ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Số: 234/QĐ-UBND
|
Lạng Sơn, ngày 07
tháng 02 năm 2020
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ
DUYỆT ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN
2020-2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày
19/6/2015;
Căn cứ Luật Lâm nghiệp ngày 15/11/2017;
Căn cứ Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày
16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm
nghiệp;
Căn cứ Kết luận số 1161-KL/TU ngày 25/12/2019
của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại kỳ họp chuyên đề ngày 20/12/2019;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tại Tờ trình số 13/TTr-SNN ngày 15/01/2020,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều
1.
Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án phát triển lâm
nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2020-2030.
Điều
2.
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan, Chủ tịch UBND các
huyện, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Nơi nhận:
-
Như Điều 2;
- Thường trực Tỉnh ủy;
- Thường trực HĐND tỉnh;
- Các Ban đảng Tỉnh ủy;
- MTTQ, các đoàn thể chính trị - XH tỉnh;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh;
- Các Sở, ban, ngành tỉnh;
- UBND các huyện, Thành phố;
- C, PVP UBND tỉnh,
các Phòng: TH, KTTH, TH-CB;
- Lưu: VT, KTN(PVĐ).
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hồ Tiến Thiệu
|
ĐỀ ÁN
PHÁT
TRIỂN LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2020-2030
(Kèm theo Quyết định số 234 /QĐ-UBND ngày 07/02/2020 của UBND tỉnh)
Phần thứ nhất
SỰ CẦN
THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I.
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Luật
Lâm nghiệp 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 là cơ sở pháp lý tiếp
tục tạo cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả khai thác lợi ích đa dạng từ
rừng; tạo điều kiện huy động mọi thành phần kinh tế tham gia bảo vệ và phát
triển rừng; góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh
- quốc phòng và bảo vệ môi trường. Các quy định của Luật Lâm nghiệp và các cơ
chế, chính sách liên quan cần được cụ thể hóa bằng các đề án phát triển phù hợp
với thực tiễn của địa phương. Bên cạnh đó, trong bối cảnh khoa học, công nghệ
phát triển ngày càng mạnh mẽ, công tác quản lý ngành lâm nghiệp cần phải thường
xuyên có các giải pháp để phát huy hiệu quả việc ứng dụng thành tựu khoa học,
công nghệ trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhất là trong phát triển
giống cây trồng, kỹ thuật canh tác lâm nghiệp và chế biến lâm sản.
Đối
với tiềm năng phát triển lâm nghiệp của tỉnh Lạng Sơn, trong tổng diện tích tự
nhiên 831.009 ha, diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 617.973,34 ha, chiếm
74,36% diện tích tự nhiên của tỉnh; diện tích rừng hiện có là 497.368,25
ha, trong đó: Rừng tự nhiên 280.287,53 ha, rừng trồng 217.080,72 ha.
Điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của tỉnh cơ bản thuận lợi, phù hợp cho phát triển
sản xuất lâm nghiệp. Vị trí địa lý của Lạng Sơn thuận lợi cho giao lưu kinh tế,
thương mại với các tỉnh trong khu vực và thế giới. Dân số Lạng Sơn phần lớn
sống ở nông thôn, miền núi (dân số nông thôn của tỉnh năm 2019 là 622.646
người/782.666 người[1],
chiếm 79,55% dân số của tỉnh); cuộc sống của người dân nông thôn, miền núi phụ
thuộc nhiều vào sản xuất lâm nghiệp, đồng thời lao động nông thôn là tiền đề
quan trọng để thúc đẩy phát triển lâm nghiệp của tỉnh.
Với những lợi thế, tiềm năng
và yêu cầu, nhiệm vụ về phát triển lâm nghiệp,
trong những năm qua tỉnh Lạng Sơn đã ban hành và triển khai thực hiện các chính
sách để hỗ trợ phát triển kinh tế lâm nghiệp; huy
động nhiều nguồn lực đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa sản xuất lâm
nghiệp,... Do đó, kinh tế lâm nghiệp của tỉnh đã phát triển khá rõ nét. Cơ cấu
các sản phẩm lâm nghiệp trong GRDP của tỉnh năm 2010 là 5,79%, năm 2019 là
6,25%; tốc độ tăng trưởng của ngành lâm nghiệp năm 2010 là 2,45%, năm 2019 đạt
6,93%; giá trị sản xuất lâm nghiệp theo
giá hiện hành đạt 3.447 tỷ đồng; tỷ lệ che phủ rừng
của tỉnh đạt 62,80% năm 2019.
Mặc
dù đã đạt được những kết quả nhất định, kinh tế lâm nghiệp của
tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Năng
suất rừng trồng trên địa bàn tỉnh vẫn còn thấp (đạt khoảng 70-100 m3
gỗ/ha/chu kỳ 7 năm đối với các cây nguyên liệu chính là Keo và Bạch đàn), giá
trị gỗ nguyên liệu và các sản phẩm lâm nghiệp chưa cao, việc
cung ứng cây giống chất lượng cao chưa chủ động, phát
triển trồng cây dược liệu dưới tán rừng còn hạn chế,... Sản
xuất lâm nghiệp chủ yếu là nhỏ lẻ, manh mún, trình độ áp dụng tiến bộ khoa học
- công nghệ trong sản xuất chưa cao, kết nối giữa sản xuất và thị trường chưa
tốt. Những hạn chế trên làm giảm hiệu suất sử dụng đất, làm chậm
tốc độ tăng trưởng của ngành, giảm cơ hội tiếp cận thị trường và trình độ phát
triển tiên tiến trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ảnh hưởng trực tiếp
đến thu nhập và cuộc sống của nhân dân.
Để
phát triển ngành lâm nghiệp của tỉnh tương xứng với tiềm năng, khắc phục những
hạn chế còn tồn tại và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh, phát huy, khai thác tốt các nguồn lực, lợi thế để lâm nghiệp trở
thành ngành kinh tế chủ lực, việc xây dựng Đề án phát triển lâm nghiệp bền
vững trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2020-2030 là rất cần thiết.
II.
CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Luật
Lâm nghiệp năm 2017;
- Luật
Bảo vệ môi trường năm 2014;
- Luật
Đất đai năm 2013;
- Luật
Đa dạng sinh học năm 2008;
- Nghị
định số 156/2018/ND-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Lâm nghiệp;
- Nghị
định số 75/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và
phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng
bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020;
- Nghị
định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và
phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp;
- Nghị
quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới
và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp;
- Quyết
định số 681/QĐ-TTg ngày 04/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành lộ
trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững Việt Nam đến năm 2030;
- Quyết
định số 1288/QĐ-TTg ngày 01/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án
quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng;
- Quyết
định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương
trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020;
- Quyết
định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng,
giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp;
- Quyết
định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Chỉ
thị số 08/CT-TTg ngày 28/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ,
giải pháp phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản
ngoài gỗ phục vụ xuất khẩu;
- Quyết
định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành
Danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xuất và danh mục các loài cây
chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp;
- Thông
tư số 30/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn quy định danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính; công nhận
giống và nguồn giống; quản lý vật liệu giống cây trồng lâm nghiệp chính;
- Nghị
quyết số 29-NQ/TU ngày 11/10/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về
phát triển lâm nghiệp tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2020;
- Kết
luận số 189-KL/TU ngày 15/12/2014 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về
việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
về phát triển lâm nghiệp tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2020;
- Chương
trình số 22/CTr-UBND ngày 15/7/2016 của UBND tỉnh Lạng Sơn về tái cơ cấu ngành
nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020;
- Chương
trình hành động số 30/CTr-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Lạng Sơn về thực
hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và
phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;
- Quyết
định số 1756/QĐ-UBND ngày 11/9/2019 của UBND tỉnh Lạng Sơn về Ban hành danh mục
sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Lạng Sơn;
- Quyết
định số 2447/QĐ-UBND ngày 30/11/2018 của UBND tỉnh Lạng Sơn về Phê duyệt Quy
hoạch rừng đặc dụng tỉnh Lạng Sơn và Quy hoạch bảo tồn phát triển bền vững các
khu rừng đặc dụng Mẫu Sơn, Bắc Sơn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030;
- Quyết
định số 2671/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 của UBND tỉnh về phê duyệt Dự án điều
chỉnh Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Lạng Sơn thời kỳ
2011-2020, định hướng đến năm 2025;
- Quyết
định số 788/QĐ-UBND ngày 03/06/2014 của UBND tỉnh Lạng Sơn về Phê duyệt Quy
hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu rừng đặc dụng Hữu Liên đến năm 2020;
- Quyết
định số 77/QĐ-UBND ngày 17/01/2014 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt Quy
hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020;
- Kế
hoạch số 142/KH-UBND ngày 09/12/2016 của UBND tỉnh Lạng Sơn thực hiện “Chiến
lược quốc gia phát triển ngành dược giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030” trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;
- Các
vấn đề thực tiễn liên quan đến phát triển lĩnh vực lâm nghiệp.
III.
PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Trên
cơ sở thông tin khảo sát, thu thập từ thực tiễn, Đề án được xây dựng thông qua
tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng ngành lâm nghiệp giai đoạn 2010-2019,
nhất là những vấn đề còn tồn tại, hạn chế và nghiên cứu các chủ trương, định
hướng, xu thế phát triển lĩnh vực lâm nghiệp trong những năm tới; từ đó xác
định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho phát triển lâm nghiệp tỉnh Lạng
Sơn giai đoạn 2020-2030.
Mục
tiêu của Đề án được xác định với quan điểm Lạng Sơn là tỉnh có lợi thế lớn về
phát triển kinh tế lâm nghiệp và sản xuất lâm nghiệp có ý nghĩa kinh tế, xã hội
và môi trường sâu sắc đối với phần lớn nhân dân trong tỉnh. Từ các mục tiêu của
Đề án, các nhiệm vụ thực hiện Đề án được xây dựng bao gồm các hoạt động xuyên
suốt từ khâu quản lý ngành, các hoạt động sản xuất cụ thể, phát triển thị
trường và tổ chức sản xuất. Các giải pháp được đưa ra để thực hiện các nhiệm vụ
của Đề án tập trung vào giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và
thiết lập các chuỗi liên kết trong sản xuất lâm nghiệp; các giải pháp đưa ra chú
trọng đảm bảo tính khả thi, thực tiễn, tiên phong và dài hạn.
IV.
NỘI DUNG ĐỀ ÁN
Đề án
bao gồm các nội dung:
- Phần
thứ nhất: Sự cần thiết và căn cứ xây dựng Đề án.
- Phần
thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng ngành lâm nghiệp Lạng Sơn giai đoạn
2010-2019.
- Phần
thứ ba: Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển lâm nghiệp Lạng Sơn giai đoạn
2020-2030.
- Phần
thứ tư: Tổ chức thực hiện.
Phần thứ hai
PHÂN TÍCH,
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2010 – 2019
I. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN
TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí
địa lý
Lạng Sơn là tỉnh miền núi,
biên giới, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, nằm trong vĩ độ 21o19’
- 22o27’vĩ Bắc, kinh độ 106o06 - 107o21’ kinh
Đông, cách thủ đô Hà Nội 154 km; phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Bắc
giáp Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Bắc
Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Bắc Kạn. Vị trí
địa lý của Lạng Sơn thuận lợi cho sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh tiếp cận với các
thị trường trong nước và thế giới.
1.2. Địa hình, đất đai
- Lạng
Sơn có địa hình đa dạng, gồm kiểu địa hình núi cao, núi thấp, núi đá vôi và
vùng đồi gò bát úp; xen kẽ các khu vực đồi, núi là các dải thung lũng, bãi
bằng,… Có thể chia thành 3 tiểu vùng như sau:
+ Tiểu vùng núi cao phía Bắc:
Đây là vùng núi đất xen núi đá rải rác, thuộc các huyện Tràng Định, Bình Gia,
Văn Lãng, Cao Lộc, Thành Phố Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập. Địa hình khu vực này
rất đa dạng, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn.
+ Tiểu vùng núi đá vôi thuộc
cánh cung Bắc Sơn: Chủ yếu nằm trên địa bàn các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Văn
Quan, Chi Lăng, Hữu Lũng. Khu vực này có nhiều hang động, nhiều sườn dốc đứng
và nhiều đỉnh cao trên 500 m.
+ Tiểu vùng đồi và núi thấp: Nằm
ở phía Đông và Nam của tỉnh, bao gồm các huyện Đình Lập, Lộc Bình và phần núi
đất của các huyện Chi Lăng, Hữu Lũng. Khu vực này có nhiều hệ thống đồi, núi
thấp xen kẽ các dạng đồi bát úp, mức độ chia cắt ít phức tạp.
Nhìn chung, sự đa dạng và phức
tạp của địa hình, nhất là độ dốc lớn ở một số khu vực đã hạn chế nhất định đến
các hoạt động tổ chức sản xuất lâm nghiệp của tỉnh, nhất là về áp dụng cơ giới
hóa trong canh tác và trong khâu vận chuyển lâm sản.
- Đất đai Lạng Sơn cơ bản là
màu mỡ, giàu dinh dưỡng, phù hợp cho nhiều loại cây trồng; thổ nhưỡng Lạng Sơn
gồm 43 loại đất khác nhau, hình thành theo các phân vùng địa lý, địa hình, với
đặc trưng là đất feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét. Các nhóm đất
chính bao gồm:
+ Nhóm đất trên núi cao, núi
trung bình: Phân bố ở các huyện Tràng Định, Bình Gia, Văn Quan, Văn Lãng, Cao
Lộc, Lộc Bình, Đình Lập.
+ Nhóm đất trên núi thấp: Phân
bố ở hầu hết các huyện, thành phố.
+ Nhóm đất đồi: Phân bố trên
địa bàn các huyện Đình Lập, Lộc Bình, Chi Lăng, Hữu Lũng và phía Tây Nam huyện
Cao Lộc.
+ Nhóm đất thung lũng: Phân bố
ở hầu hết các huyện, thành phố trong tỉnh.
+ Nhóm đất đồng bằng, dốc tụ,
bồi tụ: Phân bố tập trung tại các huyện Tràng Định, Hữu Lũng và phân bố rải rác
ở hầu hết các huyện, thành phố.
+ Nhóm đất trên địa hình Kastơ
- núi đá vôi và sản phẩm đá vôi: Phân bố tập trung ở các huyện Bắc Sơn, Bình
Gia, Văn Quan, Văn Lãng, Cao Lộc, Chi Lăng, Hữu Lũng.
Sự đa dạng của các loại đất và
các điều kiện tự nhiên khác đã hình thành nên các vùng phân bố cây trồng lâm
nghiệp đặc trưng cho từng khu vực trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, qua quá trình
canh tác thiếu bền vững ở một số nơi, nhất là các biện pháp canh tác đảm bảo
duy trì cân bằng dinh dưỡng đất chưa được chú trọng, chất lượng đất lâm nghiệp
tại một số địa bàn, nhất là nơi trồng Bạch đàn nhiều chu kỳ đang bị thoái hóa,
cần có các biện pháp cải tạo, phục hồi hiệu quả.
1.3. Khí hậu, thủy văn
Lạng Sơn nằm trong vùng nhiệt
đới gió mùa, một năm có 4 mùa rõ rệt; nhiệt độ bình quân năm 210C,
nét đặc trưng nổi bật về nhiệt độ là có mùa Đông giá rét, sương muối, nhất là
vùng núi cao phía Bắc; lượng mưa bình quân năm 1.390 mm, mưa tập trung vào các
tháng 6, 7, 8 hàng năm, số ngày mưa trung bình 130 đến 140 ngày/năm; độ ẩm
không khí bình quân năm 82%. Các tiểu vùng khí hậu trong tỉnh đã góp phần hình
thành các vùng cây trồng lâm nghiệp chính hiện nay, gồm: Vùng trồng cây nguyên
liệu mọc nhanh (Keo, Bạch đàn) ở các huyện: Hữu Lũng, Chi Lăng, Bắc Sơn, Lộc
Bình, Đình Lập; vùng trồng Hồi ở các huyện: Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, Chi
Lăng, Văn Lãng, Cao Lộc; vùng trồng Thông ở các huyện: Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc
Bình, Đình Lập và thành phố Lạng Sơn; vùng trồng Quế ở huyện Tràng Định, huyện
Bắc Sơn; vùng trồng Sở ở các huyện: Văn Quan, Cao Lộc, Lộc Bình, Chi Lăng.
Lạng Sơn có 3 hệ thống sông
chính là sông Kỳ Cùng, sông Thương, sông Lục Nam; ngoài ra còn một số sông
nhánh nhỏ như sông Bắc Giang, sông Bắc Khê, sông Hóa,... Chế độ thuỷ văn của
các sông, suối phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thường hạn về mùa khô, lũ lụt về
mùa mưa; khả năng cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp và sinh
hoạt có nhiều hạn chế; việc lợi dụng các sông, suối vào vận xuất, vận chuyển
lâm sản ít có khả năng thực hiện.
2. Điều kiện kinh tế -
xã hội
Tỉnh Lạng Sơn có 11 đơn vị
hành chính cấp huyện gồm 10 huyện và 01 thành phố, đến năm 2019 toàn tỉnh có
207 xã, 05 phường, 14 thị trấn; thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính
cấp xã giai đoạn 2019-2021, sau khi sắp xếp toàn tỉnh còn có 181 xã, 05 phường,
14 thị trấn. Dân số toàn tỉnh (sơ bộ năm 2019) là 782.666 người, gồm 07 dân tộc
chủ yếu, trong đó: Dân tộc Nùng chiếm 43,19%, Tày chiếm 34,58%, Kinh chiếm
17,41%, Dao chiếm 3,91%, Hoa chiếm 0,33%, Sán Chay chiếm 0,37%, Mông chiếm
0,10%; địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở nông thôn, miền
núi, vùng sâu, vùng xa.
Cơ sở hạ tầng của tỉnh thuận
lợi cho giao lưu kinh tế, thương mại trong nước và quốc tế. Tỉnh Lạng Sơn có 02
cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Ga Đồng
Đăng), 01 cửa khẩu song phương (Chi Ma) và 9 cửa khẩu phụ; có các tuyến quốc lộ
chính như 1A, 1B, 4A, 4B, 279,... đi qua; Lạng Sơn là điểm đầu trên 2 tuyến
hành lang kinh tế quan trọng: Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải
Phòng và Lạng Sơn - Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài (nằm trong tuyến
hành lang xuyên Á: Nam Ninh - Singapore); là cửa ngõ quan trọng nối Trung Quốc
và các nước ASEAN; có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng -
Bằng Tường - Bắc Kinh và tuyến đường sắt nội tỉnh Thành phố Lạng Sơn - Na Dương.
Trong nội tỉnh, ước đến hết năm 2019, tỷ lệ cứng hóa đường ô tô đến trung tâm
xã đạt 79%, tăng 9,1% so với năm 2015.
Trong những năm gần đây kinh
tế của tỉnh duy trì mức tăng trưởng khá. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình
quân giai đoạn 2016-2019 là 7,08%, trong đó: Nông lâm nghiệp tăng 2,99%; công
nghiệp - xây dựng tăng 17,25%; dịch vụ tăng 4,56%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp
sản phẩm tăng 10,53%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, năm 2019
ngành nông lâm nghiệp chiếm 21,17%, giảm 5,11%; công nghiệp - xây dựng chiếm
23,33%, tăng 4,68%; dịch vụ chiếm 51,08%, giảm 0,57%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp
sản phẩm chiếm 4,42%, giảm 0,8% so với năm 2015. GRDP bình quân đầu người năm
2019 đạt 43,4 triệu đồng/người/năm.
Doanh nghiệp, hợp tác xã luôn
được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, kinh doanh. Từ năm 2016
đến tháng 9/2019 có trên 1.910 doanh nghiệp được thành lập mới, đến nay toàn
tỉnh hiện có 3.530 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 29.242 tỷ đồng; bình quân
mỗi năm thành lập mới khoảng 500 doanh nghiệp. Toàn tỉnh hiện có 02 liên hiệp
hợp tác xã và 241 hợp tác xã. Từ năm 2016 đến nay tỉnh đã quyết định chủ trương
đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 88 dự án mới, tổng vốn đăng ký
trên 16.800 tỷ đồng; trên địa bàn tỉnh hiện có 28 dự án có vốn đầu tư nước
ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 236 triệu USD.
Đến hết năm 2019 toàn tỉnh có
61 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 29,5%, bình quân mỗi xã đạt 11,54 tiêu
chí, không còn xã dưới 5 tiêu chí. Năm 2017 thành phố Lạng Sơn được công
nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Các điều kiện kinh tế - xã hội
của tỉnh thuận lợi cho lâm nghiệp phát triển ổn định, bền vững theo hướng ngày
càng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giá trị hàng hóa từ các sản
phẩm lâm nghiệp, nhất là tập trung cho trồng rừng năng suất cao, chế biến sâu
và đa dạng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3. Hiện trạng tài
nguyên rừng
3.1. Hiện trạng rừng và
đất lâm nghiệp
Tổng
diện tích đất lâm nghiệp (quy hoạch cho 3 loại rừng) là 617.973,34 ha, trong
đó: Diện tích đất rừng đặc dụng: 13.112,69 ha, chiếm 2,12%; diện tích đất rừng
phòng hộ: 103.780,16 ha, chiếm 16,79%; diện tích đất rừng sản xuất: 501.080,49
ha, chiếm 81,09%. Trong tổng diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch cho 3 loại
rừng, diện tích chưa có rừng là 120.605,09 ha, diện tích đất có rừng là
497.368,25 ha, trong đó rừng tự nhiên là 280.287,53 ha và rừng trồng là
217.080,72 ha.
3.2.
Tình hình tái sinh và phục hồi rừng
Công tác tái sinh phục
hồi rừng trong những năm qua được quan tâm thực hiện tích cực, diện tích rừng
phục hồi sau nương rẫy, sau khai thác được khoanh nuôi, tái sinh đã phục hồi
thành rừng là 90.304 ha, nâng diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn toàn tỉnh từ
203.235 ha năm 2010 lên 280.287,53 ha năm 2019
(bình quân tăng hơn 8.500 ha/năm), góp phần bảo vệ môi trường, chống sói mòi, hạn
chế lũ lụt, nâng cao độ che phủ rừng từ 49,10% năm 2010 lên 62,80% năm 2019.
3.3.
Hiện trạng hệ thực vật, động vật rừng
a) Hệ
thực vật:
Hệ thực vật ở Lạng Sơn
rất đa dạng và phong phú về thành phần loài. Theo số liệu điều tra, đánh giá đa
dạng sinh học hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tháng 10/2008, tại Khu dự trữ
thiên nhiên Hữu Liên đã xác định được 776 loài thuộc 532 chi và 161 họ thực
vật, trong đó có >30 loài thực vật quý hiếm nhưng số lượng cá thể còn lại
ít, đặc biệt là các loài: Hoàng đàn, Nghiến, Trai lý, Chò chỉ,...; hiện nay
nhiều loài thực vật bậc cao đang tiếp tục được phát hiện thêm tại đây. Các loài
thực vật rừng chính phổ biến ở Lạng Sơn gồm các loài cây: Lim, Nghiến, Sau sau,
Kháo, Vối, Hồi, Thông, Keo, Bạch đàn,… Kiểu rừng chính ở Lạng Sơn là rừng kín
lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới.
b) Hệ
động vật:
Theo các tài liệu điều
tra, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có 61 loài thú, 239 loài chim, 67 loài bò sát,
42 loài lưỡng cư, trong đó có 61 loài quý hiếm. Nguồn tài nguyên động vật rừng
những năm gần đây giảm sút về thành phần loài và số lượng cá thể do điều kiện
môi trường sống ngày càng bị thu hẹp và tình trạng săn bắn thiếu kiểm soát,
nhiều loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng, trong đó có loài Hươu xạ Hữu
Liên là loài đặc hữu của tỉnh Lạng Sơn. Do đó, cần phải thường xuyên có các
biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên động vật rừng.
II. THỰC TRẠNG
NGÀNH LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2010-2019
1. Các chủ
trương, định hướng phát triển ngành lâm nghiệp
Trong những năm gần
đây, ngành lâm nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng, đóng góp giá trị lớn trên
các mặt kinh tế - xã hội - môi trường và an ninh quốc phòng của tỉnh. Giai đoạn
2010-2019, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng phát triển
ngành lâm nghiệp, trong đó Kết luận số 97-KL/TW ngày 15/5/2014 của Bộ Chính trị
về một số chủ trương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa
X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nhấn mạnh phải “Thực hiện tốt công
tác bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện nghiêm chủ trương dừng khai thác gỗ
rừng tự nhiên; tăng cường đầu tư cho phát triển rừng trồng, nâng cao hiệu quả
rừng sản xuất’’; Luật Lâm nghiệp được Quốc Hội khóa XIV thông qua tại kỳ
họp thứ 4 ngày 15/11/2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 đã xác định trọng tâm
của ngành lâm nghiệp là quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững, trọng tâm
là tăng cường thực hiện chuỗi liên kết trong sản xuất lâm nghiệp. Cụ thể hóa
Luật Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương đã ban hành
nhiều nghị định, thông tư, chương trình, chính sách, đề án, kế hoạch để tổ chức
thực hiện qua đó đã làm chuyển biến căn bản từ khai thác rừng tự nhiên sang
kinh doanh toàn diện, quản lý rừng bền vững, góp phần giải quyết việc làm, tăng
thu nhập cho người dân làm nghề rừng và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Để cụ thể hóa các chủ
trương, chính sách của Trung ương, ngày 11/10/2011 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
Lạng Sơn đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp tỉnh Lạng
Sơn giai đoạn 2011-2020; UBND tỉnh ban hành Chương trình hành động số
30/CTr-UBND ngày 10/11/2014 về thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn, Chương trình số 22/CTr-UBND ngày 15/7/2016 về tái cơ cấu ngành nông
nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020. Các
định hướng, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính
quyền trong tỉnh đã tạo ra những kết quả khá rõ nét trong phát triển lâm nghiệp
trong giai đoạn vừa qua.
2. Hệ thống tổ
chức, quản lý, sản xuất ngành lâm nghiệp
2.1.
Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý lĩnh vực lâm nghiệp
- Tổ
chức bộ máy quản lý lâm nghiệp ở cấp tỉnh gồm: Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, trước năm 2015 có các đơn vị trực thuộc gồm: Chi cục Kiểm lâm, Chi
cục Phát triển Lâm nghiệp, Ban Quản lý Rừng đặc dụng Hữu Liên. Thực hiện Quyết
định số 1920/QĐ-TTg ngày 24/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án
kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm giai đoạn
2014-2020, năm 2015 Chi cục Kiểm lâm được sắp xếp tổ chức lại trên cơ sở sáp
nhập Chi cục Phát triển Lâm nghiệp vào Chi cục Kiểm lâm.
- Tổ
chức bộ máy quản lý về lâm nghiệp ở cấp huyện gồm: Phòng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Phòng Kinh tế thành phố, trong đó có cán bộ phụ trách về lâm
nghiệp; Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố trực thuộc Chi cục Kiểm lâm.
- Công
tác quản lý lâm nghiệp ở cấp xã do công chức Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng
và Môi trường (Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường) thực hiện; Hạt Kiểm
lâm các huyện, thành phố phân công cán bộ kiểm lâm phụ trách theo địa bàn các
xã.
- Để
triển khai tổ chức thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020
theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê
duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số
886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục
tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh đã thành lập
Ban Chỉ đạo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, Ban Chỉ đạo về
Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Lạng Sơn giai đoạn
2017 - 2020, thành lập Văn phòng giúp việc cho Ban Chỉ đạo (do Chi cục Kiểm lâm
thực hiện) và Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh (hiện nay đang giao nhiệm vụ
Chi cục Kiểm lâm thực hiện); 11/11 huyện, thành phố thành lập Ban Chỉ đạo và
Ban Quản lý dự án Bảo vệ và phát triển rừng của huyện, thành phố; các xã thành
lập Ban Bảo vệ và phát triển rừng của xã; các thôn thành lập Tổ bảo vệ rừng và
phòng cháy, chữa cháy rừng của thôn.
Nhìn chung hệ thống tổ
chức bộ máy quản lý lâm nghiệp đã được thiết lập, kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở,
đảm bảo thực hiện thông suốt nhiệm vụ quản lý lĩnh vực lâm nghiệp. Tuy nhiên,
hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý lâm nghiệp còn những hạn chế nhất định,
nhất là ở cấp cơ sở, do cán bộ làm công tác lâm nghiệp ở cơ sở (cấp xã và một
số huyện) còn thiếu và yếu về chuyên môn. Hiện nay tỉnh Lạng Sơn không có các
Ban Quản lý rừng phòng hộ để thực hiện nhiệm vụ quản lý,
bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy định; công tác quản lý rừng phòng
hộ do chính quyền các cấp trực tiếp thực hiện.
2.2.
Tổ chức sản xuất lâm nghiệp
a) Các
thành phần tham gia tổ chức sản xuất lâm nghiệp:
- Hộ
gia đình: Sản xuất theo hộ gia đình đóng
vai trò chủ đạo trong sản xuất lâm
nghiệp của tỉnh. Hiện nay toàn tỉnh có 155.816 hộ (chiếm 78,28%) sống ở khu vực
nông thôn, cơ bản đều trực tiếp tham gia sản xuất nông, lâm nghiệp. Nhìn chung,
hầu hết các hộ sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh có quy mô nhỏ, sản xuất manh
mún, chưa áp dụng nhiều khoa học, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất; mặc dù vậy,
kinh tế hộ cũng đã góp phần chuyển đổi, định hình cơ cấu sản xuất nông lâm
nghiệp của tỉnh. Tổng diện tích rừng do các hộ gia đình quản lý, sản xuất là
350.705 ha. Hộ gia đình hàng năm khai thác 60-70 nghìn m3 gỗ, 10-12
nghìn tấn hoa Hồi khô, 20-25 nghìn tấn nhựa Thông, 4.000 tấn hạt Sở (năm 2018)
và sản xuất 125-130 triệu cây giống lâm nghiệp.
- Hợp
tác xã: Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 25 hợp tác xã (HTX) hoạt động
trong lĩnh vực lâm nghiệp, chủ yếu về sản xuất cây giống (mỗi năm sản xuất
khoảng 5-8 triệu cây giống) và dịch vụ nông lâm nghiệp tổng hợp (trồng rừng,
chế biến gỗ, cung ứng vật tư nông lâm nghiệp). Các hợp tác xã đã từng bước tiếp
cận ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, hình thành một số mô hình sản xuất
nông lâm nghiệp có triển vọng phát triển tốt. Tuy nhiên, các HTX chưa tạo ra sự
phát triển rõ nét trong lĩnh vực lâm nghiệp, chưa thu hút được sự tham gia của
các hộ sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn, chưa thành hạt nhân kết nối với doanh
nghiệp để hình thành các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
-
Doanh nghiệp:
Thực
hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị
về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của
công ty nông, lâm nghiệp, Nghị định số 118/NĐ/2014/NĐ-CP, ngày 17/12/2014 của
Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của
công ty nông, lâm nghiệp, năm 2015 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đình Lập và Công
ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình đã được chuyển giao về Tổng Công ty Lâm nghiệp
Việt Nam; sau chuyển giao, hai công ty đã thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức
sản xuất theo mô hình mới, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; đến
nay các công ty đã ổn định phát triển sản xuất, duy trì hợp tác
với các hộ dân địa phương thực hiện các hoạt động sản xuất,
góp phần tạo việc làm và thu nhập cho nhân dân. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có
03 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp là: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Bắc (Hữu
Lũng), Công ty TNHH MTV lâm
nghiệp Lộc Bình và Công ty TNHH MTV lâm
nghiệp Đình Lập trực thuộc Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam, với tổng diện tích
là 13.666,5 ha. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh có các doanh nghiệp tư nhân hoạt
động trong các lĩnh vực sản xuất cây giống, trồng rừng, chế biến lâm sản và
kinh doanh nông lâm nghiệp tổng hợp.
Doanh
nghiệp đang đóng vai trò rõ nét trong định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh,
tham gia trong tất cả các khâu chủ đạo của sản xuất lâm
nghiệp, bao gồm: Sản xuất cây giống (có 7 doanh nghiệp chính, sản xuất 10-12
triệu cây giống/năm); trồng rừng (có 12 doanh nghiệp, tổng diện tích rừng hiện
nay là 20.340 ha); chế biến lâm sản (chế biến Hồi có 01 doanh nghiệp, công suất
3.000 tấn Hồi khô/năm; chế biến nhựa thông có 03 doanh nghiệp, công suất 40.000
tấn/năm; chế biến gỗ có 02 doanh nghiệp đang sản xuất, công suất hiện nay đạt
30.000m3 sản phẩm/năm so với công suất thiết kế là 150.000m3
sản phẩm/năm, gần 10 doanh nghiệp khác đang trong quá trình chuẩn bị sản xuất).
Các sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh do các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh
doanh chủ yếu được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực lâm nghiệp đã có những đóng góp lớn cho sự phát triển ngành lâm
nghiệp của tỉnh, nhất là các cơ sở chế biến, tiêu thụ lâm sản, góp phần thúc
đẩy công tác trồng rừng của nhân dân và tạo việc làm cho người lao động.
b) Liên
kết sản xuất trong lâm nghiệp:
Các hình
thức liên kết giữa sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong lâm nghiệp chưa rõ nét,
quy mô nhỏ lẻ, chưa đủ mạnh để thu hút các hộ gia đình tham gia sản xuất liên
kết theo chuỗi; các hoạt động liên kết chủ yếu là các doanh nghiệp kết nối
với các hộ gia đình thu mua lâm sản (gỗ, hoa Hồi, nhựa Thông,...) theo thời vụ
hoặc khi các bên có nhu cầu. Vì vậy, các hộ trồng rừng
chưa xác định được thị trường tiêu thụ sản phẩm, nên đầu ra không ổn định; các
doanh nghiệp chế biến lâm sản không chủ động được nguồn nguyên liệu, chất lượng
nguyên liệu chưa đáp ứng được yêu cầu chế biến, làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh
doanh.
3. Quản lý, sử
dụng đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp đã được
giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý, sản xuất từ những năm 1990,
nhất là từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 02-CP ngày 15/01/1994 về việc
giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài
vào mục đích lâm nghiệp. Kết quả giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh ước đến tháng 6/2019 là 304.627 ha
(=49,40% diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh), trong đó cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các hộ gia đình (GCN QSDĐ)
278.934 ha, các tổ chức 25.693 ha.
Diện tích đất lâm
nghiệp phân theo các đối tượng quản lý, sử dụng bao gồm: Ban Quản lý Rừng đặc
dụng Hữu Liên quản lý diện tích là 8.293,4 ha; 12 doanh nghiệp (04 doanh nghiệp
nhà nước; 07 doanh nghiệp ngoài quốc doanh; 01 doanh nghiệp 100% vồn nước
ngoài) quản lý diện tích là 20.340,61 ha; đơn vị vũ trang (06 đơn vị) quản lý
diện tích là 4.089,95 ha; tổ chức khác (06 trường học) quản lý diện tích là
345,10 ha; UBND xã quản lý diện tích là 261.775,56 ha; hộ gia đình, cá nhân
quản lý với diện tích là 350.705,08 ha.
Kể từ khi đất lâm
nghiệp được giao cho các tổ chức (nhất là tổ chức ngoài quốc doanh), hộ gia
đình, cá nhân (gọi chung là chủ rừng) quản lý, tổ chức sản xuất lâm nghiệp đã
được quan tâm đầu tư phát triển về chiều sâu và đất lâm nghiệp được quản lý, sử
dụng ngày càng hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được, công tác quản lý đất lâm nghiệp còn tồn tại những hạn
chế nhất định. Do công tác quản lý đất lâm nghiệp kém hiệu quả của các lâm
trường (trong những năm 1980, 1990), người dân địa phương ở một số nơi, nhất là
ở các huyện Hữu Lũng, Lộc Bình và Đình Lập đã xâm canh trồng rừng lên trên đất
của các lâm trường trong thời gian dài. Vì vậy, khi Nhà nước thực hiện giao đất
thu hồi từ các lâm trường cho các doanh nghiệp để đầu tư, phát triển rừng đã
gặp phải sự phản đối của nhân dân, đồng thời phát sinh tình trạng mâu thuẫn
trong sử dụng đất giữa doanh nghiệp và nhân dân địa phương; đây cũng là một
trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác thu hút các doanh nghiệp
lớn đầu tư vào phát triển nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, còn có
tình trạng người dân được giao đất, giao rừng nhưng quản lý, khai thác kém hiệu
quả, sử dụng đất rừng còn lãng phí, quản lý đất còn lỏng lẻo, có nhiều trường
hợp không chú trọng đầu tư chăm sóc phát triển rừng để nâng cao hiệu quả sản
xuất, trong khi đó có các doanh nghiệp muốn đầu tư quy mô lớn, bài bản nhưng
thiếu đất sản xuất. Tình trạng tranh chấp đất rừng vẫn tiếp tục diễn biến phức
tạp, nhất là tranh chấp giữa các hộ dân và các hộ dân lấn chiếm đất các công ty
lâm nghiệp, các doanh nghiệp trồng rừng; một số nơi các vụ tranh chấp, lấn
chiếm chậm được giải quyết dứt điểm, gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất, trật tự xã
hội. Một số nơi còn xảy ra tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất rừng sang mục
đích khác không phải lâm nghiệp chưa được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.
4. Công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
4.1.
Quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên
Công tác quản lý, bảo
vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và bảo
tồn đa dạng sinh học được tổ chức thực hiện đồng bộ, đầy đủ
theo quy định và thực tiễn yêu cầu, nhiệm vụ.
-
Công tác quản lý, bảo vệ rừng:
+ Công
tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo
vệ và phát triển rừng được thực hiện thường xuyên với các hình thức đa dạng,
phong phú như tổ chức hội nghị tuyên truyền, tập huấn, phát tờ rơi, phát tin
cảnh báo cháy rừng qua Đài Phát
thanh - Truyền hình tỉnh, tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng,... Toàn tỉnh đã xây
dựng 11 Phương án quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cấp huyện,
204 Phương án quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng cấp xã.
Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
phục vụ cho phòng cháy, chữa cháy rừng còn thiếu, chưa được bổ sung, nâng cấp
kịp thời, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
+ Toàn bộ diện tích đất
có rừng được quản lý thống nhất trên cơ sở thiết lập lâm phận quốc gia, theo hệ
thống tiểu khu, khoảnh, lô trên bản đồ và thực địa. Rừng được các chủ rừng thực
hiện quản lý, bảo vệ tốt. Diện tích rừng được nhà nước hỗ trợ tiền bảo vệ thực
hiện từ năm 2010 đến hết năm 2019 là 208.143,7 lượt ha (rừng đặc dụng 67.060,0
lượt ha; rừng phòng hộ 66.009,2 lượt ha; rừng sản xuất 75.074,5 lượt ha) từ
nguồn vốn sự nghiệp của tỉnh và trung ương.
+ Tình trạng đốt,
phá rừng làm nương rẫy và mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép đã giảm rõ
rệt qua các năm. Tuy nhiên vẫn
còn có một số vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng đến mức phải khởi tố
hình sự. Các vụ việc chủ yếu liên quan đến khai thác lâm sản trái phép và khai
thác rừng, lấn chiếm đất rừng để lấy đất trồng rừng mới.
-
Công tác phòng trừ sâu bệnh hại
rừng:
Trong những năm qua cơ
bản các loại sâu bệnh hại rừng được phát hiện và phòng trừ kịp thời, không để
lây lan thành dịch lớn; các cấp, các ngành và nhân dân luôn quan tâm và thực
hiện tích cực công tác phòng trừ sâu bệnh cho các cây trồng chủ lực như Thông,
Hồi.
- Công
tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học:
+ Để quản lý, bảo tồn,
phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên rừng của khu các
khu rừng đặc dụng, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tăng
cường phục hồi hệ sinh thái rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn và phát
triển các nguồn gen động thực vật rừng quý hiếm phục vụ nghiên cứu khoa học, du
lịch sinh thái, bảo vệ cảnh quan môi trường, UBND tỉnh đã phê duyệt các Quy
hoạch về lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học như: Quyết định số
77/QĐ-UBND ngày 17/01/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học
tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020; Quyết định số 788/QĐ-UBND ngày 03/6/2014 về phê
duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững khu
rừng đặc dụng Hữu Liên đến năm 2020; Quyết định số 2447/QĐ-UBND ngày 30/11/2018
về việc phê duyệt Quy hoạch rừng đặc dụng tỉnh Lạng
Sơn và Quy hoạch bảo tồn phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng Mẫu Sơn, Bắc
Sơn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
+ Hàng năm công tác khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng được Ban
Quản lý Rừng đặc dụng Hữu Liên hợp đồng giao khoán đến các hộ dân, cộng đồng
thôn bản; một số loài quý hiếm đã được đưa vào bảo vệ nghiêm ngặt tại khu dự
trữ thiên nhiên Hữu Liên như: Hươu xạ, Voọc đen má trắng, Hoàng đàn... Công tác
bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học được triển khai thực hiện theo
đúng các quy định hiện hành; hiện nay tỉnh đang
xây dựng Đề án thành lập Ban Quản lý Rừng đặc dụng Mẫu Sơn.
Bên
cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý, bảo vệ rừng còn có những hạn chế, bất cập nhất định đó
là: Cán bộ kiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm trên địa bàn rộng
(một người phụ trách 02 - 04 xã); trình độ, năng lực của cán bộ còn hạn chế, chưa đáp ứng được với
khối lượng nhiệm vụ bảo vệ rừng được giao; phương tiện, trang thiết bị hỗ trợ
cho công tác chữa cháy rừng còn hạn chế, thô sơ; cơ sở hạ tầng phục vụ chữa
cháy rừng (đường lâm nghiệp, nguồn nước) chưa đáp ứng được yêu cầu khi có cháy
xảy ra; nhu cầu sử dụng sản phẩm động vật hoang dã của nhân dân đang gây ra áp
lực lớn cho công tác bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo ra mất
cân bằng sinh thái trong tự nhiên.
4.2.
Tình hình phát triển sản xuất lâm nghiệp
Công tác phát triển
rừng giai đoạn 2010-2019 đã có nhiều chuyển biến tích cực, toàn tỉnh trồng rừng
mới được 104.686,0 ha, vượt 39,58% mục tiêu Nghị quyết[2] (mục tiêu
75.000 ha); khoanh nuôi tái sinh rừng được 39.420,6 lượt ha, vượt 87,7% mục
tiêu Nghị quyết (mục tiêu 21.000 ha); khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung các
loài cây bản địa được 2.320,8 ha.
4.2.1.
Kết quả thực hiện phát triển rừng
a)
Rừng đặc dụng:
Hiện diện
tích đất, rừng đặc dụng của tỉnh là 13.112,69 ha. Công tác quản lý, bảo vệ và
phát triển rừng đặc dụng được triển khai tích cực, công tác giao khoán bảo vệ,
khoanh nuôi tái sinh rừng được triển khai nghiêm túc và có hiệu quả. Hàng năm
Ban Quản lý Rừng đặc dụng Hữu Liên thực hiện việc giao khoán bảo vệ, khoanh
nuôi tái sinh rừng với 260-275 hộ gia đình
(khoán bảo vệ 67.060 lượt ha rừng, khoanh nuôi tái sinh 60 ha),
thành lập các tổ bảo vệ rừng theo nhóm hộ, phân công cán bộ phụ trách địa bàn
quản lý để kiểm tra, đôn đốc các hộ nhận khoán, theo dõi diễn biến tài nguyên
rừng, chất lượng và trữ lượng rừng. Công tác nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh
học được tăng cường; hiện nay đã xây dựng Vườn sưu tầm thực vật gồm các loài
đặc hữu quý hiếm như Hoàng Đàn, Nghiến, Đinh, Lát với diện tích 1,2 ha, bảo vệ
được diện tích rừng hiện có, tài nguyên rừng được phục hồi và phát triển ổn
định.
Đối với 02 khu bảo tồn
loài - sinh cảnh Mẫu Sơn, Bắc Sơn được phê duyệt quy hoạch tháng 12/2018, năm
2019 Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Sơn đã thiết kế khoán bảo vệ 611,17 ha, khoanh nuôi
tái sinh rừng 10,66 ha; các huyện Cao Lộc, Lộc Bình khoán bảo vệ
rừng đặc dụng Mẫu Sơn 1.032,4 ha.
b)
Rừng phòng hộ:
Công tác phát triển
rừng phòng hộ hàng năm được ưu tiên đầu tư, giai đoạn từ 2010-2019 toàn tỉnh
trồng mới 6.229,7 ha. Đến nay diện tích đất, rừng phòng hộ toàn tỉnh
là 103.780,16 ha, trong đó đất có rừng là 74.191,15 ha, đất trống
29.589,01 ha. Giá trị, chất lượng rừng phòng hộ được cải thiện, việc trồng rừng
phòng hộ đã đưa một số loài cây có tầng tán cao, đa tác dụng vào trồng rừng
(như Lát, Hồi, Trám, Sấu...). Tuy nhiên diện tích rừng phòng hộ trồng mới còn
thấp, nguyên nhân là do đất trồng rừng phòng hộ chủ yếu ở vùng núi cao, xa dân
cư, địa hình khó khăn, hiểm trở, nên không thu hút được người dân, doanh nghiệp
tự đầu tư vốn để trồng rừng phòng hộ.
c)
Rừng sản xuất:
Trong giai đoạn
2010-2019 rừng sản xuất ở một số địa bàn tiếp tục được đầu tư phát triển theo
hướng thâm canh tăng năng suất, dần hình thành vùng nguyên liệu tập trung,
nhiều chủ rừng đã chú trọng đầu tư trồng rừng bằng các giống mới, do đó chất
lượng rừng, giá trị rừng trồng ngày càng được cải thiện, đối với cả sản phẩm gỗ
và lâm sản ngoài gỗ. Diện tích rừng sản xuất được trồng mới là 98.456,3 ha; đến
nay diện tích đất, rừng sản xuất toàn tỉnh là 501.080,49 ha, trong đó đất có
rừng là 411.715,41 ha,
đất chưa có rừng là 89.365,08 ha;
trên địa bàn tỉnh có các vùng sản xuất tập trung một số loài cây chủ lực, cây
gỗ lớn như: Vùng cây Thông ở các huyện: Lộc
Bình, Đình Lập và Cao Lộc với diện tích 110.000 ha, chiếm
86,22%) trong tổng số diện tích Thông toàn tỉnh (toàn
tỉnh có 127.588 ha); vùng
trồng Keo, Bạch đàn tại các huyện: Chi
Lăng, Hữu Lũng, Đình Lập với diện tích trên 31.200 ha, chiếm
68,74% tổng số diện tích Keo, Bạch đàn toàn tỉnh
(toàn tỉnh có 45.387 ha); vùng
Hồi ở các huyện: Văn Quan, Bình Gia, Văn Lãng
với diện tích trên 25.000 ha, chiếm
74,1% trong tổng số diện tích Hồi toàn tỉnh
(toàn tỉnh có 33.738 ha); đang
dần hình thành vùng trồng Quế ở các huyện: Tràng
Định, Bình Gia, Bắc Sơn, hiện nay đã có trên 3.000 ha; diện tích cây Sở đang
dần được phục hồi và mở rộng diện tích, hiện nay có khoảng 2.000 ha cây Sở ở
các huyện: Văn Quan, Cao Lộc, Lộc Bình (bao gồm rừng
trồng mới và rừng được phục hồi, tái sinh từ rừng trồng cũ từ hơn 30 năm
trước).
Tuy nhiên, quy mô sản
xuất lâm nghiệp của tỉnh chủ yếu là nhỏ lẻ, chưa tổ chức liên kết theo chuỗi,
chưa hình thành rõ nét phương thức tổ chức sản xuất lâm nghiệp tạo vùng nguyên
liệu tập trung ổn định, chưa thiết lập được mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn
quản lý rừng bền vững (theo tiêu chuẩn Chứng chỉ rừng FSC[3]), chưa có các
mô hình rõ nét về trồng cây dược liệu dưới tán rừng để phát huy tiềm năng, nâng
cao hệ số sử dụng đất và nâng cao giá trị thu được trên một đơn vị diện tích
đất lâm nghiệp. Tăng trưởng năng suất rừng trồng chưa đồng đều giữa các
vùng, do việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác rừng tiên tiến đối với
các hộ gia đình còn hạn chế. Trung bình rừng trồng tăng trưởng 13-15 m3/ha/năm;
với chu kỳ kinh doanh 7 năm, năng suất Keo và Bạch đàn đạt trung bình đạt
90-110 m3/ha, riêng huyện Hữu Lũng (do thâm canh cao) có một số diện
tích đạt từ 120 - 140 m3/ha; rừng Thông (sau 20-25 năm, sau khai
thác nhựa) đạt năng suất 100-120 m3/ha, sản lượng nhựa đạt khoảng
2,0-2,5 tấn/ha/năm (với mật độ cây cho khai thác nhựa khoảng 700 cây/ha), thời
gian khai thác nhựa từ 5-7 năm.
Rừng sản xuất của tỉnh
còn có tiềm năng nâng cao thêm sản lượng và giá trị. Rừng nguyên liệu gỗ (Keo,
Bạch đàn) có thể tăng cường thâm canh, sử dụng giống mới, canh tác theo tiêu
chuẩn quản lý rừng bền vững (tiêu chuẩn để được cấp chứng chỉ FSC hoặc PEFC[4]) để nâng cao
giá bán gỗ; rừng Thông có thể tác động các biện pháp kỹ thuật và chọn giống để
kéo dài thời gian cho nhựa và tăng thêm khối lượng gỗ; rừng Hồi, Quế có thể
tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật chăm sóc rừng đáp ứng tiêu chuẩn để được
cấp chứng nhận sản xuất hữu cơ, đồng thời cải thiện phương pháp sơ chế, bảo
quản hoa Hồi sau thu hoạch, qua đó nâng cao giá bán sản phẩm.
4.2.2.
Tình hình sản xuất, quản lý giống cây lâm nghiệp
Bên cạnh công tác trồng
rừng, lĩnh vực sản xuất cây giống lâm nghiệp cũng đã mang lại nguồn thu đáng kể
cho nhiều hộ gia đình (nhất là ở huyện Hữu Lũng), một số doanh nghiệp và hợp
tác xã; công tác sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp đã thu được
một số kết quả quan trọng. Toàn tỉnh mỗi
năm sản xuất được từ 140-150
triệu cây giống, số lượng cây con giống đã đáp ứng được nhu cầu trồng rừng
trên địa bàn tỉnh và xuất bán đến thị trường các tỉnh miền Bắc, miền Trung. Cơ
cấu sản xuất các loại giống cây trồng lâm nghiệp được phát triển theo hướng sản
xuất các giống cây có giá trị kinh tế cao, năng suất, sản lượng, chất lượng
tốt.
Tuy nhiên, về tổng thể
công tác giống cây trồng lâm nghiệp của tỉnh còn nhiều hạn chế, như: Hệ thống
nguồn giống trên địa bàn tỉnh còn ít về chủng loại, chất lượng các nguồn giống
chưa cao; kỹ thuật nhân giống còn đơn giản, mới chủ yếu là nhân giống từ hạt và
hom; nguồn vật liệu giống cây hom đối với loài Keo và Bạch đàn hiện nay đang có
hiện tượng thoái hóa giống, thể hiện khá rõ đối với cây Bạch đàn, gây ảnh hưởng
đến năng suất trồng rừng; các cơ sở nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào hoạt
động chưa được thường xuyên, chưa phát huy được công suất của trang thiết bị;
một số loài cây bản địa có khả năng phát triển mang lại giá trị kinh tế cao
chưa có nguồn giống để cung cấp cho thị trường; các vườn ươm chủ yếu có quy mô
nhỏ, tự phát (toàn tỉnh hiện nay có khoảng 700 cơ sở sản xuất cây giống, trong
đó có 06 doanh nghiệp, 05 HTX, còn lại là các cơ sở sản xuất theo hộ gia đình).
Hạ tầng các vườn ươm chưa được đầu tư, nâng cấp theo các tiêu chuẩn kỹ thuật
tiên tiến, hiện đại, chưa đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất giống cây lâm nghiệp
chất lượng cao.
Năng lực quản lý chất
lượng giống của cơ quan nhà nước trên địa bàn còn hạn chế, cán bộ làm công tác
quản lý giống cây trồng lâm nghiệp còn yếu và thiếu, công tác kiểm soát chất
lượng giống chưa được toàn diện. Hàng năm cơ quan chuyên môn kiểm tra tình hình
sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp của các cơ sở sản xuất cây
giống, thẩm định đánh giá chất lượng cây con trước khi cấp giấy chứng nhận
nguồn gốc lô cây con; cơ bản các cơ sở được kiểm tra thực hiện nghiêm túc quy
chế quản lý giống cây trồng. Tuy nhiên việc kiểm tra chủ yếu được thực hiện với
các cơ sở đã thực hiện đăng ký sản xuất; việc kiểm tra, giám sát các cơ sở sản
xuất tự phát của các hộ gia đình chưa được thực hiện hiệu quả, vì vậy vẫn còn
tình trạng xuất bán cây con không đủ tiêu chuẩn.
4.2.3.
Tình hình ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lâm nghiệp
Đối với sản xuất cây
giống lâm nghiệp, việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất đã được triển khai
thực hiện, tuy nhiên mức độ áp dụng công nghệ cao còn hạn chế. Trên địa bàn
tỉnh hiện nay có 03 nhà nuôi cấy mô tế bào đạt tiêu chuẩn kỹ thuật chung, đầy
đủ dây chuyền, trang thiết bị để sản xuất cây giống từ mô tế bào theo công nghệ
cao, đội ngũ kỹ thuật viên thực hiện được toàn bộ quy trình sản xuất; tuy
nhiên, việc ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào để sản xuất cây giống chưa
được thực hiện hiệu quả, các cơ sở nuôi cấy mô tế bào mới chỉ thực hiện sản
xuất thử nghiệm, sản xuất cầm chừng được số lượng ít. Phần
lớn cây giống được sản xuất trên
địa bàn tỉnh được sản xuất bằng giâm hom (đối với cây Keo và Bạch
đàn) và bằng gieo hạt (đối với Keo, Bạch đàn và các loài cây bản địa).
Các cơ sở sản xuất cây
giống đang sử dụng 10 nguồn giống vô tính trong tỉnh (từ 06 vườn cung cấp hom
cây Bạch đàn với diện tích 0,77 ha và 04 vườn cung cấp hom cây Keo với diện
tích 0,45 ha), cung cấp 6 - 8 triệu vật liệu hom giống, đáp ứng đủ cho nhu cầu
trồng rừng trên địa bàn tỉnh; ngoài ra còn có tình trạng các hộ gia đình sản
xuất cây giống lấy vật liệu hom từ vườn cây giống chưa được đăng ký kiểm
nghiệm. Đối với gieo ươm bằng hạt và cây mô, nguồn giống được các cơ sở sản
xuất lấy từ các nguồn rõ xuất xứ nguồn gốc giống.
Đối với trồng và chăm
sóc rừng, việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất còn hạn chế. Các ứng
dụng kỹ thuật như: Sử dụng máy để cuốc
hố, cày toàn bộ đất rừng ở những nơi độ dốc thấp, sử dụng giống cây trồng từ
nguồn giống chất lượng tốt, bón phân đầy đủ (bón lót, bón thúc) cho rừng trồng,
vệ sinh và chăm sóc rừng trồng đảm bảo theo quy trình,… mới chỉ được
một số công ty, doanh nghiệp thực
hiện; đối với các hộ gia đình việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lâm
nghiệp còn hạn chế do thiếu vốn, thiếu kiến thức kỹ thuật, thiếu nhân lực hoặc
chưa mạnh dạn đầu tư áp dụng, do đó hiện nay trồng rừng chủ yếu là quảng canh,
chưa thâm canh cao nên rừng sinh trưởng chậm, năng suất thấp.
4.2.4
Nguồn vốn và hạ tầng phục vụ phát triển rừng
- Nguồn
vốn phát triển rừng:
Nguồn
vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư trồng rừng của tỉnh rất hạn chế, chỉ đáp ứng được
khoảng 20% nhu cầu. Để hoàn thành mục tiêu của Nghị quyết số 29-NQ/TU, Kết luận
số 189-KL/TU, Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 và Quyết định số
886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017, tỉnh đã tập trung chỉ đạo huy động nhiều nguồn lực
đầu tư bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện lồng ghép các dự án bảo vệ và phát
triển rừng với các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, phát triển nông
nghiệp và nông thôn, đồng thời ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích mọi
thành phần kinh tế đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng, nhằm từng bước chuyển
dịch từ lâm nghiệp truyền thống, phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước là chính sang
lâm nghiệp xã hội.
Tổng số vốn đầu tư cho
các chương trình bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2010-2019 là 553.252 triệu
đồng (vốn ngân sách 272.375 triệu đồng, gồm: Ngân sách trung ương là
187.022 triệu đồng, ngân sách địa phương 85.353 triệu đồng;
vốn đầu tư từ doanh nghiệp và nhân dân là 280.877 triệu đồng). Bên cạnh những
chương trình, dự án, nội dung phát triển rừng được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước
đã thực hiện giải ngân theo tiến độ, vẫn còn có các hạng mục chưa được triển
khai kịp thời để tận dụng sử dụng nguồn vốn được giao.
-
Cơ sở hạ tầng lâm nghiệp:
Công tác xây dựng, phát
triển cơ sở hạ tầng lâm nghiệp đã được quan tâm đầu tư, tuy nhiên còn thiếu và
yếu so với yêu cầu phát triển do nguồn kinh phí nhà nước khó khăn, hạn hẹp.
Trong giai đoạn 2010-2019 mới chỉ đầu tư và đưa vào sử dụng 43,585 km đường lâm
nghiệp thuộc Dự án Đường lâm nghiệp kết hợp băng cản lửa phòng chống cháy rừng
tại huyện Hữu Lũng, Văn Lãng và đường lâm
sinh thôn Suối Mỏ, xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng với kinh phí hỗ trợ là 28,317
tỷ đồng. Việc tự đầu tư kinh phí xây dựng hạ tầng lâm nghiệp
mới chỉ được một số doanh nghiệp thực
hiện, phần lớn các hộ gia đình chưa
mạnh dạn đầu tư do kinh phí hạn
chế do đó ảnh hưởng rất lớn đến khâu vận chuyển cây giống, phân bón,
khai thác, tiếp cận phòng cháy chữa cháy rừng, bảo vệ rừng,… dẫn đến chất lượng
rừng thấp, giá trị thu được trên một đơn vị diện tích chưa cao.
5. Khai thác,
chế biến và thị trường lâm sản
5.1.
Khai thác lâm sản
Khai thác gỗ rừng trồng
bình quân khoảng 98.000
m3/năm; trong đó: Doanh nghiệp nhà nước khai thác khoảng
12.500m3, doanh
nghiệp tư nhân và hộ gia đình khai thác khoảng 85.500
m3; khai thác gỗ nguyên liệu
làm ván dăm khoảng 100.000
tấn. Khai thác lâm sản ngoài gỗ: Nhựa
thông 20-25 nghìn
tấn; hoa Hồi 10-12 nghìn tấn khô; cây
Sở đang được phục hồi (từ các rừng đã được trồng từ khoảng trên 30 năm trước)
và mở rộng diện tích, sản lượng hạt Sở năm đạt hơn 4.000 tấn/năm.
5.2.
Chế biến và thị trường
lâm sản
Công tác chế biến và
phát triển thị trường lâm sản đã được chú trọng thực hiện, qua đó các sản phẩm
lâm nghiệp cơ bản đã được chế biến tại tỉnh, được xuất khẩu đến thị trường một
số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hiện nay toàn tỉnh có 171 doanh nghiệp
và xưởng chế biến quy mô hộ gia đình; trong đó các cơ sở chế biến gỗ hộ gia
đình chủ yếu thực hiện khâu bóc gỗ, xẻ gỗ và đóng đồ mộc dân dụng, ít có hàm
lượng chế biến sâu. Các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh hàng năm chế
biến được khoảng 20.500 m3 ván xẻ, 45.500 m3 ván bóc,
30.000m3 ván ép, 20.000 tấn nhựa Thông, 6.000 –
6.500 tấn Hồi khô.
Thiết bị, công nghệ chế
biến gỗ đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến hiện nay và đáp ứng được theo nhu cầu
đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các khâu kỹ thuật chính xác được
thực hiện bằng dây chuyền tự động hóa. Các nhà máy chế biến nhựa Thông đạt tiêu
chuẩn kỹ thuật để sản xuất các sản phẩm chất lượng cao (gồm: Colophan và dầu
Thông) xuất khẩu sang thị trường các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc. Thiết bị, công nghệ tinh chế các sản phẩm Hồi tuy có những cải tiến so
với các phương pháp cũ, sản xuất được một số sản phẩm chế biến sâu như tinh
dầu, gia vị,.. xuất khẩu đến Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, các nước Trung Đông,…;
nhưng các sản phẩm và kỹ thuật tinh chế vẫn còn khá thô sơ, chưa đáp ứng được
tiêu chuẩn để sản xuất được các sản phẩm cao cấp, giá trị cao (như nguyên liệu
đầu vào trực tiếp để sản xuất thuốc Tamiflu, nước hoa,…).
Một số sản phẩm gỗ (ván
bóc, ván ép, dăm gỗ,…) đã được xuất khẩu ra thị trường một số nước và vùng lãnh
thổ như: Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ,… Tuy nhiên rừng trồng trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn (nguồn gốc nguyên liệu gỗ) chưa đáp ứng được theo tiêu chuẩn
thị trường thế giới về quản lý rừng bền vững (trong đó có tiêu chuẩn Chứng chỉ
FSC); sản phẩm Hoa hồi của tỉnh chưa đáp ứng được tiêu chuẩn để xuất khẩu vào
các thị trường lớn như Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, rừng Hồi của tỉnh chưa được
cấp Chứng chỉ chứng nhận đạt tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ (hiện nay mới có gần
200 ha rừng Hồi của 173 hộ tại các huyện Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc được cấp
chứng nhận sản xuất hữu cơ).
6. Công tác
nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế trong lâm nghiệp
Công tác nghiên cứu, áp
dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất lâm nghiệp được đẩy mạnh, giai đoạn
2010-2019 có 10 đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Các đề tài tập trung nghiên cứu về cải thiện giống cây trồng lâm nghiệp, phòng
trừ sâu bệnh, công nghệ chế biến lâm sản,… Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu,
các cơ quan chuyên môn trên địa bàn tỉnh đã tiến hành chuyển giao cho nông dân
áp dụng.
Việc ứng dụng khoa học
công nghệ vào quản lý rừng và đất rừng được quan tâm, đã triển khai các ứng
dụng phần mềm theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, phần mềm bản đồ vùng trọng
điểm cháy rừng, phần mềm cảnh báo cháy rừng,… Một số loài cây lâm nghiệp, cây
ăn quả có thế mạnh của tỉnh đã được xây dựng, công nhận chỉ dẫn địa lý, nhãn
hiệu tập thể.
Công tác xúc tiến đầu
tư, hợp tác quốc tế, tìm kiếm thị trường tiêu thụ các loại lâm sản được tăng
cường thông qua thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại hàng năm, tổ
chức các hoạt động hỗ trợ quảng bá sản phẩm. Dự án trồng rừng Việt - Đức 3
(KfW3 pha 3) do Ngân hàng Tái thiết Đức tài trợ được triển khai từ năm 2008 đến
năm 2013 trên địa bàn 2 huyện: Văn
Lãng, Cao Lộc đã trồng và khoanh nuôi tái sinh
được 1.440,2 ha rừng, quy hoạch sử dụng đất và điều tra tài nguyên rừng với
tổng diện tích là 1.511,2 ha; tổng mức đầu tư của Dự án là 18,73 tỷ đồng, trong
đó vốn đối ứng là 4,84 tỷ, vốn ODA 13,89 tỷ.
7. Đánh giá
chung về phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2010-2019
7.1. Hiệu
quả kinh tế, xã hội và môi trường
-
Hiệu quả kinh tế: Sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2010-2019
đã mang lại hiệu quả kinh tế khá rõ nét. Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp
(theo giá thực tế) năm 2010 là 1.149,18 tỷ đồng, đến năm 2019 đạt 3.447 tỷ
đồng; trong đó cơ cấu các sản phẩm chính gồm: Gỗ rừng trồng chiếm tỷ lệ 9,38%;
hoa Hồi chiếm tỷ lệ 29.82%; nhựa Thông chiếm tỷ lệ 31,05%; cây giống lâm nghiệp
chiếm tỷ lệ 5,51%; các lâm sản khác chiếm tỷ lệ 24,24%; giá trị lâm nghiệp
chiếm 30,77% trong nội ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Sản xuất lâm nghiệp
góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đảm bảo phát
triển kinh tế - xã hội bền vững. Mỗi hộ gia đình có thể tạo được nguồn thu
90-110 triệu đồng/1 ha Keo, Bạch đàn sau chu kỳ trồng rừng từ 7 năm; 50-70 triệu
đồng/1 ha rừng Thông/1 năm khai thác nhựa; 30-40 triệu đồng/1 ha rừng Hồi/năm.
Mặc dù kết quả đạt được khá rõ nét, tuy nhiên chưa tương xứng với tiềm năng đất
đai và khả năng nâng cao giá trị sản xuất của chủ rừng.
-
Hiệu quả xã hội: Phát triển lâm nghiệp trong 10 năm qua đã
góp phần quan trọng vào tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động vùng
nông thôn, miền núi, đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho các hộ gia đình sản
xuất lâm nghiệp, góp phần ổn định chính trị, xã hội tại địa phương. Thu nhập từ
sản xuất lâm nghiệp đã góp phần quan trọng vào giảm tỷ lệ hộ nghèo nông thôn và
nâng cao các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Với nguồn thu nhập của gia đình
được nâng cao, nhân dân sản xuất lâm nghiệp vùng nông thôn, miền núi có điều
kiện cải thiện chất lượng cuộc sống, như chăm sóc sức khỏe, cải thiện môi
trường sống, tiếp cận các hoạt động văn hóa, xã hội tiên tiến, giảm bớt các thủ
tục, thói quen lạc hậu. Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp đất lâm nghiệp chưa được
giải quyết dứt điểm đã phần nào tạo ra những khiếu kiện kéo dài, tiềm ẩn những
bất ổn tại địa phương.
-
Hiệu quả môi trường: Diện tích đất có rừng tăng qua các năm
(từ 414.524 ha năm 2010 lên 522.258
ha năm 2019). Độ che phủ rừng của tỉnh tăng từ 49,10% năm 2010
lên 62,80% năm 2019 đã góp phần bảo vệ tốt môi trường trong những năm qua, như
bảo vệ nguồn nước, đảm bảo nguồn sinh thủy cho các hồ đập, hạn chế lũ lụt, nhất
là lũ quét, điều hòa tốt nguồn nước, chống sói mòn đất, hạn chế nguy cơ sạt lở
đất nghiêm trọng ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
7.2.
Hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án phát triển lâm nghiệp
Trong
những năm qua ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lạng Sơn đã tích cực triển khai thực hiện các chính sách của Đảng và
Nhà nước về phát triển lâm nghiệp. Sau khi các dự án, chính sách, chương trình
được ban hành, các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng triển khai, tổ chức thực
hiện, chính sách đã đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực, thúc đẩy
phát triển sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn. Giai đoạn 2010-2019 ngân sách nhà
nước đầu tư, hỗ trợ từ các dự án, chương trình, mô hình được 272.375 triệu
đồng, trồng mới được 17.718 ha rừng, khoán bảo vệ rừng được 208.143,7 lượt ha,
khoanh nuôi tái sinh tự nhiên được 1.320 lượt ha (rừng đặc dụng), khoanh nuôi tái
sinh có trồng bổ sung được 2.320,8 ha. Thông qua chính sách hỗ trợ lãi suất vốn
vay trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả đã có 4.136 dự án được triển khai, số vốn
vay là 190.800 triệu đồng, với 3.948 hộ gia đình được vay vốn và trồng mới được
10.085 ha rừng (trong đó vay theo Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 là 179.300 triệu đồng; Quyết định số 02/QĐ-UBND
ngày 09/02/2017 là 11.500 triệu đồng). Các chương trình, chính sách, dự án đã
đi vào cuộc sống của người dân, tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất lâm
nghiệp, nhiều hộ dân được hưởng lợi từ các chương trình, dự án, chính sách đã
thoát nghèo và vươn lên làm giàu, tạo được vốn cho các hộ dân tự tái tạo trồng
rừng mới các chu kỳ tiếp theo.
Mặc dù
Trung ương, tỉnh đã có những chính sách khuyến khích phát triển lâm nghiệp, tuy
nhiên định mức đầu tư, hỗ trợ cho trồng rừng từ ngân sách nhà nước còn thấp,
nguồn vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân sách Trung ương hàng năm không đều, không liên
tục, trong khi đó nhiều người dân không chủ động được vốn để bổ sung đầu tư
thâm canh; đối với vốn vay theo các chính sách của tỉnh, thủ tục vay vốn từ các
ngân hàng còn khó khăn, thời gian cho vay ngắn (đối với vay theo Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 và Quyết định số 02/QĐ-UBND
ngày 09/02/2017), do đó các doanh nghiệp và hộ gia đình khó tiếp cận được nguồn
vốn vay để đầu tư thâm canh trồng rừng gỗ lớn. Công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo
gỡ khó khăn, vướng mắc ở cơ sở chưa được giải quyết kịp thời; mặc dù đã có các
văn bản hướng dẫn nhưng các tổ chức, hộ gia đình và các cơ quan liên quan vẫn
còn lúng túng trong khâu lập, thẩm định dự án vay vốn, quy trình, thủ tục vay
vốn, tài sản thế chấp,… do đó ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả thực hiện chính
sách.
Bênh
cạnh những mặt tích cực, chính sách hỗ trợ cho không kinh phí đầu tư cho sản
xuất lâm nghiệp (như: hỗ trợ tiền mua cây giống, phân bón, tiền công chăm sóc
rừng,..) làm cho một bộ phận nhân dân có tâm lý trông chờ vào sự bao cấp của
nhà nước, không chủ động phát huy nội lực, dẫn đến để lãng phí đất đai, làm hạn
chế cơ hội phát triển sản xuất.
7.3.
Đánh giá chung
7.3.1.
Những mặt được, hạn chế
a) Những mặt được:
Trong 10 năm qua ngành
lâm nghiệp của tỉnh đã có nhiều
chuyển biến tích cực, được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động, hỗ trợ, hướng dẫn phát triển
lâm nghiệp ngày càng hiệu quả; công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách
về phát triển lâm nghiệp được thực hiện thường xuyên, qua đó nhận thức của nhân
dân về giá trị của rừng và ý nghĩa của sản xuất lâm nghiệp ngày càng được nâng
cao. Đất rừng được quản lý, sử dụng ngày càng hiệu quả hơn. Sản xuất lâm nghiệp
mang lại nguồn thu đáng kể cho nhân dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm
giàu ở nông thôn, đóng góp tích cực vào xây dựng nông thôn mới.
Phát triển sản xuất lâm
nghiệp đã góp phần quan trọng vào bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội ở nông thôn,
miền núi và bảo vệ an ninh - quốc phòng tại các địa bàn biên giới thông qua tạo
nguồn thu nhập ổn định từ rừng. Tài nguyên rừng được bảo vệ và phát triển giúp
bảo vệ tốt môi trường sinh thái, hạn chế, giảm thiểu được lũ quét và sạt lở đất
cường độ lớn, do đó người dân nông thôn, miền núi có cuộc sống ổn định, yên tâm
phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới.
b) Hạn chế:
- Quy mô sản xuất lâm nghiệp của tỉnh nhỏ lẻ chủ yếu theo qui mô hộ gia đình, chưa tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết để tạo vùng nguyên liệu
tập trung và đảm bảo đầu ra ổn định cho sản phẩm, chưa thiết lập được hệ thống
sản xuất theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (tiêu chuẩn Chứng chỉ rừng FSC)
và tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ để đáp ứng xu hướng tiêu dùng của thế giới về sản
phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và thân thiện với môi trường.
- Diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh chưa được sử dụng tối ưu để tạo ra
nhiều sản phẩm trên một đơn vị diện tích, nhất là còn hạn chế trong việc sử
dụng nguồn giống chất lượng tốt, cải thiện kỹ thuật canh tác và kết hợp trồng
cây dược liệu dưới tán rừng. Vẫn còn tình trạng sản xuất và sử dụng cây giống
từ nguồn vật liệu không đảm bảo chất lượng, kỹ thuật sản xuất cây giống còn đơn
giản, chưa có nhiều ứng dụng công nghệ cao vào nhân giống nhằm gia tăng hiệu
quả sản xuất và chất lượng cây giống; hàm lượng ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật
tiên tiến vào canh tác lâm nghiệp còn hạn chế; diện tích trồng dược liệu dưới
tán rừng còn ít, hiện nay mới chỉ đạt diện tích gần 200 ha trên địa bàn toàn
tỉnh.
- Sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh chủ yếu được bán thô, chưa có nhiều sản
phẩm giá trị cao được sản xuất tại tỉnh, do đó không tạo được nhiều giá trị gia
tăng cho tỉnh. Cụ thể như: Phần lớn gỗ khai thác chỉ được sơ chế thành ván bóc
xuất khẩu đến thị trường Ấn Độ, Đài Loan,..; hoa Hồi chủ yếu được bán dạng quả
khô sang thị trường Trung Quốc, chỉ một phần nhỏ được chưng cất dầu; các nhà
máy chế biến nhựa Thông xuất khẩu (02 nhà máy ở Lộc Bình và 01 nhà máy ở Đình
Lập) hoạt động chưa ổn định, chưa tiêu thụ được nhiều nhựa Thông của tỉnh với
giá ổn định để tinh chế colophan, dầu Thông và các sản phẩm cao cấp khác.
- Cơ sở hạ tầng lâm nghiệp (đường vận xuất, vận chuyển, hệ thống công trình hỗ trợ phòng cháy, chữa cháy rừng,…) còn thiếu và chưa đồng bộ, do đó hạn chế đến khả năng tăng cường thâm
canh trồng rừng, nâng cao năng
suất, chất lượng, giá trị rừng trồng và công tác bảo vệ
rừng.
- Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất lâm nghiệp tiềm ẩn nguy cơ mất an
ninh trật tự và ổn định tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương, làm ảnh
hưởng đến tổ chức sản xuất và môi trường phát triển kinh tế, thu hút đầu tư.
- Chính sách tín dụng cho vay phát triển lâm nghiệp đã được triển khai
nhưng định mức cho vay còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất, công
tác phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn với các ngân hàng chưa được thường
xuyên và hiệu quả.
7.3.2.
Nguyên nhân
a) Nguyên nhân chủ
quan:
- Những kết quả đã đạt
được trong phát triển lâm nghiệp của tỉnh những năm qua do có sự triển khai,
lãnh đạo, tổ chức thực hiện cơ bản đồng bộ, kịp thời của cấp ủy, chính quyền
các cấp và sự chủ động, tích cực của nhân dân trong thực hiện bảo vệ và phát
triển rừng. Các cơ chế, chính sách, chương trình của tỉnh về thúc đẩy phát
triển lâm nghiệp phù hợp với quy định chung hiện hành và nhu cầu phát triển lâm
nghiệp của nhân dân.
- Đối với những tồn
tại, hạn chế, trước hết do công tác quy hoạch, định hướng phát triển sản xuất
lâm nghiệp chưa được thực hiện kịp thời; các mô hình sản xuất, cơ cấu cây trồng
chủ yếu phát triển tự phát. Năng lực, hiệu quả quản lý chuyên ngành, nhất là về
kiểm soát chất lượng sản xuất cây giống, quản lý sử dụng đất, cung cấp hỗ trợ
kỹ thuật phát triển trồng rừng,… còn hạn chế.
- Vai trò của cơ quan
chuyên môn, cơ quan quản lý trong việc thúc đẩy các hình thức tổ chức sản xuất
tiên tiến, nhất là các hình thức liên kết sản xuất chưa được thể hiện rõ nét.
Nguồn kinh phí của nhà nước đầu tư cho cơ sở vật chất và hạ tầng lâm nghiệp để
thúc đẩy các hoạt động phát triển sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
- Tinh thần chủ động,
sẵn sàng thay đổi tư duy, tiếp thu và thực hiện phương thức sản xuất mới, trình
độ kiến thức, kỹ năng, nhất là kiến thức về khoa học, kỹ thuật tiên tiến trong
sản xuất lâm nghiệp của nhân dân còn hạn chế.
b) Nguyên nhân khách
quan:
- Sự gia tăng nhu cầu
của xã hội đối với các sản phẩm lâm nghiệp là yếu tố cơ bản tạo ra thị trường
tiêu thụ lâm sản thuận lợi như trong những năm vừa qua; nhìn chung các sản phẩm
lâm nghiệp của tỉnh không có hiện tượng dư thừa, khó tiêu thụ, mặc dù giá trị
sản phẩm chưa được tối ưu, chủ yếu là sản phẩm bán thô. Một số sản phẩm lâm
nghiệp có tính chất đặc thù, giá trị cao của tỉnh được tạo ra do điều kiện tự
nhiên của vùng sinh thái, trong đó có hoa Hồi và nhựa Thông; bên cạnh đó, điều
kiện khí hậu, thổ nhưỡng của tỉnh cơ bản thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp.
Đây là những yếu tố khách quan nổi bật góp phần tạo ra những kết quả đạt được
trong phát triển lâm nghiệp của tỉnh.
- Đối
với những tồn tại, hạn chế, do đặc điểm địa hình ở nhiều khu vực trong tỉnh có
độ dốc lớn, núi cao, việc xây dựng hạ tầng lâm nghiệp và áp dụng cơ giới hóa
trong sản xuất gặp nhiều khó khăn, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Bên
cạnh đó, trong tỉnh có nhiều vùng sinh thái khác nhau, mỗi vùng chỉ phù hợp cho
những loài cây nhất định, do đó hạn chế đến việc mở rộng diện tích cho các loài
cây trồng để tạo vùng nguyên liệu quy mô lớn.
Phần thứ ba
MỤC
TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2020-2030
I. BỐI CẢNH, DỰ
BÁO
Lâm nghiệp là một ngành
kinh tế đã và đang mang lại lợi ích nổi bật cho Đất nước về các mặt kinh tế, xã
hội, môi trường; thể hiện thông qua nguồn thu từ xuất khẩu lâm sản (kim ngạch
xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam tăng từ 250 triệu USD năm 2000
lên trên 10 tỷ USD năm 2019), giải quyết việc làm cho phần lớn lao động ở nông
thôn, miền núi và góp phần bảo vệ tốt môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, trong
bối cảnh biến đổi khí hậu đang gây ra những hiện tượng thiên nhiên ngày càng
khó lường và cực đoan, phát triển rừng bền vững được xem như một giải pháp hữu
hiệu để góp phần giảm nhẹ các tác động do biến đổi khí hậu gây ra.
Đất nước ta đang hội
nhập quốc tế sâu rộng, các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
đang được thực thi và Nhà nước đang có các chủ trương, chính sách khuyến khích
phát triển lâm nghiệp. Dự báo trong tương lai nhu cầu thế giới
đối với các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ, nhất là các sản phẩm có nguồn gốc
thân thiện với môi trường sẽ ngày càng tăng, yêu cầu về chất lượng và giá trị
sử dụng của sản phẩm ngày càng cao. Đó là những cơ hội, đồng thời là những
thách thức đối với phát triển lâm nghiệp trong những năm tới.
Đối với các sản phẩm
lâm nghiệp của tỉnh, thị trường tiếp tục ổn định và có tiềm năng mở rộng cho
các sản phẩm từ gỗ là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ, các
nước EU; thị trường cho các sản phẩm từ nhựa Thông là: Trung Quốc, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Hoa Kỳ; thị trường các sản phẩm từ hoa Hồi là: Trung Quốc, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Đài Loan, Australia, Ấn Độ, các nước Tây Á, Trung Đông và các nước
EU; thị trường cho hạt Sở, dầu Sở là: Trung Quốc, Đài Loan và các nước Asean;
thị trường các sản phẩm Quế là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hoa
Kỳ, các nước Tây Á, Trung Đông, các nước EU.
Với bối cảnh và dự báo
trên, ngành lâm nghiệp của tỉnh Lạng Sơn cần được tổ chức sản xuất theo hướng
tạo ra vùng nguyên liệu tập trung, đáp ứng chất lượng sản phẩm theo các tiêu
chuẩn về quản lý rừng bền vững và sản xuất hữu cơ, đảm bảo các sản phẩm có
nguồn gốc rõ ràng, được sản xuất và có giá trị sử dụng thân thiện với môi
trường.
II. MỤC TIÊU,
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Mục tiêu
1.1.
Mục tiêu chung
Quản lý, sử dụng và
phát triển bền vững tài nguyên rừng; phát triển ngành lâm nghiệp thành ngành
sản xuất chủ lực, đóng góp quan trọng vào giảm nghèo bền vững và làm giàu
cho người dân sản xuất lâm nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng nông
thôn mới. Nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp thông qua tăng năng suất và giá
trị rừng trồng theo hướng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thâm canh rừng gỗ
lớn, ứng dụng công nghệ cao trong canh tác và chế biến sản phẩm, thiết lập
chuỗi liên kết giữa trồng rừng, chế biến lâm sản và tiêu thụ sản phẩm; quản lý,
sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên rừng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu phát triển
kinh tế và phát huy tốt chức năng bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng
phó với biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học của rừng thông qua phát
huy tiềm năng đa dạng của rừng, sự tham gia tích cực của cộng đồng, doanh
nghiệp và sự hỗ trợ của nhà nước theo hướng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công
nghệ tiên tiến vào quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
1.2.
Mục tiêu cụ thể
a)
Giai đoạn 2020-2025:
- Tăng trưởng giá trị
của ngành lâm nghiệp đạt 7,0-7,2%/năm;
- Giá trị sản xuất lâm
nghiệp năm 2025 (theo giá thực tế) đạt 4.000
tỷ đồng;
- Năng
suất gỗ rừng trồng đạt 15-18 m3/ha/năm;
- Sản lượng khai thác gỗ đạt 350.000 m3/năm;
- Sản lượng hoa Hồi khô đạt 13.000 tấn/năm;
- Sản lượng nhựa Thông đạt 30.000 tấn/năm;
- Sản lượng hạt Sở đạt 6.000 tấn/năm;
- Sản lượng vỏ Quế đạt 600 tấn/năm;
- Sản xuất cây giống lâm nghiệp đạt 200 triệu cây/năm;
- Trồng rừng mới hàng năm: 9.000 ha/năm, trong đó diện tích trồng rừng gỗ
lớn là 800 ha/năm.
- Trồng
dược liệu dưới tán rừng: 400 ha/năm;
- Diện tích rừng được cấp chứng chỉ (FSC hoặc PEFC) đạt 5.000 ha;
- 05 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm được thiết lập;
- Bảo vệ tốt rừng phòng hộ và rừng đặc dụng theo quy định;
- Các loài thực vật, động vật quý hiếm được phục hồi và bảo tồn, nhất là
cây Hoàng đàn Hữu Liên, Hươu xạ và Khỉ;
- Độ che phủ rừng đạt 64,5% - 65,0% vào năm 2025.
b)
Giai đoạn 2026-2030:
- Tăng
trưởng giá trị của ngành lâm nghiệp đạt 7,2-7,4%/năm;
- Giá trị sản xuất lâm
nghiệp năm 2030 (theo giá thực tế) đạt 6.000 tỷ đồng;
- Năng
suất gỗ rừng trồng đạt 18-20 m3/ha/năm;
- Sản lượng khai thác gỗ đạt 600.000 m3/năm;
- Sản lượng hoa Hồi khô đạt 15.000 tấn/năm;
- Sản lượng nhựa Thông đạt 40.000 tấn/năm;
- Sản lượng hạt Sở đạt 7.000 tấn/năm;
- Sản lượng vỏ Quế đạt 3.000 tấn/năm;
- Sản xuất cây giống lâm nghiệp đạt 250 triệu cây/năm;
- Trồng rừng mới hàng năm: 10.000 ha/năm, trong đó diện tích trồng rừng gỗ
lớn là 1.500 ha/năm.
- Trồng dược liệu dưới tán rừng: 500 ha/năm;
- Diện tích rừng được cấp chứng chỉ (FSC hoặc PEFC) đạt 10.000 ha;
- 10 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm được thiết lập;
- Bảo vệ tốt rừng phòng hộ và rừng đặc dụng theo quy định;
- Các loài động vật, thực vật quý hiếm, các loài cây bản địa có giá trị
tiếp tục được bảo tồn và phát triển, như: Hươu xạ, Khỉ, các loài cây: Hoàng đàn
Hữu Liên, Lim, Nghiến, Đinh,…;
- Độ che phủ rừng đạt 66,5% - 67,0% vào năm 2030.
2. Nhiệm vụ chủ
yếu
2.1.
Nâng cao năng lực quản lý ngành Lâm nghiệp
- Kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ
quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp từ tỉnh đến cơ sở; nâng cao tinh thần trách
nhiệm, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ.
- Tăng cường công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực lâm nghiệp.
2.2.
Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
2.2.1.
Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng
2.2.1.1.
Quản lý, bảo vệ các loại rừng
a)
Quản lý, bảo vệ hệ thống rừng đặc dụng:
Thực hiện tốt nội dung
nhiệm vụ được ban hành tại Quyết định số 2447/QĐ-UBND ngày 30/11/2018 của UBND
tỉnh Lạng Sơn về phê duyệt Quy hoạch rừng đặc dụng tỉnh Lạng Sơn và Quy hoạch
bảo tồn phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng Mẫu Sơn, Bắc Sơn đến năm
2025, tầm nhìn đến năm 2030. Trong đó tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ
sau:
- Nhiệm
vụ bảo vệ rừng và phát triển rừng đặc dụng: Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng
hiện có (11.460 ha), phát huy sự tham gia của nhân dân và cộng đồng trong bảo
vệ rừng đặc dụng, cắm mốc đầy đủ ranh giới rừng đặc dụng; thực hiện khoanh nuôi
tái sinh tự nhiên 425 ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung 90 ha;
thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chuyên sâu phục vụ việc quản lý, bảo vệ
và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng.
- Bảo
tồn loài đặc hữu và đa dạng sinh học: Xây dựng 01 vườn ươm
ứng dụng công nghệ cao để nhân giống cây Hoàng đàn Hữu Liên
và các loài cây bản địa phục vụ bảo tồn và nhân rộng diện tích, cá thể cây
trồng; xây dựng 01-03 vườn sưu tập thực vật để bảo tồn các loài cây bản địa;
xây dựng 01 phòng bảo tàng thực vật, động vật phục vụ công tác bảo tồn đa dạng
sinh học và giáo dục môi trường.
- Kết
hợp bảo vệ rừng đặc dụng với phát triển du lịch sinh thái: Phát huy giá trị
cảnh quan và tài nguyên rừng để phát triển du lịch sinh thái, đảm bảo hài hòa
giữa bảo vệ tốt tài nguyên rừng và tạo ra nguồn thu từ phát triển du lịch.
b)
Quản lý, bảo vệ hệ thống rừng phòng hộ:
- Tổ
chức quản lý, bảo vệ rừng theo quy chế quản lý rừng phòng hộ; bảo vệ nghiêm
ngặt toàn bộ diện tích rừng phòng hộ là rừng tự nhiên; kiểm soát chặt chẽ quy
trình khai thác đối với rừng phòng hộ là rừng trồng; trồng rừng mới trên toàn
bộ diện tích đất rừng phòng hộ chưa có rừng tại các vị trí phòng hộ xung yếu;
cắm mốc đầy đủ ranh giới đất lâm nghiệp quy hoạch cho rừng phòng hộ.
- Thực hiện khoán bảo vệ rừng phòng hộ cho hộ gia đình, cộng đồng tại địa
phương đảm bảo thiết thực, phù hợp đặc thù thực tiễn ngành lâm nghiệp, hiệu
quả, đúng quy định.
b)
Quản lý, bảo vệ rừng sản xuất:
Thực hiện tốt các quy
định của pháp luật về bảo vệ thành quả sản xuất lâm nghiệp, nhất là xử lý các
vụ việc tranh chấp, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp.
2.2.1.2.
Theo dõi diễn biến tài nguyên rừng
Hàng năm cập nhật thay
đổi hiện trạng rừng thông qua kiểm tra, giám sát trực tiếp diễn biến tại thực
địa, kết hợp ứng dụng công nghệ viễn thám, công nghệ GIS, thiết bị thông minh,
thiết bị bay không người lái (Flycam) để theo dõi, cập nhật kịp thời, đầy đủ
diễn biến, thay đổi hiện trạng rừng.
2.2.1.3.
Bảo vệ tài nguyên rừng
- Công
tác phòng cháy, chữa cháy rừng: Các chủ rừng, cơ quan chuyên môn xây dựng đầy
đủ, đảm bảo chất lượng các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; thường xuyên
tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy rừng
cho các chủ rừng và lực lượng bảo vệ rừng; bổ sung các trang thiết bị và cơ sở
hạ tầng đảm bảo phục vụ hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Công
tác phòng, trừ dịch bệnh và sinh vật gây hại rừng: Các chủ rừng và các cơ quan
chuyên môn thực hiện tốt các biện pháp phòng, trừ dịch bệnh và sinh vật gây hại
rừng; áp dụng các biện pháp lâm sinh, biện pháp sinh học trong phòng, trừ dịch
bệnh và sinh vật gây hại; xử lý kịp thời khi phát hiện có dịch bệnh, sinh vật
gây hại rừng.
- Quản
lý, xử lý vi phạm trong công tác bảo vệ rừng: Cơ quan chuyên môn thực hiện tốt
chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng; kịp thời xử lý theo pháp luật các
trường hợp hủy hoại tài nguyên rừng, vi phạm pháp luật về lâm nghiệp.
2.2.2.
Nhiệm vụ phát triển rừng
2.2.2.1.
Thiết lập hệ thống vườn ươm cung cấp cây giống chất lượng cao
- Thiết
lập nguồn giống: Thiết lập từ 02 – 03 cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao
(trên cơ sở phát huy, đặt hàng đối với các cơ sở hiện có) để cung cấp vật liệu
giống (hạt, hom, cây mô) chất lượng cao cung cấp cho hệ thống cơ sở sản xuất
cây giống trong toàn tỉnh thông qua các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, đảm
bảo cây giống được kiểm soát đầy đủ chuỗi hành trình; tuyển chọn cây trội,
chuyển hóa rừng trồng chất lượng tốt để xây dựng các rừng giống, vườn giống
cung cấp vật liệu giống cho sản xuất cây giống đối với các loài cây chủ lực
như: Hồi, Thông, Keo, Quế, dược liệu và các loài cây bản địa khác.
- Thiết
lập, nâng cấp hệ thống vườn ươm: Thiết lập, nâng cấp 20 cơ sở sản xuất cây
giống tiêu biểu (trên cơ sở nâng cấp các cơ sở hiện có) thông qua hỗ trợ đầu tư
để ứng dụng công nghệ cao và tăng cường kiểm soát, quản lý chất lượng sản xuất
cây giống; đảm bảo các cơ sở sản xuất đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo
quy định hiện hành, làm hạt nhân tổ chức sản xuất ngành hàng cây giống lâm
nghiệp (đang có khoảng 700 hộ gia đình tham gia sản xuất cây giống lâm nghiệp
hiện nay), sản xuất được 200 đến 250 triệu cây giống/năm đạt chất lượng tốt.
2.2.2.2.
Phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng tập trung và các sản phẩm chủ lực
- Cây
Keo:
+ Xác định cây Keo là
loài cây chủ lực cho sản phẩm gỗ rừng trồng của tỉnh, gồm trồng rừng gỗ nhỏ và
gỗ lớn. Giai đoạn 2020 - 2025 tập trung phát triển và duy trì ổn định khoảng
35.000 - 38.000 ha, trong đó: Duy trì tái tạo hơn 20.000 ha rừng Keo hiện có,
mở rộng mới thêm khoảng 10.000 ha từ diện tích đất chưa có rừng trồng, chuyển
đổi sau khai thác 8.000 ha rừng Bạch đàn hiện có sang trồng Keo; mỗi năm trồng
mới 700 ha làm rừng Keo gỗ lớn (khai thác sau 10 - 12 năm), đến năm 2025 đạt
diện tích rừng Keo gỗ lớn khoảng hơn 4.000 ha.
+ Giai đoạn 2026 -
2030, tăng diện tích lên khoảng 40.000 ha, trong đó: Tiếp tục tái tạo 35.000 ha
đang có, mở rộng trồng mới thêm 5.000 ha; mỗi năm trồng mới 1.500 ha làm rừng
sản xuất gỗ lớn, đến năm 2030 có diện tích rừng Keo gỗ lớn khoảng 12.000 ha,
giai đoạn sau năm 2030 diện tích rừng gỗ lớn tiếp tục được trồng bổ sung hàng
năm bù vào diện tích được khai thác.
+ Áp dụng biện pháp
quản lý rừng bền vững (cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC hoặc PEFC) để
tăng giá trị rừng trồng. Tăng cường thực hiện thâm canh và các biện pháp chăm
sóc rừng, phấn đấu giai đoạn 2020 - 2025 năng suất rừng trồng đạt 15-18 m3/ha/năm,
sản lượng khai thác đạt 150.000 m3/năm (ước giá trị trên 190 tỷ
đồng); giai đoạn 2026-2030 năng suất đạt 18-20 m3/ha/năm, sản lượng
khai thác đạt 300.000 m3/năm (ước giá trị trên 450 tỷ đồng). Vùng
sản xuất tập trung tại các huyện: Hữu Lũng, Chi Lăng, Đình Lập, Văn Quan, Bình
Gia, Bắc Sơn.
- Cây
Bạch đàn: Duy trì diện tích Bạch đàn ở mức tối đa 10.000 ha (không
tăng thêm diện tích Bạch đàn) để tận dụng áp dụng thành tựu kỹ thuật về giống
của cây Bạch đàn đang phát triển mạnh trong thời gian gần đây (trong đó có
giống Bạch đàn Cự vĩ DH 32-29 có thể đạt năng suất 180-200 m3/ha/7
năm nếu đầu tư thâm canh cao, chăm sóc cây trồng tốt); tăng cường thực hiện
thâm canh và các biện pháp chăm sóc rừng. Giai đoạn 2020 - 2025 phấn đấu năng
suất rừng trồng đạt 15-18 m3/ha/năm, sản lượng khai thác đạt 200.000
m3/năm (ước giá trị gần 300 tỷ đồng); giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu
năng suất trung bình đạt 18-20 m3/ha/năm, sản lượng khai thác đạt
150.000 m3/năm (ước giá trị trên 190 tỷ đồng). Vùng sản xuất tập
trung tại các huyện: Hữu Lũng, Chi Lăng, Lộc Bình, Tràng Định, Văn Lãng.
- Cây
Thông: Phát triển và giữ ổn định diện tích rừng Thông khoảng
130.000 ha, trồng lại rừng đối với diện tích sau khai thác. Xác định lấy nhựa
là sản phẩm chính, thực hiện khai thác nhựa bền vững, khai thác nhựa khi cây đủ
tuổi thành thục công nghệ để cho năng suất, sản lượng cao; thực hiện tốt “Dự
án Phục hồi và quản lý rừng bền vững tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam (gọi
tắt là Dự án KfW9.2) tỉnh Lạng Sơn”[5] giai
đoạn 2021-2029 do Ngân hàng Tái thiết Đức tài trợ, trong đó có nội dung nâng
cao năng suất, chất lượng rừng trồng Thông. Duy trì diện tích khai thác nhựa
khoảng 30% (tương đương gần 40.000 ha), sản lượng nhựa hàng năm đạt 30.000 -
40.000 tấn (ước giá trị: 750 - 1.000 tỷ
đồng); sản lượng khai thác gỗ (đối với giai đoạn 2026-2030) đạt
khoảng 200 - 300 nghìn m3/năm (ước
giá trị: 600 - 630 tỷ đồng) từ
diện tích đã khai thác kiệt nhựa. Vùng sản xuất tập trung tại
các huyện: Đình Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Văn Lãng, Chi Lăng, Thành phố Lạng
Sơn.
- Cây
Hồi: Phát triển và duy trì ổn định diện tích rừng Hồi khoảng
35.000 ha. Thực hiện trồng mới thay thế dần khoảng 4.000 ha rừng
đang già cỗi; thực hiện các biện pháp chăm sóc, nâng cao năng
suất đối với khoảng 24.000 ha đang cho thu hoạch ổn định, phấn đấu sản lượng
trung bình đạt 13.000 đến 15.000 tấn quả khô/năm (ước giá trị khoảng từ 1.000 -
1.500 tỷ đồng); thực hiện chăm sóc, quản lý rừng theo tiêu chuẩn hữu cơ (cấp
Chứng nhận rừng đạt tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ) để tăng giá trị sản phẩm. Vùng
sản xuất tập trung tại các huyện: Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn,
Tràng Định, Chi Lăng, Văn Lãng, Cao Lộc.
- Cây
Quế: Phát triển mở rộng đến
năm 2025 diện tích đạt 6.000 ha; diện tích
khai thác trung bình giai đoạn 2020-2025 khoảng 100 ha/năm, sản lượng vỏ đạt
600 tấn/năm (ước giá trị: 18 tỷ đồng). Đến năm 2030 nâng tổng diện tích lên
khoảng 8.000 ha, diện tích khai thác hàng năm giai đoạn 2026-2030 trung bình
500 ha/năm, sản lượng vỏ đạt khoảng 3.000 tấn/năm (ước giá trị: 100 tỷ đồng). Vùng
sản xuất tập trung ở các huyện: Tràng Định, Văn Lãng, Bình
Gia, Bắc Sơn.
- Cây
Sở: Phát triển diện tích đến năm 2025 đạt khoảng 5.000 ha, năm
2030 đạt 8.000 ha; tăng cường các biện pháp chăm sóc rừng, phấn đấu sản lượng
hạt đối với diện tích đang cho thu hoạch hiện nay (khoảng 2.000 ha) giai đoạn
2020-2025 đạt trung bình 6.000 tấn/năm (ước giá trị:
120 tỷ đồng), phấn đấu giai đoạn
2026-2030 đạt trung bình 7.000 tấn/năm (ước giá trị:
180 tỷ đồng). Vùng
sản xuất chủ yếu tại các huyện: Văn Quan, Cao Lộc, Lộc Bình,
Chi Lăng.
- Tiếp
tục phát triển rừng trồng cây bản địa ở những nơi phù hợp, theo phương thức xen
canh hoặc thuần loài; các loài cây chủ yếu là: Trám, Lát, Xoan, Tếch, Giổi,
Đinh, Lim, Nghiến,… Mỗi năm phấn đấu trồng khoảng 100 ha cây gỗ lớn lâu năm đối
với các loài bản địa có thời gian khai thác sau 30-40 năm.
2.2.2.3.
Phát triển trồng cây dược liệu dưới tán rừng
Phát triển diện tích
trồng dược liệu ở những nơi phù hợp khoảng 5.000 ha các loài cây dược liệu dưới
tán rừng thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư để nâng cao giá trị sản
xuất trên một đơn vị diện tích đất lâm nghiệp. Định hướng một số loài cây trồng
chính như: Sa nhân, ba kích, lan kim tuyến, chè hoa vàng, đinh lăng, hà thủ ô
và các loài cây trồng có giá trị khác; vùng trồng tập trung trồng dưới tán rừng
Hồi và rừng phòng hộ trên địa bàn toàn tỉnh.
2.2.2.4.
Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng
Thực hiện tốt nhiệm vụ
thu và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, đảm bảo thu, chi đầy đủ và chi trả
đúng đối tượng được hưởng lợi từ nguồn thu dịch vụ môi trường rừng; thực hiện
thu hàng năm đạt khoảng 5 tỷ đồng. Đối tượng nộp tiền sử dụng dịch vụ môi
trường rừng là các nhà máy thủy điện, các cơ sở sản xuất nước sạch, cơ sở sản
xuất công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái. Hàng năm Quỹ Bảo vệ
và Phát triển rừng phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp và chủ rừng xây
dựng kế hoạch để xác định đối tượng được chi trả, mức chi trả, hình thức chi
trả đảm bảo đúng theo hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn và các quy định hiện hành.
2.3. Chế biến lâm sản và phát triển thị trường
2.3.1.
Nhiệm vụ chế biến lâm sản
- Thiết
lập 03 nhà máy chế biến gỗ công nghệ cao sản xuất sản phẩm gỗ đáp ứng tiêu
chuẩn xuất khẩu, khuyến khích sản xuất sản phẩm có giá trị cao; công suất trong
giai đoạn 2020- 2025 đạt 50.000 m3 sản phẩm/năm, giai đoạn 2025 -
2030 đạt 100.000 m3 sản phẩm/năm.
- Duy
trì ổn định 03 nhà máy chế biến sản phẩm chất lượng cao từ nhựa Thông, sử dụng
80% đến 100% sản lượng nhựa Thông hàng năm cho chế biến sâu tại tỉnh.
- Thiết
lập 01 - 02 nhà máy chế biến Hồi sản xuất các sản phẩm cao cấp, chất lượng cao,
50-70% sản lượng Hồi được sử dụng chế biến sản phẩm tinh chế tại tỉnh.
- Thiết
lập 01 - 02 nhà máy chế biến Quế sản xuất các sản phẩm tinh chế từ Quế, sử dụng
hết 100% sản lượng Quế khai thác hàng năm.
- Thiết
lập 01 - 02 nhà máy chế biến dầu Sở, sử dụng hết 100% sản lượng Sở hàng năm.
- Phát
triển sản phẩm OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm) lâm nghiệp, gồm các sản
phẩm tinh chế từ Hồi, Quế, Sở, nhựa Thông, các loại cây dược liệu và sản phẩm
cây giống lâm nghiệp đạt tiêu chí 3 sao trở lên.
2.3.2.
Nhiệm vụ phát triển thị trường lâm sản
Tăng cường công tác xúc
tiến đầu tư, xúc tiến thương mại để quảng bá, tiêu thụ sản phẩm; kết nối doanh
nghiệp đầu tư bao tiêu sản phẩm; chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế để mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh. Các thị trường hướng đến gồm:
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ, Australia, Hoa Kỳ, Trung Đông
và các nước khối EU.
2.4. Nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất trong lâm nghiệp
2.4.1.
Nhiệm vụ nâng cao hiệu quả sản xuất của hộ gia đình:
- Nâng
cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp thông qua lựa chọn loài cây trồng theo định
hướng hình thành vùng nguyên liệu tập trung, sử dụng giống chất lượng tốt, áp
dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, tăng cường các biện pháp chăm
sóc, bảo vệ rừng, áp dụng các biện pháp quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn
chứng chỉ FSC, PEFC.
- Thiết
lập các mô hình liên kết, hợp tác có hiệu quả giữa các hộ gia đình (thành lập
hợp tác xã, tổ hợp tác,..), giữa hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã với các
doanh nghiệp,... để hỗ trợ sản xuất và tạo vùng nguyên liệu tập trung.
2.4.2.
Nhiệm vụ phát triển sản xuất của doanh nghiệp:
Thực hiện các biện pháp
quản lý tốt diện tích đất lâm nghiệp được giao, cho thuê; xử lý tốt các vấn đề
về lấn chiếm đất lâm nghiệp đã giao, cho thuê cho các doanh nghiệp. Khuyến
khích vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong thiết lập các chuỗi liên kết sản
xuất giữa doanh nghiệp với các hộ gia đình, tổ hợp tác, HTX; phấn đấu mỗi sản
phẩm lâm nghiệp chính (Sản phẩm gỗ, nhựa Thông, hoa Hồi, Quế, Sở) có chuỗi liên
kết. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trọng tâm vào khâu chế biến sâu và thương
mại lâm sản.
2.4.3.
Nhiệm vụ nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp của hợp tác
xã:
- Thành
lập các tổ hợp tác, hợp tác xã lâm nghiệp hoạt động thực chất, hiệu quả, theo
nhu cầu thiết thực của các thành viên để tạo mạng lưới liên kết, hỗ trợ nhau
phát triển sản xuất, tạo vùng nguyên liệu tập trung; phấn đấu 80% các xã có
diện tích rừng trồng từ 1.000 ha trở lên có các tổ hợp tác, hợp tác xã về lĩnh
vực lâm nghiệp (hiện nay có 68 xã có diện tích rừng trồng trên 1.000 ha).
- Nâng
cao năng lực quản lý hợp tác xã và vai trò làm cầu nối giữa hộ gia đình với
doanh nghiệp và thị trường.
3. Giải pháp
thực hiện
3.1.
Giải pháp tuyên truyền
- Thường
xuyên thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền trong nhân dân về trách nhiệm
chủ động thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng,
tinh thần chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng.
- Tuyên
truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân tích cực áp dụng các biện pháp kỹ thuật
sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu quả, giá trị sản xuất lâm nghiệp; chủ động
thiết lập các hình thức liên kết sản xuất để hỗ trợ nhau phát triển và tạo vùng
nguyên liệu tập trung, đảm bảo thị trường ổn định cho sản phẩm.
3.2.
Giải pháp đối với tổ chức, quản lý ngành lâm nghiệp
- Thường
xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ
thuật trong các cơ quan, đơn vị, bộ phận quản lý nhà nước về lâm nghiệp từ tỉnh
đến cơ sở; bố trí đủ cán bộ được đào tạo về chuyên ngành lâm nghiệp thực hiện
nhiệm vụ phụ trách lâm nghiệp tại các đơn vị chuyên môn cấp xã, huyện.
- Tăng
cường hiệu lực, hiệu quả, chất lượng công tác tham mưu, chỉ đạo của các cơ
quan, đơn vị quản lý nhà nước các cấp về lâm nghiệp trong công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng. Thực hiện đầy đủ, chất lượng, hiệu quả các chính sách
của Đảng, nhà nước về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
- Căn cứ
tình hình yêu cầu thực tiễn và các chủ trương, chính sách của Đảng
và nhà nước về cơ cấu, tổ chức, bộ máy các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước,
xem xét kiện toàn, bổ sung chức năng hoạt động của các Ban quản lý rừng đặc
dụng (Hữu Liên, Mẫu Sơn, Bắc Sơn), thành lập mới các Ban quản lý rừng phòng hộ
hoặc bổ sung chức năng quản lý rừng phòng hộ cho các đơn vị phù hợp.
3.3.
Giải pháp về cơ chế, chính sách đầu tư phát triển lâm nghiệp
- Thực
hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo Nghị định số
57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích
doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg
ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo
vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích
đối với các công ty nông, lâm nghiệp.
- Triển
khai thực hiện tốt các chính sách về phát triển lâm nghiệp theo
Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND ngày 10/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh về
chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai
đoạn 2020-2025.
- Các
nội dung ưu tiên khuyến khích, ưu đãi đầu tư gồm:
+ Xây dựng các cơ sở
sản xuất nguồn giống đầu dòng, nguồn giống gốc ứng dụng công nghệ cao để cung
cấp vật liệu giống sản xuất cây giống cho hệ thống vườn ươm trong tỉnh; xây
dựng, nâng cấp các vườn ươm trọng điểm tổ chức liên kết sản xuất cây giống lâm
nghiệp.
+ Các mô hình trồng
rừng ứng dụng quy trình kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, đạt tiêu chuẩn để được
cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (chứng chỉ FSC, PEFC).
+ Các nhà máy chế biến
gỗ sản xuất sản phẩm gỗ giá trị cao, sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ từ rừng được
cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, các nhà máy chế biến sâu các sản phẩm lâm
nghiệp thực hiện tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết với phát triển vùng
nguyên liệu.
3.4.
Giải pháp về khoa học, kỹ thuật, công nghệ
3.4.1.
Đối với sản xuất cây giống:
- Quản
lý chặt chẽ việc thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật trong sản xuất cây giống lâm
nghiệp, cây dược liệu đảm bảo cây giống được sản xuất đạt chất lượng tốt, truy
xuất được nguồn gốc và giám sát được chuỗi hành trình; tập trung sản xuất giống
cây trồng đạt năng suất cao, kháng bệnh tốt để phục vụ công tác phát triển lâm
nghiệp của tỉnh và cung cấp cho thị trường.
- Hợp
tác với các viện nghiên cứu, cơ sở sản xuất uy tín trong và ngoài nước để tạo
nguồn vật liệu giống chất lượng cao cung cấp cho sản xuất cây giống.
- Xây
dựng các rừng giống, vườn giống để chủ động nguồn hạt, mô, hom giống đối với
các loài cây chủ lực, cây bản địa (Thông, Keo, Hồi, Sở, Quế, dược liệu,...).
- Thực
hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học về nâng cao hiệu quả, chất lượng nhân
giống các loài cây trồng bản địa, cây trồng chủ lực của tỉnh bằng công nghệ
cao.
3.4.2.
Đối với trồng, chăm sóc rừng:
- Xây
dựng quy trình kỹ thuật canh tác rừng tiên tiến, công nghệ cao để áp dụng cho
công tác trồng, chăm sóc và khai thác rừng đối với các loài cây trồng chủ lực
của tỉnh (Thông, Keo, Bạch đàn, Hồi, Quế, Sở, dược liệu dưới tán rừng), đảm bảo
đạt được hiệu quả sản xuất tối ưu trên một đơn vị diện tích sử dụng đất lâm
nghiệp.
- Tổ
chức phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn quy trình kỹ thuật canh tác rừng tiên
tiến, công nghệ cao đến các chủ rừng, nhất là hộ gia đình thông qua tài liệu
hướng dẫn (văn bản, hình ảnh, video clips) và các khóa tập huấn (thông qua các
chương trình khuyến nông, chương trình đào tạo nghề lao động nông thôn, các
chương trình đào tạo, tập huấn chuyên ngành, các hoạt động nâng cao năng lực
khác,..).
- Xây
dựng các mô hình rừng trồng, mô hình dược liệu dưới tán rừng áp dụng kỹ thuật
trồng, chăm sóc tiên tiến, công nghệ cao để làm điểm trình diễn và học tập nhân
rộng; chú trọng áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật theo bộ tiêu chuẩn quản lý rừng
bền vững quốc tế (tiêu chuẩn chứng chỉ rừng FSC, PEFC cho rừng cung cấp gỗ) và
tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ (đối với rừng Hồi, Quế).
3.4.3.
Đối với quản lý, bảo vệ rừng:
- Theo
dõi diễn biến tài nguyên rừng: Trang bị hệ thống thiết bị, kỹ thuật và nâng cao
năng lực trình độ chuyên môn để theo dõi diễn biến hiện trạng, tài nguyên rừng
bằng công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và thiết bị bay không
người lái (Flycam), nhằm chủ động theo dõi, giám sát kịp thời, đầy đủ diễn biến
hiện trạng, tài nguyên rừng.
- Dự
báo, phát hiện sớm cháy rừng và sẵn sàng phòng cháy, chữa cháy rừng: Trang bị
bổ sung, nâng cấp hệ thống thiết bị, công nghệ và năng lực trình độ chuyên môn
để thực hiện dự báo nguy cơ cháy rừng và phát hiện sớm đám cháy nhằm chủ động
bảo vệ tốt tài nguyên rừng; kiến thiết cơ sở hạ tầng (đường lâm nghiệp tiếp cận
các khu vực rừng trọng điểm; hệ thống hồ, đập, bể chứa nước để chữa cháy rừng),
bổ sung trang thiết bị chữa cháy rừng (máy bơm nước, máy thổi gió,..) và phổ biến
rộng rãi kỹ năng chữa cháy rừng để sẵn sàng chữa cháy rừng hiệu quả.
- Thường
xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời dịch bệnh và
các loại sinh vật gây hại rừng; chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh, kỹ thuật phòng trừ dịch hại tổng hợp để bảo vệ cây trồng.
- Bảo
tồn đa dạng sinh học: Xây dựng 01 vườn ươm nhân giống Hoàng đàn Hữu Liên và các
loài cây bản địa với thiết bị, công nghệ cao; xây dựng 01-03 vườn sưu tập thực
vật ở các vùng sinh thái khác nhau (tổng diện tích khoảng 10 ha) để tập hợp,
bảo tồn các loài cây bản địa, nhất là cây dược liệu; xây dựng 01 phòng bảo tàng
thực vật, động vật phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học và giáo dục môi
trường. Xây dựng các giải pháp kỹ thuật theo dõi, bảo vệ loài Hươu xạ Hữu Liên
và loài Khỉ (hiện nay đang có ở Bắc Sơn).
- Giải
pháp giảm áp lực lên tài nguyên rừng cần bảo tồn: Mở rộng thực hiện các chương
trình phát triển kinh tế vùng đệm (các xã liền kề) của các khu rừng đặc dụng
(Hữu Liên, Bắc Sơn, Mẫu Sơn) để nhân dân nâng cao thu nhập, hạn chế phụ thuộc
sinh kế vào sản phẩm thu hái từ rừng đặc dụng; tăng cường tuyên tuyền về bảo vệ
động vật hoang dã và xử lý các trường hợp vi phạm nhằm duy trì cân bằng hệ sinh
thái, góp phần bảo vệ cây trồng.
3.4.4.
Đối với chế biến lâm sản:
Thực hiện tốt cơ chế ưu
đãi, khuyến khích đầu tư ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất sản phẩm giá trị
cao (sản phẩm đồ gỗ gia dụng nội ngoại thất, đồ gỗ mỹ nghệ, gỗ xây dựng, các
lâm sản chế biến sâu), quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu đến các thị trường
yêu cầu sản phẩm chất lượng cao (chất lượng sản phẩm tốt; nguyên liệu có nguồn
gốc xuất sứ rõ ràng, hợp pháp;...) để nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp của
tỉnh.
3.5.
Giải pháp đối với tổ chức sản xuất
- Hỗ
trợ, khuyến khích doanh nghiệp thiết lập liên kết với các hợp tác xã, tổ hợp
tác để tiêu thụ sản phẩm ổn định thông qua áp dụng các cơ chế, chính sách
khuyến khích đầu tư, từ đó tạo động lực để các hợp tác xã, tổ hợp tác không
ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo động lực để các hộ gia đình tham gia
các hợp tác xã, tổ hợp tác, chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm (nguyên liệu
gỗ, lâm sản ngoài gỗ).
- Nâng
cao năng lực về tổ chức quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác và chuỗi liên kết sản
xuất cho nhân sự chủ chốt của các hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp.
3.6.
Giải pháp về phát triển thị trường lâm sản
Xác định các sản phẩm
lâm nghiệp của tỉnh chủ yếu hướng đến thị trường ngoài nước, các cơ quan chức
năng của tỉnh tiếp tục tổ chức các hoạt động kết nối thị trường (hội nghị quảng
bá, giới thiệu tiềm năng sản phẩm,...) để các doanh nghiệp mở rộng thêm cơ hội
tiêu thụ sản phẩm đến nhiều thị trường trên thế giới.
3.7.
Giải pháp hợp tác quốc tế
Tăng cường các hoạt
động hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ,
giải pháp của Đề án, trong đó trọng tâm là các hoạt động nâng cao trình độ khoa
học, công nghệ trong sản xuất lâm nghiệp của tỉnh (cập nhật tiến bộ khoa học,
công nghệ mới; nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật; đầu tư, phát
triển trang thiết bị công nghệ tiên tiến;...) và mở rộng hợp tác, phát triển
thị trường cho lâm sản của tỉnh.
3.8.
Xây dựng các dự án đột phá
Để thực hiện các mục
tiêu, nhiệm vụ Đề án đạt hiệu quả, trước hết tỉnh ưu tiên tập trung đầu tư một
số dự án để tạo sự đột phá và làm tiền đề cho thực hiện các nội dung khác.
1) Dự án sản xuất giống
cây trồng lâm nghiệp:
a) Nội
dung thực hiện:
- Hỗ trợ
xây dựng hệ thống cung cấp vật liệu giống chất lượng cao trên địa bàn tỉnh đối
với các loài cây: Thông, Keo, Bạch đàn, Hồi, Sở, Quế, dược liệu.
+ Đối với cây Thông:
Chuyển hóa 03-05 lâm phần (khoảng 50 ha) rừng trồng Thông Mã vĩ chất lượng tốt
tại các huyện Đình lập, Lộc Bình, Cao Lộc để làm rừng cung cấp hạt đạt tiêu
chuẩn chất lượng tốt cho sản xuất cây giống, sản xuất được khoảng 10 triệu cây
giống Thông/năm (tương đương trồng rừng được 6.000 ha) và cung cấp hạt giống
cho thị trường cả nước. Trồng mới 50 ha rừng giống đạt tiêu chuẩn chất lượng
tốt (trồng mới rừng giống) để tạo nguồn cung cấp giống ổn định trong tương lai.
+ Đối với cây Keo và
Bạch đàn: Xây dựng 10 vườn cây mẹ trồng cây đầu dòng chất lượng cao (cây lấy từ
các viện nghiên cứu, cơ sở cung cấp uy tín trong và ngoài nước) để lấy hom, mô
cung cấp cho sản xuất cây giống (2,0 ha/vườn cây mẹ; mỗi lượt trồng cây mẹ lấy
hom, mô trong 3-5 năm); sản xuất cây mô chất lượng cao tại 01-03 cơ sở nuôi cấy
mô trong tỉnh cung cấp cây mô cho sản xuất cây giống tại các vườn ươm trên địa
bàn tỉnh, sản xuất được 150 – 200 triệu cây giống/năm .
+ Đối với cây Hồi:
Tuyển chọn chuyển hóa rừng giống khoảng 100 cây trội (trong diện tích khoảng 10
ha) ở các huyện Văn Quan, Bình Gia làm nguồn cung cấp giống ổn định, chất lượng
tốt, sản xuất được khoảng 01 triệu cây giống Hồi/năm (tương đương trồng rừng
được 2.000 ha) phục vụ cho trồng rừng trong tỉnh và cung cấp cho thị trường các
tỉnh lân cận.
+ Đối với cây Sở: Tuyển
chọn chuyển hóa rừng giống khoảng 1.000 cây trội (trong diện tích khoảng 20 ha)
ở các huyện Văn Quan, Chi Lăng, Cao Lộc, Lộc Bình làm nguồn cung cấp giống ổn
định, chất lượng tốt, sản xuất được khoảng 500 nghìn cây giống Sở/năm (tương
đương trồng rừng được 540 ha) phục vụ trồng rừng trong tỉnh và cung cấp cho thị
trường. Trồng mới 5,0 ha rừng giống đạt tiêu chuẩn chất lượng tốt (với một số
giống ưu trội bản địa và các giống mới trên thế giới) để tạo nguồn cung cấp
giống ổn định trong tương lai.
- Hỗ trợ xây dựng 20
vườn ươm sản xuất cây giống theo tiêu chuẩn kỹ thuật hiện đại, ứng dụng công
nghệ cao, làm hạt nhân liên kết các cơ sở sản xuất cây giống hộ gia đình
(khoảng 700 cơ sở).
b)
Nguồn đầu tư:
- Nhà
nước hỗ trợ đầu tư thiết bị, kỹ thuật, nguồn giống,... (từ nguồn chương trình
giống quốc gia giai đoạn 2020-2030; các dự án đầu tư phát triển,..), tổng kinh
phí dự kiến nhà nước hỗ trợ đầu tư: 30 tỷ đồng.
- Đối
ứng của doanh nghiệp: Các chi phí
về sử dụng đất, nhân công, các chi phí đầu vào khác cho sản xuất.
2) Dự án xây dựng mô
hình rừng trồng chất lượng cao:
a) Nội
dung thực hiện:
- Xây
dựng các mô hình về rừng trồng năng suất cao phù hợp với điều kiện lập địa từng
vùng, tạo sự lan tỏa phong trào phát triển rừng chất lượng cao.
+ Đối với cây Keo: Hỗ
trợ trồng 200 ha Keo theo mô hình kinh doanh gỗ lớn thâm canh cao (chu kỳ 10-12
năm) và 300 ha Keo theo mô hình kinh doanh gỗ nhỏ (chu kỳ 7 năm); sử dụng các
giống ưu trội, năng suất cao.
+ Đối với cây Thông:
Thực hiện mô hình nâng cao năng suất 7.500 ha rừng Thông tại các huyện Đình
Lập, Lộc Bình, Cao Lộc theo chương trình Dự án KfW9.2 (do Ngân hàng Tái thiết
Đức hỗ trợ vốn ODA) nhằm mục tiêu kéo dài thời gian khai thác được nhựa (từ 6-8
năm hiện nay lên 10-12) và tăng thêm khối lượng gỗ (tăng từ khoảng 100-120 m3/ha
hiện nay lên 140-160 m3/ha sau chu kỳ khai thác nhựa) thông qua kỹ
thuật tỉa thưa và các biện pháp chăm sóc rừng.
- Xây
dựng hạ tầng phòng cháy, chữa cháy rừng cho các mô hình trồng rừng điểm (đường
lâm nghiệp, băng cản lửa, nguồn cấp nước chữa cháy,..).
b) Nguồn
đầu tư (đối với diện tích Keo)[6]:
- Nhà
nước hỗ trợ (cây
giống, phân bón, hạ tầng phòng cháy chữa cháy, tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ chăm sóc
cây trồng), tổng kinh phí dự kiến nhà nước hỗ trợ đầu tư: 15 tỷ đồng (giá trị
thu được từ khai thác gỗ 200 ha kinh doanh gỗ nhỏ: 30 tỷ đồng).
- Đóng góp, đối ứng của chủ rừng: Các chi phí nhân công, chi phí bảo vệ rừng
và các chi phí đầu vào khác; hưởng lợi từ bán sản phẩm khi khai thác rừng.
III. NHU CẦU
NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ
Tổng
nhu cầu vốn thực hiện các nội dung Đề án giai đoạn 2020-2030: 2.494
tỷ đồng. Trong đó:
- Vốn
ngân sách trung ương: 600 tỷ đồng.
- Vốn
ngân sách địa phương: 117 tỷ đồng.
- Vốn xã
hội hóa: 1.605 tỷ đồng.
- Vốn
ODA: 172 tỷ đồng.
(Chi tiết tại Phụ lục 01 kèm theo)
Phần thứ tư
TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Chủ
trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố tham mưu triển
khai tổ chức thực hiện đề án; lập kế hoạch tổng thể, kế hoạch hàng năm thực
hiện Đề án; xây dựng các dự án, chương trình cụ thể để thực hiện các nội dung
của đề án; chủ trì hướng dẫn, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện Đề án;
định kỳ tổng hợp, đánh giá, báo cáo kết quả thực
hiện Đề án.
2. Sở
Kế hoạch và Đầu tư
Chủ trì,
phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách và danh
mục dự án khuyến khích đầu tư về lĩnh vực lâm nghiệp; xây dựng kế hoạch, tham
mưu cân đối, bố trí nguồn vốn đầu tư trung hạn, hằng năm để thực hiện Đề án.
3. Sở
Tài chính
Chủ
trì, phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu bố trí kinh phí cho các hoạt động của Đề
án; hướng dẫn thực hiện giải ngân, sử dụng các nguồn kinh phí trong thực hiện
Đề án bảo đảm các quy định của Luật Ngân sách và các quy định hiện hành.
4. Sở
Tài nguyên và Môi trường
Chủ
trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tham mưu UBND tỉnh việc giao đất, cho
thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng kế hoạch sử dụng đất,
xây dựng các chính sách về đất đai; giải
quyết các vấn đề về tranh chấp, lấn chiếm đất lâm nghiệp; xử lý các vi phạm pháp luật về sử dụng đất lâm nghiệp.
5. Sở
Công thương
Chủ
trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện
các hoạt động phát triển thị trường, công tác quảng bá và xúc tiến
thương mại sản phẩm lâm nghiệp; phối hợp thực hiện các hoạt động về dịch vụ môi
trường rừng.
6. Sở Khoa học và Công nghệ
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn thực hiện các đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ về
giống cây lâm nghiệp và các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị
sản xuất lâm nghiệp.
7. Sở Nội vụ
Thẩm định, tham mưu UBND tỉnh
phê duyệt các đề án về kiện toàn tổ chức, bộ máy, nguồn nhân lực trong
các cơ quan quản lý ngành lâm nghiệp; chủ trì, phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực
cán bộ các cấp về nghiệp vụ và công tác quản lý ngành lâm nghiệp.
8. Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tổ chức đào tạo kỹ thuật sản xuất lâm nghiệp cho lao động
nông thôn và lao động trong các doanh nghiệp lâm nghiệp.
9. Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy
Quân sự, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn thực hiện công tác bảo vệ rừng, bảo vệ đất lâm nghiệp và
phòng, chống, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp.
10. Chi nhánh Ngân hàng Nhà
nước tỉnh
Chỉ đạo ngân hàng Chính sách
xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ngân hàng thương
mại trên địa bàn tỉnh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân được vay vốn vay
ưu đãi, vốn vay tín dụng để phát triển sản xuất lâm nghiệp.
11. Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh
Tham
gia phối hợp với các Sở, ngành liên quan thực hiện công tác tuyên truyền, vận
động nhân dân thực hiện tốt các nội dung của Đề án, các quy định của pháp luật
về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện giám sát, phản biện
công tác triển khai thực hiện Đề án.
12.
UBND các huyện, thành phố
Chủ
trì, tham gia, phối hợp tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động
của đề án liên quan trên địa bàn; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ và phát triển
rừng theo quy định; quản lý tình hình sử dụng đất lâm nghiệp, tiếp tục thực
hiện cấp giấy chứng nhận sử dụng đất lâm nghiệp; thanh tra, kiểm tra, đề xuất
các giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp; thực hiện các hoạt
động về dịch vụ môi trường rừng; chỉ đạo UBND cấp xã triển khai thực hiện tốt
các chương trình, kế hoạch sản xuất lâm nghiệp và công tác quản lý, bảo vệ rừng
trên địa bàn.
13. Các doanh nghiệp, chủ rừng
Áp dụng các giải pháp kỹ thuật
tiên tiến trong tổ chức sản xuất lâm nghiệp, canh tác, quản lý rừng trồng và
chế biến, thương mại lâm sản; thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng đất, bảo
vệ, phát triển rừng trên diện tích đất được giao; thực hiện tốt các chủ trương,
định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh, các cơ chế, chính sách khuyến khích
đầu tư để phát triển sản xuất, kinh doanh./.