TIÊU CHUẨN VIỆT
NAM
TCVN 5106
- 1990( CAC/RCP 9-1976)
CÁ
TƯƠI - HƯỚNG DẪN CHUNG VỀ XỬ LÝ VÀ YÊU CẦU VỆ SINH
Cơ quan biên soạn:
Trung tâm Tiêu chuẩn – Chất lượng
Cơ quan đề nghị ban hành và trình duyệt:
Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường – Chất lượng
Cơ quan xét duyệt và ban hành:
Uỷ ban Khoa học Nhà nước
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CÁ TƯƠI - HƯỚNG DẪN CHUNG VỀ XỬ LÝ VÀ
YÊU CẦU VỆ SINH
Recommended
International. Code of Practice for fresh fish
Khuyến khích áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định những hướng dẫn chung
về xử lý và những yêu cầu vệ sinh cần thiết nhất đối với cá tươi trên biển và
trên bờ, áp dụng đối với cá tươi được làm sạch dùng cho người ăn, không áp dụng
đối với cá lạnh đông và cũng có thể áp dụng cho nghề cá nước ngọt.
Tiêu chuẩn này phù hợp với Codex CAC/RCP
9-1976.
1. Định nghĩa
(Để phục vụ cho mục tiêu của tiêu chuẩn này)
1.1. "Bán đấu giá": việc bán lần
đầu lượng cá đánh bắt ở một cảng cá, với cách mua cạnh tranh. ở một vài nghề
cá, bao gồm cả việc dỡ hàng và bày hàng, ở các nghề cá khác chỉ bày ra những
mẫu đại diện.
1.2. "Bảo quản trong hộp": bảo quản
cá trên tàu trong các hộp;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1.4. "Ướp lạnh": quá trình làm lạnh
cá đến một nhiệt độ gần nhiệt độ nước đá đang tan;
1.5. "Nước biển được ướp lạnh": nước
biển sạch ở nhiệt độ 00C (320F) hoặc dưới một chút.
1.6. "Nước biển sạch": nước biển
đáp ứng tiêu chuẩn vi sinh vật như nước uống, không có các chất không được phép
có.
1.7. "Làm sạch": loại bỏ các chất
không được phép có trên bề mặt;
1.8. "Nhiễm bẩn": truyền trực tiếp
hoặc gián tiếp các chất không được phép có vào cá;
1.9. "Khử trùng": dùng những tác
nhân và quá trình hoá học hoặc vật lý, đảm bảo vệ sinh để làm sạch bề mặt với ý
định loại bỏ các vi sinh vật;
1.10. "Philê": lát mỏng cá có cỡ và
hình dạng không đều cắt từ thân cá song song với xương sống;
1.11. "Cá": được biết chung là
những động vật có xương sống, thuỷ tinh, có máu lạnh.
Bao gồm cả pisces (ngành cá), Elasmobranchs (cá
mang tấm) và Cyclosomes (nhóm cá miệng tròn). Không bao gồm động vật có vú thuỷ
sinh, động vật không xương sống và động vật lưỡng cư. Tuy nhiên, lưu ý rằng
nhiều kiến nghị nêu ra ở đây cũng áp dụng cho một số động vật không xương sống,
đặc biệt là Cephalopods (lớp động vật chấm đầu);
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1.13. "Cá đã moi ruột": cá đã lấy
hết ruột, nội tạng;
1.14. "Thời gian bảo toàn" : độ dài
thời gian cá vẫn còn nguyên lành và dùng được để làm thực phẩm cho người.
1.15. "Chợ": địa điểm hoặc toà nhà
ở đây cá đánh bắt đem bày, đem bán lần đầu tiên;
1.16. "Vật liệu bao gói": tất cả
các loại vật liệu như giấy thiếc, màng mỏng, giấy sáp, các tông và hộp, dùng để
bọc và bảo vệ cá tươi hoặc sản phẩm cá tươi, được cơ quan có thẩm quyền chấp
nhận;
1.17. "Nhà máy hoặc cơ sở": là một
hoặc một số toà nhà, hoặc một phần, được dùng hoặc có liên quan tới việc chế
biến, bảo quản thực phẩm cho con người;
1.18. "Nước uống": nước ngọt thích
hợp cho việc sử dụng của con người;
1.19. "Khuôn hoặc ổ chứa": nơi
trong khoang tàu và trên boong, ngăn chia bằng các cột chống và các tấm ván di
động hoặc cố định để bản quản cá;
1.20. "Nước muối được làm lạnh":
dung dịch muối ăn (natri clorua) trong nước uống có độ mặn gần như của nước
biển, được làm lạnh bằng cách giống như với nước biển lạnh;
1.21. "Nước biển được làm lạnh": nước
biển sạch được làm sạch bằng nước đá làm từ nước uống hoặc nước biển sạch
và/hoặc bằng hệ thống lạnh thích hợp. Hàm lượng muối của nó thông thường khoảng
3 phần trăm;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1.23. "Bảo quản trên giá": bảo quản
cá trên tàu thành một lớp trên các giá;
1.24. "Khúc": là một phần con cá,
lấy bằng cách cắt gần như thẳng góc với xương sống.
1.25. "Vật liệu chống ăn mòn thích
hợp": là vật liệu không thấm nước, không có những chỗ lõm, kẽ nứt và vẩy,
không độc và không bị các tác dụng của nước biển, nước đá, nhớt cá hoặc một
chất ăn mòn nào khác khi tiếp xúc. Bề mặt của nó nhẵn và chịu được sự lau chùi thường
xuyên, kể cả việc dùng các chất tẩy rửa;
1.25. "Cá nguyên con": là cá mới
bắt chưa moi ruột.
2. Yêu cầu đối với
nguyên vật liệu
2.1. Quy định chung
2.1.1. Cá tươi là một thực phẩm rất dễ bị hư
hỏng và luôn phải được xử lý rất cẩn thận bằng cách sao cho ức chế vi khuẩn
phát triển.
Chất lượng cá suy giảm nhanh chóng và thời
gian bảo toàn có thể giảm đi nếu nó không được xử lý và bảo quản đúng. Nhiều cá
khi đưa lên bờ để con người tiêu thụ, không may bị xử lý rất thô bạo, điều này
cần tránh. Cá không được để dưới nắng trực tiếp hoặc gió làm khô hoặc bất kỳ
mọi hậu quả có hại nào của các tác nhân thiên nhiên mà phải được làm sạch cẩn
thận và làm sạch đến nhiệt độ tan đá, 00C (320F), càng
nhanh càng tốt. Bất kỳ sự xử lý bất cẩn nào hoặc một sự chậm trễ trong việc làm
giảm nhiệt độ của cá sẽ làm ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian bảo toàn cơ thể của
cá.
2.1.2. Cá để bán làm cá tươi phải có chất lượng
cao nhất có thể được
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1. Chất lượng của cá khi đánh bắt được, và,
2. Chất lượng của cá khi giao cho người mua
hoặc người chế biến
Khía cạnh đầu được xác định bởi điều kiện vật
lý của cá và bao gồm trạng thái, cỡ, tỷ lệ phần trăm chất béo, lượng thức ăn,
sự tổn thương da, bệnh tật và các chất có hại. Khía cạnh thứ hai sẽ quy định
bởi các phương pháp và kỹ thuật sử dụng trong đánh bắt cá, những việc làm trong
xử lý và các điều kiện bảo quản trên tàu cá.
Người đánh cá phải loại bỏ con nào có bệnh
hoặc biết là có mang các chất có hại hoặc đã bị huỷ hoại hoặc đã qua quá trình
phân rửa hoặc đã bị nhiễm bẩn bởi các chất lạ tới mức không thích hợp với việc
tiêu thụ của con người.
3. Xử lý cá tươi trên
biển, các phương tiện trên tàu cá và các yêu cầu về thao tác
3.1. Vấn đề chung
3.1.1 Tàu cá phải được thiết kế để xử lý cá
nhanh và có hiệu quả, dễ dàng làm sạch và sát trùng, và phải được làm bằng loại
vật liệu có cấu tạo sao cho không gây hư hỏng hoặc nhiễm bẩn lượng cá đánh bắt.
Trong thiết kế tàu cá, ngoài việc bố trí tàu
theo mục tiêu một đơn vị khai thác, còn phải xem xét đến nhiều yếu tố khác. Thu
nhập của người đánh cá được quyết định không chỉ bởi sản lượng cá khai thác được,
mà ở mức độ đáng kể còn phải dựa vào chất lượng cá đánh bắt đem bán hoặc giao
cho xí nghiệp chế biến.
Các tàu cá phải được thiết kế và đóng sao cho
không gây nhiễm bẩn cá do nước bẩn ở đáy tàu, nước, nước thải, khói, nhiên
liệu, dầu, mỡ hoặc các chất không được phép có khác. Phải bảo vệ cá chống tổn
thương vật chất, để ở nhiệt độ cao và tác động làm khô của mặt trời và gió.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu tàu có nhiệm vụ chế biến cá, việc thiết
kế, bố trí, cấu tạo và trang bị phải đáp ứng các yêu cầu của các cơ sở chế biến
trên bờ và việc chế biến phải được tiến hành trong những điều kiện vệ sinh tương
tự.
3.2. Kết cấu tàu cá và thiết kế vệ sinh
3.2.1. Các cột chống và ván ngăn cách khoang ở
trên boong phải làm bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp. Phải đủ về số lượng
và chiều cao để ngăn ngừa cá bị lắc do chuyển động của tàu.
Trong thực tế, trong nhiều nghề cá, gỗ vẫn
còn được dùng làm ván cho các khuôn trên boong và thép làm cột và các dụng cụ
để cố định khác. Khi dùng, gỗ phải được xử lý để ngăn ngừa ẩm xâm nhập và phải
được phủ bằng một loại sơn bền hoặc một lớp phủ không độc khác, nhẵn và dễ làm
sạch. Những đồ bằng thép phải được phủ bằng sơn chống rỉ và không độc. Nếu có
thể được, phải dùng các vật liệu chống ăn mòn.
3.2.2. Các tấm sắt ngăn cách các khoang chứa
cá trên boong cần phải lắp sao cho có thể dễ tháo dỡ và phải có tay nắm. Nếu
cần có các tấm ván phải có cửa thoát nước và lỗ thoát nước ở cạnh dưới.
Cửa phải lắp vào các tấm ván để có thể lấy ra
dễ dàng các loại cá phế phẩm. Các lỗ thoát nước để nước, nhớt và máu chảy ra
khỏi cá nằm trong đăng vây.
3.2.3. Khoang hoặc thùng chứa cá phải được
cách nhiệt đủ bằng vật liệu thích hợp. Mỗi đường ống hoặc dây xích đi qua
khoang, nếu có thể được, đều phải đặt chìm hoặc cho gọn vào hộp và cách nhiệt.
Việc cách nhiệt tốt sẽ làm giảm lượng nhiệt
đi vào khoang cá và do đó làm giảm tốc độ tan đá. Nếu chất lượng và cấu tạo
cách nhiệt kém, sẽ làm cho đá tan nhanh gần vách ngăn khoang tàu và mạn tàu.
Điều này có thể gây ra sự “rửa trôi” quá mức của cá và nếu lượng đá không đủ sẽ
làm sẽ làm cho nhiệt độ của cá tăng lên và con nào tiếp xúc với cấu trúc của
tàu có thể có mùi đặc biệt khó chịu.
3.2.4. Khoang cá hoặc các lớp lót thùng chứa
phải hoàn toàn kín nước. Lớp cách nhiệt phải được bảo vệ bằng một lớp lót từ
các tấm kim loại chống ăn mòn hoặc mọi vật liệu tương đương thích hợp khác có
các đệm kín nước.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.2.5. Khoang cá bằng gỗ hoặc thùng chứa bằng
gỗ phải được lót bằng một vật liệu thích hợp.
Các khoang cá bằng gỗ phải được lót tương tự
như đã mô tả ở trên. Chúng phải được gắn kín và bọc bằng vật liệu không thấm nước
và không độc để giữ gìn sạch sẽ và không khó khăn khi sửa chữa.
3.2.6. Phải dùng các tấm di động làm bằng vật
liệu chống ăn mòn thích hợp hoặc bằng gỗ ngâm tẩm và quét sơn để làm các giá và
ngăn đựng trong khoang cá.
Việc sử dụng các tấm di động, rất khít với
các cột chống cho phép các giá đỡ và vách ngăn được tháo dời dễ dàng và bỏ ra
để cọ rửa. Các tấm ván gỗ phải được xử lý để ngăn chặn sự ngấm nước và phải phủ
bằng một loại sơn bền không độc hoặc một lớp phủ bề mặt khác cũng thích hợp như
vậy, nhẵn, dễ làm sạch và dễ rửa. Nếu được, các tấm ván làm giá và để ngăn cách
có thể lắp lẫn được về mặt cỡ kích.
3.2.7. Ván làm giá phải được thiết kế sao cho
dễ thoát nước.
Rãnh thoát nước tan liên tục sẽ giúp đem theo
nhớt, máu và vi sinh vật không được phép tích tụ lại trên giá. Các tấm ván lượn
sóng bằng vật liệu chống ăn mòn, thích hợp nhất cho mục đích này.
3.2.8. Các giá phải bố trí sao cho độ sâu tối
đa của lớp cá khi bảo quản rời, không vượt quá 1 mét ( 3FT).
Độ sâu đó được coi như là tối đa và có thể là
quá lớn đối với một vài loài cá dễ tổn thương. Kinh nghiệm cho thấy rằng áp
suất gây ra do chồng chất cá ướp đá với chiều cao lớn hơn dẫn đến việc mất khối
lượng và làm tổn thương cá ở đáy chồng. Khi cá ướp đá được bảo quản trong các
ngăn, các giá được lắp với khoảng cách đều để truyền khối lượng của tải trọng
sang cấu trúc khoang và vỏ tàu, mà không dồn lại áp lực lên lớp cá bảo quản bên
dưới.
3.2.9. Phải luôn luôn có một khoảng trống
thoát nước lớn giữa những ngăn thấp nhất và sàn của khoang cá. Khoảng trống đó
thông với một ống thoát nước trung tâm, chảy trực tiếp vào một hoặc nhiều bể nước
thải hoặc giếng, bố trí sao cho khoang luôn luôn được tháo hết nước. Nhưng ống
mới bơm ở đáy tàu với các bể lắng đó phải có các máng lọc thô.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.2.10. Nơi nào tiến hành đóng thùng trên
biển, các cột chống và các cấu trúc phân cách phải được thiết kế sao cho thích
hợp với các thùng cá và không để lại những khoảng trống không khí.
Nếu như cấu trúc không được thiết kế phù hợp
với kích thước của thùng, sẽ để lại những khoảng trống mà không khí có thể lưu
thông sẽ gây ra sự tan đá quá mức. Nếu các khoảng trống này không được đổ đầy
thêm đá, nhiệt độ của cá sẽ tăng.
3.2.11. Nếu trong khoang cá có lắp các màng lưới
làm mát, chúng phải được lắp đặt và vận hành một cách đúng đắn.
Các màng lưới làm mát đặt trong khoang cá, có
thể được dùng để ngăn ngừa sự tan đá quá mức trong quá trình di chuyển đến bãi
cá, chúng có giá trị trong việc làm mát khoang cá và hấp thụ nhiệt thẩm lậu
vào, nhất là trong vùng biển nhiệt đới. Để có hiệu quả, chúng phải được lắp dưới
đầu boong tàu và trên mạn tàu, và khi cá đã được bảo quản trong khoang, phải
kiểm tra để nhiệt độ khoang không xuống dưới 00C (320F).
Nếu không, lớp nước đá trên mặt có thể đóng thành một vỏ cứng, dẫn đến kết quả
là lớp cá bên trên đông lạnh từ từ, trong chuyến đi dài ngày, do vậy ảnh hưởng
đến chất lượng của cá.
Khi nước đá ngừng tan do nhiệt độ thấp hiệu
quả của nó như một tác nhân làm mát giảm đi rất nhiều. Vỏ cứng của nước đá và
cá sẽ tác động như một cái chăn cách nhiệt ngăn cản cá bên dưới được làm sạch
đầy đủ. Chỉ khi nước đá tan và chảy xuống qua các lớp cá thì sự lấy nhiệt đi (
Làm sạch) mới xảy ra. Chỉ riêng những mạng lưới làm mát lắp vào khoang cá được
cách nhiệt tốt, sẽ không làm mát cá hoặc không giữ chúng trong điều kiện lạnh.
3.2.12. Trừ trường hợp bảo quản trong thùng
với nước biển làm lạnh hoặc nước muối làm lạnh, không nên bảo quản cá cho người
ăn trong các khoang không phân chia thành các lô. Khoang của các tàu trở được
các loại cá như cá trích phải có ít nhất một vách ngăn khoang tàu dọc và một
vách ngăn ngang. Có thể tháo được khi tàu chuyển thành các loại tàu cá khác.
Nhưng vách ngăn khoang tàu như vậy phải được
tạo bằng vật liệu nhẵn, không hấp thụ, dễ làm sạch.
Việc trang bị các vách ngăn khoang tàu tháo
gỡ được làm tăng tính dễ thay đổi của các tàu cá và tránh được va đập của cá
bảo quản. Chúng cũng cho phép chuyển nhanh sang các loại bảo quản cá khác.
3.2.13. Khoảng không phân cách thành các
khuôn hoặc ô chứa phải có số lượng đủ các đường thoát nước bố trí cách đều dọc
theo khoang, thông với ống thoát nước trung tâm hoặc đáy tàu. Phải bố trí các
khe thoát nước dọc và ngang thân tàu chạy từ đầu boong đến đáy tàu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong một khoang có chứa các thùng, phải bố
trí những máng sàn, làm thoát nước ở tất cả các khu vực của khoang đến một bể
thoát nước ở đáy tàu. Các bể thoát nước ở đáy tàu của các khoang cá phải có đường
ống và van riêng biệt để cho nước cá và nhớt cá không chảy vào các đường đáy
tàu khác.
3.2.14. Không được có các cọc nhọn hoặc cho
lối ra trong khoang hoặc thùng vì chúng sẽ gây khó khăn cho việc tẩy rửa và có
khi làm cá bị tổn thương.
Sự nhiễm bẩn nhớt, máu, vảy và nội tạng cá sẽ
tăng lên nhanh chóng trên các bề mặt, trong các gói hoặc xung quanh các chỗ nhô
ra, gồ ghề khi những chỗ này không nhẵn và thấm nước.
Mọi chỗ nhô ra hoặc các ống dẫn, đầu dây nối
xích chạy ngang qua khoang, phải có kết cấu sao cho không ảnh hưởng đến tiêu nước
rễ làm sạch và không làm cá tổn thương.
3.2.15. Nước biển sạch làm lạnh hoặc nước
muối làm lạnh cũng có thể được dùng cho một số nghề cá.
Nhiệt độ bảo quản đạt được bởi nước biển sạch
hoặc nước muối làm lạnh cho phép có thể làm lạnh nhanh chóng những lượng lớn cá
trong thùng, và giữ cá trong điều kiện làm lạnh. Cá được làm lạnh nhanh hơn
bằng quá trình ngâm như vậy so với khi được ướp đá và nếu được bảo quản ở mật
độ đúng đắn thì cá luôn luôn được tiếp xúc chặt chẽ với môi trường làm lạnh.
Kiểu bảo quản này đạt kết quả khi những lượng
rất lớn cá con được đánh bắt trong mỗi mẻ lưới và khi có khó khăn trong việc
bảo quản nhanh chóng cá đánh được trong đá. Cho đến nay, nó chỉ được chứng tỏ
là có kết quả cho những chuyến đi biển rất ngắn ngày. Khi bảo quản dài ngày
hơn, có thể ảnh hưởng đến dạng bên ngoài của một số loài và ảnh hưởng do tác
động va chạm của cá khi cọ sát với nhau, trong một thùng nước, cũng có thể làm
tróc vảy một số loài cá.
Chưa có chứng cớ đầy đủ để kiến nghị dùng nước
biển đã được làm lạnh hoặc với nước muối đã được làm lạnh cho mọi loại nghề cá,
nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng đối với một số loài, đặc biệt là cá cá bơn Thái
Bình Dương, cá cá Hồi Thái Bình Dương và cá ngừ, thì đây là một phương pháp bảo
quản trên biển tốt.
3.2.16. Hệ thống nước biển được làm lạnh hoặc
nước muối được làm lạnh phải được thiết kế đúng để cho đủ khả năng làm lạnh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khả năng làm lạnh liên quan đến mức đánh bắt
có liên quan. Hệ thống phải đảm bảo làm lạnh nhanh các lượng cá lớn.
3.2.17. Trên tất cả các tàu sử dụng các hệ
thống nước biển lạnh và nước muối lạnh để bảo quản lượng cá đánh bắt, thùng,
các thiết bị trao đổi nhiệt, bơm và các đường ống nối phải được làm bằng vật
liệu chống ăn mòn thích hợp. Chúng phải được thiết kế để có thể dễ dàng làm
sạch và tẩy trùng.
Với những mặt phẳng cứng, không xốp như thép
không gỉ, hợp kim nhôm hoặc chất dẻo, các vi sinh vật cùng tất cả những vật phế
thải lắng đọng trong quá trình bảo quản cá, có thể dễ dàng lấy bỏ đi, do đó
giảm nguy cơ gây nhiễm bẩn những lượng cá đánh bắt sau. Vấn đề quan trọng là
tránh các góc và cạnh trong đó gét bẩn có thể tích tụ.
Toàn bộ hệ thống phải được thiết kế sao cho
các dung dịch làm sạch và tẩy trùng được dễ dàng đưa vào và dễ dàng lưu thông.
Không được có bất cứ chỗ nào không làm sạch được kỹ càng.
Phải nhớ rằng điều quan trọng là với việc bảo
quản bằng nước đá chỉ có một phần cá bảo quản có thể bị tổn thương, nhưng với nước
biển hoặc nước muối lạnh, mọi hoạt động sai sót của hệ thống hoặc mọi sơ suất
của nhân viên thao tác, có thể dẫn đến hậu quả là toàn bộ số lượng cá đánh bắt
bị bỏ do tổn thương.
3.2.18. Nơi nào dùng nước biển sạch hoặc nước
muối hoặc hỗn hợp nước đá để làm sạch và bảo quản lượng cá đánh bắt, phải có sự
lưu thông đầy đủ của chất lỏng.
Phải có các phương tiện có hiệu quả làm lưu
thông chất lỏng lạnh quanh khối cá. Nếu như các phương tiện bơm không đáp ứng được
làm lạnh thích đáng, dẫn đến hậu quả là cá có mùi rất khó chịu.
Hầm cá phải được trang bị hệ thống lưới lọc
hút đủ chắc để chịu đựng được áp suất của hỗn hợp cá, nước muối cũng như áp
suất âm ( hút) do bơm lưu thông tạo ra. Những hệ thống lưới lọc hút đó phải được
thiết kế và bố trí nhằm cho một dòng nước muối hoặc nước biển lạnh chảy qua đều
và không bị tắc.
3.2.19. Các thùng nước biển hoặc nước muối
làm lạnh, phải được cách nhiệt để giảm tới mức tối thiểu sự thẩm lậu nhiệt độ
của môi trường xung quanh và nhiệt độ của nước biển đã làm lạnh trong thùng sẽ
đồng đều hơn và dễ khống chế hơn nếu như sự thẩm lậu nhiệt từ các nguồn khác được
làm giảm do cách nhiệt có hiệu quả.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với cá tươi, thời hạn tối đa chưa bị ươn
thối đạt được ở nhiệt độ này. Nếu nhiệt độ bị giảm xuống dưới –10C
(300F), cá có thể bị hỏng do bị đông lạnh một phần. Trong thực tế,
cực kỳ khó trong việc khống chế chính xác nhiệt độ, nhưng có thể đạt được một
khoảng nhiệt độ từ –10C đến +20C (300F đến 340F).
Máy nén cũng phải có công suất vừa đủ để ngăn
ngừa sự tăng đáng kể nhiệt độ của nước biển hoặc dung dịch nước suối đã được
làm lạnh, trước khi các thùng bảo quản chứa đựng cá vừa đánh bắt.
Nhiệm vụ chính hàng đầu của hệ thống là làm
lạnh nhanh cá. Một khi đã hoàn thành việc làm lạnh ban đầu cá, việc duy trì
tiếp theo nhiệt độ thấp ổn định chỉ yêu cầu một phần của tải trọng máy nén. Độ
truyền dẫn nhiệt độ ở những thân cá lớn đã làm lạnh và nước muối sẽ ngăn ngừa được
những tăng giảm nhiệt độ đáng kể.
3.3. Phương tiện vệ sinh
3.3.1. Khu vực boong nơi đổ cá và xử lý, hoặc
khoang bảo quản cá chỉ được dùng riêng vào mục đích này.
Tất cả các khu vực đó phải được xác định rõ
ràng, sẵn sàng được duy trì điều kiện sạch sẽ và phải được giữ gìn sạch sẽ.
Việc bảo quản nhiên liệu và các sản phẩm dầu
mỏ khác, hoặc các chất tẩy rửa vệ sinh, phải được sắp xếp sao cho không có khả
năng gây nhiễm bẩn các bề mặt mà cá sẽ tiếp xúc.
Việc để cá tiếp xúc với sản phẩm dầu mỏ, dù
là trong thời gian ngắn, thường dẫn đến phải loại bỏ hoặc huỷ bỏ toàn bộ cá đem
bảo quản. Mùi và vị của cá bị nhiễm nhiên liệu hoặc các hợp chất tương tự khác
rất dai dẳng và khó mà trừ bỏ trong việc chế biến tiếp sau, và vì thế những cá
đó phải loại ra.
3.3.2. Phải cung cấp đầy đủ nước uống lạnh
hoặc nước biển sạch lạnh đủ áp lực ở đủ các chỗ trên suốt tàu cá. Trên các tàu
lớn có chế biến cá cũng phải có cung cấp nước nóng ở nhiệt độ tối thiểu là 620C
( 1800F).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cá khi sống có sức đề kháng tương đối với môi
trường bị ô nhiễm, nhưng nếu chết sau khi bị đánh bắt thì không còn sức đề
kháng tự nhiên đó nữa.
3.3.3. Nếu có điều kiện phải có hệ thống bơm
clo vào đường ống nước biển dùng để chế biến cá hoặc để rửa sạch tàu.
Đã xác định được rằng trong công nghiệp chế
biến cá, việc bơm Clo vào hệ thống cấp nước lạnh dùng cho việc tổng vệ sinh,
giúp cho việc khống chế sự nhiễm vi sinh vật.
Các tàu cá có trách nhiệm xử lý hoặc chế biến
các lượng lớn cá, có thể đạt được nhiều kết quả trong việc đảm bảo vệ sinh bằng
cách cho Clo vào các đường nước. Định lượng Clo phải vào khoảng 10ppm trong sử
dụng bình thường và 100ppm nồng độ dư lượng trong quá trình làm tổng vệ sinh.
Cần lưu ý là, việc sử dụng nước Clo hoá cao
trong các không gian hẹp như khoang tàu có thể gây dị ứng với người thao tác.
Vì vậy, một hệ thống bơm Clo phải có khả năng thay đổi được lượng Clo cho vào.
Trên thị trường có một số loại dụng cụ tương
đối rẻ và dễ sử dụng đáp ứng được nhiệm vụ đó với chi phí và bảo trì tối thiểu.
Việc lắp đặt hệ thống bơm Clo có thể không
thực tế đối với các tàu cá nhỏ.
3.3.4. Phải cung cấp nước biển sạch cho các
vòi trên boong, với đủ áp suất, bằng bơm chỉ dùng cho nước biển sạch.
Phải cung cấp đầy đủ nước biển sạch, đủ áp
suất, có thêm Clo nếu được, để rửa cá và để phun xối rửa boong, khoang, dụng cụ
và các trang thiết bị khác có tiếp xúc với cá.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đường ống cấp nước biển sạch không được nối
ngang với máy hoặc hệ thống làm mát của thiết bị ngưng. Đường ống phải có cấu
tạo sao cho ngăn ngừa được bất kỳ khả năng hút trở lại nước bẩn từ thùng rửa
của nhà bếp hoặc nhà vệ sinh.
3.3.5. Nước đá dùng trong mọi nghề cá phải làm
từ nước uống hoặc nước biển sạch, không bị ô nhiễm khi sản xuất, xử lý hoặc bảo
quản.
Nước đá làm từ nước không uống được, hoặc
không phải là nước biển sạch, có thể làm ô nhiễm cá bởi những vi sinh vật trong
nước hoặc những chất lạ hoặc thậm chí là chất gây hại. Sự ô nhiễm như vậy dẫn
đến hậu quả là làm giảm chất lượng, giảm thời gian bảo quản, hoặc có thể tạo ra
sự nguy hiểm nhất định đối với sức khoẻ.
Một số tàu đánh cá, thu gom hoặc chế biến cá
lớn hơn, có thể có máy làm đá riêng, nước dùng trong sản xuất nước đá, phải là
nước uống hoặc nước biển sạch. Chỗ lấy nước biển vào cho máy bơm phải ở mạn đối
diện, tách khỏi nơi thải nước bẩn và nước làm mát máy của tàu. Khi bơm Clo vào
đường nước hoặc vào thùng chứa nước, hoặc phải sử dụng ánh sáng cực tím cho
việc làm tinh khiết luồng nước liên tục. Cả hai hệ thống đều dễ sử dụng và
không tốn kém. Nước biển để làm nước đá chỉ được lấy ở các khu vực không bị ô
nhiễm và không thấy biến màu hoặc không đục.
Máy làm nước đá phải được làm sạch thường kỳ
và luôn giữ sạch sẽ, vệ sinh.
Khi tàu lấy nước đá đi biển, chỉ được lấy
xuống tàu nước đá sạch, mới làm, vào lúc sắp sửa xuất phát. Phải loại bỏ và
chuyển khỏi tàu nước đá còn lại của chuyến đi trước.
3.3.6. Phải có những kiến nghị cụ thể cho việc
sử dụng nước đá làm bằng nước biển sạch.
Việc dùng nước đá làm bằng nước biển sạch có
thể là cần thiết trong một số khu vực thiếu nước uống và cũng có thể có một vài
lợi ích trong việc dùng nước biển sạch để làm nước đá trên biển. Nhiệt độ chảy
ban đầu của nước đá làm bằng nước biển sạch có thể từ –50C đến –60C
(230 đến 210F), nhưng do sự tiết ra của muối trong nước
đá, nhiệt độ tan có thể tại tăng lên đến gần 00C (320F).
Do đó, nhiệt độ biến đổi có nguy cơ một số cá bảo quản trong nước đá bằng nước
biển sạch sẽ trở thành đông lạnh một phần hoặc quá mặn. Nên có một vài thí nghiệm
trước khi quyết định loại nước dùng để sản xuất nước đá.
3.3.7. Các phương tiện làm vệ sinh trên tàu,
tất cả các bơm và các đường ống thải phải có kết cấu sao cho không nhiễm bẩn
cá.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.3.8. Nơi nào mang theo mồi, phải giữ để mồi
không gây ô nhiễm lượng cá đánh bắt.
Những tàu cá phải dùng mồi để đánh bắt thì phải
có một ô chứa riêng biệt hoặc một thùng chứa đặc biệt để giữ và bảo vệ tốt mồi
cách ly khỏi lượng cá đánh bắt được. Khi đánh cá xong, phải loại bỏ nước đá
dùng để bảo quản mồi, không dùng lại cho cá tươi để người ăn.
3.3.9. Trên các con tàu cá lớn dùng để đánh
cá cũng như để chế biến cá, phải có những phương tiện thích hợp để rửa.
Các phương tiện đó phải được bố trí trong các
nhà vệ sinh và gần các khu vực xử lý hoặc chế biến cá. Chúng phải được cấp nước
sạch, xà phòng và khăn lau ( tốt nhất là có thể bày ra).
3.3.10. Tàu cá phải được trang bị bàn chải,
máy nạo, bơm hút nước, vòi và các trang bị để rửa và làm vệ sinh thích hợp
khác.
Tuy rằng có bán rất nhiều loại thiết bị làm
sạch và làm vệ sinh trên thị trường, các bàn chải tuy nhiều cỡ và hình dạng, có
chất lượng tốt, vẫn là những dụng cụ rẻ tiền nhất và vạn năng để làm vệ sinh.
Phải giữ các bàn chải sạch sẽ và nguyên vẹn, được tẩy trùng sau mỗi lần sử dụng
( nên ngâm trong dung dịch clo 50ppm) và khi không sử dụng đến thì phải bảo
quản ở trạng thái khô. Các bàn chải có thể gây bẩn và gây nhiễm vi sinh vật, vi
sinh vật sẽ phát triển ở bàn chải bẩn khi bảo quản trong điều kiện ẩm. phải
tránh dùng bản chải sợi thép để chà rửa, vì sẽ có nguy cơ thường xuyên đưa các
mẩu dây thép nhỏ, đôi khi khó thấy, vào thành phẩm. Nếu vì một vài lý do nào
đó, không thể làm sạch có hiệu quả bằng bàn chải tốt, thì có thể dùng tấm chà
có màu sáng và bằng nhựa. Thiết bị phun chất tẩy rửa hoặc nước có tần số cao,
hoàn toàn có hiệu quả trong việc làm sạch, nhưng nó thường yêu cầu người thao
tác có kinh nghiệm đề phòng làm hư hỏng các bề mặt sơn.
3.3.11. Nếu những vật liệu độc và có hại, bao
gồm cả những hợp chất làm sạch, các vật liệu sát trùng, và các chất trừ dịch
hại được bảo quản trên tàu, chúng phải được lưu giữ trong phòng cách biệt, dành
riêng và ghi dấu hiệu riêng cho mục đích này.
Phải hết sức thận trọng để đề phòng các vật
liệu độc và có hại, gây ô nhiễm cho cá. Tất cả các vật liệu đó phải được nghi
nhãn rõ ràng và nổi bật để không thể nhầm lẫn giữa chúng và các thức ăn được
dùng trên tàu. Các căn phòng đó phải khoá lại và các vật liệu trong đó chỉ được
các nhân viên đã được huấn luyện về cách sử dụng dùng đến.
3.4. Trang bị và dụng cụ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một số trang bị thường dùng trong công nghiệp
đánh cá hoàn toàn không thích hợp cho mục đích sử dụng. Phải suy nghĩ nhiều hơn
về việc thiết kế và bố trí lắp đặt các thiết bị và máy móc dùng cho việc xử lý,
vận chuyển và bảo quản cá tươi. Khi có thiết bị, chỉ được xét những thiết bị có
thể dùng tháo gỡ, để làm sạch được hoàn toàn.
3.4.2. Thiết bị rửa và vận chuyển cá phải được
chế tạo bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp và phải dễ tháo gỡ để làm sạch và
phải có các máng trượt, hoặc các phương tiện tương tự, vận chuyển cá đến
khoang. Máng trượt phải đủ chiều dài và phải lắp sao cho cá không phải rơi hơn
1m ( 3ft) xuống khoang. Máy rửa nếu được, phải có máng trượt hoặc băng tải để
xử lý có hiệu quả và để tránh làm bầm dập hoặc làm tổn thương cá, điều thường
hay xảy ra với các phương pháp làm bằng tay thô thiển. Phải thiết kế máy rửa,
để có thể rửa được đầy đủ và được cung cấp đầy đủ nước biển sạch, lạnh, liên
tục. Nước phải vào máy rửa qua một số chỗ tạo tia phun, sao cho tạo thành xoáy
nước trong máy rửa, để cho nước bẩn và váng bọt tràn đi và tiêu thoát. Nước đã
dùng để rửa cá và làm lạnh không được lưu thông trở lại.
3.4.3. Các băng tải dùng trong các khoang cá
phải làm bằng vật liệu chống ăn mòn và dễ tháo gỡ và lấy đi để rửa sạch.
Các khoang cá rất khó rửa thật sạch và mọi cấu
trúc dạng tấm, hoặc trang bị vận chuyển, phải dễ di chuyển được để có thể đưa
đến mọi chỗ của khoang cá.
3.4.4. Tất cả các đường ống, thùng, và các đồ
chứa khác dùng để xử lý và vận chuyển cá phải làm bằng vật liệu chống ăn mòn và
dễ rửa sạch.
ở nhiều khu vực, người ta dùng sọt để vận
chuyển cá trên bờ. Những sọt này rất khó làm sạch, do nhớt, máu, vảy và các
mảnh nhỏ phế liệu hoặc những phần của thân cá, dắt bên trong khung sọt. Nên
dùng các thùng chứa có bề mặt nhẵn không thấm nước, dễ làm sạch và sát trùng,
để vận chuyển cá trên bờ.
3.4.5. Nếu xử lý những lượng cá lớn trên các
tàu cá lớn, phải xét đến việc dùng những máy móc chuyên dùng để mổ cá và làm sạch.
ở nhiều nghề cá có nhu cầu ngày càng tiết
kiệm nhân lực, nhưng điều này không thực hiện được, nếu không sử dụng nhiều hơn
nữa, những phương tiện cơ giới để điều khiển ngư cụ và xử lý lượng cá đánh bắt.
Hai nhiệm vụ chủ yếu này được cùng một đội ngũ thủy thủ thực hiện.
Mổ cá, thường là một công đoạn đòi hỏi nhiều
thời gian nhất, có thể được dễ dàng tiến hành với một máy mổ cá. Những máy đã được
một số ngư dân ở các nước khác nhau triển khai và sử dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.4.6. Tất cả các thùng chứa để bảo quản cá
bằng đá phải có cỡ đồng nhất và thích hợp, dễ sử dụng khi chất đầy, và phải được
chế tạo bằng vật liệu thích hợp, chống ăn mòn.
Những thùng chứa như vậy phải chứa được những
loại cá lớn mà không bị uốn cong, và khi đã chứa đầy, phải dễ sử dụng với một
hoặc hai người mà không phải lật nghiêng hoặc quăng quật.
Nếu dùng thùng gỗ, chúng phải nhẵn và làm
bằng vật liệu bền, không độc và bọc vỏ không thấm nước.
Không được dùng giỏ để đựng cá trên tàu hoặc
trên bờ, do chúng khó làm sạch và sát trùng.
3.4.7. Xẻng và cào dùng để xúc cá, cũng phải
làm bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp, và phải giữ sạch. Những dụng cụ này
thường được sử dụng trong nhiều khâu xử lý, bốc dỡ cá và do đó phải đáp ứng
những quy định về vệ sinh như những trang bị và dụng cụ khác.
3.5. Yêu cầu về thao tác vệ sinh
3.5.1. Trước khi có cá đưa lên tàu, và giữ
mỗi mẻ lưới, boong, ván, cột chống và tất cả các thiết bị trên boong khác tiếp
xúc với cá, phải được xối rửa bằng nước biển sạch, và cọ rửa để loại bỏ các chỗ
bẩn, nhớt và máu trông thấy được.
Việc làm sạch này là nhằm loại bỏ tất cả các
vết của các chất gây ô nhiễm, như nhớt, máu, hắc ín, dầu.v.v... có thể gây ra
phai màu và các mùi khó chịu cho cá. Trên nhiều tàu việc làm sạch này cần tiến
hành trong khi lưới cá đang còn ở dưới nước.
Một vấn đề cũng quan trọng là phải cho bề mặt
boong và các ô chứa trên boong phải làm lạnh trước bằng cách xối nước sạch,
lạnh, trước khi cá được đổ xuống. Trong mùa ấm, nhiệt độ trên bề mặt boong có
thể rất cao. Do vậy, sẽ không đúng khi chất đống lượng cá đánh bắt trên boong
mà không quan tâm gì đến chất lượng của cá, nhất là đối với cá ở lớp đáy, mà
chắc chắn là sẽ tiếp xúc trực tiếp trong một thời gian dài với bề mặt nóng của
boong tàu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mỗi ghét bẩn, nhớt, máu hoặc vẩy, nếu để khô
và đông cứng lại trên các bề mặt mà cá tiếp xúc, sẽ rất khó tẩy đi, và do vậy
sẽ gây nhiễm bẩn đến các lô cá sau.
3.5.3. Trong những chuyến đánh cá, phải thường
xuyên tiêu nước bể thải đáy tàu khoang cá. Vào bất kỳ lúc nào cũng có thể thông
được bể thải.
Nước ở đáy tàu chứa máu và nhớt, nếu không được
thường xuyên bơm đi sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho việc phát triển vi sinh
vật và tạo ra mùi khó chịu trong khoang cá.
3.5.4. Đụt lưới và các phần khác nhau của ngư
cụ, tiếp xúc với cá, không được sót lại cá chết và các vật liệu hữu cơ sau mỗi
mẻ lưới. Tất cả các ngư cụ phải được làm sạch kỹ càng, sau khi đánh cá xong.
Cá chết và vật liệu hữu cơ còn lại trong lưới
sẽ phân huỷ và làm nhiễm bẩn các mẻ cá sau.
3.5.5. Không được dùng nước biển đã dùng để
làm mát động cơ, thiết bị ngưng hoặc thiết bị tương tự, để rửa cá, boong,
khoang hoặc mọi thiết bị có thể tiếp xúc với cá.
Nước dùng để làm nguội động cơ, thường ở
nhiệt độ cao hơn nước biển lạnh và có thể bị nhiễm bẩn dầu hoặc các sản phẩm
dầu mỏ khác, hoặc chứa gỉ và các sản phẩm phụ khác, do kim loại bị ăn mòn. Nước
đó, do vậy sẽ thúc đẩy nhanh chóng việc huỷ hoại cá do nâng cao nhiệt độ và có
thể gây mùi lạ hoặc phai màu không mong muốn.
3.5.6. Khi làm sạch và phun xối nước, trong
khi tàu đang đỗ ở cảng, phải dùng nước uống hoặc nước biển sạch. Nước phải luôn
luôn tránh bị nhiễm bẩn. Tổng số vi sinh vật trong đó phải thấp, và nước không
được chứa mọi vi sinh vật có hại đến sức khoẻ chung. Nhiễm bẩn do nước có vi
sinh vật và các chất có hại khác, sẽ dẫn đến hậu quả làm giảm chất lượng và có
thể trở nên có hại cho sức khoẻ. Nước ở cảng, thường là nước bị nhiễm bẩn nặng,
và không bao giờ được dùng nước đó để làm sạch. Điều này cũng đúng như nước ở
gần thành phố, làng mạc, xa nhà máy, cơ sở chế biến cá và các tàu chế biến.
3.5.7. Ngay sau khi lượng cá đánh bắt được dỡ
đi, boong và các thiết bị trên boong, phải được phun nước, cọ rửa, làm sạch kỹ
càng bằng chất tẩy rửa thích hợp, tẩy trùng và tráng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Điều quan trọng phải biết là việc rửa sạch kỹ
phải luôn làm trước khi tẩy trùng, đặc biệt là khi dùng chất Clo làm chất tẩy
trùng. Mọi chất hữu cơ, nếu không được lấy khỏi các bề mặt cần phải tẩy trùng,
sẽ nhanh chóng kết hợp với nó và vô hiệu hoá khả năng diệt vi sinh vật của clo,
hoặc bất kỳ một chất tẩy trùng nào khác.
3.5.8. Ngay sau khi lượng cá đánh bắt được đưa
lên bờ, khoang cá và bể thải đáy tàu cũng phải được tháo cạn hoàn toàn. Phải
làm sạch kỹ tất cả các bề mặt trong khoang các tấm chắn của ô chứa và bể thải
bằng một tác nhân làm sạch thích hợp, sát trùng và tráng rửa lại.
Điều này cần thiết để lấy đi tất cả nhớt. Cá,
máu và các cặn bã khác, ngay sau khi lượng cá đánh bắt được đưa lên bờ, nhằm
tránh sự phát triển của vi sinh vật, các mùi khó chịu và việc làm khô các cặn
bã trên khoang, và các bề mặt khác. Phải hoàn thành việc làm sạch trước khi nước
đá mới đựợc đưa xuống tàu cho chuyến đi sắp tới.
3.5.9. Trên các tàu dùng các hệ thống nước
biển làm lạnh hoặc nước muối làm lạnh, để bảo quản lượng cá đánh bắt, tất cả
các bể chứa, bơm, các thiết bị trao đổi nhiệt và các trang bị kết hợp khác,
phải được làm sạch ngay sau khi chuyển lượng cá đánh bắt đi. Phải cho nước
uống, nước biển sạch có chứa một tác nhân làm sạch thích hợp, lưu thông qua tất
cả các bộ phận của hệ thống. Các bể chứa phải được kiểm tra cẩn thận và làm
sạch bằng cọ rửa nếu cần.
Do các vi sinh vật yếu khí hoạt động đặc biệt
trong điều kiện bảo quản ở bể chứa, yêu cầu phải có tiêu chuẩn rất cao về vệ
sinh, để tránh sự phát triển của chúng và sự lan truyền ở ô nhiễm từ bể này qua
bể khác.
Ngay sau khi chuyển cá đi, khi các bề mặt
đang còn ướt, các bể chứa phải được rửa bằng nước uống lạnh hoặc nước biển
sạch, dưới áp suất đủ, sau đó cọ bằng bàn chải, với dung dịch tẩy rửa kiềm, rồi
tráng rửa lại bằng nước ấm và nước lạnh.
Phải xối rửa kỹ tất cả bơm, đường ống và tất cả
thiết bị trao đổi nhiệt pha nước lạnh, sạch, uống được hoặc nước biển sạch,
tiếp theo là cho lưu thông qua hệ thống, một dung dịch kiềm nóng hoặc nước lạnh,
có thêm chất làm sạch mạnh. Sau khi tráng rửa lại bằng nước uống hoặc nước biển
sạch, phải cho lưu thông qua hệ thống, chất sát trùng thích hợp. Nhiều người
đánh cá có kinh nghiệm là để lại trong hệ thống một dung dịch loãng chất sát
trùng không ăn mòn. Tất nhiên phải tháo chảy đi và tráng rửa lại đầy đủ bằng nước
uống hoặc nước biển sạch trước khi cho cá vào bể chứa.
3.5.10. Nếu dùng nước biển sạch để bảo quản
cá, thì chỉ được dùng nước biển sạch và phải thay nước này càng nhiều càng tốt,
để ngăn ngừa sự tích tụ các chất gây ô nhiễm.
Sử dụng nước biển bị ô nhiễm bởi nước thải hoặc
các chất thải công nghiệp, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của cá đánh bắt được làm
cho chúng không dùng được cho con người.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.5.11. Nếu đặt các ghế dài để mổ cá phải có
lắp các máng hoặc cầu trượt có nước biển sạch cấp liên tục để đưa nội tạng ra
khỏi tàu, hoặc vào một thùng chứa thích hợp. Nếu cá bị ô nhiễm bởi phế liệu cá
và ghét bẩn do khâu mổ cá, tỷ lệ bị ươn thối sẽ tăng lên, và tất cả các bề mặt
có dính nội tạng, cũng sẽ bị nhiễm bẩn. Việc bố trí các ghế dài để mổ cá, làm
cho công việc dễ hơn, nhưng phải chú ý sao cho các ghế dài đó được giữ sạch sẽ.
Nếu đổ các phế thải cá xuống vùng nước xung
quanh, cần phải xét đến khả năng bị ô nhiễm nặng, nhất là khi được tiến hành ở
những vùng nước được bảo vệ, gần với những bến công cộng hoặc các vùng có người
ở.
3.5.12. Cần chú ý thích đáng để đảm bảo rằng,
những phế thải do sinh hoạt và những phế thải khác của tàu cá xả đi, không tạo
thành một mối nguy hiểm cho sức khoẻ chung và vệ sinh.
Với sự quan tâm ngày càng tăng của con người
đối với việc bảo vệ môi trường sống của mình, một số nước, pháp luật hạn chế
việc đổ mọi phế thải của tàu xuống các vùng nước xung quanh.
Người đánh cá phải có ý thức đầy đủ về trách
nhiệm của mình trong vấn đề này. Không được đổ phế thải của vật, người hoặc bất
kỳ phế thải nào khác của tàu xuống vùng nước được bảo vệ, gần những khu vực dân
cư, hoặc những vùng nuôi nhuyễn thể có vỏ cứng.
3.5.13. Phải có những biện pháp hữu hiệu để
bảo vệ tàu cá chống côn trùng, loài gặm nhấm, chim hoặc các vật hại khác.
Loài gặm nhấm, chim và côn trùng, đều có thể
là vật mang nhiều loại bệnh có thể truyền cho người, bằng cách nhiễm vào cá.
Phải thường xuyên kiểm tra tàu cá về các dấu hiệu bị nhiễm trùng, và khi có các
yêu cầu, phải có các biện pháp kiểm tra hữu hiệu.
Tất cả những loại thuốc chống loài gặm nhấm,
chất hun khói hoặc các chất có hại khác, chỉ được dùng theo đúng các khuyến cáo
của cơ quan có thẩm quyền tương ứng.
3.5.14. Phải không được cho chó, mèo và các
súc vật khác vào khu vực nhận, xử lý, chế biến và bảo quản cá trên tàu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.5.15. Khi tàu chuyển sang bảo quản cá trong
nước đá để người tiêu thụ, sau khi đánh bắt những loài như cá trích, nhằm những
mục đích tiết chế, phải làm sạch kỹ, tẩy trùng, rửa khoang và đáy tàu.
Phải tiến hành làm sạch bằng nước uống và nước
biển sạch với áp suất cao, có chứa chất làm sạch thích hợp, tiếp theo là rửa kỹ
lại. Phải phun chất tẩy trùng thích hợp lên tất cả các bề mặt và để tiếp xúc đủ
thời gian để đảm bảo việc tẩy trùng. Phải luôn theo đúng những chỉ dẫn của người
sản xuất về nồng độ và thời gian xử lý, khi dùng những sản phẩm thương mại.
Cuối cùng phải rửa kỹ khoang bằng nước uống hoặc nước biển sạch.
3.5.16. Những thứ cung cấp cho bếp ăn của tàu
hoặc nhà ăn của thuỷ thủ, không bao giờ được bảo quản trong những thùng nước đã
đựng cá.
Bảo quản những thứ đó trong nước đá để dùng
cho cá có thể làm nhiễm bẩn nước đá và cá.
3.6. Xử lý lượng cá đánh bắt trên tàu
3.6.1. Thời gian cho một chuyến đi đánh cá
đối với một tàu cá phải được xác định bởi các phương tiện có trên tàu, để xử lý
giữ lượng cá đánh bắt được làm lạnh đầy đủ, khoảng cách đến nhà máy chế biến và
điều kiện môi trường quanh đó. Bắt đầu từ lúc cá được đánh bắt thì xảy ra sự
huỷ hoại về chất lượng một cách liên tục và không thể đảo ngược được. Sự tiến
triển về mức hủy hoại đó được quyết định chủ yếu do thời gian cá được bảo quản
và nhiệt độ mà cá được xử lý và bảo quản trên tàu cá. Với những khoảng cách
ngắn đến nhà máy chế biến, hoặc chợ, thì thời gian ở bãi cá có thể lâu hơn, chỉ
cần tàu được trang bị những phương tiện thích hợp để xử lý, làm lạnh có hiệu
quả và giữ lượng cá đánh bắt ở nhiệt độ thấp.
3.6.2. Việc xử lý mẻ cá phải bắt đầu ngay sau
khi đưa lên tàu. Con cá nào người không dùng được phải loại bỏ ngay khỏi mẻ cá
và để riêng.
Phải phân loại mẻ cá ngay sau khi cá được đưa
lên tàu, để loại bỏ ngay sau đó những con không thích hợp cho người dùng. Các
mẻ cá có nhiều loại lẫn lộn phải được phân loại nhanh chóng không phải chỉ vì
lý do nêu trên, mà còn cũng để tránh những hư hại có thể do trầy da, đặc biệt
khi mẻ cá bao gồm những loài cá có da nhám và có gai và để đề phòng việc lây
lan mùi khó chịu, có thể ảnh hưởng đến chất lượng cảm quan của các loài khác.
3.6.3. ở nơi có yêu cầu phải giữ lại những
loài cá không thích hợp giành làm thực phẩm cho người, những loài này luôn luôn
được lựa chọn từ mẻ cá ăn được và luôn được giữ riêng biệt.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.6.4. Không được dẫm nát hoặc dẫm lên trên cá,
và không được chất đống cao trên boong.
Mọi huỷ hoại vật chất do để nát, làm bầm dập,
chà xát hoặc làm vụn nát càng làm cá bị tổn thương và làm giảm giá trị của cá
dùng để chế biến thực phẩm sau đó.
3.6.5. Phải che cho cá trên boong không bị
nắng, sương mù và tác động làm khô của gió.
Điều cốt yếu là ngăn không cho nhiệt độ của
cá tăng. Mỗi độ tăng lên của nhiệt độ làm tăng tỷ lệ hư hỏng. Nếu mẻ cá phải để
trên boong trong một thời gian, nó phải được bảo vệ bằng vải bạt, nước đá hoặc
thậm chí bằng vải bao bì ướt, sạch. Phơi khô sẽ làm giảm giá trị thị trường do
làm hỏng dạng bên ngoài và có thể gây ôi. Cũng cần tránh làm đông lạnh chậm mẻ cá
trên boong, ở những khu vực có nhiệt độ thấp.
Nếu tàu không có boong, phải có thùng chứa
sạch, tốt nhất là cách nhiệt và có nắp để bảo vệ mẻ cá.
3.6.6. Nếu được phải “làm chết” cá được câu
ngay sau khi đánh lên tàu.
Nếu để cho cá quẫy trên boong, không những
chúng có thể bị tâm tím mà còn có thể bị kiệt sức trước khi chết và làm chất lượng
cá bị sút kém.
Tất nhiên phải nhận rằng không thể làm chết
cá con, chỉ được làm choáng trên tàu và với một số cá, tốt nhất là làm trong
khi chúng đang còn ở dưới nước. Phải đưa cá lên bờ bằng cách móc vào mang hơn
là lao mấu vào mình cá hoặc nhấc lên bằng đuôi, do đó làm cho da bạc màu cục bộ
và thịt bị tách ra.
3.6.7. Khi phải lấy máu cá, phải tiến hành
ngay sau khi cá được đưa lên boong.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Với một số loài cá, nên lấy máu trước khi mổ.
Mặt khác ở một số nghề cá, cá được lấy máu bằng cách mổ. Trong trường hợp sau,
cá có thể lấy máu ra nhiều hơn khi cá vừa mới đánh bắt. Nhằm mục đích này, người
đánh cá phải kéo những mẻ lưới nhanh, nhằm mang được cá sống lên tàu.
Nếu lấy máu và mổ cá chết, hoặc cá “đã đẻ hết
trứng”, thì những miếng phile cắt từ loại cá đó, sẽ bị bạc màu rõ rệt, so với
dạng bên ngoài của cá đã được lấy máu đúng.
3.6.8. Phải bắt đầu mổ cá ngay sau khi mẻ cá
lên đến boong.
Lý do phải mổ ngay là trước hết để cắt một số
mạch máu chính, để cá róc máu và sau đó là lấy dạ dày và nội tạng, nếu không sẽ
làm nhão thịt và làm cá hỏng nhanh. Cá mà nội tạng đầy thức ăn, sẽ bị hỏng
nhanh hơn. Tuy rằng, với hầu hết các loài cá, nên mổ ngay, ở một số nghề cá,
không thể xử lý mẻ cá kịp và những lợi ích do mổ cá có thể bị ảnh hưởng trở lại
do giảm sút chất lượng vì nhiệt độ cá tăng. Trong những hoàn cảnh như vậy, tốt
nhất nên cho đậy cá và làm lạnh nhanh hơn là trì hoãn làm lạnh bằng cách mổ cá.
3.6.9. Nơi không có điều kiện mổ kịp cá, phải
rửa và làm lạnh cá nguyên con, ngay khi đưa lên boong.
Điều này giúp loại bỏ rác bẩn, đặc biệt là
các chất trong ruột của cá bị ép ra ngoài trong mẻ lưới, và giúp ngăn ngừa sự
nhiễm bẩn quá mức, trong khâu mổ và xử lý sau đó.
Rửa cá kỹ càng sẽ giảm bớt rõ rệt số vi sinh
vật gây hư hỏng và loại bỏ một số endim phân giải prôtêin của nội tạng cá.
3.6.10. Thường không thể mổ cá quá nhỏ. Do
vậy phải nhanh chóng cho loại này vào bảo quản lạnh.
Bất kỳ một sự chậm chễ nào trong việc làm
lạnh cá nguyên con quá nhỏ, sẽ có tác động ngược lại đối với chất lượng của
chúng. Không nhanh chóng bảo quản những loại cá này, có thể sẽ làm cho chúng
phải chịu tác động của thời tiết, cũng như những hủy hoại vật chất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu không lấy hết những mảnh ruột hoặc gan cá
ra, sẽ tác động như những trung tâm phát triển sự huỷ hoại. Các endim của những
mảnh nội tạng và gan sẽ tiêu hoá thịt và tạo thuận lợi cho sự xâm nhập của vi
sinh vật. Mổ cá không cẩn thận, ví dụ như cắt ngang qua hậu môn của cá, cũng sẽ
để cho vi sinh vật xâm nhập vào thịt cá. Tuy nhiên vết mổ phải đủ để dễ mở được
khoang bụng và lấy đi hoàn toàn các nội tạng.
3.6.12. Không được để cho các nội tạng của cá
làm nhiễm bẩn các con cá khác trên boong.
Nội tạng cá chứa các endim tiêu hoá và các vi
sinh vật huỷ hoại. Nếu làm vấy bẩn phần cá còn lại, thì tỷ lệ huỷ hoại sẽ tăng
lên. Có thể ngăn ngừa sự nhiễm bẩn này bằng cách bỏ nội tạng cá vào các thùng
chứa kín nước thích hợp, hoặc bỏ vào các máng trượt thải qua mạn tàu.
Khi đổ phế thải xuống vùng nước xung quanh,
phải xét đến khả năng ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là nếu việc này được tiến hành
trong vùng nước được bảo vệ, gần các bãi biển công cộng, hoặc các vùng có người
ở.
Với các tàu lớn hơn, có nhiều cá hơn, phải xử
lý, các phế thải gom được có thể dễ dàng chế biến thành bột cá. Những loại máy
đó được triển khai rộng rãi để trang bị cho các tàu cá và có sẵn trên thị trường.
3.6.13. Phải có các phương tiện bảo quản
riêng biệt và đầy đủ cho trứng cá, sẹ và gan nếu những thứ này được gom lại để
tận dụng.
Trong một vài nghề cá, một số sản phẩm phụ của
khâu mổ được dành để làm thực phẩm cho người như trứng cá và sẹ, hoặc được dùng
trong công nghệ dược phẩm, như gan cá dùng để chiết vitamin.
Tất cả các sản phẩm phụ này phải được bảo
quản tách biệt khỏi cá tươi để người sử dụng và phải đưọc làm lạnh tốt, bảo vệ
chống ánh nắng, mưa, gió và sương. Trứng cá đông lạnh không tốt có thể hư hỏng.
3.6.14. Ngay sau khi mổ, phải rửa cá với nước
biển sạch hoặc nước uống được.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nước ở cảng thế nào cũng luôn luôn bị ô
nhiễm, không được dùng để rửa cá.
3.6.15. Sau khi rửa cá xong phải tiến hành xử
lý tiếp không chậm trễ. Mọi trì hoãn trong việc xử lý cá đã rửa trước khi làm
lạnh, làm giảm thời gian bảo quản tiềm tàng.
Do vậy, với thời gian ngắn nhất có thể được,
cá phải được ướp đá hoặc ngâm trong nước đá, để đưa nhiệt độ của chúng xuống 00C
( 320F) càng nhanh càng tốt.
ở nhiệt độ cao hơn, nếu chậm đi một giờ có
thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng thành phẩm.
Phải tránh làm lạnh cá chất đống bằng không
khí lạnh, hoặc chỉ bằng cách ướp đá trên đỉnh ( Phủ đá) . Phải lưu ý rằng, làm
lạnh nhanh cá mới đánh bắt, cũng sẽ làm chậm sự xâm nhập, thời gian và sự căng
thẳng trong các giai đoạn của sự cứng thân. Tuy rằng, vấn đề này liên quan chủ
yếu đến chất lượng của cá đông lạnh, nó cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng
của cá mới đánh bắt khi chúng bị để không được bảo vệ trên boong, có nhiệt độ
cao.
ở nhiệt độ như vậy, các cơ bắp được làm cứng
nhanh, do đó tạo ra những ứng suất bên trong, có thể dẫn đến vỡ các mô cơ bắp.
ở một số loài cá, sự nghiêm trọng và nhanh chóng của phản ứng này, có tác hại
đến chất lượng cá.
Đối với nhiều người mua, dấu hiệu của sự cứng
thân, đồng nghĩa với sự tươi. Khi sự cứng thân đã hết, cơ bắp trở nên nhão và
cá bị “lõm” dễ dàng khi ấn nhẹ.
3.6.16. Không được để các cửa khoang mở lâu
quá mức cần thiết để bốc xếp cá.
Chỉ được để mở một khoang để bốc xếp cá và đề
phòng sự dò nhiệt không mong muốn vào khoang cá. Nếu hai hoặc nhiều cửa mở cùng
một lúc, luồng không khí ấm có thể tràn vào khoang cá, làm tan đá.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Không bao giờ được nhấc những con cá nặng lên
bằng đuôi, hoặc để chúng rơi bằng đuôi xuống khoang.
Để xử lý cá, không đuợc sử dụng bừa bãi những
dụng cụ như dĩa, xẻng, cào và lao mấu. Những dập nát do những dụng cụ sắc nhọn
đó gây ra sẽ rút ngắn thời gian sử dụng của cá, huỷ hoại chất lượng và giảm sự
thu hồi khi qua chế biến.
Cá là thực phẩm cực kỳ rễ hỏng phải luôn được
xử lý hết sức thận trọng.
3.6.18. Phải làm lạnh cá nhanh trong nước đá
đang tan và phải bảo quản sao cho nhiệt độ không tăng. Tuy nhiên, để bảo quản
ngắn hạn, có thể dùng nước biển làm lạnh hoặc nước muối làm lạnh.
Đã biết rõ ràng, nhiệt độ là yếu tố độc nhất
quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng bảo quản cá. Đã chứng minh rằng, cá bị hư
hỏng nhanh gấp 5,5 lần ở 100C (500F) và khoảng 2,5 lần ở
4,40C (400F) so với ở 00C (320F).
Nói cách khác, cá thu vẫn ăn được trong khoảng 14 ngày nếu bảo quản ở 00C
(320F), sẽ chỉ ăn được trong 6 ngày nếu bảo quản ở 4.40C
(400F) và ít hơn 3 ngày nếu bảo quản ở 100C (500F).
Cũng biết rằng, ảnh hưởng của nhiệt độ gia tăng là quá trình tích luỹ, có nghĩa
là thời gian bảo quản tối đa bị bớt đi, mỗi khi nhiệt độ của cá bị nâng lên.
Mức độ của sự bớt đi đó phụ thuộc vào mức tăng nhiệt độ và độ dài của thời gian
mà cá chịu nhiệt độ cao hơn. Do đó vấn đề quan trọng nhất là làm lạnh nhanh
chóng cá đến nhiệt độ của nước đá chảy, ngay sau khi đánh bắt và giữ nó ở nhiệt
độ làm lạnh cho đến khi đến tay người tiêu dùng. ở một số khu vực dùng nước
biển được làm lạnh hoặc nước muối được làm lạnh để làm lạnh và bảo quản cá, ở
đây nữa việc làm lạnh phải nhanh chóng và hệ thống phải có khả năng giữ cá ở -10C
(300F).
3.6.19. Phải bảo quản cá trong nước đá thành
các lớp mỏng.
Việc bảo quản thành đống, cố cho xen kẽ nhiều
nhất các lớp mỏng cá trộn kỹ với nước đá đập nhỏ. ở một số nghề cá, cần có sự
chung hoà, bởi vì ít khi có thể bảo quản toàn bộ mẻ cá thành các lớp rất mỏng.
Có lẽ chưa có thể xác nhận rằng cá ở đáy một đống sâu, có thể mất một khối lượng
lớn. Ví dụ như thấy rằng cá thu chấm đen ở đáy một đống cao 1m ( 3ft )
có thể mất 15 phần trăm của khối lượng móc
hàm, sau khoảng hai tuần bảo quản.
3.6.20. Không nên bảo quản trên giá, trừ trường
hợp cá được những lớp nước đá bao phủ hoàn toàn. Thực tế bảo quản trên giá quy
định việc xếp các lớp cá bên cạnh nhau và trở đầu đuôi, bụng cá nằm trên lớp
đá, nhưng không được có nước ở bên hoặc bên trên cá. Cá đặt như vậy chỉ được
làm lạnh một bên và do đó được làm lạnh không nhanh bằng cá trộn với nước đá. Lưng
và đầu cá có thể vẫn hoàn toàn ấm trong thời gian bảo quản, và các loại vi sinh
vật xuất phát từ mang cá, có thể phát triển dọc theo xương sống. Cá bảo quản
trên giá, kém chất lượng so với cá được bảo quản trộn đều thành đống, trong
cùng một thời gian bảo quản.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.6.21. Phải chất đủ đá quanh cá
Cần phải có đủ nước đá không chỉ để làm lạnh,
mà còn để giữ cá trong điều kiện lạnh. Phải có đủ nước đá để đối phó với mọi sự
rò nhiệt vào khoang cá, và nước đá phải được phân bố đều, nếu cuối mỗi chuyến
đi, cá không được đá bao quanh hoàn toàn, đó là do không đủ nước đá. Khó mà quy
định lượng yêu cầu chính xác, nhưng việc ướp đá phải nặng nhất ở mạn tàu và đầu
mũi. Sự rò nhiệt vào khoang sẽ phụ thuộc vào kết cấu của khoang, nhiệt độ của
biển xung quanh và khu vực của tàu tiếp nối với khoang cá, ở những vùng nước
ấm, cần phải dùng những tỷ lệ nước đá lớn hơn là những vùng khí hậu lạnh hơn và
lượng đá cũng sẽ phụ thuộc vào việc cách nhiệt của khoang. Phải nhấn mạnh rằng,
lượng nước đá đúng yêu cầu, được thực hiện cho từng tàu riêng biệt bằng cách
kiểm chứng. Cuối cùng là, cách tốt nhất để xác định lượng nước đá đủ là thỉnh
thoảng lại đo nhiệt độ của cá. ở nhiều nước, những tổ chức nghiên cứu về nghề
cá có thể góp ý kiến về cách đo những nhiệt độ này.
Bảo quản cá trong nước đá, thường được thực
hiên trên các tàu cá đi biển vài ngày hoặc hơn nhưng nhiều tàu nhỏ ven bờ không
dùng nước đá hoặc bất kỳ một hình thức bảo quản nào khác, do đó thường xảy ra
giảm sút to lớn và không cần thiết về chất lượng cá.
3.6.22. Cũng phải dùng nước đá để ngăn ngừa
sự tiếp xúc với tất cả các bề mặt trong khoang cá.
Cần đề phòng cá tiếp xúc với mạn tàu, vách
ngăn khoang và tất cả các cấu trúc của khoang cá. Nếu cá bị ép vào các bề mặt
đó hoặc ngay cá ép lẫn vào nhau, thì không khí bị đẩy ra ngoài, một kiểu xâm
nhập đặc biệt do sự huỷ hoại của vi sinh vật gây ra và cá lẽ ra được chứng nhận
là ở điều kiện tốt, thì đã trở nên không thể ăn được do sự phát triển của các
mùi vị khó chịu. Ướp lạnh không đầy đủ có thể dẫn đến kết quả làm cho cá tiếp
xúc với các bề mặt đó.
3.6.23. Phải luôn luôn dùng nước đá đập nhỏ
cho trực tiếp tiếp xúc với cá.
Để luôn giữ được sự tiếp xúc trực tiếp với
cá, phải luôn luôn đập nhỏ nước đá, dưới dạng này hay dạng khác, dùng để làm
lạnh và bảo quản.
Những cục nước đá lớn, có thể huỷ hoại cá, và
kém hiệu quả trong việc làm lạnh, vì có ít diện tích tiếp xúc với cá. ở nhiều
nghề cá đã sử dụng những dạng nước đá khác nhau; yếu tố quan trong là chúng
phải được làm từ nước uống hoặc nước biển sạch, và gồm những mảnh đập vụn, để
làm tăng hiệu quả làm lạnh của chúng.
3.6.24. Nếu bảo quản trong thùng, cá phải được
ướp đá đầy đủ, và thùng không quá đầy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nói chung cá ướp đá trong thùng phải có chất
lượng cao hơn các loại cá cùng bắt được trong ngày, bảo quản bằng các cách
khác. Mẻ cá mỗi ngày, cũng có thể được phân riêng ra một cách rễ dàng hơn. Do
thùng được xếp cái nọ trên nóc cái kia trong khoang cá, đổ quá đầy đá hoặc cá,
sẽ làm cho cá bị nghiền và dập nát. Để việc làm lạnh có hiệu quả, mỗi thùng
phải có một lớp nước đá ở đáy, sau đó là cá và nước đá trộn lẫn với nhau, và
cuối cùng là một lớp nước đá trên mặt. Không được để lẫn lộn các thùng cá với
các phương pháp bảo quản khác trong cùng một chuyến đánh cá.
3.6.25. Không được đóng thùng cá trong nước
biển làm lạnh hoặc nước muối làm lạnh với mật độ lớn hơn 800 kg một mét khối (
50 Lb một fút khối).
Nếu cho quá nhiều cá vào trong các thùng
chứa, sẽ không có đủ không gian cho việc lưu thông tự do của nước biển, hoặc nước
muối làm lạnh qua khối cá và do vậy một số cá sẽ không được làm lạnh một cách
có hiệu quả.
Việc chất quá tải vào thùng chứa, cũng sẽ
tăng thêm một trọng tải phụ đối với thiết bị làm lạnh, trong trường hợp đó, cần
có một thời gian lâu hơn, mới đạt được nhiệt độ mong muốn, hoặc có khi không
đạt đến được điều kiện nhiệt độ đó. Mật độ cá nêu trên, là giới hạn trên và có
thể là cao đối với một số loài cá.
3.6.26. Khi làm lạnh các thùng chứa để bảo
quản bằng nước biển hoặc nước muối, bằng cách cho thêm nước đá, phải duy trì
nồng độ muối vào khoảng 3 phần trăm.
Trong thực tế, có thể đạt được điều này, bằng
cách cho thêm muối với lượng được điều chỉnh theo lượng nước đá dùng. Nếu nước
biển hoặc nước muối quá loãng, cá có thể hấp thụ nước và do đó chất lượng bị
ảnh hưởng.
3.6.27. Phải giữ sơ đồ bảo quản trên tàu cá
trong một hoặc hai ngày. Sơ đồ bảo quản chuẩn bị tốt, cho phép giữ được những
mẻ cá hàng ngày riêng biệt khi bốc dỡ cá. Cá thuộc những mẻ cá của những ngày
khác nhau, không được bảo quản lẫn lộn với nhau.
3.7. Bốc dỡ mẻ cá
3.7.1. Phải tiến hành bốc dỡ mẻ cá thận trọng
và không kéo dài.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Có các thiết bị đưa cá lên bờ, nơi nào có thể
thì bốc dỡ mẻ cá từ tàu đến băng tải trên cầu tàu trong một thời gian tương đối
ngắn. Một cầu tàu như vậy, dùng để kiểm tra nhanh mẻ cá, và sẽ làm tan băng cá,
rửa phun tia cá và đưa từng con qua cân tự động, ghi khối lượng hoặc thiết bị
đếm cá từng con.
Phải chế tạo các thiết bị như vậy bằng vật liệu
chống ăn mòn thích hợp, và thiết kế sao cho, không nhiễm bẩn hoặc tổn thương
cá, hoặc làm cho nhiệt độ của cá tăng lên. Cần có một lượng lớn nước uống lạnh
hoặc nước biển sạch để làm tan băng và rửa cá.
3.7.2. Khi kết thúc chuyến đi đánh cá, phải
loại bỏ tất cả nước đá không dùng đến, trước khi làm vệ sinh.
Nước đá còn lại trong khoang cá, ngay cả nếu
khi không sử dụng trong chuyến đi trước, có thể bị nhiễm các vi sinh vật huỷ
hoại cá. Nếu lại dùng nước đá này trong các chuyến đi sau để làm lạnh cá, có thể
làm cho mẻ cá bị tổn thương nhanh.
3.7.3. Phải tránh trộn lẫn các mẻ cá của các
ngày khác nhau, trong khi bốc dỡ.
Các lô cá, chất lượng lẫn loại, thường bán
với giá thấp hơn trên thị trường. Cá có chất lượng kém hơn, sẽ mau chóng gây
nhiễm bẩn cá có chất lượng cao hơn, nếu chúng để lẫn với nhau. Một sơ đồ bảo
quản tốt, chỉ rõ vị trí của mỗi mẻ cá, hàng ngày trong khoang, có thể giúp
tránh trộn lẫn các mẻ cá.
3.7.4. Không được làm cá tổn thương trong khi
bốc dỡ.
Như đã nói trên, phải tránh dùng móc, xẻng,
dĩa và các phương tiện tương tự khác, để bốc dỡ mẻ cá, nhằm tránh cho cá không
bị tổn thương. Nếu dùng các phương tiện đó, phải hết sức cẩn thận. Làm rách
thịt cá, sẽ làm giảm giá trị của cá và đẩy nhanh sự huỷ hoại.
3.7.5. Nơi có điều kiện, phải dùng thiết bị
bốc dỡ cơ giới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.7.6. Phải bốc dỡ các mẻ cá bảo quản rời
hoặc trên giá vào các thùng chứa sạch, và ngay lập tức để ở các khu vực có che
chắn thích hợp. Khi đó, phải giữ cho mẻ cá ở điều kiện làm lạnh.
Không được để cá nằm trên sàn hoặc trên các
bề mặt không sạch khác, và không được để trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời. Dùng
các thùng chứa sạch và một lượng cá đủ sẽ làm tăng thời hạn bảo quản.
3.7.7. Phải giữ cho cá không bị tổn thương
hoặc nhiễm bẩn trong quá trình phân loại, cân và chuyển vào thùng chứa.
Sự tổn thương có thể làm tăng tốc độ ươn và
những cá bị tổn thương nặng, không thể dùng để chế biến.
3.7.8. Khi các tàu dùng nước muối, hoặc nước
biển đã làm lạnh, được bốc dỡ hàng bằng băng và si phông, nước bổ sung, hoặc
gọi là “nước bù”, phải có cùng một nhiệt độ và chất lượng vệ sinh, như nước
muối gốc.
Việc bốc dỡ hàng của các tàu dùng nước biển
đã làm lạnh, có thể thực hiện bằng guồng hoặc dùng bơm si phông.
Nếu dùng bơm, hoặc si phông, phải để lại một
lượng khá lớn nước biển đã làm lạnh, làm môi trường vận chuyển cá, ở đầu ra của
hệ thống.
Để giữ nước và thể tích nước cần thiết, nhằm hoàn
thành việc bốc dỡ hàng, phải cho thêm vào hệ thống nước bổ sung (“bù”) từ nguồn
bên ngoài.
Chỉ được dùng nước biển sạch, lạnh hoặc nước
muối, hoặc nước uống để bổ sung cho lượng mất của nước muối gốc, trừ phi có thể
đề ra một phương pháp thu hồi nước muối gốc, ở đầu cho cá ra của hệ thống và được
nó tuần hoàn trở về.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.8.1. Mỗi tàu cá nên phát triển một chương
trình kiểm tra vệ sinh riêng của mình, bằng cách lôi cuốn toàn bộ thuỷ thủ vào
và bằng cách giao cho từng thành viên, một nhiệm vụ xác định, trong việc làm
sạch và tẩy trùng tàu.
Phải đề ra kế hoạch thường xuyên làm sạch và
tẩy trùng, để đảm bảo cho toàn bộ các phần của tàu và thiết bị trên đó, được
làm sạch đầy đủ và thường xuyên.
Người đánh cá phải được huấn luyện kỹ trong
việc sử dụng các dụng cụ làm sạch, cách tháo thiết bị làm sạch, và phải hiểu
biết về ý nghĩa của việc nhiễm bẩn và các hậu quả kèm theo.
4. Xử lý cá tươi trên
bờ
Trang thiết bị của nhà máy và các yêu cầu về
thao tác.
4.1. Xây dựng và qui hoạch nhà máy
4.1.1. Các quan niệm chung
Nhà máy chế biến cá tươi, phải được thiết kế
đặc biệt để chế biến cá, cá nguyên liệu bị huỷ hoại nhanh hơn nhiều, so với
thịt nguyên liệu của các động vật có máu nóng. Thời gian bảo quản của cá giao
cho các nhà máy chế biến, đã bị giảm theo thời gian, điều kiện xử lý và bảo
quản trên tàu cá. Người chế biến không thể làm gì được hơn, để nâng cao chất lượng
cá, mà người đánh bắt giao cho họ.
Do tính chất dễ bị phân huỷ của cá, nhà máy
chế biến cần phải có các phương tiện và vật liệu đặc biệt, mà trong một số trường
hợp, là độc đáo nhất so với các cơ sở chế biến thực phẩm khác. Các yêu cầu về
sản xuất, hoạt động kỹ thuật và vệ sinh cũng cao và chặt chẽ hơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.1.2. Xây dựng nhà máy và thiết kế vệ sinh
4.1.2.1. Nhà máy và khu vực xung quanh, phải
sao cho có thể giữ một cách hợp lý để không có mùi lạ, khói, bụi hoặc sự nhiễm
bẩn khác. Khu nhà phải có qui mô vừa đủ, không gây chật chội cho thiết bị và
nhân viên, được xây dựng và giữ ở tình trạng tốt.
Chúng phải được thiết kế và xây dựng để bảo
vệ chống sự xâm nhập và cư trú của côn trùng, chim hoặc các động vật gây hại
khác và để làm sạch kỹ càng. Việc chọn vị trí cho cơ sở chế biến cá, thiết kế,
bố trí, xây dựng và trang bị, phải được dự kiến chi tiết, có chú ý nhiều về khía
cạnh vệ sinh và kiểm tra chất lượng.
Phải luôn luôn hỏi ý kiến các cấp chính quyền
địa phương và quốc gia về qui phạm xây dựng, các yêu cầu vệ sinh của quá trình
hoạt động, việc giải quyết vệ sinh nước thải và phế thải của nhà máy.
Khu vực xử lý thực phẩm phải cách biệt hoàn
toàn với bất kỳ bộ phận nào của các khu nhà dùng làm nơi ở.
4.1.2.2. Sàn nhà bề mặt phải cứng, không thấm
và thoát hết nước.
Sàn nhà phải làm bằng vật liệu bền, không
độc, không thấm nước, dễ làm sạch và tẩy trùng. Sàn nhà không được trơn, không
có kẽ nứt và dốc đủ để chất lỏng chảy thoát đến các miệng cống cửa sập, có tấm lưới
dễ tháo lắp. Nếu sàn được tạo gò hoặc soi rãnh để tạo dòng, tất cả các rãnh đó
đều phải chảy tới cống thoát nước.
Những chỗ tiếp giáp giữa sàn và tường phải không
thấm nước, phải láng phủ và lượn cong, để dễ làm sạch.
Bê tông nếu không được láng mặt tốt, sẽ bị
xốp và bị ảnh hưởng bởi dầu động vật, nước muối đặc, các chất tẩy rửa và sát
trùng khác nhau. Nếu có dùng, bê tông phải kết hợp với chất lượng tốt và có bề
mặt láng tốt, chống thấm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mỗi cửa vào thoát nước phải có cửa sập có
chốt xâu đặt ở chỗ thích hợp và dễ làm sạch.
Đường ống thoát nước mang theo dòng nhánh
chất phế thải, trừ những đường thoát nước hở, phải được thông hơi tốt, có đường
kính bên trong tối thiểu là 10 cm (41n) và, nếu có yêu cầu phải được chảy đến
một ga để loại bỏ những chất phế thải rắn.
Phải xây một ga như vậy ở ngoài khu vực chế
biến và phải bằng bê tông chống thấm hoặc vật liệu tương tự, thiết kế theo
những qui cách ở địa phương và phải đáp ứng các yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền.
4.1.2.4. Tường ở bên trong phải nhẵn, chống
thấm, không rạn nứt, có màu sáng và dễ lau sạch.
Những vật liệu được dùng để hoàn thiện bên
trong các tường là vữa xi măng, gạch vuông lát gốm, những loại tấm kim loại
chống ăn mòn khác như thép không rỉ, hoặc hợp kim nhôm và những tấm không phải
kim loại đủ bền chống va chạm, có chất lượng bề mặt mong muốn và dễ dàng tu
sửa.
Tất cả các mối nối các tấm, phải gắn matít,
hoặc một lớp chất khác, chịu được nước nóng và phải ốp các dải bọc, nếu cần
thiết.
Những góc tiếp giáp tường với tường và tường với
sàn, phải làm lượn cong để dễ làm sạch.
Tường không được có những chỗ lồi ra, tất cả
các đường ống và cáp phải đặt chìm, ngang với bề mặt tường hoặc đặt gọn trong
hộp.
4.1.2.5. Tất cả các ngưỡng cửa sổ phải có
kích thước tối thiểu, nghiêng vào bên trong 450, và đặt cách nền ít nhất 1m
(3ft). Ngưỡng và khung cửa sổ, phải làm bằng vật liệu nhẵn, chống thấm và nếu
bằng gỗ, thì phải luôn giữ nước sơn. Ngưỡng cửa sổ bên trong phải nghiêng, để
tránh lưu giữ những rác rưởi, hoặc tích bụi, và phải dễ lau chùi.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.1.2.6. Tất cả những cửa để chuyển cá và sản
phẩm của cá, phải đủ rộng, làm chắc chắn bằng một vật liệu thích hợp và phải tự
đóng.
Các cửa để chuyển cá hoặc các sản phẩm của
cá, phải làm bằng vật liệu chống ăn mòn, hoặc làm bằng vật liệu thích hợp khác,
chịu được va đập, trừ trường hợp có màn che tốt, phải là loại tự đóng.
Cửa và khung cửa phải có bề mặt nhẵn và dễ
lau chùi.
Cửa không dùng để chuyển sản phẩm, như cửa để
nhân viên ra vào, phải xử lý bề mặt thích hợp, ít nhất là về phía khu vực sản
xuất, để dễ lau chùi.
4.1.2.7. Phải thiết kế và làm các trần, để
ngăn ngừa được các chất bẩn tích tụ, sự ngưng hơi và phải dễ làm lạnh.
Trần phải cao ít nhất 3m (10ft), không có vết
nứt, hở ở các chỗ nối, phải nhẵn, chống thấm, có màu sáng.
ở các toà nhà có các rầm, nút thắt, đường ống
hoặc các cấu trúc khác lộ ra, nên có trần treo ngay bên dưới.
Chỗ nào các rầm và nút thắt của mái không che
được thì mặt dưới của mái có thể làm trần tốt, miễn là tất cả các mối nối đã được
gắn kín và các cấu trúc đỡ có bề mặt nhẵn, sơn kỹ và có màu sáng, dễ lau chùi,
được làm để bảo vệ sản phẩm cá không bị rác rưởi, bụi bặm hoặc chất ngưng đọng
rơi vào.
4.1.2.8. Chỗ làm việc phải được thông gió tốt
đề phòng quá nóng, mùi độc, bụi, hơi nước hoặc khói ngưng tụ và gây ô nhiễm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.1.2.9. Phải bố trí độ chiếu sáng tối thiểu
là 220lux (200 nến foot) trong khu vực làm việc chung, và không nhỏ hơn 540lux
(50 nến foot), ở những điểm yêu cầu kiểm tra nghiêm ngặt đối với sản phẩm, và độ
thay đổi đó không làm thay đổi đến màu sắc. Các bóng đèn và tay vặn treo trên
các khu vực làm việc, nơi cá được xử lý trong mọi khâu chuẩn bị, phải là loại
an toàn hoặc nếu không thì được bảo vệ, để đề phòng gây ô nhiễm sản phẩm trong
trường hợp bị vỡ.
4.1.3. Phương tiện vệ sinh
4.1.3.1. Phải ngăn khu vực nhận hoặc bảo quản
cá, với các khu vực tiến hành chuẩn bị, hoặc bao gói thành phẩm, nhằm đề phòng
nhiễm bẩn thành phẩm.
Phải có các phòng riêng, hoặc các khu vực được
xác định rõ, đủ rộng để nhận và bảo quản nguyên vật liệu, và để làm các khâu như
chặt đầu, mổ cá, bóc philê, cắt khúc, hoặc chế biến khác và bao gói.
Chế biến hoặc xử lý các các sản phẩm ăn được,
phải hoàn toàn phân cách và riêng biệt với các khu vực dùng cho các nguyên liệu
không ăn được.
Khu vực xử lý sản phẩm, phải hoàn toàn cách
biệt với bất kỳ bộ phận nào của khu vực sinh hoạt.
Khu vực nhận và bảo quản, phải giữ được điều
kiện sạch sẽ, và bảo vệ cá tươi không bị tổn thương và nhiễm trùng.
4.1.3.2. Trong khu vực, phải có một phòng
riêng để phế thải hoặc đầy đủ dụng cụ chứa phế thải khác.
Nếu phải gom hoặc giữ các phế thải loại, trước
khi chuyển đi, phải đề phòng loại gặm nhấm, chim, côn trùng và không được để ở
nhiệt độ ẩm. Phải có một phòng để chứa phế thải trong các thùng kín. Tường, sàn
và trần của phòng chứa đó, và khu vực ở dưới các thùng rác, đã được nâng lên
cao, phải được xây dựng bằng vật liệu không thấm nước. Nếu phế liệu được giữ
trong các thùng chứa bên ngoài cơ sở, các thùng chứa đó phải có nắp đậy. Để bảo
quản các thùng đó, phải để trong một khu riêng biệt, có rào, có chỗ ra vào cho
xe đến chất và dỡ hàng. Bệ thùng chứa phải làm bằng vật liệu chống thấm, cứng
và chắc chắn, dễ rửa sạch và thoát nước.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.1.3.3. Xưởng chế biến sản phẩm phụ phải
hoàn toàn cách biệt với xưởng chế biến cá tươi để người ăn.
Việc bố trí và xây dựng một xưởng chế biến cá
để người ăn, phải đảm bảo sao cho khu vực trong đó cá để người ăn được giữ ,
chế biến và bảo quản, chỉ được dùng nào mục đích đó.
Mọi việc chế biến sản phẩm phụ, hoặc sản phẩm
không phải là cá để người ăn, phải được tiến hành trong những khu vực riêng,
hoặc được phân cách rõ ràng, sao cho không có khả năng gây ô nhiễm cho cá, hoặc
sản phẩm cá.
4.1.3.4. Phải cung cấp đầy đủ nước uống và/
hoặc nước biển sạch, lạnh hoặc nóng, có đủ áp suất, tại nhiều điểm khắp các khu
vực sản xuất, ở mọi thời điểm trong giờ làm việc.
Nước dùng ở các bộ phận của cơ sở nhận, giữ,
chế biến, bao gói và bảo quản phải là nước uống được, hoặc nước biển sạch và
phải có áp suất không nhỏ hơn 138 kPa (201b/m2). Nếu dùng nước biển,
phải là nước biển sạch.
Trong khi nhà máy hoạt động phải luôn luôn
cung cấp nước uống nóng ở nhiệt độ tối thiểu là 820C (1800F).
Đối với việc cung cấp nước lạnh để rửa, phải
có hệ thống clo hoá, lắp vào đường ống, để cho phép có được hàm lượng clo dư
trong nước biến đổi tuỳ ý, nhằm giảm sự phát triển của vi sinh vật và ngăn ngừa
sự tạo thành mùi cá.
Nước đã dùng để rửa hoặc vận chuyển nguyên liệu,
không được cho chảy trở lại, trừ trường hợp nước đó được khôi phục mức chất lượng
uống được.
4.1.3.5. Khi clo hoá nước trong xưởng, hàm lượng
dư clo tự do phải giữ không vượt quá mức hiệu quả tối thiểu cho việc sử dụng dự
định.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.1.3.6. Nước đá phải làm từ nước uống hoặc nước
biển sạch và phải được sản xuất, xử lý và bảo quản để không bị nhiễm bẩn.
Nước đá dùng trong sản xuất của cơ sở chế
biến cá tươi, phải làm từ nước uống hoặc nước biển sạch.
Phải có một phòng đặc biệt, hoặc các phương
tiện bảo quản thích hợp khác, để bảo vệ nước đá không bị nhiễm bẩn và quá nhiều
bụi, vẩy sơn, vụn gỗ hoặc mùn cưa, rơm và rỉ, là những tạp chất, thường do nước
đá đưa vào thành phẩm. Phải cẩn thận để đảm bảo nước đá dùng để làm lạnh hoặc
sản phẩm của cá, không gây nhiễm bẩn chúng.
4.1.3.7. Nếu cung cấp nước bổ sung không uống
được, thì nước phải được bảo quản trong các thùng chứa riêng biệt, và được vận
chuyển trong các đường ống riêng biệt, nhận biết được bằng các màu sắc tương
phản, được ghi rõ và không được ăn thông, đấu hoặc nối xiphông trở lại, với các
đường ống vận chuyển nước uống.
Có thể dùng nước không uống được cho các mục
đích như sản xuất hơi nước, làm nguội các thiết bị trao đổi nhiệt và phòng
cháy.
Vấn đề rất quan trọng là các hệ thống bảo
quản và phân phối nước uống được và không được uống, phải hoàn toàn cách biệt
nhau và không thể có khả năng nối thông, hoặc dùng một cách vô ý thức nước
không uống được trong khu vực chế biến cá. Chỉ được dùng nước có chất lượng để
cung cấp nước nóng.
Việc cách biệt các hệ thống, đối với nước
biển sạch dùng trong chế biến cá cũng có yêu cầu như vậy.
4.1.3.8. Tất cả các đường ống xả và xử lý phế
thải, kể cả hệ thống cống nước thải, phải đủ lớn để lưu thông được các lượng
cao nhất, và phải có cấu trúc đảm bảo tất cả các đường ống phải kín nước, và có
cả các cửa sập, chỗ thông hơi.
Bố trí phế thải phải được tiến hành sao cho
không nhiễm bẩn việc cung cấp nước uống hoặc nước biển sạch.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Việc xả và cách bố trí chỗ đổ rác phải được
cơ quan có thẩm quyền duyệt.
4.1.3.9. Phải có các phương tiện thích hợp để
rửa và sát trùng các thiết bị.
ở mỗi cơ sở chế biến cá tươi, phải có các phương
tiện để làm sạch và sát trùng các khay, các ván cắt hoặc lạng thịt tháo được,
các thùng chứa, và các thiết bị tương tự khác, các công cụ làm việc. Phải đặt
các phương tiện đó trong phòng riêng, hoặc các khu vực chỉ định, trong các
phòng làm việc được cung cấp đầy đủ nước uống hoặc nước biển sạch nóng và lạnh,
với áp suất đầy đủ và được thoát nước tốt. Không được rửa trong cùng khu vực,
bất kỳ thùng nước chứa và thiết bị dùng cho các phế thải, hoặc các vật liệu đã
nhiễm bẩn.
4.1.3.10. Phải có đủ phương tiện vệ sinh bố
trí ở các nơi thuận tiện.
Nhà vệ sinh phải có tường, trần, có bề mặt
nhẵn, rửa được, có màu sáng và sàn làm bằng vật liệu chống thấm và dễ làm sạch.
Các phương tiện vệ sinh phải được chiếu sáng đầy đủ, thông hơi và giữ gìn sạch
sẽ vào tất cả mọi lúc.
Phải cung cấp đầy đủ giấy vệ sinh trong mỗi
nhà vệ sinh.
Cửa dẫn đến các nhà vệ sinh phải là loại tự
đóng và không được mở trực tiếp vào các khu vực chế biến cá.
Các phương tiện rửa tay trong các phòng vệ
sinh phải không yêu cầu thao tác bằng tay và phải được cấp đầy đủ nước uống
hoặc nước biển sạch nóng và lạnh, và phải có xà phòng lỏng hoặc bột. Phải có
các phương tiện vệ sinh thích hợp để làm khô tay, ví dụ như khăn mặt dùng một
lần. Nếu dùng khăn giấy, phải có đầy đủ dụng cụ phân phát và chứa các khăn đã
dùng.
Phải có những chỉ dẫn, yêu cầu các nhân viên
phải rửa sạch tay sau khi sử dụng nhà vệ sinh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1 đến 9 nhân viên - 1 nhà vệ sinh
10 đến 24 nhân viên - 2 nhà vệ sinh
25 đến 49 nhân viên - 3 nhà vệ sinh
50 đến 100 nhân viên - 5 nhà vệ sinh
với mỗi 30 nhân viên trên 100 -1 nhà vệ sinh.
4.1.3.11. Phải có các phương tiện trong khu
vực chế biến để các nhân viên rửa và làm khô tay và để tẩy trùng các bao tay
bảo vệ.
Khi quá trình chế biến yêu cầu, thì trong các
nhà vệ sinh phải có thêm các phương tiện rửa tay, có đủ nước uống hoặc nước
biển sạch nóng và lạnh, xà phòng nước hoặc bột. Chúng phải được bố trí ở chỗ dễ
thấy của sàn chế biến, và phải là loại không yêu cầu thao tác bằng tay, và được
cung cấp liên tục nước uống và nước biển sạch. Nên dùng khăn lau một lần, nếu
dùng phương pháp làm khô tay, thì phải đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền. Trong mọi lúc, các phương tiện phải được giữ gìn ở điều kiện vệ sinh.
4.1.3.12. Phải có các tiện nghi cho nhân viên
bao gồm: phòng ăn, phòng thay quần áo, hoặc phòng có gương soi, hoặc các phương
tiện để rửa.
Nếu sử dụng nhân viên nam và nữ, phải có các
phương tiện riêng biệt cho từng giới, trừ phòng ăn, có thể dùng chung. Theo hướng
dẫn chung, phòng ăn phải có ghế cho tất cả các nhân viên, và các phòng thay
quần áo phải có đủ chỗ để tủ có khoá cho mỗi nhân viên, để không gây chen chúc.
Quần áo và giầy dép không dùng khi làm việc, không được để ở khu vực chế biến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phải có các phương tiện riêng biệt để bảo
quản bìa cứng, giấy bọc hoặc các vật liệu bao gói khác, nhằm giữ chúng không bị
ẩm, bụi, hoặc bị nhiễm bẩn khác.
4.1.3.14. Nếu bảo quản các vật liệu độc hoặc
gây hại, bao gồm cả các hợp chất tẩy rửa, các chất sát trùng, các chất làm vệ
sinh và các chất trừ dịch hại, chúng phải được để trong phòng riêng, được thiết
kế và đánh dấu dành riêng cho công việc đó.
Tất cả các vật liệu đó, phải có ghi nhãn nổi
bật và rõ ràng, để dễ dàng nhìn thấy. Phòng phải khoá và đối với các vật liệu
để trong đó chỉ có các nhân viên đã được huấn luyện sử dụng chúng mới được đụng
tới.
4.2. Trang bị và dụng cụ
4.2.1. Tất cả các bề mặt làm việc và tất cả
các thùng đựng, khay, bể hoặc các trang bị khác được sử dụng để chế biến cá
phải nhẵn, không độc, chịu được ăn mòn và phải được thiết kế và chế tạo nhằm đề
phòng những nguy hiểm, mất vệ sinh và cho phép làm sạch được kỹ và dễ dàng. Nói
chung, không nên dùng gỗ cho những mục đích này.
Việc nhiễm bẩn cá trong chế biến có thể sảy
ra do tiếp xúc với các bề mặt không đáp ứng các yêu cầu. Tất cả các bề mặt tiếp
xúc với thực phẩm phải nhẵn, không có lỗ, đường nứt, và các vẩy lỏng lẻo, các
chất có hại cho người, không bị tác dụng của muối, nước cá hoặc các thành phần
khác đã sử dụng và có thể chịu đựng được nhiều lần làm sạch và sát trùng. Có
thể dùng gỗ làm bề mặt để cắt, chỉ khi không có vật liệu thích hợp nào khác.
Máy móc và thiết bị phải được thiết kế sao cho có thể dễ dàng tháo dỡ, để dễ
làm sạch và sát trùng kỹ.
Thùng chứa dùng để đựng cá nên làm bằng chất
dẻo hoặc kim loại chống ăn mòn, và nếu làm bằng gỗ, thì phải xử lý để ngăn ngừa
sự xâm nhập của ẩm và được phủ bằng một lớp sơn bền, không độc, hoặc một lớp
phủ bề mặt nào khác, nhẵn và dễ làm sạch. Không được dùng những giỏ nan.
Những thiết bị cố định phải lắp đặt sao cho
dễ tiếp xúc, dễ làm sạch và sát trùng kỹ.
Phải thiết kế các bể rửa cá sao cho có thể
thay nước đều đặn, vòi lưu thông tốt, có chỗ thoát nước và dễ làm sạch.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.2.2. Những thùng chứa đưa ra chợ, cửa hàng,
để dùng nhiều lần, phải làm bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp và phải chế
tạo để dễ làm sạch.
Mỗi vùng có một kiểu thùng nước chứa cá nhưng
dù có hình dạng và thích thước như thế nào, chúng không được có vết nứt, gờ, khó
làm sạch. Thùng chứa bằng gỗ hoặc liễu gai, không thể làm sạch kỹ được và không
nên dùng. Hiện có bán một số thùng chứa bằng chất dẻo và hợp kim nhẹ, để giữ và
bảo quản cá.
4.2.3. Các thùng chứa phải đủ lớn để chứa đủ
nước đá và khối lượng cá. Thùng phải chắc để chịu được việc quăng quật và thích
hợp cho việc chồng chất khi đầy, không gây dập nát cho các thùng phía dưới.
Cũng phải có chỗ thoát nước, để tránh nhiễm
bẩn cá trong các thùng đã xếp chồng.
Do cá phải luôn luôn được ướp đá lỹ, thùng
chứa cần phải đủ lớn để chứa lượng nước đá đủ cho lượng cá chuẩn bị đem bán.
Phải đủ năng lực để xếp các thùng chứa sát nhau, để giảm lượng nhiệt hấp thụ từ
môi trường xung quanh.
Thoát nước tốt làm cho cá không phải nằm trong
nước đá tan chứa vi sinh vật và các endim tiêu hoá, từ dạ dày và ruột cá tiết
ra.
4.2.4. Những hòm có thể dùng nhiều lần phải
làm bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp.
Hòm có thể dùng nhiều lần phải sạch, để tránh
nhiễm bẩn và đủ chắc để chống dập cá trong khi vận chuyển.
Hòm phải đủ lớn để đựng đủ nước đá giữ cho cá
ở điều kiện làm lạnh trong qúa trình vận chuyển. Nên dùng các hòm bằng chất dẻo
hoặc hợp kim nhẹ, do gỗ thô không thể làm sạch kỹ được.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.2.5. Những hòm dùng một lần phải được chế
tạo chắc chắn và đủ bền đối với bầt kỳ thao tác sử dụng bình thường nào trong
quá trình phân phối. Chúng phải đủ lớn để chứa một lượng đủ nước đá cũng như
khối lượng cá yêu cầu. Phải có chỗ thoát nước cho nước tan. Nếu dùng gỗ, gỗ
phải làm sạch và mới.
Những hòm dùng một lần làm bằng nhiều loại
vật liệu được dùng ở nhiều tàu khác nhau. Nhiều hòm được chế tạo xấu và dễ dàng
bị vỡ trong quá trình phân phối, do đó gây hư hại cho sản phẩm bên trong, hoặc
dễ sảy ra nhiễm bẩn từ bên ngoài. Trong nhiều trường hợp hòm quá nhỏ để có thể
đựng được đủ lượng nước đá. Đổ quá đầy hòm dẫn đến làm nát và hư hỏng cá khi
xếp đống các hòm để vận chuyển. ở nhiều khu vực hiện có bán các hòm dùng một
lần chế tạo bằng ván sợi đã được xử lý đặc biệt. Nhiều loại hòm khác được làm
từ vật liệu chất dẻo xốp vừa là chất cách nhiệt vừa là hòm chứa, nhưng tất
nhiên cá phải được làm sạch trước khi đóng gói, nếu không sự cách nhiệt sẽ giữ
chúng ở nhiệt độ cao hơn.
4.2.6. Thớt để lạng cá và các mặt phẳng khác
để để cá lên cắt, phải làm bằng những vật liệu chống thấm, đáp ứng các yêu cầu
vật lý cho các bề mặt để cắt.
Sự nhiễm vi khuẩn nặng của các philê và khúc
cá, là do tiếp xúc với các thớt. Những bề mặt để cắt bằng gỗ thì xốp và nhanh
chóng có chứa nước, và thực tế là không thể làm sạch kỹ được. Không nên dùng
chúng vào công việc đó.
Nếu không có vật liệu khác , thì phải dùng
gỗ, nên dùng một tấm ván có bề mặt nhẵn, được gia công hoàn thiện tốt. Khi bề
mặt bị hỏng, tấm ván được xử lý lại hoặc loại bỏ. Không nên dùng các tấm ván
bằng gỗ dán hoặc các loại ván có cấu tạo phiến.
4.2.7. Dây truyền làm philê phải được thiết
kế thành một đơn vị chế biến liên tục, với các nguyên công được sắp xếp liên
tục, sao cho cá có thể vận động đều, nhanh, qua dây chuyền mà không bị dừng
hoặc chậm lại.
Dây chuyền làm philê được thiết kế đúng, sẽ
tiết kiệm được chi phí chế biến và chất lượng của thành phẩm tốt hơn. Khi cá
hoặc miếng philê di chuyển qua dây chuyền trên băng tải, băng tải phải có các
máng cào và máy rửa phun tia, ít nhất ở hai con lăn cuối băng. Nếu cá được
chuyển bằng máng không được cho nước chảy ở máng trở lại, trừ phi nước đó đã được
phôi phục lại đến mức chất lượng nước uống được. Các máng phế phẩm, phải được
bố trí càng gần càng tốt với các chỗ đứng của người làm philê, làm sao cho
không thể vãi tung toé được. Mỗi chỗ đứng làm philê, phải có đường ống cấp nước
uống hoặc nước biển sạch với vòi nước, để điều chỉnh dòng nước chảy trên bề mặt
tấm ván làm philê.
Dây chuyền làm philê phải dễ tháo để làm sạch
và phải được chế tạo bằng vật liệu chống ăn mòn, như thép không gỉ, hoặc nhôm,
loại chịu nước bẩn. Phải có lối vào để đến từng bộ phận của dây chuyền.
4.2.8. Nên dùng máy để mổ, rửa, làm sạch
philê, lột da, cắt khúc và làm các nguyên công khác đã được thiết kế thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Điều thiết yếu là việc trang bị máy móc phải
được nghiên cứu kỹ, xác minh về mặt kinh tế và các đơn vị máy phải được thử
nghiệm nghiêm ngặt, trước khi đưa vào sử dụng trong thương mại, nếu không có
thể xảy ra những hỏng hóc tốn kém.
4.2.9. Các bảng đèn phải dễ làm sạch và không
được tăng nhiệt độ của philê.
Đo nhiệt của ánh đèn, có thể gây ra sự tăng
trưởng nhanh và hoạt động của các vi sinh vật trên các bề mặt bảng đèn, các bề
mặt này phải được làm sạch kỹ và xử lý với chất sát trùng thường xuyên. Khung
và thân bảng đèn phải làm bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp. Phải dùng tấm
kính mờ, nặng hoặc bằng nhựa đục để phủ bề mặt.
Tốt nhất là dùng đèn ống huỳnh quang trắng,
làm nguồn phát sáng mạnh và không bóng. Chụp đèn, chỗ để đèn, phải làm bằng vật
liệu chống ẩm và phải được thông gió tốt để giảm nhiệt. Nên có dòng nước uống
lạnh hoặc nước biển sạch chảy ổn định đi qua bề mặt thắp sáng, để giữ bề mặt thường
xuyên ướt sạch và lạnh.
Việc lắp điện cho bảng điện, phải do thợ điện
tiến hành.
Để nâng cao tính hiệu quả của việc thắp sáng,
phải giảm đến mức tối thiểu, bất kỳ nguồn sáng bên ngoài hoặc phía trên đầu
vào.
4.2.10. Thiết bị dùng để ngâm hoặc phun rửa
philê phải làm bằng vật liệu không thấm nước, chống ăn mòn, và dễ làm sạch. Các
bể ngâm phải được rút sạch nước, làm sạch kỹ và sát trùng giữa mỗi chu kỳ sử
dụng.
Chỗ nào muốn và được phép sử dụng các loại nước
ngâm như chất chống oxy hoá hoặc polyphotphat, những nguy hiểm về nhiễm bẩn
phải được đánh giá một cách đầy đủ. Số lượng vi khuẩn sẽ tăng nhanh trong khi
sử dụng, do đó yêu cầu các bề mặt ngâm phải thường xuyên được làm sạch kỹ và đổ
đầy những dung dịch mới. Việc sử dụng phun tia thay cho ngâm đã nhiều người vận
hành cho là phương pháp có hiệu quả hơn để xử lý các philê hoặc khúc cá. Nó
loại trừ sự nhiễm vi sinh vật bổ sung, tạo ra nồng độ dung dịch đồng nhất liên
tục và thích hợp với việc kiểm tra nhiệt độ. Không được cho phép đối lưu dung
dịch, trừ phi dung dịch đã được lọc, thanh trùng và làm nguội.
4.2.11. Phải thiết kế xe chở cá tươi để có
thể ướp đá thoả đáng, giữ cá không nóng lên trong khi vận chuyển, và xe phải
làm bằng vật liệu có cấu tạo sao cho có thể làm sạch được dễ dàng và kỹ lưỡng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để làm sạch, xe chở cá phải có vách, sàn và
mái làm bằng vật liệu thích hợp, chống ăn mòn, có bề mặt nhẵn và không hấp thụ.
Sàn phải thoát hết nước.
4.3. Yêu cầu về hoạt động vệ sinh
4.3.1.Tình trạng vệ sinh ở cơ sở chế biến cá
tươi cho người ăn, phải đạt tiêu chuẩn cao nhất có được, trong bất kỳ ngành
công nghiệp chế biến thực phẩm nào.
Cá do bản chất rất dễ bị hỏng, yêu cầu phải
tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu vệ sinh riêng, phải trở thành một phần của
hoạt động thường làm hàng ngày của nhà máy.
Tất cả hoạt động phải được tiến hành theo
cách thức và các điều kiện thích hợp với việc xử lý thực phẩm cho người ăn.
4.3.2. Nhà cửa, trang bị, dụng cụ và các phương
tiện vật chất khác của nhà máy phải được giữ gìn sạch sẽ, tình trạng còn tốt và
phải được giữ gìn trong điều kiện trật tự vệ sinh.
Tất cả các bề mặt tiếp xúc với cá phải được
xối nhiều lần nước uống hoặc nước biển sạch, lạnh hoặc nóng, tuỳ theo mức độ
cần thiết để đảm bảo sạch sẽ. Điều quan trọng là phương pháp làm sạch được sử
dụng phải lấy đi tất cả các cặn bã, và phương pháp sát trùng phải đảm bảo lượng
vi khuẩn trên bề mặt được làm sạch.
Việc chỉ sử dụng nước uống hoặc nước biển
sạch lạnh, hoặc nóng, nói chung không đủ để đạt được kết quả yêu cầu.
Nếu không phải là thiết yếu, thì cũng là vấn
đề nên làm, đó là dùng các phương tiện hỗ trợ như các tác nhân làm sạch và sát
trùng cùng việc rửa sạch bằng tay hoặc bằng máy, tuỳ theo chỗ nào thích hợp để
hỗ trợ cho việc đạt được mục tiêu mong muốn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các tác nhân làm sạch và sát trùng được sử
dụng phải thích hợp với mục tiêu và phải được dùng sao cho ngăn chặn việc gây
nguy hiểm cho sức khoẻ và phải đáp ứng các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
4.3.3. Phải rửa sạch thường xuyên và kỹ càng
và xử lý với các chất sát trùng, các tấm thớt để lạng philê và cắt khúc. Nếu được,
phải phun rửa liên tục các tấm thớt với nước uống được, hoặc nước biển sạch
trong quá trình sử dụng. Nước để phun rửa phải chứa 4 ppm clo dư.
Đã thấy rằng, lượng nhiễm vi khuẩn các philê
và các sản phẩm tương tự có liên quan đến lượng nhiễm vi khuẩn các bề mặt làm
việc. Các bề mặt sạch trở thành bị ô nhiễm ngay khi chúng được sử dụng và do
vậy, mỗi con cá đã được lạng philê, sau con đầu tiên, làm tăng sự ô nhiễm bề
mặt. Các bề mặt dùng để lạng philê và cắt, phải được làm sạch trong lúc nghỉ ăn
trưa và trước khi sản xuất trở lại, tiếp theo những lúc nghỉ việc khác. Nếu
chúng không được phun rửa và sát trùng kỹ, ít nhất vào cuối mỗi ngày làm việc,
có thể sảy ra sự chuyển tiếo nghiêm trọng, sự nhiễm vi khuẩn từ ngày này qua
ngày khác.
Để chứng minh được rằng sự nhiễm trùng của cá
philê và thớt có thể được giảm đi rất nhiều, bằng cách phun rửa liên tục bằng nước
uống lạnh hoặc nước biển sạch. Khi dùng nước clo hoá để phun rửa, thì thấy giảm
được nhiễm trùng nhiều hơn nữa.
4.3.4. Nếu dùng thùng tròn hoặc thùng chứa
khác trên dây truyền làm philê để gom và xử lý phế thải, chúng phải được bố trí
thấp hơn mức ở đó cá được xử lý và sao cho cá không được bắn tung téo lên dây
chuyền chế biến.
Nên dùng những thùng chứa phế thải cá biệt để
gần dây chuyền chế biến thay vì các máng thuỷ lực hoặc các máng nối vào một đường
ống chung, chúng phải được bố trí sao cho không thể làm vương vãi. Không được
đặt các tấm thớt lạng philê hoặc các thùng chứa philêtrên miệng các thùng tròn
chứa phế thải.
Nếu không dùng, các thùng chứa phải được đậy
lại. Nói chung nếu dùng máy thuỷ lực hoặc các phương pháp có hiệu quả tương đương
khác để chuyển phế thải cá, có thể đạt được hiệu quả và sạch sẽ hơn nhiều.
4.3.5. Tất cả các máy móc dùng để cắt, rửa,
lạng philê, lột da, cắt miếng hoặc để làm các việc tương tự, phải được làm sạch
kỹ càng, sát trùng và rửa trong khi nghỉ và nghỉ ăn trưa và trước khi trở lại
sản xuất tiếp theo những lúc ngừng việc.
Việc dùng máy móc, làm giảm nguy cơ nhiễm
trùng do con người. Tuy nhiên, nếu các máy đó không được giữ gìn chu đáo và làm
sạch ít nhất mỗi lần mỗi ngày, thì chúng có thể trở thành nguồn nhiễm trùng
nghiêm trọng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các bề mặt bẩn (có đất) và các cặn bã của các
tác nhân làm sạch và sát trùng không được loại bỏ bằng tráng kỹ, sẽ gây nhiễm bẩn
cho sản phẩm. Tốt nhất là bắt đầu từ dây chuyền ướt hơn là trên bề mặt khô.
Phải thường xuyên kiểm tra các thiết bị cơ
giới hoặc tự động để đề phòng hư hỏng.
4.3.7. Phải thường xuyên lấy đi trong một
ngày làm việc, tất cả các sản phẩm dắt lại hoặc tích tụ lại trong máy và thiết
bị.
Cá hoặc các vụn cá dắt lại trong thiết bị, bị
thối nhanh chóng và có thể nhiễm bẩn phần còn lại của sản phẩm. Phải loại bỏ
các philê cá hoặc các sản phẩm tương tự đã rơi xuống sàn.
4.3.8. Phải tiến hành trong điều kiện vệ
sinh, tất cả các công đoạn trong xử lý và chế biến liên quan đến việc chuẩn bị
và phân phối philê và các sản phẩm tương tự.
Philê và các sản phẩm tương tự đặc biệt dễ bị
nhiễm bẩn, do việc chuẩn bị chúng thường tiến hành nhiều thao tác tối đa cho
phép. Khi thịt đã lộ ra, mọi sự nhiễm bẩn do vi sinh vật sẽ nhanh chóng giảm
thời gian bảo quản tiềm năng.
Tất cả các nhà máy, trang bị và các nhân viên
phải theo đúng các yêu cầu về hoạt động vệ sinh.
4.3.9. Các thùng chứa đưa ra thị trường và
tất cả các hòm đựng cá dùng nhiều lần, phải được làm sạch kỹ và được xử lý với
các chất sát trùng ngay sau mỗi lần sử dụng.
Nếu được, nên dùng các máy rửa được thiết kế
tốt. Có thể rửa được bằng tay, bằng cách làm sạch bằng bàn chải nóng và bằng
cách phun nước, dưới áp suất cao, với chất tẩy rửa cho thêm vào nước. Để làm
sạch có hiệu quả, nên rửa sơ bộ với nước uống lạnh hoặc nước biển sạch, tiếp
theo là rửa bằng nước máy ở nhiệt độ tối thiểu là 430C (1100F).
Yêu cầu đầu tiên là cung cấp đầy đủ nước uống hoặc nước biển sạch đủ áp suất,
và việc làm sạch sẽ dễ dàng hơn, nếu nhớt và máu không khô trên bề mặt thùng
chứa.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu dùng những hòm dùng nhiều lần, chúng phải
được làm bằng vật liệu chống ăn mòn và làm sạch kỹ càng và sát trùng sau mỗi
lần sử dụng.
Không nên dùng các hòm dùng nhiều lần để vận
chuyển và phân phối philê và các sản phẩm tương tự, trừ phi hòm được cấu tạo
bằng một thùng chứa bên trong, nhẹ, không dùng lại nhiều lần, được bảo vệ bằng
một thùng chắc chắn dùng nhiều lần.
Thông thường tất cả các hòm dùng nhiều lần
nằm ngổn ngang trên sàn nhà máy chế biến trong điều kiện bẩn thỉu, không được
rửa sạch, máu và nhớt để khô trên bề mặt hòm. Rất khó rửa sạch chúng, và chỉ có
thể dùng với nước lạnh, mạnh để rửa.
Do tầm quan trọng của việc bảo vệ philê và
các sản phẩm tương tự không bị nhiễm trùng từ nhiều nguồn, không thể quá nhấn
mạnh, phải luôn luôn dùng các thùng chứa mới và sạch, không dùng nhiều lần.
4.3.11. Phải giữ gìn sạch sẽ và tẩy trùng tất
cả những nơi như bờ sông, bến cảng, chợ và những khu vực tương tự, nơi cá được
bốc dỡ hoặc bầy bán.
Phải xử lý cá như thực phẩm để con người tiêu
thụ, trong môi trường sạch. Bất kỳ một bề mặt bẩn thỉu nào ở gần khu vực bốc
dỡ, có thể là mối nguy cơ làm cá bị nhiễm bẩn do rác rưởi và vi sinh vật, ảnh hưởng
đến sức khoẻ chung.
4.3.12. Việc lấy đi các phế liệu rắn hoặc
lỏng, ở các khu vực bốc dỡ, để và chế biến cá phải được tiến hành trên cơ sở
liên tục có sử dụng nước và/hoặc thiết bị thích hợp, sao cho các khu vực đó được
giữ gìn sạch sẽ và không có nguy cơ nhiễm bẩn sản phẩm.
Phải xử lý tất cả các vật liệu phế thải của
nhà máy cá càng sớm càng tốt, theo hướng chúng được dùng làm thức ăn cho con người
và theo cách sao cho chúng không thể gây ô nhiễm cho thực phẩm và các nguồn cấp
nước và tạo thành những nơi chứa hoặc nuôi dưỡng những loài ngậm nhấm, côn
trùng hoặc các vật gây hại khác.
Các thùng chứa, thiết bị vận chuyển thuỷ lực,
băng tải, hoặc các buồng bảo quản dùng để lấy, thu gom hoặc bảo quản phế phẩm
cá hoặc các phế thải khác, phải được thường xuyên làm sạch với nước uống hoặc nước
biển sạch, có chứa một lượng thích hợp clo tự do.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sự thu xếp để xử lý các phế thải thương mại
và không ăn được, phải được cơ quan có thẩm quyền duyệt.
4.3.13. Phải tiến hành các biện pháp có hiệu
quả để bảo vệ chống lại sự xâm nhập và sự trú ẩn trong nhà của các côn trùng,
loài gậm nhấm, chim hoặc các vật gây hại khác.
Phải duy trì một chương trình có hiệu quả và
liên tục kiểm tra các côn trùng, loại gậm nhấm, chim hoặc các vật gây hai khác
bên trong nhà. Phải thường xuyên kiểm tra nhà máy và khu vực lân cận về dấu vết
nhiễm bẩn. Nơi cần có các biện pháp kiểm tra, thì phải tiến hành xử lý dưới sự
giám sát trực tiếp của nhân viên có hiểu biết đầy đủ về những nguy cơ có liên
quan, bao gồm cả khả năng có các cặn dư có hại, mà cá hoặc các sản phẩm của
chúng đã giữ lại. Các tác nhân hoá học, sinh học hoặc vật lý phải đáp ứng các
yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền.
Không được dùng các chất diệt côn trùng,
trong quá trình hoạt động của nhà máy, mà không có sự chuẩn bị để thu lại xác
côn trùng. Để thay thế, nên dùng các bẫy dính côn trùng hoặc các đèn "ánh sáng
đen diệt côn trùng" rất có hiệu quả với các khay đựng kèm theo. Không được
bố trí các bầy côn trùng trực tiếp bên trên khu vực chế biến, và phải để xa cửa
sổ và cửa ra vào.
Tất cả các chất diệt loài gậm nhấm, chất hun
khói, diệt côn trùng hoặc các chất có hại khác, phải thuộc loại đã được cho
phép và phải được bảo quản trong các phòng cách biệt, có khoá và chỉ có các
nhân viên đã được huấn luyện thích hợp mới được sử dụng.
4.3.14. Phải đuổi chó, mèo và các súc vật
khác ra khỏi khu vực tiếp nhận, xử lý, chế biến hoặc bảo quản cá.
Chó, mèo và các súc vật khác là các vật mang
tiềm tàng các bệnh tật, không được phép đi vào hoặc sinh sống trong các phòng,
khu vực mà cá hoặc các sản phẩm của chúng được xử lý, chuẩn bị, chế biến hoặc
bảo quản.
4.3.15. Tất cả những người làm việc trong nhà
máy chế biến cá tươi phải duy trì một trình độ cao về vệ sinh cá nhân trong khi
đang làm nhiệm vụ và phải có tất cả những sự chuẩn bị cần thiết để phòng ngừa
sự nhiễm bẩn cá, hoặc các sản phẩm cá, hoặc các thành phần, với mọi chất ngoại
lai.
Tất cả các nhân viên phải mặc quần áo bảo hộ
sạch, thích hợp với tính chất công việc, bao gồm cả một mũ trùm đầu và giầy,
tất cả đều có thể giặt được hoặc để dùng một lần. Nên dùng tạp dề chống thấm,
khi cần thiết.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ở mọi nơi của khu vực xử lý cá, phải cấm mọi
hành vi có thể nhiễm bẩn một cách tiềm tàng cho cá, như ăn, hút thuốc lá hoặc
các chất nào khác và khạc nhổ.
4.3.16. Không cho phép một người nào đang bị
ốm, hoặc đang mang một bệnh lây hoặc có một vết thương bị nhiễm trùng, một tổn
thương hở được lấy vào việc chuẩn bị, xử lý hoặc vận chuyển cá hoặc sản phẩm
cá.
Người quản lý nhà máy phải yêu cầu bất kỳ một
người nào có vết thương nhiễm trùng, vết lở loét, hoặc một căn bệnh nào đó, cụ
thể là ỉa chảy, phải được báo cáo ngay. Người quản lý không được cho phép bất
kỳ một người lao động nào đang bị một căn bệnh như vậy, hoặc đang bị những vết
thương nhiễm trùng, vết lở loét hoặc ỉa chảy, được làm việc ở bất kỳ khu vực
nào của nhà máy cá với khả năng gây nhiễm cho cá hoặc sản phẩm cá bởi vi sinh
vật gây bệnh.
Vết đứt nhỏ hoặc vết trầy da trên tay phải được
xử lý ngay và phủ bằng một băng chống thấm có màu sắc tương phản, sao cho không
thể bị bóc rời ngẫu nhiên; thế nhưng nếu như do đó mà bị nhiễm trùng, thì người
công nhân không được phép xử lý cá. Phải có đầy đủ các phương tiện cấp cứu ban
đầu.
4.3.17. Băng tải dùng để vận chuyển cá phải được
làm sạch và sát trùng ngay sau mỗi lần sử dụng và phải được giữ gìn sao cho
không tạo thành một nguồn nhiễm bẩn đối với sản phẩm.
Phải có kế hoạch thường xuyên làm sạch xe cộ
cùng với thùng xe và trang bị trên xe. Thường xuyên phải phun nước, lau chùi và
rửa sạch với nước uống hoặc nước biển sạch, có cho thêm chất tẩy rửa thích hợp
và/hoặc chất sát trùng.
4.4. Thực hành và yêu cầu đối với sản xuất
4.4.1. Quan niệm chung
4.4.1.1. Cá tươi phải được xử lý, chế biến và
phân phối cẩn thận và trong thời gian ngắn nhất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cá tươi thường được xử lý một số lần sau khi
được đưa lên bờ, và hậu quả của sự bị thâm tím, nhiễm bẩn hoặc để ở nhiệt độ
quá cao quá mức sẽ trở lên rõ ràng lúc sản phẩm cuối cùng đến được người tiêu thụ.
Cá tươi có thời gian rất ngắn để giữ được trong điều kiện để bán được.
Những bước chính xác tiếp theo việc bốc dỡ cá
từ tàu xuống có khác nhau giữa các nghề cá. ở một số khu vực, mẻ cá có thể được
bốc dỡ và vận chuyển trực tiếp đến một nhà máy chế biến lớn, ở nơi khác, nó có
thể được để vào các thùng chứa ở thị trường và bán đấu giá. Cũng có thể bán qua
trung gian trước khi cá đến được người chế biến.
Dù là hệ thống nào, điều chủ yếu là đảm bảo
cho cá đến được người tiêu dùng trong điều kiện có thể chấp nhận được.
4.4.1.2. Cá tươi phải luôn luôn được xử lý có
vệ sinh.
Moi ruột, lạng philê và các thao tác khác
trong việc xử lý cá phải sạch và có vệ sinh. Phải thận trọng để bảo vệ cá không
bị nhiễm bẩn do súc vật, côn trùng, chim, chất nhiễm bẩn hoá học hoặc vi sinh
vật hoặc các chất không được cho phép khác trong quá trình chế biến, xử lý và
bảo quản. Từ các khâu chuẩn bị, đến thành phẩm và các khâu bao gói, phải được
định mức thời gian để cho phép xử lý khác nhau trong đợt sản xuất liên tục,
trong khoảng thời gian và nhiệt độ phòng ngừa được sự hư hỏng, hoặc sự phát
triển của các vi sinh vật có ảnh hưởng về mặt y tế.
Nên phát triển một biểu thời gian cho phép,
trong đó mỗi nguyên công được ấn định một phần của tổng thời gian cho phép mỗi
con cá được lưu lại trong một nhà máy chế biến cá tươi.
4.4.1.3. Phải có các phương tiện đầy đủ trong
nhà máy chế biến để giữ được cá trong điều kiện làm lạnh.
Khi các lô cá không được xử lý khi đến xưởng,
hoặc khi thành phẩm không thể phân phối ngay sau khi bao gói, yêu cầu phải có
các phương tiện đầy đủ để giữ lạnh cho cá hoặc các sản phẩm của cá. Tuy nhiên
phải lưu ý rằng, nếu đã có các phòng lạnh, các phòng này không phải được thiết
kế đã làm lạnh cá mà chỉ là để giữ chúng trong điều kiện đó, sau khi chúng được
làm lạnh bằng đá hoặc các phương tiện khác.
Tuy nhiên không đưa vào phòng lạnh những lượng
cá tươi chưa được làm lạnh trước đến nhiệt độ của nước đá chảy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.4.1.4. Không được giao bán hoặc dùng để chế
biến tiếp những con cá đã bị hư hỏng hoặc đã qua quá trình phân huỷ, hoặc đã bị
nhiễm bẩn các chất lạ tới mức làm cho cá không sử dụng được cho con người.
Phải vứt bỏ những cá tươi, nếu biết là chúng
chứa các chất nguy hiểm bị phân huỷ hoặc ngoại lai, sẽ không được loại bỏ đến
mức được qui định bằng các phương pháp thông thường về phân loại hoặc chế biến.
Phải vứt bỏ con cá trong đièu kiện bị nhiễm bệnh hoặc phải bỏ phần bị bệnh đi.
Chỉ có những con cá sạch, nguyên vẹn mới được dùng để chế biến tiếp và phân
phối.
4.4.2. Xử lý cá nguyên con và đã bỏ ruột
4.4.2.1. Cá không được bày hoặc để ở chợ hoặc
các gian đấu giá lâu quá mức cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu về thanh tra và
bán.
Hệ thống bán đấu giá mang lại một số lợi ích
kich tế, nhưng nếu việc đấu giá yêu cầu phải bầy những con cá không được làm
lạnh, thì về kỹ thuật không nên làm như vậy. Phải luôn luôn trộn cá với những lượng
nước đá thích hợp. ở các khu vực chỉ có một lần đấu giá trong một ngày, việc
bán có thể kéo dài do một số lý do, làm tăng tỷ lệ hư hỏng. Có thể tránh tình
trạng không mong muốn này ở các nghề cá có tổ chức nhiều cuộc bán đấu giá các
mẻ cá khác nhau trong một ngày.
ở một số khu vực, cá được bán theo mẫu, và phương
pháp này tránh được việc để mẻ cá ở chợ mà không có nước đá, do cá có thể để
trên tàu cho đến khi có phương tiện vận chuyển để chở cá ngay đến người chế
biến hoặc người bán hàng. Nếu những lượng cá lớn đã được cân vào các thùng chứa
để bán ở ngoài thị trường, thì khó đảm bảo ướp cá đầy đủ. ở đây, lại thấy rằng
cá đóng vào thùng và ướp đá trên biển, và bốc dỡ và phân phối trong cũng những thùng
chứa, là có lợi rõ rệt.
4.4.2.2. Phải trộn đều nước đá đã đập nhỏ với
cá khi đổ vào thùng chứa để bán ở thị trường.
Phải ướp đá trên mặt và dưới đáy với nhiều nước
đá trộn đều với cá nhỏ. ướp đá ở đáy sẽ làm chậm việc chuyển nhiệt lượng từ sàn
chợ và cá trên mặt ngăn ngừa được việc làm khô, làm lạnh và bảo vệ được cá.
Ngay cả khi không thực hiện được việc ướp đá đúng qui định, thì một lớp nước đá
bị đập nhỏ trên mặt tốt hơn là hoàn toàn không ướp đá.
4.4.2.3. Phải phân cấp và phân loại cá đưa
bán ở thị trường sao cho toàn bộ cá trong một thùng chứa thuộc loài, cỡ và chất
lượng tương tự.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.4.2.4. Không được đi lên trên cá hoặc đá cá
và đi bên trên các thùng cá để ở thị trường.
Việc xử lý thô bạo, không cẩn thận hoặc để
cho bị ô nhiễm có thể giảm chất lượng của cá qua việc huỷ hoại về vật chất hoặc
sự tổn thương tăng lên.
4.4.2.5. Những thủ tục kiểm tra không được
làm chậm trễ việc bán mẻ cá.
Phải tiến hành kiểm tra nhanh chóng và dựa vào
các tiêu chuẩn kỹ thuật đúng đắn. Không được dẫn đến kết quả làm tăng nhiệt độ
của cá.
4.4.2.6. Không được trút các thùng cá trên
sàn chợ đi kiểm tra.
Việc này có thể gây ô nhiễm do các bề mặt
không sạch. Nếu cá đã được phân cấp và phân loại đúng đắn, thì chỉ cần kiểm tra
một con cá trên mặt của một thùng hoặc một mẻ cá.
4.4.2.7. Ngay sau khi bán cá phải được chuyển
khỏi chợ. Người phân phối và người chế biến phải thu xếp để chuyển cá đi ngay
sau khi bán, và khi cần phải nhanh chóng cho thêm nước đá.
Một số nhận xét cho thấy rằng ngay ở khí hậu
ôn đới nhiệt độ của cá được ướp đá, để trên sàn chợ hoặc những nơi tương tự, có
thể tăng lên tới 160C (610F) ở trên mặt thùng. Đã giả
thích rằng cá bị hư hỏng rất nhanh ở nhiệt độ đó.
4.4.2.8. ở mọi lúc, phải giữ cho cá lạnh và
vận chuyển nhanh chóng trên dây chuyền chế biến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong một số trường hợp có thể chỉ cần bảo
quản bằng nước biển, hoặc nước muối hoặc nước biển đã được làm sạch, chỉ cần cá
không được làm lạnh dưới -10C (300F). Không được bảo quản
cá theo cách này quá khoảng một ngày.
4.4.2.9. Một số cá nguyên con có thể yêu cầu
mổ một khi đưa đến nhà máy chế biến. Công việc này phải được tiến hành một cách
có hiệu quả và thận trọng.
Dù rằng với phương pháp cơ giới hoặc thủ
công, việc mổ ruột phải hoàn chỉnh nhằm lấy đi tất cả ruột, gan, máu dọc theo xương
sống và moi màng bụng rồi mất mầu. Khi moi ruột, dao không được cắt ngang ruột
để lòi chất chứa bên trong ra hoặc đi quá hậu môn để cho các cơ bắp vô trùng
chịu tác động của vi trùng và endim. Một số loài cá để lạng philê không cần
phải moi ruột.
4.4.2.10. Ngay sau khi mổ và trước khi bao
gói, phải rửa kỹ toàn bộ cá, dùng nước uống lạnh hoặc nước biển sạch lạnh.
Không được để cá chịu những ảnh hưởng làm ẩm của nước trong thời gian dài. Sau
khi rửa, phải để cá ráo nước.
Rửa cá đúng qui cách sẽ lấy đi tất cả những
vết của nhớt, máu và mảnh ruột có thể nhiễm bẩn thịt cá. Để cá trong nước rửa
trong thời gian dài sẽ đẩy nhanh sự hư hỏng do nhiệt độ tăng. Thùng chứa để rửa
cá phải được một dòng nước uống lạnh hoặc nước biển sạch lạnh liên tục chảy vào
để giữ cho nhiệt độ thấp và với những lượng đầy đủ, ngăn ngừa sự tích tục các
vật liệu nhiễm bẩn. Nếu cá không được để ráo nước, mà được đóng gói đang còn
rất ướt, trong thùng nước đá sẽ tan chảy quá mức.
4.4.2.11. Phải làm sạch trước, đầy đủ cho cá
trước khi đóng gói để vận chuyển đi.
Nếu chậm chễ trong việc đóng gói, phải làm
lạnh trước cho cá bằng cách ngâm trong hỗn hợp nước đá và nước hoặc nước biển
đã làm lạnh. Việc làm lạnh trước cho cá sẽ làm giảm sự tan chảy của nước đá
dùng trong các thùng chứa để chuyển hàng.
4.4.2.12. Phải dùng những lượng đủ nước đá đã
đập nhỏ trong việc đóng gói cá để vận chuyển. Nước đá phải được phân bố đều với
cá và cũng phải được bao bọc cá với những lượng đủ để ngăn cách cá với thành
thùng trong quá trình vận chuyển.
Lượng nước đá yêu cầu khi đóng gói sẽ phụ
thuộc vào thời gian vận chuyển và nhiệt độ môi trường chung quanh, lượng nước
đá phải luôn luôn nhiều hơn, đủ dùng để giữ được trong suốt chuyến vận chuyển.
Mức tối thiểu nên là một phần nước đá cho ba phần cá. Nếu nước đá được trộn đều
với cá và xung quanh nó, thì sẽ hạn chế đến mức tối thiểu sự hư hỏng về chất lượng
cá do nhiệt độ tăng và sự tăng trưởng của vi sinh vật.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhiệt chuyển từ vùng có nhiệt độ cao hơn sang
vùng có nhiệt độ thấp hơn, và do vậy sẽ vào các thùng cá qua các bề mặt tiếp
xúc với môi trường chung quanh ấm hơn. Từ đó, có thể giảm tốc độ nhiệt chuyển
vào các thùng xếp bằng cách giảm đến mức tối thiểu tổng bề mặt tiếp xúc của
thùng. Có thể làm được điều này bằng cách xếp các thùng xít với nhau và bằng
một cách đặt một lớp đá đập nhỏ xung quanh nếu được.
Tất nhiên, cách nhiệt sẽ làm giảm lượng nhiệt
xâm nhập vào thùng chứa của xe, đặc biệt trong thời tiết ấm, nắng. Điều này sẽ
làm giảm nước đá tan quá mức. Trong vùng khí hậu ấm, nước đá đóng gói cùng với
cá trong các thùng chứa vận chuyển lớn có thể nhanh chóng bị tan, nếu như các
thùng chứa lúc đầu không được làm sạch. Khó khăn ở đây là thời gian cần để xếp
hàng vào thùng chứa thường là triệt tiêu hiệu quả của việc làm lạnh trước.
Trong nhiều khu vực không có vận chuyển bằng
contơnơ, đối với vận chuyển đường ngắn, dùng loại xe hở. Các thùng cá xếp trên
các xe này phải được bao bọc bằng nước đá và phủ bằng các đệm nước đá (đệm cách
nhiệt), vải bạt hoặc vải dầu.
4.4.2.14. Nếu cá được vận chuyển trong các xe
có thùng chứa được làm lạnh cơ học, phải cho không khí lạnh chuyển vận hoàn
toàn xung quanh hàng. Phải giữ nhiệt độ hơi cao hơn điểm tan của nước đá sao
cho nước đá tan luôn làm lạnh cá và để tránh được sự đóng băng một phần của
những lớp cá bên ngoài.
Nhiệm vụ hàng đầu của không khí lạnh là hấp
thụ nhiệt đi vào qua thành của thùng chứa. Nếu các thùng ngăn cản sự vận chuyển
tự do của không khí lạnh thì có nguy cơ một phần hàng sẽ có nhiệt độ cao hơn.
Rất dễ khống chế tự động các nhiệt độ cao hơn điểm tan của nước đá, do vậy mà
có thể tránh được hu hỏng do đóng băng một phần. Phải lưu ý rằng các thùng chứa
được làm lạnh không có nghĩa là làm lạnh hàng vận chuyển. Mục đích của chúng là
giữ cho hàng trong điều kiện lạnh sau khi đã được làm lạnh với nước đá.
4.4.3. Xử lý philê và các sản phẩm tương tự.
4.4.3.1. Cá không thể được chế biến ngay khi
về đến nhà máy phải được ướp đá đầy đủ trong các thùng chứa sạch và bảo quản
trong các khu vực đã được chỉ định đặc biệt bên trong nhà máy, ở đấy cá sẽ được
bảo vệ chống nhiệt và các điều kiện thời tiết, và sẽ không bị nhiễm bẩn do bụi,
côn trùng hay vật gây hại. Nếu được, cá ướp nước đá phải được bảo quản trong
một phòng lạnh có nhiệt độ ngay sát trên nhiệt độ của nước đá tan.
Nhằm sản xuất ra philê hoặc sản phẩm tương
tự, có chất lượng tốt, phải giữ được chất lượng cá tươi, bằng cách bảo vệ cá
chống nhiệt, nhiễm bẩn do các nguồn khác hoặc huỷ hoại vật chất.
Lại phải nhấn mạnh rằng đặt cá vào phòng lạnh
không loại bỏ nhu cầu ướp cá đầy đủ. Phòng lạnh được thiết kế để giữ được một
nhiệt độ làm lạnh và giữ cho cá đã được làm lạnh không nóng lên. Các máy làm
lạnh dùng cho hoạt động của phòng lạnh không đủ để làm hạ nhiệt độ của một khối
cá trong một thời gian ngắn. Phải tiến hành làm lạnh ban đầu bằng cách cho thêm
nước đá.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phải trang bị cho phòng lạnh một nhiệt kế tự
ghi và một cái điều chỉnh nhiệt độ tự động và phải thiết kế phòng sao cho nó có
thể giữ được trong điều kiện vệ sinh sạch sẽ ở mọi lúc. Phòng lạnh cũng phải được
trang bị với một hệ thống báo động tự động để báo động cho các nhân viên khi
nhiệt độ xuống dưới 00C ( 320F).
4.4.3.2. Phải phân loại cẩn thận toàn bộ cá
trước khi chúng được lạng philê và chế biến theo một cách tương tự. Phải loại
bỏ bất kỳ một con cá nào bị huỷ hoại, bị nhiễm bẩn hoặc không thể chấp nhận được.
Đã nói rằng chất lượng và thời gian bảo quản
của philê và các sản phẩm tương tự, phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của con cá
làm ra các làm ra các sản phẩm đó.
Cá đã bị huỷ hoại sản xuất ra các philê kém
không chấp nhận được, và nếu đã bị nhiễm bẩn bằng bất kỳ cách nào có thể làm
lan truyền sự nhiễm bẩn đó đến các bề mặt làm việc và các philê khác. Philê của
một số loài cá sẽ bị thâm đáng kể do để ra không khí và do vậy, tốt hơn là làm
lạnh chúng nhanh hơn là đem bán chúng làm cá tươi.
4.4.3.3. Phải rửa kỹ toàn bộ cá trước khi đưa
chúng lên bàn lạng philê hoặc moi ruột. Một vài loài có thể yêu cầu cân và phải
được rửa sạch sau đó.
Những vi sinh vật gây hỏng chủ yếu là từ các
bề mặt của cá đang được chế biến. Kinh nghiệm cho thấy rằng hầu hết các vi sinh
vật có trên bề mặt có thể được lấy đi bằng cách rửa kỹ.
Đôi khi yêu cầu phải đánh vảy một số loài cá,
đặc biệt là nếu chúng được bán như là philê không lột da. Phải rửa kỹ cá sau
khi đánh vảy, nếu không các vảy rời dính trên bề mặt, có thể ở lại trên philê
và do vậy ảnh hưởng đến dạng bên ngoài của chúng.
Khi xử lý các philê không lột da, không nên
xếp chồng chúng theo cách da tiếp xúc với thịt, bởi vì cách làm này sẽ nhiễm
bẩn các bề mặt thịt hầu như vô trùng của các philê do các vi sinh vật ở da.
Điều này sẽ sảy ra ngay cả khi cá được rửa kỹ trước khi lạng philê.
4.4.3.4. Phải huấn luyện và yêu cầu tất cả
những công nhân làm philê phải sử dụng kỹ thuật làm philê, theo đó sự tiếp xúc
giữa bề mặt cắt của philê và tấm ván làm philê phải giảm đến mức tối thiểu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bề mặt của philê vừa mới cắt thực tế không có
vi sinh vật trừ phi những vi sinh vật đã được lưỡi dao làm philê đưa vào. Do
đó, phải lấy philê đi với cùng con dao đó khỏi xác cá mà không đụng đến bề mặt
của tấm thớt làm philê thường là bị nhiễm vi sinh vật từ do hoặc chất chứa
trong ruột cá.
Phải tránh cắt qua ổ bụng trong khi lạng
philê cá không moi ruột.
4.4.3.5. Đối với dây truyền lạng philê không
cơ khí hoá phải điều chỉnh sự cung cấp cá tươi cho dây chuyền sao cho mỗi con
cá có thể được chế biến trong thời hạn ngắn nhất.
Thường xảy ra tình trạng các dây chuyền làm
philê ứ đọng quá mức dẫn đến kết quả là tích tụ cá tươi trước mặt người lạng
philê. Trong trường hợp như vậy, thường là lớp bên trên hoặc con cá mà người
lạng philê dễ lấy nhất sẽ là con đầu tiên đi vào dây chuyền chế biến, trong lúc
con cá ở dưới và xa, người lạng philê khó với, có thể ở lại hàng giờ ép vào bề
mặt di chuyển của băng tải hoặc bỏ lại trong vũng nước đọng có chứa nhớt, máu
và dịch tiêu hoá của cá.
4.4.3.6. Sau khi cắt, phải đặt philê hoặc sản
phẩm tương tự trực tiếp lên trên băng chuyền sạch hoặc vào các thùng chưá sạch.
Phải tránh chất đống những lượng lớn vào một thùng chứa.
Nếu được, trong khi chế biến, phải chuyển các
philê không lột da theo từng cá thể bằng băng chuyền sao cho có thể tránh được
sự tiếp xúc giữa da và các philê khác, do vậy mà giảm được nguy cơ nhiễm vi khuẩn.
Thùng để chứa các philê hoặc khúc cá tươi
ngay sau khi lạng philê hoặc cắt phải có cỡ sao cho không yêu cầu quá 15 phút
để đổ đầy.
Khi các thùng chứa đã đầy, phải chuyển chúng
không chậm trễ đến giai đoạn chế biến tiếp theo. Để những thùng chứa đầy, chồng
chất lên sàn hoặc trên các khay nâng bên cạnh dây chuyền làm philê và bên dưới
mức chế biến của dây chuyền, như thỉnh thoảng vẫn xảy ra, có thể dẫn đến kết
quả là bị nhiễm bẩn nghiêm trong do bị bắn nước bẩn từ dây chuyền chế biến.
4.4.3.7. Nên thường xuyên tiến hành xem xét
các philê của một số loài cá.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tuy rằng hầu hết các loại ký sinh trùng tìm
thấy ở cá không nguy hiểm đối với con người, đa số người tiêu dùng không chấp
nhận có ký sinh trùng trong cá hoặc sản phẩm cá.
Việc xem xét đúng cách và cẩn thận không
những sẽ lấy đi những ký sinh trùng không mong muốn mà cũng sẽ phát hiện và lấy
đi các vết máu, mảnh da trên các philê không da và bất kỳ các khuyết tật nào
khác có thể làm giảm chất lượng toàn diện của sản phẩm.
4.4.3.8. Nếu cá phải được ngâm hoặc phun phụ
gia thực phẩm, cần phải có ý kiến của một nhà công nghệ thực phẩm có kinh
nghiệm hoặc một cơ quan có thẩm quyền.
Không còn nghi ngờ gì, bất kỳ một chất phụ
gia nào hoặc một sự xử lý bổ sung nào đối với cá trong quá trình chế biến, đều
làm tăng chi phí và do vậy phải được tính toán so với những lợi ích có được.
Một chất phụ gia được phép trong một nước này có thể không được phép trong một
nước khác.
4.4.3.9. Nhằm giữ được chất lượng và thời
gian bảo quản của philê và khúc cá, phải giữ các sản phẩm này càng lạnh càng
tốt trong suốt toàn bộ các khâu chế biến. Phải tiến hành cẩn thận tất cả công
việc càng nhanh càng tốt. Không được chậm trễ từ lúc cắt cá đến lúc philê hoặc
các sản phẩm tương tự lại trở lại điều kiện lạnh.
Không thể tránh được nhiệt độ của philê hoặc
của sản phẩm tương tự tăng lên từ lúc lấy cá đã moi ruột ra khỏi nơi bảo quản
lạnh đến lúc sản phẩm hoàn thành có thể lại được đặt trong các điều kiện lạnh.
Trong khi nước uống lạnh hoặc nước biển sạch lạnh dùng để rửa và các dung dịch
ngâm lạnh giúp cho nhiệt độ của philê và khúc cá được thấp, thì ngay cả những thao
tác nhanh và có hiệu quả cũng có thể làm giảm bớt tác động làm nóng nhẹ.
4.4.3.10. Phải làm lạnh đúng quy cách philê
và các sản phẩm tương tự trước khi đóng gói để gửi đi.
Nếu phải có sự chậm trễ trong đóng gói thì
việc làm lạnh trước sản phẩm sẽ giữ được nước đá dùng cho việc đóng gói thùng.
Các lớp philê cá biệt hoặc mỏng sẽ lạnh nhanh hơn là các lớp philê xếp thành
đống. Trong một vài trường hợp có thể làm lạnh philê hoặc các sản phẩm tương tự
bằng cách ngâm nhanh trong một hỗn hợp nước đá và nước. Cũng đã có kết luận về
cách làm lạnh tốt bằng cách để ở nhiệt độ khoảng –50C ( 230F).
Trong trường hợp này phải rất cẩn thận để tránh huỷ hoại do đóng băng một phần.
4.4.3.11. Phải bao gói các philê và các sản
phẩm tương tự chưa được làm lạnh trước khi bao gói, sao cho không có phần nào
của philê ở cách nước đá hoặc môi trường làm lạnh thích hợp khác hơn 4 cm (
in).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.4.3.12. Phải bao gói philê và các sản phẩm
tương tự để vận chuyển sao cho không có sự tiếp xúc trực tiếp với nước đá hoặc
nước đá tan. Phải dùng giấy bền-ẩm hoặc màng chất dẻo để bao gói sản phẩm và
ngăn cách chúng với nước đá dùng để đóng gói.
Ngay sau khi cân phải tiến hành bao gói nhanh
và có hiệu quả. Sự tiếp xúc kéo dài với nước đá hoặc nước đá tan có thể dẫn đến
kết quả là mất mùi vị và các thành phần dinh dưỡng, làm nền cấu trúc và làm
hỏng trạng thái bề mặt.
Những sự phát triển kỹ thuật và thương mại đã
dẫn đến kết quả là có được hàng loạt các vật liệu và kiểu bao gói được dùng để
phân phối philê, bao gồm từ việc gửi hàng rồi các philê không bao gói đến các
kiểu và các cỡ bao gói khác nhau, gồm cả bao gói kín tự phục vụ với thời gian
quy định.
Nước đá đóng gói trong cùng một thùng chứa
với philê, nhưng không tiếp xúc trực tiếp với chúng, vẫn còn là một phương pháp
chung nhất để duy trì được điều kiện làm lạnh trong khi vận chuyển. Nước đá khô
hoặc các dung dịch ôtecti đã được làm lạnh trước để trong các thùng chứa chất dẻo
hoặc kim loại, được dùng trong các thùng chứa ( master) có đặc tính cách nhiệt
tốt. Cũng sử dụng cả việc làm lạnh cơ học có kiểm tra cẩn thận. Các phương tiện
vận chuyển phải giống như các phương tiện đã được đề nghị dùng cho cá nguyên
con và cá đã mổ ruột.
Dù là phương pháp nào, vấn đề tối quan trọng
là các philê và các sản phẩm tương tự phải được bảo vệ chống nhiễm bẩn, trong
một số trường hợp, chống sự làm khô, và phải luôn luôn được giữ càng gần càng
tốt với nhiệt độ của nước đá tan cho đến khi chúng đến được người tiêu dùng.
4.4.3.13. Các vật liệu bao gói phải đủ chắc
chắn và bền để chịu đựng được các ứng lực trong quá trình chế biến, xử lý, bảo
quản và phân phối.
Bao gói phải có khả năng chịu được các ứng
lực trong quá trình lắp ráp, đổ đầy, đóng kín bằng máy, bảo quản và vận chuyển.
Độ bền ẩm và tính không thấm ẩm là cần thiết do sản phẩm có thể bị ướt, khi được
đóng gói. Độ dẻo ở nhiệt độ thấp của vât liệu bao gói sẽ ngăn ngừa chúng khỏi
bị gãy hoặc xé rách trong quá trình bảo quản hoặc vận chuyển. Các vật liệu cán
mỏng không được bong ra khi bị ẩm ướt.
4.4.3.14. Vật liệu bao gói phải sạch và được
bảo quản có vệ sinh. Phải tiến hành bao gói trong các điều kiện ngăn ngừa được
nhiễm bẩn đối với sản phẩm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.4.3.15. Nếu được, việc bao gói sẵn cũng
phải do nhà máy chế biến cá tươi tiến hành hơn là do người phân phối hay là người
bán lẻ làm.
Cá được đóng gói sẵn thành những bao gói cuối
cùng cho người tiêu dùng, có lợi và có thể được nhân viên không chuyên môn xử
lý và có thể được người mua xem xét một cách dễ dàng về loại cá, các chất phụ
gia, số lượng, giá cả và phương pháp chế biến. Nếu được bao gói đúng qui cách,
có thể được vận chuyển và giữ cùng với các thực phẩm khác mà không có nguy cơ
bị nhiễm bẩn do nước cá ép hoặc do mùi cá.
Chỉ được đóng gói sẵn cá có chất lượng tốt
nhất và vật liệu bao gói phải bảo vệ được cá không bị khô, bị ngưng tụ bên
trong và tích tụ nước ép cá không thấy được. Bao gói cuối cùng phải chắc và hấp
dẫn.
4.4.3.16. Thùng đựng philê và sản phẩm tương
tự phải được bốc xếp rất cẩn thận trong quá trình vận chuyển và phân phối.
Không bao giờ được lật ngược thùng.
ở một số vùng, có thể nâng chuyển và xếp
thùng nhiều lần trong quá trình phân phối.
Việc bốc vác thường là rất thô bạo, do thiếu
thời gian ở điểm chuyển giao và việc áp dụng các phương pháp đã lỗi thời để
nâng chuyển những lượng lớn thùng. Phải lưu ý rằng, các thùng này chứa thực
phẩm cho người sử dụng và cần phải áp dụng các kỹ thuật nâng chuyển hiện đại để
tránh bị huỷ hoại có thể dẫn đến việc nhiễm bẩn sản phẩm được đóng gói. Không
bao giờ được lộn ngược các thùng do có thể dẫn đến việc làm méo mó, nhăn nheo
các phi lê và có thể gây ra sự mất khối lượng do áp lực quá mức lên các philê ở
đáy. Nó cũng có thể nhiễm bẩn các philê với nước đá tan.
4.5. Chương trình kiểm tra vệ sinh
4.5.1. Vì lợi ích của riêng mình, mỗi nhà máy
chế biến cá nên chỉ định một cá nhân, tốt nhất là tách khỏi sản xuất, có trách
nhiệm về sự sạch sẽ của cơ sở.
Người đó hoặc các nhân viên phải là một bộ
phận thường trực của tổ chức hoặc được tổ chứ sử dụng và phải được huấn luyện kỹ
về việc sử dụng các dụng cụ làm sạch đặc biệt, phương pháp tháo rời thiết bị
làm sạch, về ý nghĩa của sự nhiễm bẩn và các nguy cơ có liên quan. Phải thảo ra
một kế hoạch làm sạch và sát trùng thường xuyên để đảm bảo rằng tất cả các phần
của cơ sở đều được làm sạch một cách thích hợp và các khu vực thiết bị và vật
liệu cần thiết đều đã được chỉ định để làm sạch và/hoặc sát trùng hàng ngày
hoặc thường xuyên hơn, nếu có yêu cầu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.6.1. Cùng với việc kiểm tra của cơ quan có
thẩm quyền, mỗi nhà máy chế biến cá, vì lợi ích của mình, phải có kiểm nghiệm
để xác định được chất lượng vệ sinh của sản phẩm được chế biến.
Qui mô và cách kiểm nghiệm sẽ biến đổi tuỳ
theo sản phẩm thực phẩm cũng như là nhu cầu của quản lý. Những kiểm nghiệm đó
phải loại bỏ tất cả thực phẩm không thích hợp cho sự tiêu thụ của con người.
Các trình tự phân tích áp dụng phải theo đúng
các phương pháp tiêu chuẩn đã được công nhận nhằm để cho các kết quả có thể dễ
dàng giải thích.
5. Qui cách của thành
phẩm
5.1. Phải dùng các phương pháp thích hợp để
lấy mẫu và xem xét nhằm xác định sự phù hợp với các qui cách sau đây:
A. Trong mức độ có thể có được của việc thực
hành chế biến đúng đắn, các sản phẩm nghề cá không được có những chất không được
phép có và các ký sinh trùng.
B. Các sản phẩm nghề cá không được có các vi sinh
vật với lượng có hại đối với con người, không được có các ký sinh trùng có hại
cho người và không được chứa bất kỳ một chất độc nào có nguồn gốc vi sinh vật
với lượng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ.
C. Sản phẩm nghề cá không được có các chất
gây ô nhiễm hoá học với lượng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ.
D. Sản phẩm nghề cá phải phù hợp với bất kỳ
các yêu cầu nào về dư lượng thuốc trừ dịch hại và phụ gia thực phẩm được nêu
trong các qui định hiện hành của Nhà nước.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ
lục 1
CÁC
NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ SỰ ƯƠN CỦA CÁ
Ngay sau khi cá chết, chúng bắt đầu bị ươn,
do đó cá vừa được đánh bắt trải qua các giai đoạn cho đến khi thối rữa và không
thích hợp cho việc tiêu thụ của con người.
Sự ươn xuất hiện do hai lý do chủ yếu: trước tiên,
các quá trình sinh hoá khống chế (enzim tiêu hoá) xuất hiện trong tất cả các mô
sống để hỗ trợ sự tiêu hoá thực phẩm, tiếp tục xảy ra sau khi chết, không được
khống chế. Tiếp đó các enzim tiêu hoá bắt đầu tấn công thịt xung quanh, làm cho
thịt trở thành mềm.
Thứ hai, các vi sinh vật có mặt trên mang,
trong lớp nhớt bề mặt và trong ruột của cá sống, khoẻ mạnh, nhưng không có
trong thịt vô trùng. Ngay sau khi chết, các vi sinh vật trên da lớp nhớt bề mặt
và ruột sinh sôi nhanh chóng và có thể sớm được phát hiện trong thịt gần da và
thành bụng. Sự phát triển vào trong thịt có thể nhanh hơn nhiều nếu cá bị huỷ
hoại bất kỳ như thế nào. Vi sinh vật tiếp tục phát triển bên trong thịt, và
cùng lúc bắt đầu phá vỡ các mô thành một loạt các hợp chất với mùi vị khó chịu,
và do đó cá trở thành ươn. ở một số loài, sự oxi hoá chất béo cũng sẽ nhanh
chóng xuất hiện và làm hỏng mùi vị. Tốc độ của sự thay đổi hoá học và của hoạt
động vi sinh vật phụ thuộc vào nhiệt độ. Nói chung nhiệt độ càng gần với nhiệt
độ nước đá tan, 0oC (320F) thì tốc độ bị hư hỏng về hoá
học và vi sinh vật học càng chậm. Vì lý do này, nước đá dưới dạng này hoặc dạng
khác được dùng trên toàn thế giới để kéo dài thời gian bảo quản của cá.
Do vi sinh vật của ruột và bề mặt mà cá tiếp
xúc, có một vai trò lớn trong việc làm ươn cá, nên cần phải có các tiêu chuẩn
cao về sạch sẽ ở tất cả các giai đoạn của việc xử lý, chế biến, bảo quản và
phân phối. Điều này có nghĩa là phải lưu ý nghiêm ngặt đến việc làm sạch cá một
cách có hiệu quả, việc làm sạch thường xuyên tất cả các bề mặt mà cá tiếp xúc,
sự cung cấp nước không bị nhiễm bẩn, và vệ sinh của công nhân. Các yếu tố này
đều là quan trọng nhằm cung cấp cho người tiêu thụ những thực phẩm nguyên lành
có chất lượng tốt.
Thành phần hoá học của thịt cá biến đổi từ
loài này sang loài khác và ngay cả trong một vài loài tuỳ theo mùa, độ chín,
bãi đánh cá, thức ăn, v.v...Tốc độ ươn do vậy mà có thể biến đổi, và cách bị ươn
có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố này.
Phụ
lục II
CÁC
TIÊU CHUẨN CODEX VỀ CÁ VÀ SẢN PHẨM NGHỀ CÁ VÀ CÁC TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CAC/RCP 8-1976
Phương pháp kiểm tra nhiệt độ sản phẩm các
thực phẩm đông lạnh nhanh
Phụ lục 1, 1978 cho CAC/RCP 8-1976.
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị về cá
tươi
CAC/RCP 9- 1976
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị về cá
đóng hộp
CAC/RCP 10-1976
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị về cá
đông lạnh
CAC/RCP 16-1978
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CAC/RCP 17-1978
Qui phạm thực hành vệ sinh quốc tế kiến
nghị về trai (sò, tôm, cua) thân mềm
CAC/RCP 18-1978
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị về tôm
hùm
CAC/RCP 24-1979
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị về cá hun
khói
CAC/RCP 25-1979
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị về cá
muối
CAC/RCP 26-1979
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CAC/RCP 27-1983
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị về cua
CAC/RCP 28-1983
Tiêu chuẩn về cá hồi Thái bình dương đóng
hộp
CODEX STAN 3-1981
Tiêu chuẩn về cá hồi Thái bình dương mổ
ruột đông lạnh nhanh
CODEX STAN 36- 1981
Tiêu chuẩn về tôm đóng hộp
CODEX STAN 37-1981
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CODEX STAN 50-1981
Tiêu chuẩn về philê cá quân biển đông lạnh
nhanh
CODEX STAN 51-1981
Tiêu chuẩn về cá ngừ trong nước hoặc dầu
đóng hộp
CODEX STAN 70-1981
Tiêu chuẩn về thịt cua đóng hộp
CODEX STAN 90-1981
Tiêu chuẩn về philê và cá dẹt đông lạnh
nhanh
CODEX STAN 91-1981
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CODEX STAN 92-1981
Tiêu chuẩn về philê cá mecluc đông lạnh
nhanh
CODEX STAN 93-1981
Tiêu chuẩn về cá trích và sản phẩm loại cá
trích đóng hộp
CODEX STAN 94-1981
Tiêu chuẩn về tôm hùm đông lạnh nhanh
CODEX STAN 95-1981
Tiêu chuẩn về cá thu và cá sòng Thái bình
dương đóng hộp
CODEX STAN 119-1981
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tài liệu in opset của WHO, số 31(1976)
Qui phạm thực hành quốc tế kiến nghị Nguyên
tắc chung về vệ sinh thực phẩm
CAC/VOL A-Ed-1
Tiêu chuẩn quốc tế về nước uống (WHO)
Xuất bản lần 3, 1971.