyện trước đây nay
chuyển xuống cấp xã; cán bộ chủ chốt cấp xã trước đây, nay không còn đủ tiêu
chuẩn, điều kiện để bố trí làm cán bộ chủ chốt cấp xã mới…). Đề nghị Tỉnh ủy
Lai Châu và các tỉnh ủy, thành ủy thực hiện đúng quy định. Nếu thật sự có trường
hợp đặc biệt thì Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lai Châu xem xét, quyết định và chịu
trách nhiệm về quyết định của mình.
2.5. Về công tác chính sách cán bộ
Câu 1: Đề nghị hướng dẫn, quy định
cụ thể mức phụ cấp chức vụ đối với các chức danh chuyên trách thuộc Đảng ủy các
cơ quan Đảng tỉnh và Đảng ủy UBND tỉnh (Phó bí thư Đảng ủy chuyên trách là ủy
viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh; Phó bí thư Đảng ủy chuyên trách (không là ủy
viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh); chức danh cấp phó các cơ quan chuyên trách
tham mưu, giúp việc đảng ủy). (Lai Châu)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang chủ động,
tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan nghiên cứu, báo cáo cấp
có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Quyết định số 128-QĐ/TW ngày 14/12/2004 của Ban
Bí thư (khóa IX) về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức
cơ quan Đảng, Mặt trận và các đoàn thể . Vì vậy, xin được ghi nhận ý kiến đề
nghị của địa phương trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, bảo đảm đồng bộ,
thống nhất, phù hợp với các quy định của Bộ Chính trị về danh mục vị trí chức
danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo trong hệ thống chính trị; đồng thời
tương ứng với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan, tổ chức sau khi thực
hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
III. VỀ
CƠ SỞ ĐẢNG, ĐẢNG VIÊN
3.1. Về thực
hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 23/7/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và
nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới
Câu 1: Tại điểm 1, Chỉ thị
số 50-CT/TW quy định: “Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng
viên phải xác định sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt đảng là cuộc họp quan trọng nhất,
thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt đảng theo Điều lệ Đảng, đảm bảo thời lượng
sinh hoạt chi bộ, cấp ủy; duy trì nền nếp sinh hoạt chi bộ, thống nhất thực hiện
sinh hoạt chi bộ toàn Đảng vào ngày 03 hằng tháng…”.
Trong quá trình thực hiện có phát sinh một số
khó khăn, vướng mắc phát sinh như: đối với các chi bộ thôn, tổ dân phố, nhiều đảng
viên trẻ đang công tác tại cơ quan, doanh nghiệp chỉ được nghỉ vào thứ Bảy, Chủ
nhật nên nếu chi bộ sinh hoạt trong giờ hành chính, để sinh hoạt chi bộ được đảng
viên phải xin nghỉ làm việc… khó tham gia sinh hoạt đúng ngày 03 của tháng; còn
ở các chi bộ cơ quan hành chính, nhiều khi có lịch họp, hội nghị thường xuyên
trùng thời gian sinh hoạt định kỳ, gây khó khăn cho việc tổ chức.
Từ thực tế trên, đề xuất Ban Tổ chức Trung ương
xem xét, hướng dẫn linh hoạt, cho phép các chi bộ được tổ chức sinh hoạt định kỳ
trong khoảng từ ngày 01 đến ngày 05 hằng tháng hoặc tuần đầu tiên của mỗi tháng
để vừa bảo đảm nền nếp sinh hoạt chi bộ, vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn ở
cơ sở. (Hà Nội)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức Trung
ương:
Nội dung Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 23/7/2025 của
Ban Bí thư “về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ
trong giai đoạn mới” đã quy định rõ “… duy trì nền nếp sinh hoạt chi bộ, thống
nhất thực hiện sinh hoạt chi bộ toàn Đảng vào ngày 03 hằng tháng (nếu vào
ngày nghỉ hoặc trường hợp đặc biệt sinh hoạt trong tuần đầu tiên của tháng)...”.
Việc quy định như trên đã linh hoạt cho các chi bộ tổ chức sinh hoạt vừa bảo đảm
nền nếp sinh hoạt, vừa phù hợp với thực tiễn ở cơ sở; đồng thời trùng với ý kiến
đề xuất của Ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội.
3.2. Về Quy định số
366-QĐ/TW, ngày 30/8/2025 của Bộ Chính trị về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại
chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị
Câu 1: Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương làm
rõ nội dung “Đảng viên không làm việc trong hệ thống chính trị”, tại Phụ
lục 5, để thuận lợi trong việc cụ thể hóa thống nhất thực hiện. (Thanh
Hóa)
Câu 2: Về đối tượng đánh giá tập thể theo
quy định tại tiết 1.1; 1.3, Khoản 1, Điều 9 gồm đảng bộ cấp
tỉnh,..; các cấp ủy (ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy),… Theo Khoản
1, Điều 10 quy định về khung tiêu chí đánh giá đối với tập thể “Thực hiện
theo các nhóm tiêu chí quy định tại Phụ lục 1 của Quy định này”. Tuy nhiên, Phụ
lục 1 ban hành kèm theo Quy định 366 không có tiêu chí đánh giá đối tượng là đảng
bộ cấp tỉnh; các cấp ủy (ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy).
- Mặt khác, theo dự thảo Hướng dẫn một số nội dung về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng
đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị (sửa đổi Hướng dẫn số
25-HD/BTCTW hiện hành) nêu tại tiết 3.3, mục 3 về quy
trình, trách nhiệm, thẩm quyền trong đánh giá, xếp loại cấp uỷ, tổ chức đảng (Điều 13) chỉ hướng dẫn đánh giá đảng bộ cấp tỉnh.
- Như
vậy, về quy trình và thẩm quyền đánh giá đối tượng là ban thường vụ cấp tỉnh
thì chưa được đề cập? Kính đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn rõ nội
dung này. (Đà Nẵng)
Câu 3: Về kết quả xếp loại
đối với cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ nhiều chức vụ kiểm điểm ở nhiều
nơi. Theo Quy định số 366-QĐ/TW của Bộ
Chính trị quy định: Thực hiện thống nhất việc tập thể, cá nhân được kiểm
điểm thì phải đánh giá, xếp loại. Đánh giá, xếp loại chất lượng cán
bộ, công chức, viên chức ở nơi giữ chức vụ cao nhất.
Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn cụ thể
việc lấy kết quả xếp loại đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý
giữ nhiều chức vụ khi kiểm điểm ở nhiều nơi để thống nhất thực hiện. Ví
dụ: Đồng chí Nguyễn Văn A là Ủy viên Ban Thường vụ,
Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy thì lấy kết quả xếp loại hằng năm là Trưởng Ban Tổ
chức Tỉnh ủy (kiểm điểm tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy) hay là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh
ủy (kiểm điểm tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy)[4].
- Về mức xếp loại giữa tập thể lãnh đạo, quản lý
với tổ chức, cơ quan, đơn vị
Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, hướng
dẫn cụ thể thêm nội dung về mức xếp loại giữa tập thể lãnh đạo,
quản lý với mức xếp loại tổ chức đảng, tổ chức, cơ quan, đơn vị để thống nhất
thực hiện, cụ thể: Mức xếp loại tập thể lãnh đạo quản lý có được cao hơn
mức xếp loại đảng bộ, cơ quan, đơn vị hay không.
- Đối với các tổ chức chính trị - xã hội thuộc
MTTQ tỉnh
+ Căn cứ Quy định 368-QĐ/TW ngày
08/9/2025 của Bộ Chính trị về danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ
lãnh đạo của hệ thống chính trị, đề nghị làm rõ các đồng chí Phó Chủ tịch MTTQ
đồng thời là Trưởng các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh sẽ đánh giá, xếp loại tại
cơ quan Ủy ban MTTQ tỉnh hay tại các tổ chức chính trị - xã hội.
+ Việc đánh giá xếp loại các tập thể tổ chức
chính trị - xã hội: Đề nghị làm rõ đánh giá, xếp loại cơ quan của tổ chức chính
trị - xã hội hay là xếp loại tổ chức chính trị - xã hội. (Bắc Ninh)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức Trung
ương đối với câu 1, 2, 3:
Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang xây dựng dự
thảo sửa đổi, bổ sung Hướng dẫn số 25-HD/BTCTW, ngày 10/11/2023 của Ban Tổ chức
Trung ương Hướng dẫn một số nội dung về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng
hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị trên cơ sở Quy định
số 366-QĐ/TW của Bộ Chính trị. Trong đó, dự thảo đã sửa đổi, bổ sung, làm rõ nội
dung về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại liên quan đến các kiến nghị nêu trên, cụ
thể như sau:
(1) Đối với kiến nghị của Thanh Hóa: Dự
thảo bổ sung và thể hiện nội dung về đối tượng kiểm điểm đánh giá, xếp loại là
“đảng viên không làm việc trong hệ thống chính trị” và được hiểu là các đảng
viên đang không làm việc trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị như
đảng viên hưu trí, học sinh, sinh viên, doanh nghiệp tư nhân…
(2) Đối với kiến nghị của Đà Nẵng: Dự
thảo đã sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh nội dung về đối tượng, quy trình, thẩm quyền,
trách nhiệm trong đánh giá, xếp loại các cấp ủy, tổ chức đảng. Trong đó: Đối với
đảng bộ cấp tỉnh, Ban Thường vụ cấp ủy cấp tỉnh chịu trách nhiệm tự đánh giá, xếp
loại chất lượng của đảng bộ mình; Ban Chấp hành đảng bộ cấp tỉnh thông qua kết
quả đánh giá, xếp loại đối với đảng bộ cấp tỉnh, gửi kết quả về Ban Tổ chức
Trung ương để tổng hợp, thẩm định, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét,
quyết định.
Mặt khác, tại khoản 4, Điều 3,
Quy định số 366-QĐ/TW của Bộ Chính trị đã quy định: “… đánh giá, xếp loại
chất lượng cán bộ, công chức, viên chức ở nơi giữ chức vụ cao nhất; đánh giá, xếp
loại tổ chức đảng, tổ chức, cơ quan, đơn vị trên cơ sở kết quả đánh giá cấp uỷ,
tập thể lãnh đạo, quản lý và cán bộ, đảng viên thuộc thẩm quyền quản lý”.
Như vậy, việc đánh giá, xếp loại đối với ban thường cấp ủy cấp tỉnh sẽ gắn với
việc đánh giá, xếp loại đối với đảng bộ tỉnh và kết quả đề xuất mức xếp loại sẽ
được tổng hợp, gửi về Ban Tổ chức Trung ương để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí
thư xem xét, quyết định đối với ban thường vụ đó.
(3) Đối với kiến nghị của Bắc Ninh:
- Nội dung ví dụ của dự thảo đang
đề cập đến việc kiểm điểm của cá nhân giữ nhiều chức vụ lãnh đạo, quản lý; còn
nội dung kiến nghị, đề xuất của Ban Thường vụ tỉnh ủy Bắc Ninh là việc đánh
giá, xếp loại. Về nội dung này, dự thảo đã quy định, hướng dẫn cụ thể việc đánh
giá, xếp loại đối với cá nhân giữ nhiều chức vụ, lãnh đạo quản lý, trong đó phải
bảo đảm nguyên tắc “đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức
ở nơi giữ chức vụ cao nhất”.
Đề nghị Ban Tổ chức tỉnh ủy Bắc Ninh cần nghiên
cứu kỹ lưỡng để tham mưu cấp có thẩm quyền và hướng dẫn, tổ chức thực hiện đảm
bảo đúng quy định.
- Tại Khoản 5, Điều 3, Quy định
số 366-QĐ/TW đã nêu rõ nguyên tắc như sau: “…đánh giá, xếp loại tổ chức
đảng, tổ chức, cơ quan, đơn vị trên cơ sở kết quả đánh giá cấp uỷ, tập thể lãnh
đạo, quản lý và cán bộ, đảng viên thuộc thẩm quyền quản lý”.
Bên cạnh đó, tại điểm 2.3, khoản
2, Điều 12, Quy định số 366 cũng quy định rõ: “Hoàn thành đánh giá, xếp
loại tập thể cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên trực thuộc trước khi đánh giá, xếp
loại tổ chức đảng”.
Trên cơ sở nghiên cứu quy định của Bộ Chính trị
đã ban hành, đề nghị Ban Tổ chức tỉnh ủy Bắc Ninh tham mưu cấp có thẩm quyền
triển khai thực hiện việc đánh giá, xếp loại đúng quy trình, từ đó có cơ sở quyết
định mức xếp loại phù hợp, phản ánh đúng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể
lãnh đạo, quản lý và kết quả của địa phương, cơ quan, đơn vị.
- Căn cứ Quy định số 366-QĐ/TW của Bộ Chính trị
ban hành, Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương chịu trách nhiệm cụ
thể hoá nội dung kiểm điểm, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng
đối với tập thể, cá nhân trong phạm vi tổ chức, cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản
lý, bảo đảm phù hợp với đặc điểm ngành, lĩnh vực, chức năng, nhiệm vụ theo phân
cấp.
Câu 4: Tại khoản 3 Điều 3
quy định các đơn vị, tổ chức đảng có trách nhiệm tiếp tục cụ thể hóa, nhất là nội
dung kiểm điểm, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc điểm ngành, lĩnh
vực, chức trách, nhiệm vụ theo phân cấp quản lý đảm bảo thống nhất, đồng bộ.
Đề nghị ban hành bộ khung tiêu chí với các mẫu
hướng dẫn cụ thể kèm theo các chỉ dẫn cách chuyển hóa các tiêu chí thành kết quả
đầu ra cho từng đơn vị và có thang điểm cụ thể. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 5: Các văn bản pháp luật chưa đồng bộ,
thống nhất với quy định của Đảng: Luật Cán bộ, công chức 2025, Luật Viên chức
và Quy định số 366-QĐ/TW ngày 30/8/2025 của Bộ Chính trị trong việc đánh giá, xếp
loại chất lượng đối với “cá nhân”; chưa có quy định về đánh giá tập thể, tổ chức;
về thang điểm đánh giá, trong khi Quy định số 366-QĐ/TW có hiệu lực thi hành
ngay, yêu cầu đánh giá tập thể và theo thang điểm. Do đó, dẫn đến lúng túng
trong thực hiện đánh giá năm 2025.
Đề nghị hướng dẫn cụ thể, xây dựng sổ tay/biểu mẫu
đảm bảo các quy định được thực thi và đạt hiệu quả. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 6:
Hiện nay, tại Phụ lục 3, Quy định 366, về khung tiêu chí đánh giá đối với cá
nhân giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ có điểm tổng ở 2 nhóm tiêu chí, bao gồm:
Tiêu chí chung (Phần I): 30 điểm và nhóm Tiêu
chí về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (Phần II): 70 điểm,
chưa có điểm cụ thể cho từng tiêu chí. Đề nghị có hướng dẫn chi tiết hơn
về việc tỉ trọng điểm ở các tiêu chí thành phần trong các nhóm tiêu chí để thống
nhất thực hiện. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 7: Tại Quy định số 366-QĐ/TW, ngày
30/8/2025 của Bộ Chính trị về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với
thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, đối với Khối doanh nghiệp nhà nước, phải
dựa vào hiệu quả của công tác sản xuất kinh doanh vào cuối năm hoặc kết quả xếp
loại doanh nghiệp (sớm nhất là đầu quý III năm kế tiếp mới có), do đó dẫn đến
khó khăn trong việc thực hiện kiểm điểm định kỳ và xếp loại chất lượng đối với
tập thể, cá nhân, theo quy định. Đề nghị có cơ chế đặc thù trong
đánh giá, xếp loại cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. (Đảng ủy Chính
phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương đối với câu 4, 5, 6, 7:
Để bảo đảm việc đánh giá phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị theo đặc thù cụ thể của từng ngành,
lĩnh vực; trên cơ sở thực hiện đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguyên tắc
cấp nào trực tiếp quản lý, phân công công việc thì cấp đó đánh giá, xếp loại, tại
Quy định lần này, Bộ Chính trị đã ban hành 05 Phụ lục về khung tiêu chí đánh
giá đối với tập thể và các cá nhân kèm theo Quy định số 366-QĐ/TW. Đề nghị Đảng
ủy Chính phủ chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung ban hành các văn bản có liên
quan (nếu cần thiết) để bảo đảm đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở; đồng
thời, căn cứ khung tiêu chí tại 05 Phụ lục để cụ thể hoá, xây dựng bộ tiêu chí
đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong phạm vi tổ chức,
cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, bảo đảm phù hợp với đặc điểm ngành, lĩnh vực,
chức năng, nhiệm vụ.
Câu 8: Về cách thức kiểm điểm (Điều 7): Tại Điểm 2.3, Khoản 2 về việc kiểm
điểm đối với cán bộ giữ nhiều chức vụ lãnh đạo, quản lý, thực hiện như sau:
b) Cán bộ, công chức, viên chức kiêm nhiệm nhiều
chức vụ lãnh đạo, quản lý tương đương thì kiểm điểm ở nơi giữ chức vụ lãnh đạo,
quản lý có thời gian công tác nhiều hơn.
Ví dụ: Đồng chí Nguyễn Văn B là Bộ trưởng Bộ
Nội vụ, kiêm Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thì kiểm điểm tại tập thể lãnh đạo,
quản lý tại Bộ Nội vụ.
Đối với cán bộ kiêm nhiệm nhiều chức vụ lãnh đạo,
quản lý và đảm nhiệm vị trí người đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo và chủ trì việc
kiểm điểm của tổ chức, cơ quan, đơn vị theo quy định.
Ví dụ: Đồng chí Nguyễn Văn C là Bí thư
Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh thì kiểm điểm tập thể lãnh đạo, quản
lý tại Ban Thường vụ tỉnh ủy, không phải kiểm điểm tập thể lãnh đạo, quản lý tại
Hội đồng nhân dân tỉnh, nhưng có trách nhiệm chỉ đạo và chủ trì việc kiểm điểm
tại Hội đồng nhân dân tỉnh và báo cáo kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ Chủ
tịch Hội đồng nhân dân của cá nhân tại hội nghị kiểm điểm Ban Thường vụ tỉnh ủy.
c) Trường hợp kiêm nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản
lý ở các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác không thực hiện nhiệm vụ chuyên trách
thì không kiểm điểm ở tổ chức, cơ quan, đơn vị đó nhưng phải báo cáo kết quả thực
hiện chức trách, nhiệm vụ kiêm nhiệm được giao đối với cả nơi công tác kiêm nhiệm
và nơi công tác chính. Tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi cán bộ kiêm nhiệm có trách
nhiệm gửi nhận xét, đánh giá về nơi công tác chính để làm căn cứ đánh giá, xếp
loại theo quy định. Ví dụ: Đồng chí Nguyễn Văn A là Phó Trưởng Ban
Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, tham gia Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy các cơ
quan Đảng Trung ương (không thực hiện nhiệm vụ chuyên trách) thì không phải kiểm
điểm tại Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương nhưng phải báo cáo kết
quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ kiêm nhiệm tại Hội nghị kiểm điểm tập thể
Lãnh đạo Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương làm căn cứ đánh giá, xếp loại
theo quy định.
Đề nghị: Điểm 2.3b: Làm rõ nội dung Ví dụ: đồng chí C có phải xếp loại chức vụ Chủ tịch
Hội đồng nhân dân hay không?
Điểm 2.3c:
(1) Làm rõ nội dung Ví dụ:
Trường hợp phần lớn các Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung
ương là kiêm nhiệm, chỉ có 03 Ủy viên chuyên trách, thì chỉ thực hiện kiểm điểm,
xếp loại đối với 03 đồng chí chuyên trách. Như vậy tỷ lệ xếp loại HTXSNV/HTTNV
(không quá 20%) là tính trên 03 đồng chí chuyên trách được xếp loại hay tính
trên toàn bộ số Ủy viên BTV?
(2) Trường hợp toàn bộ Ủy viên
Ban Thường vụ Đảng ủy là các đồng chí kiêm nhiệm thì Ban Thường vụ Đảng ủy chỉ
thực hiện kiểm điểm tập thể, không thực hiện kiểm điểm cá nhân các Ủy viên Ban
Thường vụ Đảng ủy. (Đảng ủy Chính phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Nội dung câu hỏi đang đề cập đến việc kiểm điểm
của cá nhân giữ nhiều chức vụ lãnh đạo, quản lý; còn nội dung kiến nghị, đề xuất
tại Điểm 2.3b và 2.3c của Đảng ủy Chính phủ liên quan đến
việc đánh giá, xếp loại và hiện đã lược bỏ trong Hướng dẫn mới ban hành. Về nội
dung này, Quy định số 366-QĐ/TW và Hướng dẫn số 43-HD/BTCTW, ngày 31/10/2025 của
Ban Tổ chức Trung ương mới ban hành đã quy định, hướng dẫn cụ thể việc đánh
giá, xếp loại đối với cá nhân giữ nhiều chức vụ, lãnh đạo quản lý, trong đó phải
bảo đảm nguyên tắc “đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức
ở nơi giữ chức vụ cao nhất”. Đề nghị Đảng ủy Chính phủ nghiên cứu, cập nhật
và áp dụng Quy định, Hướng dẫn để triển khai thực hiện đúng quy định.
Câu 9: Về quy trình, trách nhiệm, thẩm
quyền trong đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng (Điều 13)
Kết quả đánh giá, xếp loại tổ chức đảng dựa trên
kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng của: tập thể lãnh đạo quản lý, tổ chức đảng
trực thuộc (nếu có) và toàn bộ đảng viên thuộc tổ chức đảng. Để có cơ sở
đánh giá, xếp loại theo yêu cầu trên, các cấp ủy, tổ chức đảng phải chịu trách
nhiệm tự đánh giá, xếp loại và cấp ủy cấp trên trực tiếp có thẩm quyền xem xét,
quyết định theo hướng dẫn cụ thể như sau:
- Đối với tổ chức đảng ở cơ sở:
a) Chi ủy trực thuộc chịu trách nhiệm tự đánh
giá, xếp loại chất lượng chi bộ mình. Đảng ủy bộ phận hoặc đảng ủy cơ sở hoặc đảng
ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng xem xét đánh giá, xếp loại chất lượng
đối với chi bộ đó.
c) Đảng ủy bộ phận chịu trách nhiệm tự đánh giá,
xếp loại chất lượng đảng bộ mình. Ban Thường vụ đảng ủy cấp trên trực tiếp của
tổ chức cơ sở đảng xem xét quyết định đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đảng
bộ bộ phận đó.
Đề nghị hướng dẫn bổ sung như sau:
- Đối với tổ chức đảng
ở cơ sở:
a) Chi ủy trực thuộc (nơi không có chi ủy
thì chi bộ) chịu trách nhiệm tự đánh giá, xếp loại chất lượng chi bộ
mình báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp (Ban thường vụ đảng ủy
cơ sở, nơi không có ban thường vụ thì đảng ủy cơ sở/ban thường vụ đảng ủy cấp
trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng) xem xét, đánh giá, xếp loại đối
với chi bộ trực thuộc đó.
c) Đảng ủy bộ phận chịu trách nhiệm tự đánh giá,
xếp loại chất lượng đảng bộ mình báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp
(Ban thường vụ đảng ủy cơ sở (nơi không có ban thường vụ
thì đảng ủy cơ sở)/Ban thường vụ đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ
chức cơ sở đảng) xem xét, đánh giá, xếp loại đối với đảng bộ bộ phận đó. (Đảng
ủy Chính phủ)
Câu 10: Về Thông báo và sử dụng kết quả (Điều
15-Quy định 366):
- Tại khoản
3, quy định về tiến hành đánh giá, xếp loại lại đối với các trường hợp tập
thể, cá nhân đã được xếp loại chất lượng nhưng sau đó phát hiện có khuyết điểm,
không bảo đảm quy định về mức xếp loại hoặc thiếu trung thực làm cho kết quả
không chính xác hoặc có phản ánh từ các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng
viên và Nhân dân đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác định mức độ vi phạm
(nếu có) thì cấp ủy cấp trên trực tiếp ra quyết định hủy bỏ kết quả xếp
loại cũ và công nhận kết quả xếp loại mới theo Mẫu 03. Chỉ đạo các cơ quan có
liên quan thực hiện việc hủy bỏ các nội dung về thi đua khen thưởng (nếu có)
theo thẩm quyền để đảm bảo thống nhất, đồng bộ với các quy định có liên quan.
- Tại khoản 4, quy định nội
dung thi đua khen thưởng, thực hiện như sau:
a) Đối với tổ chức đảng: Các cấp ủy lựa chọn những
tổ chức đảng được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” tiêu biểu trong năm
hoặc trong nhiệm kỳ để xét tặng giấy khen, bằng khen, hoặc tặng cờ.
b) Đối với đảng viên: Các cấp ủy lựa chọn những
đảng viên đạt tiêu chuẩn đảng viên “Hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ” theo quy định
Đề nghị nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể về sử dụng
kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ hàng quý để làm căn cứ đánh giá cán bộ hàng
năm và sử dụng kết quả đánh giá cán bộ hàng năm để làm căn cứ đánh giá cán bộ cả
nhiệm kỳ, để đảm bảo theo quy định tại Điều 15, Quy định số
366-QĐ/TW, ngày 30/8/2025 của Bộ Chính trị và để thống nhất thực hiện trong
hệ thống chính trị. Ví dụ: trong năm, kết quả đánh giá cán bộ quý I, II xuất sắc,
quý III tốt thì xếp loại cả năm ở mức nào? (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 11: Tại Điều 17 về
quản lý hồ sơ: Đề nghị tách hồ sơ đánh giá xếp loại hàng năm với hồ sơ đánh giá
xếp loại hàng quý (trong trường hợp vẫn quy định phải đánh giá theo quý). Đề
nghị: Hồ sơ đánh giá hàng quý nên đơn giản để các đơn vị thực hiện kịp thời,
thuận tiện. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 12: Về việc thực hiện việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với
cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Kết luận số 198-KL/TW, ngày 08/10/2025 của Bộ
Chính trị về chủ trương đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống
chính trị các cấp như sau:
(1) Đối với cán bộ thuộc
diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý: Ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng
ủy trực thuộc Trung ương; ban thường vụ đảng ủy các ban, bộ, ngành, tập thể
lãnh đạo cơ quan đơn vị thực hiện đánh giá hằng quý và định kỳ báo cáo Bộ Chính
trị, Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương) trước ngày 15, tháng cuối của mỗi
quý.
(2) Đối với cán bộ diện
cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quản lý: Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể
lãnh đạo cơ quan đơn vị chịu trách nhiệm chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện
việc đánh giá cán bộ hằng quý theo phân cấp quản lý đảm bảo thống nhất, đồng bộ.
Định kỳ báo cáo kết quả với Bộ Chính trị, Ban Bí thư (qua Văn phòng Trung ương)
trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý; đồng thời, gửi Ban Tổ chức Trung ương để
theo dõi, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền khi có yêu cầu.
Đề nghị Trung ương:
- Hướng dẫn quy định “Định kỳ báo cáo kết quả với
Bộ Chính trị, Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương) trước ngày 30 tháng
cuối của mỗi quý thay cho trước ngày 15 tháng cuối của mỗi quý để
phù hợp với Điểm (2) (nêu dưới đây) và phù hợp với quy định kiểm điểm, đánh
giá, xếp loại cấp dưới trước, cấp trên sau.
- Làm rõ việc định kỳ các cấp ủy
cơ sở/cấp trên cơ sở chỉ gửi báo cáo kết quả lên cấp trên trực tiếp hay gửi trực
tiếp lên Văn phòng và Ban Tổ chức Trung ương.
- Hướng dẫn, cụ thể hóa các nội dung, tiêu chí
đánh giá đối với cán bộ diện Bộ Chính trị và Ban Bí thư quản lý và diện cấp ủy
quản lý cùng các biểu mẫu báo cáo để thuận tiện cho các cấp ủy triển khai đánh
giá cán bộ hằng quý. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 13: Tại điểm 2 khoản 2 đối với chức danh diện cấp ủy,
tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quản lý: Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể
lãnh đạo cơ quan, đơn vị căn cứ các quy định hiện hành có trách nhiệm tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc đánh giá định kỳ hàng quý đối với cán
bộ thuộc diện cấp mình quản lý…
Đề nghị hướng dẫn cụ thể đối tượng,
quy trình, tiêu chí, hồ sơ...đánh giá định kỳ hằng quý. (Đảng ủy
Chính phủ)
Câu 14: Theo Kết luận số 198-KL/TW, ngày 08/10/2025 của Bộ
Chính trị về chủ trương đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống
chính trị yêu cầu: Định kỳ báo cáo kết quả đánh giá hằng quý đối với cán bộ
lãnh đạo, quản lý diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý trước ngày 15 tháng cuối
của mỗi quý; đối với chức danh diện cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quản
lý trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý. Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn
thống nhất một mốc thời gian gửi báo cáo để thuận lợi trong quá trình tổ chức
thực hiện. (Lai Châu)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương đối với câu 9, 10, 11, 12, 13, 14:
Các nội dung kiến nghị, đề xuất của Đảng ủy
Chính phủ nêu trên đã được điều chỉnh, cập nhật, bổ sung trên cơ sở tiếp thu đầy
đủ ý kiến góp ý của các địa phương, cơ quan, đơn vị và hoàn thiện trong Hướng dẫn
số 43-HD/BTCTW, ngày 31/10/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về
kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống
chính trị vừa ban hành. Đề nghị Đảng ủy Chính phủ nghiên cứu kỹ lưỡng Quy định,
Hướng dẫn để cụ thể hóa, hướng dẫn và triển khai việc kiểm điểm, đánh giá, xếp
loại chất lượng tập thể, cá nhân đúng quy định.
Câu 15:
(1) Về kết quả xếp loại đối với cá
nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ nhiều chức vụ kiểm điểm ở nhiều nơi
Theo Quy định số
366-QĐ/TW của Bộ Chính trị quy định: Thực hiện thống nhất việc tập thể,
cá nhân được kiểm điểm thì phải đánh giá, xếp loại. Đánh giá, xếp
loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức ở nơi giữ chức vụ cao nhất.
Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn cụ thể
việc lấy kết quả xếp loại đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý
giữ nhiều chức vụ khi kiểm điểm ở nhiều nơi để thống nhất thực hiện. Ví
dụ: Đồng chí Nguyễn Văn A là Ủy viên Ban Thường vụ,
Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy thì lấy kết quả xếp loại hằng năm là trưởng Ban Tổ
chức Tỉnh ủy (kiểm điểm tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy) hay là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh
ủy (kiểm điểm tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy)[5].
(2) Về mức xếp loại giữa tập thể lãnh đạo, quản
lý với tổ chức, cơ quan, đơn vị
Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, hướng
dẫn cụ thể thêm nội dung về mức xếp loại giữa tập thể lãnh đạo,
quản lý với mức xếp loại tổ chức đảng, tổ chức, cơ quan, đơn vị để thống nhất
thực hiện, cụ thể: Mức xếp loại tập thể lãnh đạo quản lý có được cao hơn
mức xếp loại đảng bộ, cơ quan, đơn vị hay không.
(3) Đối với các tổ chức chính trị - xã hội thuộc
MTTQ tỉnh
- Căn cứ Quy định 368-QĐ/TW ngày 08/9/2025
của Bộ Chính trị về danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo
của hệ thống chính trị, đề nghị làm rõ các đồng chí Phó Chủ tịch MTTQ đồng thời
là Trưởng các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh sẽ đánh giá, xếp loại tại cơ quan
Ủy ban MTTQ tỉnh hay tại các tổ chức chính trị - xã hội.
- Việc đánh giá xếp loại các tập thể tổ chức
chính trị - xã hội: Đề nghị làm rõ đánh giá, xếp loại cơ quan của tổ chức chính
trị - xã hội hay là xếp loại tổ chức chính trị - xã hội. (Bắc Ninh)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Đối với nội dung (1): Quy định số 366-QĐ/TW và
Hướng dẫn số 43-HD/BTCTW, ngày 31/10/2025 của Ban Tổ chức Trung ương mới ban
hành đã quy định, hướng dẫn cụ thể việc đánh giá, xếp loại đối với cá nhân giữ
nhiều chức vụ, lãnh đạo quản lý, trong đó phải bảo đảm nguyên tắc “đánh giá,
xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức ở nơi giữ chức vụ cao nhất”.
Đề nghị Tỉnh ủy Bắc Ninh nghiên cứu, triển khai thực hiện đúng quy định.
- Đối với nội dung (2): Quy định số 366-QĐ/TW đã
nêu rõ nguyên tắc tại Khoản 2, Điều 3 là: “Gắn trách nhiệm
cá nhân với tập thể; gắn kết quả của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý với
kết quả của địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị”. Ngoài ra, tại Tiểu mục 7.8, Mục 7, Hướng dẫn số 43-HD/BTCTW của Ban Tổ chức
Trung ương đã quy định: “Mức xếp loại của người đứng đầu không được cao hơn
mức xếp loại của tập thể lãnh đạo, quản lý, tổ chức, cơ quan, đơn vị do mình đứng
đầu”. Do vậy, đề nghị Tỉnh ủy Bắc Ninh căn cứ các quy định, hướng dẫn nêu
trên để thực hiện đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân và gắn với nguyên tắc “Đề
cao trách nhiệm của cấp uỷ, tập thể lãnh đạo, nhất là người đứng đầu trong đánh
giá cán bộ thuộc quyền quản lý theo phân cấp”, bảo đảm đúng quy định hiện
hành.
- Đối với nội dung (3): Căn cứ Quy định số
366-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành, Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
Trung ương chịu trách nhiệm cụ thể hoá nội dung kiểm điểm, xây dựng bộ tiêu chí
đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong phạm vi tổ chức, cơ
quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, bảo đảm phù hợp với đặc điểm ngành, lĩnh vực,
chức năng, nhiệm vụ theo phân cấp. Do vậy, việc thực hiện kiểm điểm, đánh giá,
xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân thuộc Mặt trận Tổ quốc tỉnh đề cập
trong câu hỏi nêu trên thực hiện trên cơ sở cụ thể hóa, hướng dẫn của ngành,
lĩnh vực liên quan theo các quy định hiện hành.
Câu 16: Tại Tiết c, Điểm 1.1, Khoản 1, Điều 5 Quy định
số 366-QĐ/TW
quy định đối tượng kiểm điểm đối với tập thể là các cấp ủy, có nêu:“Ban
thường vụ đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (bao gồm cả ban
thường vụ cấp ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở, thí điểm giao quyền cấp
trên cơ sở); ban chấp hành đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở, chi bộ trực thuộc”.
Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn thêm đối với trường hợp chi bộ
không có cấp ủy (chi bộ có dưới 9 đảng viên chỉ có bí thư hoặc bí thư,
phó bí thư).
Tại Khoản 4, Điều 18, Quy định số
366-QĐ/TW về phân công thực hiện, có yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy trực
thuộc Trung ương chịu trách nhiệm cụ thể hóa bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại chất
lượng đối với tập thể, cá nhân. Tại các Phụ lục 1, 3, 4, 5 kèm theo Quy định số
366-QĐ/TW đã quy định rõ trách nhiệm cụ thể hóa bộ tiêu chí đánh giá. Tuy
nhiên, tại Phụ lục 2 về khung tiêu chí đánh giá đối với cá nhân cán bộ lãnh đạo,
quản lý thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản
lý thì chưa xác định được do cấp ủy cấp tỉnh hay do Ban Tổ chức Trung ương cụ
thể hóa bộ tiêu chí đánh giá đối với cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.
Do đó, đề nghị Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn cụ thể để các địa phương thuận
lợi trong triển khai thực hiện. (Cần Thơ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Đối với nội dung thứ nhất: Nội dung này đã được
điều chỉnh, cập nhật, bổ sung trong Hướng dẫn số 43-HD/BTCTW, ngày 31/10/2025 của
Ban Tổ chức Trung ương vừa ban hành. Đề nghị Thành ủy Cần Thơ nghiên cứu kỹ lưỡng
Quy định, Hướng dẫn để triển khai thực hiện việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại
chất lượng tập thể, cá nhân bảo đảm đúng quy định.
- Đối với nội dung thứ hai: Về tiêu chí đánh giá
đối với cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản
lý đã được thể hiện tương đối cụ thể tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Quy định
số 366-QĐ/TW. Đề nghị Thành ủy Cần Thơ căn cứ các tiêu chí thể hiện tại Phụ lục
02 để triển khai thực hiện đánh giá, xếp loại theo quy định.
Câu 17:
(1) Về xếp loại đối với tập
thể, cá nhân
- Theo Điều 10 Quy định số
366-QĐ/TW, kết quả xếp loại chất lượng tập thể đơn vị, cá nhân được căn cứ
trên cơ sở kết quả tổng điểm của 02 nhóm tiêu chí theo khung tiêu
chí: (1) Nhóm tiêu chí chung (30 điểm); (2) Nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện
nhiệm vụ (70 điểm).
- Theo Khoản 1 Điều 12 Quy định
số 366-QĐ/TW về quy trình đánh giá, xếp loại quy định việc thẩm định
và đề xuất mức xếp loại (Bước 2), thì: “Trên cơ sở kết quả tự đánh giá, xếp loại
tập thể, cá nhân; cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ hoặc tổ chức, cá
nhân được phân công lấy ý kiến đánh giá của tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên
quan đến đối tượng được đánh giá (nếu cần thiết), tiến hành thẩm định kết quả,
tổng hợp ý kiến và đề xuất mức xếp loại chất lượng.”.
- Tại Điều 11 Quy định số
366-QĐ/TW quy định về xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân; thì kết quả xếp
loại chất lượng tập thể, cá nhân được căn cứ trên kết quả tổng điểm theo khung
tiêu chí và một số điều kiện cụ thể; trong đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là tập
thể, cá nhân có kết quả tổng điểm đánh giá đạt từ 90 điểm trở lên; hoàn thành tốt
nhiệm vụ là tập thể, cá nhân có kết quả tổng điểm đánh giá đạt từ 70 điểm đến
dưới 90 điểm; hoàn thành nhiệm vụ là tập thể, cá nhân có kết quả tổng điểm đánh
giá đạt từ 50 điểm đến dưới 70 điểm; không hoàn thành nhiệm vụ là tập thể, cá
nhân có kết quả tổng điểm đánh giá đạt dưới 50 điểm.
Việc quy định như vậy sẽ khó khăn trong xác định
mức xếp loại đối với tập thể, cá nhân có kết quả tổng điểm đánh giá đạt yêu cầu
mức xếp loại xong “điểm đánh giá nhóm tiêu chí chung” hoặc “điểm đánh giá nhóm
tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ” quá cao hoặc quá thấp không tương xứng với
mức hoàn thành nhiệm vụ. Ví dụ: Tập thể đạt 70 điểm, đạt mức xếp loại hoàn
thành tốt nhiệm vụ nhưng “điểm đánh giá nhóm tiêu chí chung” chỉ đạt 05/30 điểm,
“điểm đánh giá nhóm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ” đạt 65/70 điểm”. Nếu
đánh giá tập thể này hoàn thành tốt nhiệm vụ là không hợp lý.
Vì vậy, đề nghị có hướng dẫn thêm về “điểm đánh
giá nhóm tiêu chí chung” và “điểm đánh giá nhóm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm
vụ” tối thiểu tương ứng với mỗi mức xếp loại.
(2) Về nội dung đánh giá, xếp loại theo Quý
Kết luận số 198-KL/TW ngày 08/10/2025 của Bộ
Chính trị về chủ trương đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống
chính trị thống nhất chủ trương tiến hành đánh giá cán bộ định kỳ hằng quý, hằng
năm và đột xuất khi có yêu cầu.
Qua nghiên cứu nội dung dự thảo Hướng dẫn của
Ban Tổ chức Trung ương về nội dung thực hiện đánh giá định kỳ hằng quý đối với
lãnh đạo, quản lý; thì còn một số điểm cần nghiên cứu, bổ sung làm rõ như sau:
Theo Khoản 2 Điều 3 Quy định số
366-QĐ/TW quy định nguyên tắc: “Gắn trách nhiệm cá nhân với tập thể; gắn
kết quả của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý với kết quả của địa
phương, tổ chức, cơ quan đơn vị”.
Như vậy, để có cơ sở đánh giá, xếp loại người đứng
đầu, cán bộ, lãnh đạo, quản lý theo từng quý, phải gắn với kết quả theo từng
quý của địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi cán bộ đang công tác.
Tuy nhiên, tại hướng dẫn quy định cách thức thực
hiện việc đánh giá, xếp loại người đứng đầu, cán bộ, lãnh đạo, quản lý theo từng
quý[6] chưa thể hiện việc gắn với kết quả
công tác của địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi công tác; vì vậy, cần làm
rõ nội dung có cần đánh giá, xếp loại kết quả công tác của địa phương, tổ chức,
cơ quan, đơn vị nơi cán bộ đang công tác theo từng quý để làm cơ sở đánh giá, xếp
loại cán bộ lãnh đạo, quản lý theo từng quý hay không?
Ngoài ra, đề nghị làm rõ thêm một số nội dung:
(1) Việc xếp loại từng quý nếu thực hiện theo 04 mức (Hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ, Hoàn thành tốt nhiệm vụ, Hoàn thành nhiệm vụ, Không hoàn thành nhiệm vụ),
thì có tỷ lệ đạt mức Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với cấp phó hay không;
(2) Cách tính kết quả đánh giá, xếp loại quý để đánh giá, xếp loại cuối năm. (Đảng
ủy Công an Trung ương)
Câu 18: Tại khoản 1, Điều 1 quy định:
“kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá
nhân trong hệ thống chính trị theo nhiệm kỳ, hằng năm, hằng quý hoặc khi cần
thiết”; tại khoản
1, Điều 15 quy định: “Kết quả đánh giá hằng quý được sử dụng làm căn cứ
đánh giá hằng năm và phục vụ công tác cán bộ khi cần thiết. Kết quả đánh giá hằng
năm được sử dụng làm căn cứ đánh giá theo nhiệm kỳ”. Đề nghị Ban Tổ chức
Trung ương hướng dẫn cụ thể việc sử dụng kết quả đánh giá hằng quý để đánh giá
hằng năm, kết quả đánh giá hằng năm để đánh giá nhiệm kỳ đối với cán bộ lãnh đạo,
quản lý (như: Có bao nhiêu quý hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên thì được xếp
loại hoàn thành tốt nhiệm vụ cuối năm) để thống nhất trong thực hiện. (Lai
Châu)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương đối với câu 17, 18:
Theo Kết luận 198-KL/TW của Bộ Chính trị, hiện
nay chỉ áp dụng đánh giá quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trên cơ sở
kết quả thực hiện nhiệm vụ của cá nhân gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa
phương, cơ quan, đơn vị; không đánh giá, xếp loại đối với tập thể theo quý. Do
đó, việc đánh giá phải căn cứ trên kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, cơ
quan, đơn vị và kế hoạch công tác, phân công nhiệm vụ đối với tập thể, cá nhân để
thực hiện việc đánh giá hằng quý, hằng năm theo quy định.
Hiện nay, Hướng dẫn 43-HD/BTCTW đã nêu rõ: “Kết
quả đánh giá, xếp loại Quý I, II, III và kết quả thực hiện nhiệm vụ Quý IV là
căn cứ, cơ sở để tiến hành kiểm điểm, đánh giá, đề xuất mức xếp loại cuối năm đảm
bảo đúng quy định về tỷ lệ, theo đối tượng có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ tương đồng” để giải quyết những vấn đề mà Đảng uỷ Công an Trung ương và
một số địa phương tham gia ý kiến về tỷ lệ hoàn thành xuất sắc và việc liên
thông đánh giá giữa các quý và cuối năm. Do đó, việc đánh giá, đề xuất mức xếp
loại (trong đó tính đến tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ theo đánh giá hằng
quý, hằng năm) phải thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị và các cấp uỷ,
tổ chức đảng chịu trách nhiệm cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá, xếp loại theo
04 mức đã quy định trong Quy định số 366-QĐ/TW.
Câu 19: Khoản 1, Điều 10,
Quy định số 365-QĐ/TW quy định đối với tập thể “Thực hiện theo các nhóm tiêu
chí quy định tại Phụ lục 1 của Quy định này”. Tuy nhiên, qua rà soát, các phụ lục
ban hành kèm theo Quy định chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể đối với tập thể
ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy.
Theo khoản 4, Điều 19, Bộ
Chính trị giao cho các tỉnh ủy, thành ủy “cụ thể hóa nội dung kiểm điểm, bộ
tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân…”. Như vậy, ban
thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy vừa là đối tượng được đánh giá, vừa tự xây dựng
bộ tiêu chí, vừa tự chấm điểm - điều này dễ
dẫn đến việc thực hiện đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể ban thường
vụ tỉnh ủy, thành ủy thiếu khách quan, thiếu sự thống nhất giữa các địa trong cả
nước.
Kính
đề nghị Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, hướng dẫn một bộ tiêu chí thống nhất
áp dụng đối với tập thể ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy để bảo đảm tính thống
nhất, đồng bộ trên toàn quốc. (Nghệ An)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Điểm 3, Khoản 3, Quy định số
366-QĐ/TW đã nêu rõ: “Bộ Chính trị quy định khung, mang tính nguyên tắc,
chỉ đạo định hướng để các cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức, cơ quan, đơn vị có
trách nhiệm tiếp tục cụ thể hoá, nhất là nội dung kiểm điểm, xây dựng bộ tiêu
chí đánh giá phù hợp với đặc điểm ngành, lĩnh vực, chức trách, nhiệm vụ theo
phân cấp quản lý, bảo đảm thống nhất, đồng bộ theo yêu cầu tại Điều
6, Điều 10 và Điều 18 Quy định này”.
Do đó, căn cứ khung tiêu chí đánh giá đối với tập
thể, cá nhân quy định tại 05 Phụ lục ban hành kèm theo Quy định số 366-QĐ/TW, đề
nghị Tỉnh ủy Nghệ An nghiên cứu, cụ thể hóa tiêu chí đánh giá, xếp loại đối với
tập thể, cá nhân thuộc phạm vi quản lý để phù hợp với thực tiễn tình hình của từng
địa phương, cơ quan, đơn vị gắn với đặc điểm ngành, lĩnh vực theo quy định.
3.3. Về thực hiện các
Hướng dẫn của Trung ương về công tác tổ chức cơ sở đảng, đảng viên
Câu 1: Hiện nay, Trung ương chưa có mẫu giấy chuyển sinh hoạt
đảng nội bộ (loại 7 ô); chưa có hướng dẫn về mô hình đảng bộ cơ sở trong đảng bộ
cơ sở khi sắp xếp tổ chức bộ máy các đảng bộ trực thuộc Thành ủy.
Đề nghị Ban Tổ chức
Trung ương nghiên cứu hướng dẫn cụ thể để triển khai thực hiện. (Hà Nội)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang phối hợp với
Nhà in khẩn trương hoàn thiện mẫu 4-SHĐ để in và cấp phát cho các đảng bộ trong
thời gian tới. Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận ý kiến của Ban Tổ chức Thành ủy
Hà Nội về mô hình đảng bộ cơ sở trong đảng bộ cơ sở phát sinh trong quá trình
thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và sẽ nghiên cứu, tham mưu cho phù hợp.
Câu 2: Tại Quy định tại điểm
2.2, mục 2 Hướng dẫn 38-HD/BTCTW về quy trình làm thẻ, cấp lại thẻ đảng
viên bị mất hoặc đổi thẻ đảng viên bị hỏng, bị sai còn chưa cụ thể, chưa rõ cách thức thực hiện nên chưa có cơ sở để triển khai thực hiện
thống nhất.
Đề nghị hướng dẫn, giải đáp nội dung
sau:
- Trường hợp thực hiện làm thẻ, phát thẻ và
quản lý thẻ đảng viên trên Phần mềm Quản lý cơ sở dữ liệu
đảng viên: Hiện tại, phần mềm chưa có tính năng
thực hiện quy trình này. Đề nghị hướng dẫn cụ thể về cách thức và quy trình thực
hiện trên phần mềm.
- Trường hợp không thực
hiện trên Phần mềm Quản lý cơ sở dữ liệu đảng viên: Đề nghị hướng dẫn: (i) Cách thức gửi file danh sách và file ảnh
từ Ban Tổ chức Thành ủy đến Ban Tổ chức Trung ương để đảm bảo khoa học, tuần tự,
không nhầm lẫn danh sách và ảnh chân dung của từng đảng viên; (ii) Cách
thức phân loại hồ sơ: Gộp chung 1 danh sách và 1 file ảnh hay tách riêng thành
3 danh sách và 3 file ảnh đối với các trường hợp thẻ mới, thẻ mất, thẻ hỏng,
sai; (iii) Đầu mối tiếp nhận file danh sách và file ảnh tại Ban Tổ chức
Trung ương (hồ sơ giấy, file mềm); (iv) Thời gian tiếp nhận hồ sơ cố định
hằng tháng của Ban Tổ chức Trung ương. (Hà Nội)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang phối hợp với
các cơ quan liên quan tổng kết việc đổi Thẻ đảng viên theo Chỉ thị số 51-CT/TW,
ngày 08/8/2025 của Ban Bí thư; đồng thời, phối hợp với Văn phòng Trung ương,
các cơ quan liên quan để xây dựng Phần mềm cơ sở dữ liệu đảng viên. Sau khi có
ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư và hoàn thiện Phần mềm Cơ sở dữ liệu đảng viên,
Ban Tổ chức Trung ương sẽ hướng dẫn cụ thể về quy trình phát, đổi Thẻ đảng viên
theo quy định.
Câu 3:
- Tại điểm 1.2, khoản 1, Hướng dẫn số 38-HD/TW mới
quy định về các trường hợp đảng viên được xét miễn sinh hoạt đảng, trình tự, thủ
tục, thẩm quyền xét cho đảng viên được miễn sinh hoạt đảng; chưa quy định trình
tự, thủ tục, thẩm quyền xét cho đảng viên được tiếp tục sinh hoạt đảng khi hết
thời gian miễn sinh hoạt đảng.
Bên cạnh đó, thẩm quyền xét, quyết định miễn
sinh hoạt đảng đối với đảng viên của chi bộ trực thuộc cấp ủy cấp trên trực tiếp
của tổ chức cơ sở đảng là ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức
cơ sở đảng. Quy định này khó thực hiện vì số lượng đảng viên của các chi bộ
thôn, tổ dân phố đi làm ăn xa, có nguyện vọng xin miễn sinh hoạt đảng lớn, thường
xuyên.
Đề nghị: (i) Bổ sung
quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền xét cho đảng viên được tiếp tục sinh hoạt
đảng khi hết thời gian miễn sinh hoạt đảng; (ii) Điều chỉnh thẩm quyền tại điểm
1.2, khoản 1, Hướng dẫn số 38-HD/TW theo hướng phân cấp cho chi bộ được xem
xét, ra nghị quyết miễn sinh hoạt đảng đối với đảng viên thuộc chi bộ mình (ghi
vào sổ nghị quyết chi bộ); chi ủy hoặc bí thư (phó bí thư) chi bộ có trách nhiệm
báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng biết, theo dõi, quản
lý. (Hà Nội)
- Đối với mẫu 4-KNĐ “Nghị quyết giới thiệu
đoàn viên ưu tú vào Đảng” ban hành kèm theo Hướng dẫn số 38-HD/TW phát sinh một
số vướng mắc về thẩm quyền ký, đóng dấu khi thực hiện quy trình, thủ tục kết nạp
đảng viên ở các trường học, khu dân cư, cụ thể: Trong hệ thống tổ chức đoàn,
chi Đoàn trường Trung học phổ thông là đoàn cơ sở (chi đoàn có con dấu). Trong
khi đó, các chi đoàn thôn, tổ dân phố, trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở
là chi đoàn trực thuộc Đoàn cơ sở (chi đoàn không có con dấu); còn Đoàn Thanh
niên cấp xã là Đoàn cấp trên cơ sở. Vì vậy, việc xác định thẩm quyền ký, đóng dấu
trong Nghị quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng gặp khó khăn, chưa thống
nhất trong thực hiện
Đề nghị: (i) Điều chỉnh thẩm
quyền ký, ban hành Nghị quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng tại mẫu 4 -
KNĐ theo hướng: Đối với chi đoàn thôn, tổ dân phố, trường mầm non, tiểu học,
trung học cơ sở là chi đoàn trực thuộc Đoàn cơ sở (chi đoàn không có con dấu),
chi đoàn ký, ghi rõ họ tên người ký; (ii) Bổ sung ô ký, đóng dấu của
Đoàn Thanh niên cấp xã. (Hà Nội)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận ý kiến đề xuất về
thẩm quyền miễn công tác và sinh hoạt đảng của đảng viên; về thẩm quyền ký nghị
quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng của Ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội để
nghiên cứu, tham mưu cấp có thẩm quyền trong thời gian phù hợp. Đề nghị của Ban
Tổ chức Thành ủy Hà Nội hướng dẫn các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc thực hiện
đúng quy định về miễn công tác và sinh hoạt đảng và kết nạp đảng viên.
Câu 4: Tại mẫu 3-HSĐV “Phiếu bổ
sung hồ sơ đảng viên” kèm theo Hướng dẫn số 38-HD/TW, đối với các chi bộ trực
thuộc đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (chi bộ không có con dấu);
thẩm quyền ký, đóng dấu gặp vướng mắc.
Đề nghị: (i) Điều chỉnh thẩm
quyền ký, đóng dấu tại mẫu 3-HSĐV, tại phần xác nhận của cấp ủy cơ sở đối với đảng
viên chi bộ trực thuộc đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (chi bộ
không có con dấu), chỉ ký, ghi rõ họ tên; (ii) Bổ sung ô ký, đóng dấu của
đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng. (Hải Phòng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận ý kiến của Ban Tổ
chức Thành ủy Hải Phòng. Đề nghị Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng hướng dẫn các cấp
ủy, tổ chức đảng, đảng viên trực thuộc khai phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên hằng
năm theo mẫu 3-HSĐV và ký xác nhận theo thẩm quyền.
Câu 5:
Theo Hướng dẫn số 06-HD/TW ngày 09/6/2025 của Ban Bí thư một số vấn đề cụ thể về
thi hành Điều lệ Đảng và Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW ngày 29/9/2025 của Ban Tổ chức
Trung ương về nghiệp vụ công tác đảng viên quy định: Đối tượng khen thưởng của
ban thường vụ tỉnh ủy và tương đương gồm: các tổ chức đảng, đảng viên và các cơ
quan tham mưu giúp việc, đơn vị sự nghiệp của Đảng trực thuộc, chưa có cơ quan
sở, ban, ngành trực thuộc. Trong khi đó các cơ quan, sở, ban, ngành đã trực tiếp
tham mưu giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy lãnh đạo thực hiện hoàn thành xuất
sắc các nhiệm vụ chính trị liên quan (hoàn thành việc tổ chức Đại hội đảng bộ
các cấp theo Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị và các chuyên
đề khác có liên quan...).
Vì vậy, kính đề nghị Ban Tổ chức
Trung ương nghiên cứu bổ sung đối tượng khen thưởng của ban thường vụ tỉnh ủy,
thành ủy và tương đương là các cơ quan sở, ban, ngành trên địa bàn nhằm đảm bảo
kịp thời biểu dương, khích lệ nhưng đóng góp của các cơ quan tổ chức có liên
quan đến sự phát triển kinh tế - xã hội và các mặt công tác khác nhằm xây dựng
đảng bộ trong sạch vững mạnh. (Đà Nẵng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận ý kiến đề xuất của
Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng về đối tượng khen thưởng thuộc thẩm quyền của ban
thường vụ cấp tỉnh và sẽ nghiên cứu, tham mưu cấp có thẩm quyền cho phù hợp.
Quy định 294 của Ban Chấp hành Trung ương, Hướng dẫn 06 của Ban Bí thư về thi
hành Điều lệ Đảng quy định về hình thức, thẩm quyền, tiêu chuẩn, đối tượng và
thủ tục khen thưởng, đề nghị Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng nghiên cứu, thực hiện
đúng quy định của Đảng về khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên.
Câu 6: Theo phần I, mục (21) điểm 1.4, Hướng
dẫn số 38-HD/BTCTW về hướng dẫn nghiệp vụ công tác đảng viên, trong đó hướng dẫn
việc kê khai đầy đủ quan hệ gia đình của người xin vào Đảng gồm: ông, bà nội,
ngoại của bản thân, vợ hoặc chồng; cha, mẹ đẻ (hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp
từ nhỏ); cha, mẹ vợ (hoặc chồng); anh chị em ruột của bản thân, của vợ (hoặc chồng);
các con bao gồm con đẻ và con nuôi đăng ký hợp pháp cần phải thẩm tra xác nhận
việc kê khai lý lịch đảm bảo trung thực, chính xác. Đồng thời, tại điểm 1.5 quy
định phải thẩm tra xác minh đầy đủ về lịch sử chính trị, chính trị hiện nay của
người thân theo (mục 21).
- Điểm a, mục 3.4, Hướng dẫn 06-HD/BTCTW ngày
09/6/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi
hành Điều lệ Đảng quy định: Những người cần thẩm tra về lý lịch gồm: người vào
đảng; cha, mẹ đẻ; cha, mẹ vợ (chồng) hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng bản thân vợ
hoặc chồng, con đẻ của người vào Đảng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (không
quy định thẩm tra, xác minh đối với ông, bà, nội ngoại của bản thân, của vợ (hoặc
chồng).
- Do đó, kính đề nghị Ban Tổ chức Trung ương
nghiên cứu hướng dẫn rõ nội dung này để thống nhất thực hiện.
- Theo quy định tại tiết 4.3.1.b, điểm 4,
mục II, Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW, ngày 29/9/2025 của BTCTW về nghiệp vụ công
tác đảng viên quy định “việc chuyển sinh hoạt đảng chính thức trong cùng đảng
bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng thì sử dụng giấy giới thiệu sinh
hoạt đảng nội bộ loại 7 ô, nền hoa văn màu nõn chuối”, tuy nhiên
chưa có hướng dẫn cách ghi cụ thể từng loại ô. Vì vậy, kính đề nghị Ban Tổ chức
Trung ương có hướng dẫn cách ghi cụ thể từng loại ô để thuận lợi trong việc triển
khai thực hiện. (Đà Nẵng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Về nội dung thẩm tra lý lịch của người vào Đảng:
Điểm 3.4 (mục 3) Hướng dẫn 06
của Ban Bí thư quy định những người cần thẩm tra lý lịch gồm: Người vào Đảng và
người thân (Cha, mẹ đẻ, cha mẹ vợ (chồng) hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng bản
thân; vợ hoặc chồng, con đẻ của người vào Đảng).
Điểm 1.4 (mục 1) Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW, ngày
29/9/2025 của Ban Tổ chức Trung quy định cách khai và chứng nhận lý lịch của
người xin vào Đảng (mẫu 2-KNĐ), theo đó, khai hoàn cảnh gia đình: ghi rõ những
người chủ yếu trong gia đình, gồm: ông, bà, nội, ngoại của bản thân, của vợ (hoặc
chồng); cha, mẹ đẻ (hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp từ nhỏ); cha, mẹ, vợ (hoặc
cha, mẹ chồng); vợ (chồng); anh chị em ruột của bản thân, của vợ (hoặc chồng);
các con bao gồm con đẻ, con nuôi có đăng ký hợp pháp.
Ban Tổ chức Trung ương đề nghị Ban Tổ chức Thành
ủy Đà Nẵng hướng dẫn cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc thực hiện thẩm tra lý lịch
của người vào Đảng theo Điểm 3.4 (mục 3) Hướng dẫn 06 của
Ban Bí thư và Điểm 1.5 (mục 1) Hướng dẫn 38 của Ban Tổ chức Trung ương.
Câu 7: Hướng
dẫn số 38-HD/BTCTW, ngày 29/9/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về nghiệp vụ công
tác đảng viên, trong đó có hướng dẫn về quy trình thủ tục làm thẻ đảng viên.
Tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện đổi, phát thẻ đảng viên thực hiện trên phần
mềm theo quy trình thủ tục làm thẻ do Bộ Công an thực hiện. Căn cứ tình hình thực
tiễn về nghiệp vụ cấp, phát Thẻ đảng viên, đề nghị Ban Tổ chức Trung ương có hướng
dẫn cụ thể cũng như chuyển giao phần mềm hỗ trợ công tác đổi, phát thẻ đảng
viên đảm bảo kịp thời, đúng quy định; đồng thời, hướng dẫn việc sử dụng, quản
lý Thẻ đảng viên mới đảm bảo an ninh, an toàn thông tin trong Thẻ. (Tuyên
Quang)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang phối hợp với
các cơ quan liên quan tổng kết việc đổi Thẻ đảng viên theo Chỉ thị số 51-CT/TW,
ngày 08/8/2025 của Ban Bí thư; đồng thời, phối hợp với Văn phòng Trung ương,
các cơ quan liên quan để xây dựng Phần mềm cơ sở dữ liệu đảng viên. Sau khi có
ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư và hoàn thiện Phần mềm Cơ sở dữ liệu đảng viên,
Ban Tổ chức Trung ương sẽ hướng dẫn cụ thể về quy trình phát, đổi Thẻ đảng viên
theo quy định.
Câu 8: Đề nghị Ban Tổ chức Trung ương
nghiên cứu tháo gỡ khó khăn về nghiệp vụ công tác đảng viên liên quan đến số lý
lịch đảng viên: Thực hiện Hướng dẫn 12-HD/BTCTW, ngày 18/01/2025 của Ban Tổ chức
Trung ương về nghiệp vụ công tác đảng viên (nay là Hướng dẫn 38-HD/BTCTW, ngày
29/9/2025) Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Thọ đã tham mưu công văn cấp số lý lịch đảng
viên cho các đảng bộ trực thuộc, tuy nhiên trong quá trình thực hiện xảy ra việc
trùng số lý lịch đảng viên. Nguyên nhân là do ký hiệu của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
theo Quy định số 208-QĐ/BTCTW, ngày 23/6/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về Mã
số tổ chức trong hệ thống tổ chức Đảng là “PT” trùng với ký hiệu của tỉnh Phú
Thọ cũ (tỉnh Phú Thọ mới sáp nhập từ 3 tỉnh cũ là Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa
Bình). (Phú Thọ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung ương đề nghị Ban Tổ chức Tỉnh ủy
Phú Thọ nghiên cứu và hướng dẫn các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc thực hiện
việc ghi số lý lịch đảng viên theo Tiết a (1.2), Điểm 1, Mục II (Quản lý hồ sơ
đảng viên, phát thẻ đảng viên, giới thiệu sinh hoạt đảng), Hướng dẫn số 38 của
Ban Tổ chức Trung ương.
Câu 9: Hiện nay các văn bản hướng dẫn
sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt đảng của các đồng chí: Bí thư đảng ủy xã, Chủ tịch
UBND cấp xã, bí thư chi đoàn khi tham gia chi bộ/ đảng bộ quân sự xã chưa rõ
ràng, cấp ủy cơ sở lúng túng khi thực hiện. Kính đề nghị Ban Tổ chức Trung ương
sớm ban hành văn bản thay thế Hướng dẫn số 24-HD/BTCTW, ngày
20/9/2023 về tổ chức và hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn. Trong
đó, hướng dẫn cụ thể đồng chí bí thư đoàn xã kiêm chính trị viên phó ban chỉ
huy quân sự xã sinh hoạt đảng tại chi bộ (đảng bộ) quân sự cấp xã hay tại nơi
công tác; việc cơ cấu đồng chí bí thư đoàn xã trong cấp ủy chi bộ/đảng bộ quân
sự xã; việc sinh hoạt chi bộ quân sự của đồng chí bí thư đảng ủy cấp xã, đồng
chí chủ tịch UBND cấp xã, đồng chí bí thư đoàn xã kiêm chính trị viên phó ban
chỉ huy quân sự xã là sinh hoạt cấp ủy hay còn nhiệm vụ quyền hạn nào khác; đồng
thời, hướng dẫn thống nhất về hình thức tham gia sinh hoạt của các đồng chí này
trong chi bộ (đảng bộ) quân sự cấp xã. (Đà Nẵng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận ý kiến của Ban Tổ
chức Thành ủy Đà Nẵng, trong thời gian tới Ban Tổ chức Trung ương sẽ chủ trì phối
hợp với Quân ủy Trung ương sửa đổi, bổ sung hướng dẫn số 24-HD/BTCTW, ngày
20/9/2023 “về tổ chức và hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn”
phù hợp với hoạt động theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.
Câu 10: Đề nghị Ban Tổ chức Trung
ương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các Quy định sau:
(1) Quy định số 05-QĐi/TW, ngày
28/8/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về việc kết nạp người vi phạm chính sách
dân số và kế hoạch hóa gia đình để phù hợp với chính sách dân số hiện hành và Hướng dẫn số 15-HD/UBKTTW ngày 20/3/2025 của
Ủy ban Kiểm tra Trung ương về sửa đổi, bổ sung Hướng dẫn 05-HD/UBKTTW ngày
22/11/2022 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thực hiện một số điều trong Quy định
69-QĐ/TW, ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi
phạm.
(2) Quy định số 06-QĐi/TW của Bộ Chính trị “Một
số điểm về kết nạp đảng viên đối với người theo tôn giáo và đảng viên là người
theo tôn giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo; Hướng dẫn số 20-HD/BTCTW, ngày
26/9/2019 thực hiện Quy định số 06-QĐi/TW của Bộ Chính trị “Một số điểm về kết
nạp đảng viên đối với người theo tôn giáo và đảng viên là người theo tôn giáo
tham gia sinh hoạt tôn giáo” để phù hợp với tổ chức, bộ máy, thẩm quyền của các
tổ chức, cá nhân sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã và vận hành mô
hình chính quyền địa phương 2 cấp. (Hải Phòng)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận ý kiến của Ban Tổ
chức Thành ủy Hải Phòng để đưa vào chương trình công tác năm 2026 về việc sửa đổi,
bổ sung Quy định 05-QĐi/TW, ngày 28/8/2018 của Ban Bí thư về việc kết nạp người
vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình vào đảng và Quy định số
06-QĐi/TW, ngày 28/8/2018 của Bộ Chính trị về một số điểm về kết nạp đảng viên
đối với người theo tôn giáo và đảng viên là người theo tôn giáo tham gia sinh
hoạt tôn giáo.
Câu 11: Đề nghị có hướng dẫn về việc đổi
Thẻ đảng viên và triển khai thực hiện ứng dụng Sổ tay điện tử đảng viên đối với
các đảng viên đang sinh hoạt ở ngoài nước. (Đảng ủy Chính phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang phối hợp
với các cơ quan liên quan tổng kết việc đổi Thẻ đảng viên theo Chỉ thị số 51-CT/TW,
ngày 08/8/2025 của Ban Bí thư; đồng thời, phối hợp với Văn phòng Trung ương,
các cơ quan liên quan để xây dựng Phần mềm cơ sở dữ liệu đảng viên. Sau khi có
ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư và hoàn thiện Phần mềm Cơ sở dữ liệu đảng viên,
Ban Tổ chức Trung ương sẽ hướng dẫn cụ thể về quy trình phát, đổi Thẻ đảng viên
theo quy định.
- Tại Khoản 1, Điều 5 quy định: “Văn phòng Trung
ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn toàn quốc; hướng
dẫn cập nhật, sử dụng ứng dụng STĐVĐT; hỗ kỹ thuật, xử lý vướng mắc; hoàn
thiện các tính năng của ứng dụng STĐVĐT đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; bảo đảm
cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và kinh phí tổ chức thực hiện”. Do vậy, đề nghị
Đảng ủy Chính phủ phối hợp với Văn phòng Trung ương để hướng dẫn các cấp ủy, tổ
chức đảng ở nước ngoài sử dụng STĐVĐT.
Câu 12: Văn bản chưa quy định đối với các
trường hợp đảng viên là người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động từ 12 tháng
trở lên. Thực tế hiện nay tại một số đảng bộ phát sinh một số trường hợp cán bộ
tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc được luân chuyển công tác đến đơn vị mới (trong
cùng đảng bộ đó) nhưng tại địa bàn có khoảng cách khá xa thì có thực hiện thủ tục
chuyển sinh hoạt đảng không và thực hiện chuyển sinh hoạt đảng tạm thời hay
chính thức. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 13: Tại khoản 1 Mục V quy định tài liệu,
phương tiện thực hiện nghiệp vụ công tác đảng viên: Hệ thống sổ sách phục vụ việc
quản lý đảng viên là: Các sổ phát thẻ đảng viên, tặng Huy hiệu Đảng, giao nhận
Huy hiệu Đảng, danh sách đảng viên, đảng viên dự bị, đảng viên từ trần, đảng
viên ra khỏi Đảng, giao nhận hồ sơ đảng viên, giới thiệu sinh hoạt đảng, theo
dõi phiếu báo chuyển sinh hoạt đảng, theo dõi khen thưởng, theo dõi giới thiệu
đảng viên về giữ mối liên hệ nơi cư trú và sổ ghi nghị quyết của chi bộ, cấp ủy.
Đề nghị áp dụng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý
tổ chức đảng, đảng viên. (Đảng ủy Chính phủ)
Câu 14: Tại mẫu biểu 8.2 dành cho Ban Tổ chức hoặc cơ quan tham mưu về công
tác tổ chức, cấp ủy có thẩm quyền quy định: Sổ giao nhận thẻ đảng viên (mẫu
7-TĐV). Khi giao nhận thẻ đảng viên, bên giao, bên nhận ký trực tiếp trên sổ
là chưa phù hợp đối với các đảng bộ cách xa về địa lý, việc chuyển thẻ đảng
viên đến cấp cơ sở thường phải qua bưu điện. (Đảng ủy Chính phủ).
Câu 15: Trong thời gian dự bị 12 tháng của
đảng viên, vì lý do khách quan (ốm, đi công tác…) nên đảng viên không tham gia
lớp bồi dưỡng dành cho đảng viên mới theo quy định, mà phải tham gia lớp học
này ở khoảng thời gian sau thời gian 12 tháng kể từ khi kết nạp. Vậy đề nghị
Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn rõ thời gian gia hạn và thời gian công nhận đảng
viên chính thức đối những đảng viên này. (Hưng Yên)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương đối với câu 12, 13, 14, 15:
Ban Tổ chức Trung ương ghi nhận ý kiến của Đảng ủy
Chính phủ, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Hưng Yên để tổng hợp, nghiên cứu tham mưu cho
phù hợp.
Câu 16: Đề nghị cho phép áp dụng quy
trình, thủ tục chuyển sinh hoạt đảng tập thể tương tự như đối với chuyển giao tổ
chức, đảng viên trong trường hợp có nhiều đảng viên thuộc tổ chức đảng giải thể
cùng chuyển đến 01 chi, đảng bộ. (Đảng ủy Chính phủ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
Việc chuyển sinh hoạt đảng đối với đảng viên ở tổ
chức đảng bị giải tán hoặc giải thể; chuyển giao tổ chức và chuyển sinh hoạt đảng
tập thể cho đảng viên ở những nơi thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập
được thực hiện theo Tiết 4.3.3, Điểm 4, Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW, ngày
29/9/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về nghiệp vụ công tác đảng viên.
Câu 17: Kiến nghị Ban Tổ chức Trung ương xem xét
- Sớm ban hành các loại mẫu giấy giới thiệu sinh
hoạt đảng theo Hướng dẫn số số 38-HD/BTCTW để các địa phương thực hiện.
- Có hướng dẫn cụ thể hơn về việc thanh lý các
tài liệu, thiết bị không còn giá trị sử dụng (ví dụ: phôi thẻ đảng, các loại
giấy giới thiệu sinh hoạt đảng, thiết bị đóng dấu nổi thẻ đảng viên). (Cần
Thơ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức
Trung ương:
- Các loại giấy giới thiệu sinh hoạt đảng (giấy
giới thiệu sinh hoạt đảng chính thức, tạm thời, nội bộ, ra ngoài nước) theo Hướng
dẫn số 38-HD/BTCTW, ngày 29/9/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về nghiệp vụ công
tác đảng viên được cấp, phát cho các địa phương, đơn vị theo đề nghị.
- Việc thanh lý các tài liệu, thiết bị không còn
giá trị sử dụng được thực hiện theo Điểm 2, Phần V, Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW,
ngày 29/9/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về nghiệp vụ công tác đảng viên.
IV. VỀ BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI
BỘ
Câu 1: Tại Khoản
4, Điều 16 Quy định số 367-QĐ/TW, ngày 04/9/2025 của Bộ
Chính trị Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng chưa nêu rõ trường
hợp có người thân đang trong thời gian chấp hành án treo thì có được tái cử hoặc
bổ nhiệm chức vụ cao hơn không? Hoặc có được giới thiệu vào HĐND các cấp
không? (Phú Thọ)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức Trung ương
Tại Khoản 4 Điều 16 Quy định số
367 -QĐ/TW, ngày 04/9/2025 của Bộ Chính trị quy định điều chỉnh đối với trường
hợp có người thân đang trong thời gian chấp hành án phạt tù giam. Vì vậy, đối với
trường hợp có người thân đang trong thời gian chấp hành án treo không thuộc trường
hợp điều chỉnh tại Điều 16 Quy định số 367 -QĐ/TW, ban thường vụ cấp ủy có thẩm
quyền căn cứ vào tính chất, mức độ, tác động ảnh hưởng của hành vi phạm tội
hình sự và tình hình đội ngũ cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ của địa phương, cơ quan,
đơn vị, có thể xem xét, quyết định việc tái cử hoặc bổ nhiệm chức vụ cao hơn đối
với cán bộ, đảng viên.
Câu 2:
(1) Về quản lý hồ sơ thẩm tra,
xác minh vấn đề chính trị của cán bộ, đảng viên được nêu tại khoản 3, Điều 20,
Quy định 367-QĐ/TW, đề nghị chỉ lưu Kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với các
trường hợp có vấn đề chính trị của cấp có thẩm quyền vào hồ sơ cán bộ, hồ sơ đảng
viên. Đối với các trường hợp không có vấn đề chính trị (Kết luận chính trị
không đóng dấu Mật theo Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương) đề
nghị không lưu vào hồ sơ cán bộ, hồ sơ đảng viên mà nên số hóa để bổ sung trong
cơ sở dữ liệu đảng viên giảm tải lưu trữ hồ sơ giấy.
(2) Theo
Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, hiện
nay cấp ủy có thẩm quyền ban hành kết luận tiêu chuẩn
chính trị theo một trong 02 mẫu: Mẫu Kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với trường
hợp không có vấn đề chính trị (Mẫu 01) và mẫu Kết luận tiêu chuẩn chính
trị đối với trường hợp có vấn đề chính trị (Mẫu 02).
Tuy nhiên, do
còn cách hiểu khác nhau, nên khi triển khai thực hiện còn khó khăn trong sử dụng
02 mẫu Kết luận tiêu chuẩn chính trị. Để thống nhất, thuận lợi trong việc thực
hiện, đề nghị Trung ương xem xét chỉ ban hành 01 mẫu Kết luận tiêu chuẩn chính
trị sử dụng cho cả 02 trường hợp có vấn đề chính trị và không có vấn đề chính
trị, hướng dẫn cụ thể khi nhân sự có vấn đề chính trị cần bổ sung nội dung vấn
đề chính trị trong Kết luận tiêu chuẩn chính trị.
Ví dụ: Nhân sự
có cha (mẹ) đẻ bị kết án tù treo. Đối chiếu Quy định 367-QĐ/TW, trường hợp này
không vi phạm tiêu chuẩn chính trị. Tuy nhiên, khi Kết luận tiêu chuẩn chính trị
áp dụng mẫu 01 thì không thể hiện được nhân sự này có thân nhân bị kết án; Nếu
áp dụng mẫu 02 thì chưa chính xác vì nhân sự đã được xác định là không vi phạm
tiêu chuẩn chính trị theo quy định. (Thanh Hóa)
Câu 3: Tại Quy định số
367-QĐ/TW ngày 04/9/2025 của Bộ Chính trị Một số vấn
đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng:
- Khoản 2, Điều 1 và Khoản 3, Điều
2 Quy định số 367 không quy định rõ đối tượng phải kết luận tiêu chuẩn chính trị
bao gồm cả người được bổ nhiệm lại chức vụ lãnh đạo, quản lý. Vì nếu yêu cầu kết
luận tiêu chuẩn chính trị đối với nhân sự tái cử vào cấp ủy nhưng không yêu cầu
kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với người được bổ nhiệm lại chức vụ lãnh đạo,
quản lý là chưa phù hợp. Mặt khác, thời gian giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là 5
năm, do đó cần phải rà soát, thẩm định kỹ lưỡng để kết luận tiêu chuẩn chính trị
phục vụ công tác bổ nhiệm lại là cần thiết, nhất là vấn đề chính trị hiện nay.
Đề nghị: Bổ sung
đối tượng phải kết luận tiêu chuẩn chính trị bao gồm người được bổ nhiệm lại chức
vụ lãnh đạo, quản lý. (Quảng Trị)
- Khoản 3, Điều 2
Quy định số 367 yêu cầu phải kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với người làm việc
trong hệ thống chính trị giới thiệu bầu vào cấp ủy các cấp. Thực trạng hiện
nay, nếu kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với người giới thiệu bầu vào cấp ủy
trực thuộc tổ chức cơ sở đảng (nhất là ở chi bộ thôn, bản, khu dân cư) là chưa
phù hợp, bởi vì số lượng quá nhiều, trong lúc tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ
làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở xã, phường, đặc khu chưa ngang tầm với
yêu cầu nhiệm vụ, biên chế ít, đồng thời phải thực hiện việc sắp xếp tinh gọn,
giảm đầu mối bên trong và tinh giản biên chế, công tác thẩm định tiêu chuẩn
chính trị mất khá nhiều thời gian nên khó đảm bảo tiến độ, chất lượng.
Đề nghị: Việc thực hiện kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với người giới thiệu vào cấp
ủy chỉ kết luận đối với người tham gia cấp ủy cơ sở trở lên (không áp dụng đối
với cấp ủy trực thuộc cấp ủy cơ sở). (Quảng Trị)
- Khoản 6, Điều
3, chưa có quy định trường hợp người có cha, mẹ đẻ, người trực tiếp nuôi dưỡng
tham gia chế độ cũ nhưng sau đó trở về tham gia cách mạng được tặng Huân
chương, Huy chương thì xếp thành phần gia đình gì?
Đề nghị: Hướng dẫn Khoản 6, Điều 3 thành phần gia đình đối với trường hợp người
có cha, mẹ đẻ, người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia chế độ cũ nhưng sau đó trở về
tham gia cách mạng được tặng Huân chương, Huy chương. (Quảng Trị)
- Khoản 3, Điều
10, chưa có quy định đối tượng là con dâu, con rể là người nước ngoài nên chưa
thống nhất với đối tượng quy định tại Điều 16, Điều 17, Điều 22 của Quy định
367-QĐ/TW, ngày 04/9/2025 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn 03-HD/BTCTW,
ngày 08/5/2025 của Ban Tổ chức Trung ương.
Đề nghị: Bổ sung đối tượng là con dâu, con rể là người nước ngoài. (Quảng
Trị)
- Điều 13, chỉ mới
quy định việc bố trí, sử dụng đối với trường hợp có cha, mẹ đẻ, người trực tiếp
nuôi dưỡng của vợ hoặc chồng vi phạm Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 4 của quy định đối
với trường hợp bản thân là con gia đình cách mạng hoặc bản thân là con gia đình
thành phần cơ bản, chưa có quy định trường hợp bản thân là con gia đình có vấn
đề chính trị nhưng không vi phạm (trường hợp bản thân không phải là con gia
đình cách mạng, không phải là con gia đình thành phần cơ bản, cũng không thuộc
trường hợp phức tạp).
Đề nghị: Hướng dẫn Điều 13, việc bố trí đối với trường hợp có cha mẹ đẻ, người
trực tiếp nuôi dưỡng của vợ hoặc chồng vi phạm Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 4 nhưng
bản thân là con gia đình có vấn đề chính trị không vi phạm, để có cơ sở bố trí,
sử dụng. (Đảng ủy Chính phủ, Quảng Trị)
- Điều 18
chưa quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với
cán bộ, đảng viên đang công tác trong lực lượng vũ trang để giới thiệu tham gia
cấp ủy, ứng cử làm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, nên lúng túng,
chưa thống nhất tại các địa phương.
Đề nghị: Hướng dẫn Điều 18 về cơ quan có thẩm quyền kết
luận tiêu chuẩn chính trị đối với cán bộ, đảng viên đang công tác trong lực lượng
vũ trang để giới thiệu tham gia cấp ủy, ứng cử làm đại biểu Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các cấp. (Quảng Trị)
- Việc bố trí, sử
dụng cán bộ, đảng viên có vấn đề chính trị vi phạm tại Điều 15 Quy định
367-QĐ/TW, ngày 04/9/2025 của Bộ Chính trị chưa phù hợp với Quy định số
368-QĐ/TW, ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị “về danh mục vị trí chức danh, chức
vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị”, cụ thể: Tại Điểm 1.2, Khoản 1 Điều 15
Quy định 367-QĐ/TW quy định trường hợp có cha, mẹ đẻ, người trực tiếp nuôi dưỡng
của vợ hoặc chồng vi phạm Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 4 trường hợp bản thân là con
gia đình thành phần cơ bản được xem xét bố trí cao nhất đến ủy viên ban thường
vụ đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, phó ngành cấp tỉnh, phó vụ
trưởng hoặc tương đương. Tuy nhiên, theo Quy định số 368-QĐ/TW thì chức danh
phó ngành cấp tỉnh được xếp cùng nhóm, bậc với bí thư đảng ủy xã, phường, đặc
khu (nhóm IV, bậc 6); còn chức danh ủy viên ban thường vụ đảng ủy xã, phường, đặc
khu được xếp cùng nhóm, bậc với trưởng phòng cấp tỉnh (nhóm IV, bậc 8).
Đề nghị: Hướng dẫn rõ nội dung này. (Quảng Trị)
- Ngoài ra, Bộ
Công an có chủ trương giao nhiệm vụ nghiên cứu, khai thác hồ sơ cho Phòng An
ninh chính trị nội bộ (PA03) công an các tỉnh, thành phố trực tiếp thực hiện;
cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ của ban Tổ chức Tỉnh ủy và ban Xây
dựng Đảng các xã, phường, đặc khu và Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy không được trực
tiếp nghiên cứu, khai thác tại cơ quan lưu trữ hồ sơ như trước đây. Điều này dẫn
đến chậm tiến độ trong phối hợp thẩm tra, xác minh, kết luận tiêu chuẩn chính
trị.
Đề nghị: Ban Tổ
chức Trung ương tiếp tục có ý kiến với Bộ Công an trong việc điều
chỉnh lại quy trình, thủ tục nghiên cứu, khai thác hồ sơ tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ
và công an các tỉnh, thành theo hướng cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội
bộ ban tổ chức các cấp ủy cấp tỉnh, cấp xã được trực tiếp nghiên cứu khai thác
hồ sơ tại cơ quan lưu trữ hồ sơ. (Quảng Trị)
Câu 4:
(1) Đề nghị bổ sung một số nội
dung hướng dẫn thực hiện Quy định 367-QĐ/TW, cụ thể:
- Quy trình báo cáo cấp ủy quản
lý theo phân cấp quản lý cán bộ khi cán bộ, đảng viên đang công tác ra nước
ngoài vì việc riêng.
- Bổ sung, làm rõ quy định cán
bộ, đảng viên đang công tác, nghỉ hưu ra nước ngoài về việc riêng cần báo cáo
“bằng văn bản” và chương trình đào tạo có yếu tố nước ngoài… (Đảng ủy
Chính phủ)
(2) Theo
khoản 6 Điều 15 Quy định số 367-QĐ/TW: Trường hợp có vấn đề chính trị của bản
thân hoặc quan hệ gia đình đã vi phạm Quy định này (trừ trường hợp thuộc các
Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 4, Chương II của Quy định này), căn cứ tính chất, mức
độ của vấn đề chính trị; uy tín, phẩm chất, năng lực; quá trình phấn đấu, đóng
góp của bản thân, sẽ do ban thường vụ cấp uỷ có thẩm quyền quy định tại Điều 18
Quy định này xem xét, bố trí. Đề nghị quy định mức bố trí, điều kiện bố trí
đối với các trường hợp. Ví dụ trong trường hợp cán bộ có cha, mẹ đẻ, người trực
tiếp nuôi dưỡng của vợ hoặc chồng, con là người nước ngoài (vi phạm khoản 3 Điều
10). (Đảng ủy Chính phủ)
(3) “Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng”
- Về các đối tượng áp dụng tại
khoản 2 phải được cấp ủy có thẩm quyền kết luận về tiêu chuẩn chính trị; đề nghị
cần bổ sung thêm các trường hợp được điều động, luân chuyển phải được kết luận
về tiêu chuẩn chính trị.
Lý
do: Vì cán bộ khi được điều động luân chuyển
về cơ quan, đơn vị, địa phương mới nếu không được kết luận tiêu chuẩn chính trị
thì sẽ không đảm bảo chặt chẽ, không gắn trách nhiệm của cấp ủy nơi đang công
tác và cơ quan, đơn vị, địa phương mới không nắm được đặc điểm chính trị của
cán bộ.
- Bổ sung thêm đối tượng được cử
đi đào tạo ở nước ngoài từ 12 tháng trở lên trên cơ sở tách nội dung kết luận
tiêu chuẩn chính trị đối với đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy định
367-QĐ/TW trước khi cử đi đào tạo ở nước ngoài từ 12 tháng trở lên ở Điều
2. Nguyên tắc chuyển lên thành đối tượng điều chỉnh ở khoản 2, Điều 1. Cụ thể:
Cán bộ, đảng viên, người làm việc trong hệ thống chính trị được cử đi đào tạo ở
nước ngoài từ 12 tháng trở lên.
Lý do: Dễ nhận diện đối
tượng để thực hiện. (Hưng Yên)
(4) Về những vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài:
Tại
khoản 3 Điều 10 quy định đối tượng “con” áp dụng trong khoản này là con đẻ, con
nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật; Đề xuất xác định con riêng của vợ hoặc
chồng có thuộc phạm vi áp dụng của khoản này hay không, nhằm bảo đảm tính thống
nhất và rõ ràng trong quá trình thực hiện. (Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể Trung ương)
Trao đổi, giải đáp của
Ban Tổ chức Trung ương đối với câu 3, 4:
Các nội
dung trên đã được Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến phù
hợp và đưa vào Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW, ngày 12/11/2025 thực hiện Quy định số
367-QĐ/TW, ngày 04/9/2025 của Bộ Chính trị “một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội
bộ Đảng”. Đề nghị các đồng chí nghiên cứu thực hiện theo Hướng dẫn số
05-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương.
Câu 5: Đề nghị Trung
ương sớm ban hành các văn bản về quy trình thực hiện công tác rà soát, công tác
bảo vệ chính trị nội bộ; nhất là quy trình rà soát, kết luận nhân sự phục vụ
công tác bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
- Hiện nay, việc nắm tình hình
chính trị nội bộ đang là một khâu yếu trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đặc
biệt là những vấn đề liên quan đến chính trị hiện nay. Đề nghị Trung ương sớm
ban hành hướng dẫn về quy trình, biện pháp để thực hiện có hiệu quả công tác nắm
tình hình chính trị nội bộ.
- Đề nghị Ban Tổ chức Trung
ương tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn
hiện nay. (Lâm Đồng, Tây Ninh)
Trao đổi, giải đáp của Ban Tổ chức Trung ương
Ngày 08/5/2025, Ban Tổ chức Trung
ương đã ban hành Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW hướng dẫn rà soát, thẩm định, kết luận
tiêu chuẩn chính trị cán bộ, đảng viên. Đề nghị các đồng chí căn cứ Hướng dẫn số
03-HD/BTCTW để rà soát, kết luận nhân sự phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ghi
nhận ý kiến của Lâm Đồng, Ban Tổ chức Trung ương sẽ giao Cục Bảo vệ chính trị nội
bộ xây dựng, hoàn thiện các chuyên đề nghiệp vụ, sớm tham mưu ban hành tài liệu
hướng dẫn về quy trình thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận tiêu chuẩn
chính trị cán bộ, đảng viên và công tác nắm tình hình chính trị nội bộ; sắp xếp, bố trí tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán
bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị.
[1] Quy định số
377-QĐ/TW, ngày 08/10/2025 của Bộ Chính trị
([2]) Tại điểm 3.1,
Khoản 3, mục II, quy định về trình độ, năng lực: Tốt nghiệp đại học trở lên.
[3]
(1) Quyết định 289-QĐ/TW ngày 08/02/2010 về quy chế
cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh do Ban Bí thư Ban chấp hành trung
ương ban hành (Điều 9, Điều 10, Điều 13); (2) Quyết định
2860/QĐ-TLĐ ngày 03/03/2025 về Quy định tiêu chuẩn chức danh cán bộ
lãnh đạo, quản lý công đoàn các cấp do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban
hành (Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7); (3) Hướng dẫn số
17-HD/UBKTTW ngày 06/6/2025 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc Hướng dẫn công
tác nhân sự ủy ban kiểm tra các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV của Đảng . (Mục I, Khoản 2 về Tiêu chuẩn ủy viên ủy ban kiểm tra các
cấp: Tiêu chuẩn đối với ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp theo tiêu chuẩn cấp
ủy viên cùng cấp được quy định tại Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 14/4/2025 của
Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIV của Đảng.
[4] Tương tự như các trường
hợp khác: Đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy- Chủ tịch UBND tỉnh. Đồng chí Ủy viên Ban
Thường vụ Tỉnh ủy- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Đồng chí Ủy viên Ban Thường
vụ Tỉnh ủy- Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh. Đồng chí Ủy viên Ban Thường Tỉnh
ủy- Bí thư Đảng ủy phường, xã.
Theo quy định 368-QĐ/TW của Bộ Chính trị về danh
mục vị trí chức danh: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy xếp ở vị trí bậc 2, nhóm 4;
còn chức danh Trưởng các cơ quan, tham mưu giúp việc Tỉnh ủy ở bậc 4, nhóm 4.
[5] Tương tự như các trường
hợp khác: Đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy- Chủ tịch UBND tỉnh. Đồng chí Ủy viên Ban
Thường vụ Tỉnh ủy- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Đồng chí Ủy viên Ban Thường
vụ Tỉnh ủy- Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh. Đồng chí Ủy viên Ban Thường Tỉnh
ủy- Bí thư Đảng ủy phường, xã.
Theo quy định 368-QĐ/TW của Bộ Chính trị về danh
mục vị trí chức danh: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy xếp ở vị trí bậc 2, nhóm 4;
còn chức danh Trưởng các cơ quan, tham mưu giúp việc Tỉnh ủy ở bậc 4, nhóm 4.
[6] Căn cứ chỉ tiêu, nhiệm
vụ được cấp có thẩm quyền giao, cá nhân tự đánh giá về kết quả thực hiện, làm
rõ những tồn tại, hạn chế, vướng mắc phát sinh (nếu có) và đề xuất mức xếp loại
theo quy định.