NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 5. Đối
tượng cho vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:
Các dự án đầu tư phát triển có
khả năng thu hồi vốn trực tiếp (bao gồm cả dự án cho vay thành lập doanh nghiệp
mới, cho vay đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất) của các thành phần
kinh tế, bao gồm:
1. Những dự án đầu tư tại các
vùng khó khăn theo quy định hiện hành của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) thuộc các ngành sau đây:
a) Sản xuất điện; khai thác
khoáng sản (trừ dầu khí, nước khoáng, vàng, đá quý; hoá chất cơ bản; phân bón;
thuốc trừ sâu vi sinh;
b) Chế tạo máy công cụ, máy động
lực phục vụ nông nghiệp;
c) Xây dựng cơ sở chế biến: nông
sản, lâm sản, thuỷ sản, xây dựng cơ sở làm muối;
d) Sản xuất hàng xuất khẩu, đặc
biệt là các dự án sử dụng nhiều lao động;
đ) Trồng rừng nguyên liệu tập
trung; trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả;
e) Cơ sở hạ tầng về giao thông,
cấp nước, nhà ở có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
2. Các dự án nuôi trồng thuỷ hải
sản, chăn nuôi bò sữa.
3. Các dự án thực hiện chủ
trương của Chính phủ về xã hội hoá y tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao.
4. Các dự án có sử dụng vốn hỗ
trợ phát triển chính thức (ODA) cho vay lại.
5. Một số chương trình, dự án
đầu tư khác theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 6. Điều
kiện vay vốn:
1. Đối với dự án:
a) Thuộc đối tượng quy định tại
Điều 5 Quy chế này.
b) Có đủ thủ tục đầu tư và xây
dựng theo quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng, cụ thể
là:
Có báo cáo nghiên cứu khả thi
(hoặc báo cáo đầu tư đối với dự án có tổng mức vốn đầu tư thấp hơn 01 tỷ đồng
hoặc dự án đầu tư theo thiết kế mẫu) và quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền
được quy định tại Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ về
việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.
Các dự án nhóm C nhất thiết phải
có quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán. Những dự án thuộc
nhóm A, B nếu chưa có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán được duyệt, thì trong
Quyết định đầu tư phải quy định mức vốn của từng hạng mục và có thiết kế dự
toán của hạng mục thi công trong năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Đối với chủ đầu tư:
a) Chủ đầu tư là tổ chức, cá
nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và thuộc một trong các loại hình sau đây:
- Doanh nghiệp Nhà nước;
- Công ty cổ phần;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn;
- Công ty hợp danh;
- Doanh nghiệp tư nhân;
- Hợp tác xã, liên hiệp tác xã;
- Doanh nghiệp của các tổ chức
chính trị, chính trị xã hội, hội nghề nghiệp có đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật;
- Cơ sở giáo dục, đào tạo tư
thục, dân lập, bán công; cơ sở y tế tư nhân, dân lập; cơ sở văn hoá dân tộc
được thành lập và hoạt động hợp pháp;
- Cá nhân, nhóm kinh doanh được
thành lập và hoạt động theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội đồng bộ
trưởng (nay là Chính phủ0.
b) Dự án đầu tư mở rộng sản
xuất, đổi mới công nghệ thiết bị, chủ đầu tư phải có tình hình tài chính rõ
ràng, lành mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả. Đối với các dự án
thành lập doanh nghiệp mới, chủ đầu tư phải có quyết định thanh lập doanh
nghiệp (trừ những đơn vị không có quyết định thành lập doanh nghiệp do pháp
luật quy định) và giấy chứng nhận đang ký kinh doanh được cấp có thẩm quyền cấp.
c) Có phương án sản xuất kinh
doanh có lãi, phương án trả nợ vốn vay được Quỹ hỗ trợ phát triển chấp nhận.
d) Đối với tài sản thế chấp và
tài sản hình thành bằng vốn vay thuộc đối tượng phải mua bảo hiểm bắt buộc theo
quy định của pháp luật, chủ đầu tư phải cam kết và thực hiện mua bảo hiểm tài
sản trong suốt thời hạn vay vốn của dự án tại một Công ty bảo hiểm được phép
hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
đ) Thực hiện các quy định về bảo
đảm tiền vay theo quy định hiện hành của Nhà nước và quy định tại Điều 10 Quy
chế này.
Điều 7. Mức
vốn cho vay:
1. Dự án nhóm A, mức vốn cho vay
theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
2. Dự án nhóm B, C mức vốn cho
vay theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi), cụ thể như
sau:
a) Dự án đầu tư di chuyển cơ sở
sản xuất ra khỏi đô thị, cải thiện sinh thái, môi trường, vệ sinh đô thị, mức
vốn cho vay đến 70% tổng mức vốn đầu tư theo Quyết định đầu tư của cấp có thẩm
quyền.
b) Dự án đầu tư tại địa bàn có
điều kiện kinh tế xã hội khó khăn (thuộc danh mục B ban hành kèm theo Quyết
định số 51/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) và các tỉnh, thành phố khác, mức
vốn cho vay đến 50% tổng mức vốn đầu tư theo quyết định đầu tư của cấp có thẩm
quyền.
c) Dự án đầu tư tại địa bàn có điều
kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (thuộc danh mục C ban hành kèm theo Nghị
định số 51/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) và sản xuất hàng xuất khẩu, mức
vốn cho vay đến 70% tổng mức vốn đầu tư theo Quyết định đầu tư của cấp có thẩm
quyền.
3. Các dự án nhóm B, C nếu vay
cao hơn mức vốn quy định trên đây phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định.
4. Chủ đầu tư phải đảm bảo huy
động đủ số vốn đầu tư còn thiếu để tham gia đầu tư hoàn thành dự án theo đúng
tiến độ đã xác định trong Quyết định đầu tư.
Điều 8. Thời
hạn cho vay:
Thời hạn cho vay các dự án sử
dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được xác định trên cơ sở khả
năng thu hồi vốn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng dự án và khả
năng trả nợ của chủ đầu tư, nhưng tối đa không quá 10 năm. Trường hợp vay trên
10 năm do Hội đồng quản lý Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét quyết định.
Điều 9. Lãi
suất cho vay:
1. Lãi suất cho vay vốn tín dụng
đầu tư phát triển của Nhà nước là 9%/năm (0,75%/tháng). Khi lãi suất cơ bản của
ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng hoặc giảm từ 10% trở lên. Thủ tướng Chính phủ
quyết định điều chỉnh mắc lãi suất cho vay.
2. Lãi suất cho vay đối với một
dự án được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng và được giữ nguyên trong
suốt thời hạn vay vốn của dự án.
3. Lãi suất nợ quá hạn bằng 130%
lãi suất cho vay trong hạn ghi trong hợp đồng tín dụng, được tính trên số nợ
phải trả theo hợp đồng tín dụng nhưng chưa trả được.
4. Số lãi vay phát sinh trong
thời hạn ân hạn được xử lý như sau:
a) Đối với các dự án đầu tư
thành lập doanh nghiệp mới, chưa có hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ đầu tư
chưa phải trả lãi vay trong thời hạn ân hạn, số lãi này được phân bổ trả đều
trong các kỳ hạn trả nợ gốc.
b) Đối với dự án đầu tư mới
nhưng chủ đầu tư là đơn vị đang hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư
chiều sâu, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ, chủ đầu tư
phải dùng các nguồn vốn hợp pháp để trả lãi vay trong thời hạn ân hạn.
Điều 10.
Bảo đảm tiền vay:
1. Đối với chủ đầu tư là doanh
nghiệp Nhà nước, khi vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, chủ đầu
tư được dùng tài sản hình thành bằng vốn vay để bảo đảm tiền vay. Trong thời
gian chưa trả hết nợ, chủ đầu tư không được chuyển nhượng, bán hoặc thế chấp,
cầm cố tài sản đó để vay vốn nơi khác.
2. Đối với chủ đầu tư không phải
là doanh nghiệp Nhà nước, khi vay vốn tín dụng đầu tư phát triền của Nhà nước,
ngoài việc dùng tài sản hình thành bằng vốn vay để bảo đảm tiền vay, phải có
tài sản thế chấp trị giá tối thiểu bằng 50% mức vốn vay. Trường hợp đặc biệt do
Thủ tướng Chính phủ quyết định. Trong thời gian chưa trả hết nợ, chủ đầu tư
không được cho, tặng, bán, chuyển nhượng hoặc đem cầm cố, thế chấp các tài sản
trên tại nơi khác để vay vốn.
3. Trình tự và thủ tục đảm bảo
tiền vay, xử lý tài sản bảo đảm (kể cả tài sản thế chấp, tài sản hình thành
bằng vốn vay) trong trường hợp chủ đầu tư không trả được nợ, chủ đầu tư chia
tách, sát nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá hoặc giải thể, phá sản... thực hiện
theo quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay, về giao dịch bảo đảm và đăng
ký giao dịch bảo đảm.
Điều 11.
Thẩm quyền quyết định cho vay:
1. Tổng giám đốc Quỹ hỗ trợ phát
triển quyết định hoặc uỷ quyền cho Giám đốc các Chi nhánh Quỹ quyết định cho
vay các dự án đủ điều kiện vay vốn được quy định tại Nghị định số 43/1999/NĐ-CP
ngày 29/6/1999 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và quy
định tại Quy chế này.
2. Các dự án vượt quá các quy
định tại Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 của Chính phủ về tín dụng
đầu tư phát triển của Nhà nước và quy định tại Quy chế này, Hội đồng quản lý
Quỹ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Điều 12.
Hồ sơ và trình tự thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay:
1. Trước khi người có thẩm quyền
quyết định đầu tư dự án, chủ đầu tư phải gửi đến Quỹ hỗ trợ phát triển hồ sơ
thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay.
2. Hồ sơ, trình tự và nội dung
thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay của Quỹ hỗ trợ phát
triển thực hiện theo Quy chế thẩm định do Hội đồng quản lý Quỹ ban hành.
3. Căn cứ vào ý kiến chấp thuận
cho vay của Quỹ hỗ trợ phát triển, người có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án
và bố trí kế hoạch vay vốn Quỹ hỗ trợ phát triển cho dự án theo quy định tại
Điều 13 Quy chế này.
Điều 13.
Trình tự lập, thông báo kế hoạch vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước:
Kế hoạch vay vốn tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước là một bộ phận của kế hoạch tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước được Thủ tướng Chính phủ Quyết định giao hàng năm cho Quỹ về nguồn
vốn, tổng mức vốn cho vay (trong đó có danh mục và mức vốn cho vay các dự án
nhóm A) theo cơ cấu ngành, lĩnh vực, ngành kinh tế.
Trình tự lập và thông báo kế
hoạch như sau:
1/ Lập kế hoạch:
a) Hàng năm, vào thời gian lập
dự toán ngân sách Nhà nước năm sau theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước,
căn cứ vào tiến độ thực hiện dự án đã xác định trong Quyết định đầu tư và văn
bản hướng dẫn lập kế hoạch của Nhà nước, chủ đầu tư lập kế hoạch vay vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo nguyên tắc bảo đảm tiến độ đầu tư của
dự án, gửi Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Tổng Công ty nhà
nước, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là Bộ, UBND
tỉnh, thành phố và các tổ chức có liên quan).
b) Đầu tháng 9 hàng năm, các Bộ,
UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức có liên quan tổng hợp kế hoạch đầu tư xây
dựng cơ bản bằng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước của các dự án
thuộc phạm vi quản lý, có chia theo cơ cấu ngành, lĩnh vực, vùng gửi Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Quỹ hỗ trợ phát triển.
c) Cuối tháng 9 hàng năm, căn cứ
vào định hướng phát triển kinh tế xã hội, qui hoạch phát triển ngành, vùng,
lãnh thổ; đề nghị của các Bộ, UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức có liên quan;
các điều kiện ghi kế hoạch quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện
hành của Nhà nước. Quỹ hỗ trợ phát triển lập và báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính để cân đối tổng hợp trình Chính phủ kế hoạch về nguồn vốn và tổng
mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước, trong đó có kế hoạch cho vay đầu tư.
2. Thông báo kế hoạch:
a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày Thủ tướng Chính phủ quyết định giao kế hoạch tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước cho Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ hỗ trợ phát triển phải thông báo
bằng văn bản kế hoạch cho vay vốn tín dụng đầu tư cho các Bộ, UBND tỉnh, thành
phố và các tổ chức có liên quan.
b) Căn cứ vào kế hoạch Nhà nước
giao, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo của Quỹ hỗ trợ phát
triển, các Bộ, UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức có liên quan phải đăng ký kế
hoạch với Quỹ hỗ trợ phát triển (danh mục dự án và mức vốn vay của từng dự án).
Trước hết phải ưu tiên bố trí đủ mức vốn vay theo tiến độ đã xác định trong
Quyết định đầu tư và hợp đồng tín dụng đã ký cho các dự án vay chuyển tiép, còn
lại mới bố trí cho các dự án vay mới.
Việc bổ sung, điều chỉnh kế
hoạch năm được thực hiện một lần vào quý III năm đó.
c) Quỹ hỗ trợ phát triển kiểm
tra việc phân bổ kế hoạch của từng Bộ, UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức có
liên quan về các mặt sau đây:
- Tổng số vốn vay trong kế hoạch
đã phân bổ và đăng ký phải phù hợp với kế hoạch đã được Quỹ thông báo.
- Mức vốn bố trí cho từng dự án
phải phù hợp với mục tiêu và tiến độ thực hiện dự án, trong phạm vi mức vốn cho
vay bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã xác định trong
Quyết định đầu tư.
- Bố trí đủ vốn vay theo đúng cơ
cấu ngành, lĩnh vực đã được thông báo.
- Danh mục và mức vốn vay các dự
án nhóm A.
- Sự tuân thủ các nguyên tắc bố
trí kế hoạch theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, nhất là đối với các dự án
nhóm C.
d) Quỹ hỗ trợ phát triển thông
báo danh mục và mức vốn vay từng dự án (thuộc kinh tế địa phương và kinh tế
Trung ương trên địa bàn) cho các Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển để có căn cứ
hướng dẫn chủ đầu tư lập hồ sơ vay vốn và ký kết hợp đồng tín dụng.
Trường hợp việc phân bổ và đăng
ký kế hoạch của Bộ, UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức có liên quan chưa phù
hợp với kế hoạch đã giao, Quỹ hỗ trợ phát triển có văn bản đề nghị điều chỉnh
lại cho phù hợp.
3. Trình tự, nội dung lập và
thông báo kế hoạch quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thực hiện cho các
dự án vay mới (vay lần đầu).
Đối với các dự án cho vay chuyển
tiếp (vay từ năm thứ hai trở đi), nếu dự án không có sự điều chỉnh tiến độ thực
hiện so với Quyết định đầu tư ban đầu, căn cứ vào mức vốn cho vay (có chia theo
năm) của cả dự án đã ký trong hợp đồng tín dụng, Quỹ hỗ trợ phát triển sẽ chủ
động đề nghi Bộ, UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức có liên quan bố trí vốn
cho dự án phù hợp tiến độ thực hiện dự án trong Quyết định đầu tư và hợp đồng
tín dụng đã ký. Trường hợp dự án có sự điều chỉnh tiến độ thực hiện được cấp có
thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản (đẩy nhanh hơn hoặc giãn ra so với tiến độ
ban đầu đã xác định trong Quyết định đầu tư), chủ đầu tư lập nhu cầu vay vốn
theo tiến độ điều chỉnh với Bộ, UBND tỉnh, thành phố và các tổ chức có liên
quan để đưa vào kế hoạch đăng ký với Quỹ hỗ trợ phát triển.
Điều 14.
Hồ sơ vay vốn:
Sau khi dự án được cấp có thẩm
quyền quyết định đầu tư và được bố trí kế hoạch vay vốn, Quỹ hỗ trợ phát triển
tổ chức ký hợp đồng tín dụng với chủ đầu tư theo các quy định hiện hành của Nhà
nước va Quy chế này.
Trước khi ký hợp đồng tín dụng,
chủ đầu tư gửi đến Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển nơi chủ đầu tư đăng ký vay
vốn các tài liệu sau:
a) Đơn xin vay vốn;
b) Báo cáo nghiên cứu khả thi
hoặc báo cáo đầu tư đã được thông qua theo quy định của pháp luật;
c) Quyết định đầu tư dự án của
cấp có thẩm quyền;
d) Tổng dự toán công trình hoặc
dự toán hạng mục công trình được duyệt;
đ) Đối với chủ đầu tư không phải
là doanh nghiệp Nhà nước, chủ đầu tư phải gửi bảng kê tài sản thế chấp (danh
mục và giá trị thực tế của tài sản thế chấp), cúng như các tài liệu liên quan
đến quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất hợp pháp. Trong đó tài sản thế
chấp (kể cả đất đai) phải là những tài sản được phép đem thế chấp vay vốn theo
quy định của pháp luật và được Quỹ hỗ trợ phát triển chấp nhận làm tài sản thế
chấp; giá trị của tài sản thế chấp phải là giá trị đã được định giá lại trên cơ
sở giá trị thực tế còn lại của tài sản, có tham khảo giá cả của loại tài sản
tương tự trên thị trường và được các Bên thoả thuận.
Các tài liệu trên phải là bản
chính hoặc bản sao có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm
trước pháp luật về tính đúng đắn, hợp pháp hợp lệ của hồ sơ vay vốn.
Điều 15.
Trình tự ký hợp đồng tín dụng:
1. Trong thời hạn 20 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn quy định tại Điều 14 Quy chế
này, Quỹ hỗ trợ phát triển phải xem xét và thông báo bằng văn bản cho chủ đầu
tư để ký hợp đồng tín dụng theo nguyên tắc sau:
a) Trường hợp Quỹ hỗ trợ phát
triển cho vay trực tiếp thì Quỹ thông báo cho chủ đầu tư ký hợp đồng tín dụng
với Chi nhánh Quỹ;
b) Trường hợp dự án được Quỹ hỗ
trợ phát triển uỷ thác cho Tổ chức tín dụng cho vay và thu hồi nợ thì Quỹ thông
báo cho chủ đầu tư ký hợp đồng tín dụng với Tổ chức tín dụng được uỷ thác.
Trong trường hợp này, Quỹ hỗ trợ phát triển sẽ ký hợp đồng uỷ thác với Tổ chức
tín dụng (trong đó quy định nội dung uỷ thác, quyền hạn và trách nhiệm của Bên
uỷ thác và Bên nhận uỷ thác) và chuyển toàn bộ hồ sơ vay vốn quy định tại Điều
14 Quy chế này cho Tổ chức tín dụng được uỷ thác; Tổ chức tín dụng nhận uỷ thác
không phải thẩm định lại phương án tài chính, phương án trả nợ của dự án;
Các tổ chức tín dụng nhận uỷ
thác được hưởng phí dịch vụ tính trên số dư nợ vay, không kể số dư nợ vay quá
hạn và dư nợ đã được khoanh nợ theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Mức phí
dịch vụ do các Bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng uỷ thác.
c) Hợp đồng tín dụng được ký một
lần cho toàn bộ dự án, có chia ra từng năm theo tiến độ đầu tư và phải ghi rõ
các nội dung: mục đích sử dụng vốn vay, cách thức và tiến độ giải ngân, số tiền
vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức và thời hạn trả nợ, hình thức bảo đảm
tiền vay và biện pháp xử lý tài sản bảo đảm tiền vay; quyền và nghĩa vụ của các
bên và các cam kết khác được các Bên thoả thuận phù hợp với quy định của pháp
luật.
Quỹ hỗ trợ phát triển ban hành
mẫu hợp đồng tín dụng để thực hiện thống nhất đối với các dự án vay vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.
2. Điều kiện ký hợp đồng tín
dụng:
a) Chủ đầu tư đã gửi đủ hồ sơ
vay vốn theo quy định tại Điều 14 Quy chế này.
b) Đã hoàn chỉnh hồ sơ theo đề
nghị của Quỹ hỗ trợ phát triển (nếu có).
c) Đối với chủ đầu tư khi vay
vốn phải có tài sản thế chấp, hợp đồng tín dụng chỉ được ký sau khi đã ký hợp
đồng thế chấp tài sản. Hợp đồng thế chấp tài sản được coi là một bộ phận không
thể tách rời của hợp đồng tín dụng.
3. Hợp đồng tín dụng được lập
thành 4 bản có giá trị như nhau và gửi cho các bên sau đây:
a) Chủ đầu tư.
b) Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát
triển trực tiếp cho vay vốn hoặc Tổ chức tín dụng nhận uỷ thác (sau đây gọi là
Tổ chức cho vay).
c) Quỹ hỗ trợ phát triển.
d) Toà án kinh tế sở tại.
4. Trước khi ký hợp đồng tín
dụng hoặc đang trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, nếu phát hiện chủ
đầu tư có vi phạm pháp luật hoặc dự án không có hiệu quả, không đảm bảo khả
năng trả nợ (do sai sót trong quá trình thẩm định dự án và Quyết định đầu tư
hoặc xuất hiện các khả năng rủi ro khác), Tổ chức cho vay có quyền đình chỉ
việc ký kết hoặc việc thực hiện hợp đồng tín dụng và báo cáo kịp thời cho Quỹ
hỗ trợ phát triển và cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư.
Điều 16.
Cấp vốn vay:
1. Cấp vốn vay tạm ứng:
1.1- Chủ đầu tư được vay vốn để
tạm ứng cho các nhà thầu trong các trường hợp sau:
a) Dự án vay vốn thực hiện đấu
thầu theo hợp đồng chìa khoá trao tay.
b) Các gói thầu xây lắp tổ chức
đấu thầu.
c) Mua sắm thiết bị (kể cả thiết
bị nhập khẩu và thiết bị mua trong nước).
d) Các hợp đồng tư vấn.
đ) Đối với các chi phí khác trong
giai đoạn thực hiện dự án (đền bù, giải phóng mặt bằng, thuê đất, cấp đất,
chuyển quyền sử dụng đất...), trước hết chủ đầu tư phải dùng nguồn vốn tự có
hoặc các nguồn vốn khác để thực hiện. Trường hợp các nguồn vốn này đã được sử
dụng để đầu tư các hàng mục khác của dự án hoặc do tiến độ huy động các nguồn
vốn này không kịp thời với tiến độ đầu tư dự án thì chủ đầu tư có thể được dùng
vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để thực hiện.
Các dự án đầu tư hoặc khối lượng
công việc thuộc dự án đầu tư ngoài đối tượng nêu trên chỉ được cấp vốn vay để
tạm ứng khi Thủ tướng Chính phủ cho phép.
1.2- Mức vốn cho vay tạm ứng:
a) Đối với các dự án đầu tư thực
hiện đấu thầu theo hợp đồng chìa khoá trao tay:
- Tạm ứng cho việc mua sắm thiết
bị căn cứ vào tiến độ thanh toán trong hợp đồng (như quy định tại khoản c dưới
đây).
- Tạm ứng cho các công việc khác
tuỳ theo đề nghị của chủ đầu tư nhưng tổng số tiền cho vay tạm ứng không vượt
mức vốn được vay trong kế hoạch năm.
b) Đối với xây lắp:
- Các gói thầu có giá trị từ 50
tỷ đồng trở lên, mức tạm ứng tối đa bằng 10% giá trị hợp đồng nhưng không vượt
mức vốn được vay trong kế hoạch năm.
- Các gói thầu có giá trị từ 10
tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng, mức tạm ứng tối đa bằng 15% giá trị hợp đồng nhưng
không vượt mức vốn được vay trong kế hoạch năm.
- Các gói thầu có giá trị dưới
10 tỷ đồng, mức tạm ứng tối đa bằng 20% giá trị hợp đồng nhưng không vượt mức
vốn được vay trong kế hoạch năm.
c) Đối với mua sắm thiết bị:
- Mức vốn tạm ứng là số tiền mà
chủ đầu tư phải trả cho nhà thầu cung ứng thiết bị, nhà thầu vận chuyển thiết
bị (nếu có) theo hợp đồng kinh tế, nhưng nhiều nhất không vượt mức vốn được vay
trong kế hoạch năm.
- Việc cho vay vốn để tạm ứng
được thực hiện theo tiến độ thanh toán tiền trong hợp đồng mua bán thiết bị,
hợp đồng vận chuyển thiết bị và được thực hiện cho đến khi thiết bị đã nhập kho
của chủ đầu tư (đối với thiết bị không cần lắp đặt) hoặc đã được lắp đặt xong
và nghiệm thu (đối với thiết bị cần lắp).
- Trường hợp mức vốn được vay
trong kế hoạch năm không đủ để thanh toán theo hợp đồng, chủ đầu tư có trách
nhiệm sử dụng vốn tự có hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác để thanh toán.
d) Đối với các hợp đồng tư vấn,
mức vốn cho vay để tạm ứng từ 25% đến 50% hợp đồng, nhưng không vượt mức vốn
được vay trong kế hoạch năm.
đ) Đối với công việc đền bù giải
phóng mặt bằng, mức vốn cho vay để tạm ứng theo yêu cầu cần thiết của việc đền
bù nhưng nhiều nhất không vượt dự toán chi phí đền bù được duyệt và mức vốn
được vay trong kế hoạch năm.
e) Đối với một số công việc
thuộc chi phí khác của dự án được cấp vốn vay tạm ứng, Tổ chức cho vay xem xét
nhu cầu vốn tạm ứng của chủ đầu tư (thông báo yêu cầu nộp tiền, dự toán chi phí
của bộ máy quản lý dự án) để cấp vốn vay tạm ứng, nhưng nhiều nhất không vượt
mức vốn được vay trong kế hoạch năm.
1.3- Để được cấp vốn vay tạm
ứng, chủ đầu tư gửi các tài liệu sau:
a) Đối với các dự án thực hiện
đấu thầu theo hợp đồng chìa khoá trao tay (đấu thầu toàn bộ các công việc thiết
kế, cung cấp thiết bị, xây lắp được thực hiện thông qua một nhà thầu) và các
gói thầu xây lắp thực hiện đấu thầu:
- Văn bản phê duyệt kết quả đấu
thầu của cấp có thẩm quyền.
- Hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu
tư và nhà thầu.
- Giấy bảo lãnh thực hiện hợp
đồng của nhà thầu.
- Giấy phép xây dựng (trường hợp
cần có giấy phép theo quy định).
b) Đối với việc mua sắm thiết bị
(kể cả thiết bị nhập khẩu và thiết bị mua trong nước):
- Văn bản phê duyệt kết quả đấu
thầu của cấp có thẩm quyền (đối với phần thiết bị tổ chức đấu thầu) hoặc quyết
định chỉ định thầu.
Hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư
và nhà thầu cung ứng, gia công chế tạo thiết bị.
Giấy bảo lãnh thực hiện hợp đồng
của nhà thầu (đối với phần thiết bị tổ chức đấu thầu).
c) Riêng đối với việc vay vốn để
tạm ứng cho hợp đồng nhập khẩu thiết bị, chủ đầu tư gửi thêm các tài liệu sau
ngoài các tài liệu nêu trên:
- Văn bản phê duyệt hợp đồng của
cấp có thẩm quyền theo quy định hiện hành.
- Giấy phép kinh doanh xuất nhập
khẩu của chủ đầu tư (nếu chủ đầu tư thực hiện trực tiếp việc nhập khẩu ).
- Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu và
giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu của đơn vị nhập uỷ thác.
- Giấy bảo lãnh tiền đặt cọc
thiết bị do ngân hàng của nhà thầu phát hành (trường hợp vay vốn tạm ứng để đặt
cọc tiền thiết bị) hoặc công văn yêu cầu ký quỹ mở L/C của ngân hàng thực hiện
thanh toán quốc tế (trường hợp vay vốn để ký quỹ mở L/C và việc thanh toán
không thực hiện qua Quỹ hỗ trợ phát triển).
d) Đối với các công việc phải
thuê tư vấn:
- Văn bản phê duyệt kết quả đấu
thầu của cấp có thẩm quyền (đối với công việc thực hiện đấu thầu tuyển chọn tư
vấn).
- Hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu
tư và nhà thầu tư vấn.
đ) Đối với một số công việc
thuộc chi phí khác của dự án:
- Công tác đền bù, giải phóng
mặt bằng... phải có phương án đền bù và dự toán chi phí được duyệt. Trình tự,
thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng thực hiện theo đúng quy định hiện hành của
Nhà nước về lĩnh vực này.
- Các chi phí cấp đất, thuê đất
của Nhà nước hoặc chuyển quyền sử dụng đất phải có thông báo của cơ quan chuyên
môn yêu cầu chủ đầu tư nộp tiền. Thuê đất của khu công nghiệp phải có hợp đồng
thuê đất và dự toán chi phí thuê đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Chi phí hoạt động của bộ máy
quản lý dự án phải có dự toán chi phí được duyệt.
2. Cấp vốn vay thanh toán khối
lượng xây dựng cơ bản hoàn thành:
2.1- Cấp vốn vay thanh toán khối
lượng xây lắp
a) Khối lượng xây lắp hoàn thành
theo hình thức chỉ định thầu được vay vốn thanh toán là khối lượng thực hiện
theo hợp đồng, đã được nghiệm thu đúng chế độ quy định.
Để được vay vốn thanh toán, chủ
đầu tư gửi Tổ chức cho vay các tài liệu sau:
- Quyết định chỉ định thầu hợp
lệ của cấp có thẩm quyền.
- Giấy phép xây dựng (trường hợp
cần có giấy phép theo quy định).
- Thiết kế, dự toán chi tiết
hạng mục công trình được lập theo đúng định mức, đơn giá của Nhà nước.
- Văn bản phê duyệt thiết kế -
dự toán của cấp có thẩm quyền.
- Hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu
tư và nhà thầu.
- Biên bản nghiệm thu khối lượng
xây lắp hoàn thành kèm theo bản tính giá trị khối lượng được nghiệm thu.
- Phiếu giá và chứng từ thanh
toán.
b) Khối lượng xây lắp hoàn thành
theo hình thức đấu thầu được cho vay thanh toán là khối lượng thực hiện đã được
nghiệm thu theo hợp đồng.
Để được vay vốn thanh toán, chủ
đầu tư gửi các tài liệu sau:
- Văn bản phê duyệt kết quả đấu
thầu kèm dự toán trúng thầu và biên bản điều chỉnh số liệu cuả hội đồng xét
thầu (nếu có).
- Hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu
tư và nhà thầu.
- Biên bản nghiệm thu khối lượng
xây lắp hoàn thành kèm theo bản tính giá trị khối lượng được nghiệm thu.
- Phiếu giá và chứng từ thanh
toán.
Những khối lượng phát sinh ngoài
giá thầu phải có văn bản phê duyệt kết quả đấu thầu bổ sung (nếu khối lượng
phát sinh được đấu thầu) hoặc dự toán bổ sung được duyệt (nếu khối lượng phát
sinh được chỉ định thầu)
2.2- Cấp vốn vay thanh toán khối
lượng thiết bị:
Khối lượng thiết bị hoàn thành
được cho vay thanh toán là khối lượng thiết bị đã nhập kho của chủ đầu tư (đối
với thiết bị không cần lắp) hoặc đã lắp đặt xong và được nghiệm thu (đối với
thiết bị cần lắp); Danh mục thiết bị phải phù hợp với quyết định đầu tư.
Để được vay vốn thanh toán, chủ
đầu tư gửi đến Tổ chức cho vay các tài liệu sau:
- Hợp đồng kinh tế.
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho
(đối với thiết bị mua trong nước).
- Bộ chứng từ nhập khẩu (đối với
thiết bị nhập khẩu) gồm:
+ Bộ hoá đơn hàng hoá.
+ Vận đơn đường biển (hoặc đường
hàng không).
+ Giấy tờ về bảo hiểm.
+ Giấy thông báo gửi hàng và đề
nghị chuyển tiền của nhà cung cấp hàng hoá.
+ Giấy chứng nhận chất lượng,
xuất xứ hàng hoá.
+ Biên bản giao nhận hàng hoá
tại cảng Việt Nam hoặc phiếu xuất kho của đơn vị nhập uỷ thác.
- Phiếu nhập kho (đối với thiết
bị không cần lắp) hoặc biên bản nghiệm thu khối lượng thiết bị lắp đặt hoàn
thành (đối với thiết bị cần lắp).
- Các chứng từ có liên quan đến
chi phí thiết bị (vận chuyển, bảo quản, bảo hiểm, thuế, phí lưu kho...).
- Phiếu giá (hoặc bảng kê) và
các chứng từ thanh toán khác.
2.3- Cấp vốn vay thanh toán khối
lượng công tác tư vấn:
Khối lượng công tác tư vấn hoàn
thành được cho vay thanh toán là khối lượng thực hiện được nghiệm thu phù hợp
với hợp đồng kinh tế.
Để được vay vốn thanh toán, chủ
đầu tư gửi đến Tổ chức cho vay các tài liệu sau:
- Hợp đồng.
- Biên bản nghiệm thu khối lượng
công việc tư vấn hoàn thành.
- Phiếu giá và chứng từ thanh
toán.
2.4- Cho vay thanh toán khối
lượng chi phí khác (đền bù, giải phóng mặt bằng....).
a) Đối với chi phí đền bù giải
phóng mặt bằng phải có phương án đền bù và dự toán đền bù được duyệt, bản xác
nhận khối lượng đền bù đã thực hiện có chữ ký của đối tượng được đền bù.
b) Đối với các chi phí khác phải
có các chứng từ hợp lệ có liên quan.
3. Một số lưu ý trong quá trình
cấp vốn vay:
3.1- Nội dung hợp đồng của tất
cả các hợp đồng ký với nhà thầu quốc tế hoặc hợp đồng trong nước các gói thầu
lớn của dự án nhóm A (hoặc tương đương) mà kết quả đấu thầu do Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt thì phải được cấp có thẩm quyền (Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh,
thành phố, Hội đồng quản trị Tổng Công ty Nhà nước thành lập theo Quyết định
91/TTg) phê duyệt.
3.2- Căn cứ đề nghị của chủ đầu
tư và hồ sơ tạm ứng (hoặc hồ sơ thanh toán) do chủ đầu tư gửi đến, trong vòng 7
ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Tổ chức cho vay có trách nhiệm
kiểm tra và thực hiện cấp vốn vay cho chủ đầu tư để tạm ứng (hoặc thanh toán)
cho các nhà thầu xây lắp, tư vấn, cung ứng thiết bị... theo đúng các quy định
nói trên.
Trường hợp chủ đầu tư đã được
cấp vốn vay tạm ứng, đề nghi thanh toán khối lượng hoàn thành, chủ đầu tư phải
xuất trình các tài liệu chứng minh việc sử dụng vốn vay tạm ứng đúng mục đích
tạm ứng ban đầu.
3.3- Các dự án có tiến độ vay
vốn trong nhiều năm kế hoạch (mức vốn vay từng năm đã được ghi trong hợp đồng
tính dụng), việc giải ngân số vốn được vay từ năm thứ 2 trở đi chỉ thực hiện
khi đã có báo cáo của chủ đầu tư về tình hình thực hiện kế hoạch vay vốn, trả
nợ năm trước và văn bản thông báo chỉ tiêu kế hoạch năm của Quỹ hỗ trợ phát
triển.
3.4- Mức vốn cho vay thanh toán
đối với toàn bộ dự án hoặc từng hạng mục công trình không được vượt Tổng dự
toán, dự toán (hoặc giá trúng thầu) được duyệt trừ đi số vốn đã cho vay tạm ứng
(nếu có) và trong phạm vi tổng mức vốn cho vay của dự án đã xác định trong hợp
đồng tín dụng đã ký.
3.5- Mỗi lần nhận vốn vay (bao
gồm cả cấp vốn vay tạm ứng và cấp vốn vay thanh toán), chủ đầu tư (giám đốc
hoặc người được uỷ quyền) phải ký nhận nợ vào khế ước vay vốn. Khế ước chỉ có
01 (một) bản chính duy nhất lưu tại bộ phận kế toán của Tổ chức cho vay.
3.6 - Việc cấp vốn vay các dự án
nhóm C thuộc kế hoạch năm trước chỉ thực hiện đến ngày 31/12 năm sau. Trường
hợp đặc biệt do Tổng giám đốc Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét quyết định.
3.7 - Trong các tài liệu do chủ
đầu tư gửi cho Tổ chức cho vay, có loại tài liệu chỉ gửi một lần cho toàn bộ dự
án và loại tài liệu gửi từng lần khi đề nghị thanh toán (hoặc tạm ứng). Các tài
liệu gửi một lần bao gồm: báo cáo nghiên cứu khả thi, quyết định đầu tư, quyết
định phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, văn bản phê duyệt kết quả đấu
thầu (hoặc dự toán được duyệt) kèm theo các tài liệu về dự toán, hợp đồng kinh
tế giữa chủ đầu tư và nhà thầu, giấy phép xây dựng (nếu có).
3.8 - Những dự án đầu tư có vốn
nước ngoài hoặc những gói thầu tổ chức đấu thầu quốc tế mà trong Hiệp định tín
dụng ký giữa nhà tài trợ với Chính phủ Việt Nam có quy định về việc cấp vốn
thanh toán khác với các quy định nêu trên thì được thực hiện theo quy định
trong HIệp định tín dụng đã ký.
Điều 17.
Quyết toán vốn đầu tư:
1. Khi dự án hoàn thành đưa vào
sử dụng, chủ đầu tư có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình
hoàn thành để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nội dung lập, thẩm tra và phê
duyệt báo cáo quyết toán công trình hoàn thành thực hiện theo đúng quy định
hiện hành của Nhà nước.
2. Tổ chức cho vay có trách
nhiệm kiểm tra xác nhận tổng số vốn đã cho vay, số dư nợ và số lãi phát sinh
đến thời điểm dự án hoàn thành đưa vào sử dụng (kể cả số lãi đã thu và số lãi
chưa thu) và nhận xét đánh giá tình hình quản lý sử dụng vốn vay để cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt báo cáo quyết toán.
Điều 18.
Thu nợ và lãi vay:
1. Đến kỳ hạn trả nợ (gốc và
lãi) quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký, chủ đầu tư phải chủ động trả đủ nợ
cho Tổ chức cho vay.
Nguồn trả nợ bao gồm toàn bộ
khấu hao hoặc nguồn thu phí sử dụng tài sản hình thành bằng vốn vay, lợi nhuận
sau thuế và các nguồn vốn hợp pháp khác của chủ đầu tư.
2. Đến kỳ hạn trả nợ, nếu chủ
đầu tư không trả nợ và không được gia hạn nợ (kể cả điều chỉnh thời điểm bắt
đầu trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ) hoặc khoanh nợ, thì Tổ chức cho vay
chuyển ngay số nợ gốc đến hạn phải trả sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi quá
hạn quy định tại khoản 3 Điều 9 Quy chế này. Đồng thời lập uỷ nhiệm thu đề nghị
Tổ chức tín dụng nơi chủ đầu tư mở tài khoản tiền gửi thu hộ nợ vay (gốc và
lãi) và thông báo cho chủ đầu tư biết.
3. Tổ chức cho vay khuyến khích
chủ đầu tư trả nợ trước hạn.
4. Đến kỳ hạn trả nợ, sau khi đã
áp dụng các biện pháp thu nợ nói trên mà chủ đầu tư vẫn không trả được nợ, Tổ
chức cho vay được quyền phát mại tài sản thế chấp, tài sản hình thành bằng vốn
vay theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
5. Trường hợp chủ đầu tư bị phá
sản hoặc giải thể trong khi chưa trả hết nợ cho Tổ chức cho vay, việc thu hồi
nợ của Tổ chức cho vay được thực hiện theo quy định của pháp luật. Tổ chức cho
vay được quyền phát mại tài sản thế chấp, tài sản hình thành bằng vốn vay để
thu hồi nợ vay. Số nợ còn lại chưa thu được (nếu có), Quỹ hỗ trợ phát triển
được dùng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp theo quy định tại Điều 22 Nghị định số
43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước.
Điều 19.
Gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ:
1. Chủ đầu tư các dự án vay vốn
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải trả nợ đúng hạn cho Tổ chức cho vay
theo hợp đồng tín dụng đã ký. Nếu vì lý do khách quan, chủ đầu tư thực sự gặp
khó khăn trong quá trình thực hiện dự án hoặc trong sản xuất kinh doanh, dẫn
đến không thể trả được nợ vay theo hợp đồng tín dụng thì trước kỳ hạn trả nợ
một tháng chủ đầu tư phải có văn bản gửi Tổ chức cho vay đồng gửi cấp quyết
định đầu tư giải trình rõ lý do không trả được nợ, đồng thời phải có phương án
cụ thể đề xuất các biện pháp khắc phục khó khăn để tạo nguồn trả nợ. Cấp quyết
định đầu tư có trách nhiệm xem xét giải trình của chủ đầu tư và có ý kiến bằng
văn bản gửi Tổ chức cho vay về đề nghị gia hạn nợ của chủ đầu tư.
Riêng đối với dự án nhóm A (do
Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư), việc thực hiện các thủ tục đề nghị ra
hạn nợ do chủ đầu tư và cơ quan cấp trên của chủ đầu tư (Bộ, UBND tỉnh, thành
phố) thực hiện.
2. Căn cứ hồ sơ xin gia hạn nợ
của chủ đầu tư, Tổ chức cho vay có trách nhiệm kiểm tra xem xét và trả lời kịp
thời bằng văn bản, hướng dẫn và kiểm tra các chi nhánh Quỹ ký kết hợp đồng tín
dụng điều chỉnh với chủ đầu tư theo đúng quy định. Tổng thời hạn gia hạn nợ của
một dự án tối đa bằng 1/3 thời hạn trả nợ đã ghi trong hợp đồng tín dụng.
3. Tổ chức tín dụng nhận uỷ thác
có quyền điều chỉnh kỳ hạn trả nợ của dự án nhưng không làm thay đổi mức thu nợ
trong năm. Khi quyết định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, Tổ chức tín dụng nhận uỷ
thác phải thông báo cho Quỹ hỗ trợ phát triển biết. Các trường hợp điều chỉnh
khác do Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét, quyết định (hoặc uỷ quyền cho Giám đốc
Chi nhánh Quỹ xem xét quyết định và chịu trách nhiệm).
Điều 20.
Hợp đồng tín dụng chấm dứt khi:
1. Chủ đầu tư đã trả hết nợ vay
(gốc và lãi).
2. Các trường hợp khác theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (xoá nợ, chuyển nguồn vốn đầu tư
của dự án, liên doanh với nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ...).
Điều 21.
Quyền và nghĩa vụ của Quỹ hỗ trợ phát triển:
1. Yêu cầu chủ đầu tư cung cấp
tài liệu chứng minh dự án đầu tư có tính khả thi, khả năng tài chính của mình
trước khi quyết định cho vay.
2. Thẩm định và chịu trách nhiệm
về việc thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ của dự án.
3. Từ chối cho vay nếu xét thấy
dự án không có hiệu quả, không có khả năng hoàn trả nợ vay hoặc không có đủ tài
sản thế chấp theo quy định. Khi từ chối phải có văn bản gửi chủ đầu tư nêu rõ
lý do từ chối, đồng thời phải báo cáo và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình
với cấp quyết định đầu tư.
4. Kiểm tra, giám sát quá trình
vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của chủ đầu tư trước, trong và sau đầu tư.
Được quyền kiểm tra tài sản hình thành bằng vốn vay, tài sản thế chấp khi cần
thiết.
5. Chấm dứt việc cho vay, thu
hồi nợ vay trước thời hạn khi phát hiện chủ đầu tư cung cấp thông tin sai sự
thật, vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký.
6. Khởi kiện chủ đầu tư vi phạm
hợp đồng tín dụng.
7. Khi đến hạn trả nợ, nếu chủ
đầu tư không trả được nợ mà các bên không có thoả thuận khác thì Quỹ hỗ trợ
phát triển được quyền phát mại tài sản hình thành bằng vốn vay và tài sản thế
chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
8. Miễm giảm lãi tiền vay, gia
hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, thời điểm bắt đầu trả nợ theo các quy định
tại Điều 19 và Điều 24 Quy chế này và thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính
phủ đối với dự án được khoanh nợ, xoá nợ.
9. Thực hiện cho vay đúng đối
tượng, cơ cấu ngành, lĩnh vực, vùng và tổng mức vốn vay từ nguồn vốn tín dụng
đầu tư phát triển hàng năm của Nhà nước được Chính phủ giao cho Quỹ hỗ trợ phát
triển, các quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng, về tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước và các quy định tại Quy chế này.
10. Đối với tổ chức tín dụng
nhận uỷ thác, nếu thực hiện không nghiêm chỉnh các nội dung và cam kết trong
hợp đồng uỷ thác, Quỹ hỗ trợ phát triển có quyền huỷ bỏ hợp đồng uỷ thác và
thông báo cho Tổ chức tín dụng nhận uỷ thác và chủ đầu tư biết.
11. Thực hiện đúng thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng uỷ thác.
12. Lưu giữ bảo quản hồ sơ vay
vốn, hồ sơ thế chấp phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 22.
Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư:
1. Từ chối các yêu cầu của Tổ
chức cho vay không đúng với các quy định của pháp luật và thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng.
2. Khiếu nại, khởi kiện việc vi
phạm hợp đồng tín dụng của Tổ chức cho vay theo quy định của pháp luật.
3. Được yêu cầu cấp vốn vay khi
có đủ điều kiện cấp vốn. Chịu trách nhiệm sử dụng vốn vay đúng mục đích, có
hiệu quả.
4. Cung cấp đầy đủ, kịp thời,
trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn, sử dụng vốn vay
cho Tổ chức cho vay và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin,
tài liệu đã cung cấp. Tạo điều kiện để tổ chức cho vay thực hiện kiểm tra
trước, trong và sau cho vay. Cam kết và gửi đủ báo cáo tình hình sản xuất kinh
doanh, báo cáo tài chính hàng quý và hàng năm cho Tổ chức cho vay trong suốt
thời gian chưa trả hết nợ vay.
5. Sử dụng vốn vay đúng mục đích
và thực hiện đúng các nội dung khác đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
6. Thực hiện báo cáo quyết toán
vốn đầu tư công trình hoàn thành theo đúng chế độ hiện hành.
7. Trả nợ gốc và lãi vốn vay
theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
8. Chịu trách nhiệm trước pháp
luật khi không thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ vay và thực hiện
các nghĩa vụ bảo đảm tiền vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Điều 23.
Quyền và nghĩa vụ của Tổ chức tín dụng nhận uỷ thác cho vay:
1. Kiểm tra, giám sát quá trình
vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của chủ đầu tư. Kiểm tra tài sản hình thành
bằng vốn vay, tài sản thế chấp khi cần thiết.
2. Chấm dứt việc cho vay, thu
hồi nợ trước thời hạn khi phát hiện chủ đầu tư cung cấp thông tin sai sự thật,
vi phạm hợp đồng tín dụng.
3. Khởi kiện chủ đầu tư vi phạm
hợp đồng tín dụng.
4. Khi đến hạn trả nợ, nếu chủ
đầu tư không trả được nợ và các bên không có thoả thuận khác, thì Tổ chức tín
dụng nhận uỷ thác có quyền phát mại tài sản hình thành bằng vốn vay và tài sản
thế chấp để thu hồi nợ vay theo quy định của pháp luật.
5. Được quyền điều chỉnh kỳ hạn
trả nợ của các dự án gặp khó khăn tạm thời khi thực hiện trả nợ theo kỳ hạn trả
nợ trong hợp đồng tín dụng.
6. Thực hiện đúng nội dung hợp
đồng uỷ thác đã ký với Quỹ hỗ trợ phát triển.
7. Thực hiện đúng thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng đã ký với chủ đầu tư.
8. Lưu giữ bảo quản hồ sơ vay
vốn, hồ sơ thễ chấp phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 24.
Rủi ro và xử lý rủi ro:
1. Các dự án vay vốn tín dụng
đầu tư phát triển của Nhà nước bị rủi ro do các nguyên nhân khách quan được xử
lý như sau:
a) Do chính sách Nhà nước thay
đổi, do biến động bất thường của giá cả thị trường trong và ngoài nước vượt xa
dự kiến tính toán trong báo cáo nghiên cứu khả thi mà chủ đầu tư gặp khó khăn
trong việc trả nợ vay, thì được Tổ chức cho vay xem xét gia hạn nợ theo các quy
định tại Điều 19 Quy chế này, nếu vẫn tiếp tục khó khăn, thì được Hội đồng quản
lý xem xét miễn hoặc giảm lãi tiền vay trên cơ sở đề nghị của Tổng giám đốc Quỹ
hỗ trợ phát triển. Thủ tục và trình tự đề nghị miễn, giảm lãi tiền vay thực
hiện như trường hợp gia hạn nợ.
Trường hợp đã áp dụng mọi biện
pháp gia hạn nợ, miễn giảm lãi tiền vay nhưng dự án vẫn không có khả năng trả
nợ, Hội đồng quản lý Quỹ báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính
phủ xem xét khoanh nợ cho dự án.
b) Do thiên tai, hoả hoạn, tại
nạn bất ngờ làm tổn thất toàn bộ hay một phần tài sản, được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xác nhận mức độ thiệt hại mà chủ đầu tư không còn khả năng trả nợ
hoặc giảm khả năng trả nợ, thì chủ đầu tư phải dùng toàn bộ số tiền bảo hiểm
được cơ quan bảo hiểm bồi thường để trả nợ cho Tổ chức cho vay (nếu có). Sau đó
tuỳ theo mức độ thiệt hại của dự án và khả năng trả nợ còn lại của chủ đầu tư sẽ
được Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính trình Thủ
tướng Chính phủ xoá nợ một phần hoặc toàn bộ nợ vay của dự án.
Đối với dự án đã được quyết định
xoá nợ một phần, số nợ vay còn lại có thể được Tổ chức cho vay xem xét theo
thẩm quyền để miễn, giảm lãi tiền vay, gia hạn nợ, hoặc trình Thủ tướng Chính
phủ khoanh nợ tuỳ thuộc vào khả năng trả nợ thực tế của chủ đầu tư và dự án.
2. Khoản bù đắp rui ro Quỹ hỗ
trợ phát triển trong các trường hợp miễn giảm lãi suất tiền vay, khoanh nợ, xoá
nợ quy định tại khoản 1 Điều này được lấy từ Quỹ dự phòng rui ro của Quỹ.
Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro không đủ bù đắp, thì Hội đồng quản lý Quỹ báo
cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Điều 25.
Nhận uỷ thác cho vay của Quỹ hỗ trợ phát triển:
1. Quỹ hỗ trợ phát triển được
nhận uỷ thác cho vay, thu hồi nợ vốn vay đầu tư hoặc cấp phát vốn đầu tư cho
các chương trình, dự án từ các tổ chức trong và ngoài nước, các Quỹ đầu tư trên
cơ sở đề nghị của tổ chức uỷ thác.
2. Việc nhận uỷ thác thực hiện
theo nội dung hợp đồng nhận uỷ thác được ký kết giữa Quỹ hỗ trợ phát triển và
Bên uỷ thác, phù hợp với pháp luật hiện hành.
3. Khi nhận uỷ thác cho vay, thu
hồi nợ vốn vay, Quỹ hỗ trợ phát triển được hưởng phí trên số dư nợ vay, không
kể số dư nợ vay quá hạn và dự nợ đã được khoanh theo quyết định của cấp có thẩm
quyền. Mức phí nhận uỷ thác được thoả thuận và ghi trong hợp đồng nhận uỷ thác.
Khi nhận uỷ thác, Quỹ hỗ trợ phát triển không phải chịu trách nhiệm về hiệu quả
cũng như các thủ tục pháp lý ban đầu của dự án.
Điều 26.
Báo cáo, thanh tra và xử lý vi phạm:
1. Hàng tháng theo định kỳ và
đột xuất các chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển và tổ chức tín dụng nhận uỷ thác
có trách nhiệm báo cáo Quỹ hỗ trợ phát triển tình hình cho vay, thu hồi nợ vay
các dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.
Quỹ hỗ trợ phát triển có trách
nhiệm tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ và đột xuất tình hình quản
lý, cho vay và thu hồi nợ vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, đồng
gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
2. Tất cả các hoạt động cho vay
và thu hồi nợ vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đều phải chịu sự
thanh tra, kiểm tra của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật. Tuỳ theo tình hình cụ thể từng dự án, việc thanh tra, kiểm tra có
thể thực hiện ở từng khâu hoặc ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng,
sản xuất kinh doanh và hoàn trả vốn vay.
3. Các Bộ, UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương có trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình triển khai
thực hiện dự án thuộc phạm vi quản lý.
4. Chủ đầu tư dự án vay vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nếu vi phạm các quy định về tín dụng đầu tư
thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, nếu gây thiệt hại về
tài sản thì phải bồi thường và xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Người quyết định đầu tư sai
về chủ trương đầu tư gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội, môi trường thì
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
6. Quỹ hỗ trợ phát triển, Tổ
chức tín dụng nhận uỷ thác cho vay nếu vi phạm hợp đồng tín dụng, hợp đồng uỷ
thác thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 27.
Việc cho vay đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) cho vay lại thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 87/CP ngày
05/8/1997 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và Nghị định số 90/1998/NĐ-CP ngày
07/11/1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế vay và trả nợ nước ngoài và
các quy định của Quy chế này. Trường hợp các Nghị định số 87/NĐ-CP và Nghị định
số 90/1998/NĐ-CP có quy định khác với Quy chế này, thì thực hiện theo Nghị định
số 87/NĐ-CP và Nghị định số 90/NĐ-CP nêu trên.