|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 2256/QĐ-UBND
|
Hà Tĩnh, ngày 09 tháng 9 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH
MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2030”
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày
20/11/2019;
Căn cứ Luật Công đoàn ngày
27/11/2024; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở
ngày 27/6/2025;
Căn cứ Chỉ thị số 37-CT/TW
ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa XII) về tăng cường sự lãnh
đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình
hình mới;
Căn cứ Nghị định số
145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;
Căn cứ Quyết định số
416/QĐ-TTg ngày 25/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai
thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư (Khóa XII) về tăng
cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ
trong tình hình mới;
Căn cứ Kế hoạch số 203-KH/TU
ngày 30/10/2019 Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban
Bí thư Trung ương (Khóa XII) về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ
lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới;
Theo đề nghị của Sở Nội vụ tại
các văn bản: số 3721/SNV-LĐVL ngày 08/8/2025; số 3958/SNV-LĐVL ngày 20/8/2025
(sau khi có ý kiến cơ quan, đơn vị có liên quan); ý kiến biểu quyết thống nhất
của các Thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Phát triển
quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030”.
Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban
hành.
Điều 3.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các Sở:
Nội vụ, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Xây dựng, Giám đốc Công an tỉnh,
Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tĩnh, Chánh Thanh tra tỉnh, Trưởng Ban Quản lý
Khu kinh tế tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các tổ chức, cá
nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Nội vụ;
- TTr: Tỉnh ủy, HĐND tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh;
- PCVP phụ trách lĩnh vực;
- Trung tâm CB-TH tỉnh;
- Lưu: VT, VX2.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Dương Tất Thắng
|
ĐỀ ÁN
PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2030
(Kèm theo Quyết định số 2256/QĐ-UBND ngày 09/9/2025 của UBND tỉnh)
Phần 1.
PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN
THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Sau 34 năm tái lập, tỉnh Hà
Tĩnh đã có bước phát triển vượt bậc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực;
trong đó, đặc biệt là quy mô sản xuất công nghiệp, kim ngạch thương mại và thu
hút vốn đầu tư nước ngoài. Để đáp ứng nhu cầu phát triển đó, các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh đã thu hút lượng lớn lao động đến từ các địa phương trong và
ngoài tỉnh.
Sự kiện công bố Quy hoạch tỉnh
thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và xúc tiến đầu tư vào Hà Tĩnh diễn ra
cuối tháng 5 năm 2023 đã để lại dấu ấn đậm nét trong bức tranh kêu gọi đầu tư của
tỉnh năm 2023. Ngay tại hội nghị, tỉnh Hà Tĩnh đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp
tác cùng 25 nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước với 36 dự án có tổng mức đầu tư
hơn 219.000 tỷ đồng. Tiếp nối thành công này, tỉnh Hà Tĩnh đã thu hút thêm nhiều
dự án lớn của các nhà đầu tư tiềm năng. Trong đó, có các dự án đã và đang được
thẩm định như: Nhà máy Thép không gỉ ở Khu kinh tế Vũng Áng; đầu tư xây dựng và
kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng; Công viên trung
tâm và Khu đô thị Lam Hồng Garden Park City; Tổ hợp nghỉ dưỡng, sân golf quốc tế
Thịnh Lộc; Khu nghỉ dưỡng Kỳ Ninh…
Để tiếp tục khơi thông các nguồn
lực phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh; Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh
và các cấp, ban, ngành của tỉnh đã quan tâm, triển khai nhiều giải pháp nhằm
xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, bước đầu đã đạt được một
số kết quả nhất định: nhận thức của các cấp, các ngành và của người lao động,
người sử dụng lao động về quan hệ lao động từng bước được nâng lên; quan hệ lao
động tập thể duy trì được sự ổn định nhất định; đời sống vật chất và tinh thần
của người lao động từng bước được cải thiện. Những kết quả này góp phần vào quá
trình công nghiệp hóa và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, tình hình quan hệ
lao động trên địa bàn tỉnh còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp: vai trò đại diện,
bảo vệ quyền lợi người lao động của các cấp công đoàn trong quan hệ lao động
còn nhiều hạn chế; thực hiện quy định về đối thoại và thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở đạt hiệu quả chưa cao; thỏa ước lao động tập thể chưa thực sự là kết quả
của quá trình thương lượng; lao động trong một số doanh nghiệp không ổn định; vẫn
còn diễn ra các vụ ngừng việc tập thể, tranh chấp lao động; các thiết chế giải
quyết tranh chấp lao động như hòa giải viên lao động cơ bản chưa thể phát huy
trong thực tiễn. Những hạn chế này ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
Thực tế này đòi hỏi tỉnh Hà
Tĩnh cần có một đề án, kế hoạch tổng thể, bền vững với những giải pháp mang
tính đồng bộ có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng nhằm thúc đẩy
phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong bối cảnh mới. Vì
vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án “Phát triển quan hệ lao động
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030”.
II. CĂN CỨ,
CƠ SỞ PHÁP LÝ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền
địa phương ngày 16/6/2025; Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 20/11/2019;
Căn cứ Luật Công đoàn ngày 27/11/2024;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày
27/6/2025;
Căn cứ Nghị định số
145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;
Căn cứ Chỉ thị số 37-CT/TW ngày
03/9/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây
dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới (sau đây viết
tắt là Chỉ thị số 37-CT/TW);
Căn cứ Quyết định số 416/QĐ-TTg
ngày 25/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ
đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới;
Căn cứ Kế hoạch số 203-KH/TU
ngày 30/10/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của
Ban Bí thư Trung ương (Khóa XII) về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.
III. MỤC
ĐÍCH, YÊU CẦU, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG VÀ PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH
1. Mục
đích
Đề án nhằm cụ thể hóa các quan
điểm chỉ đạo tại Chỉ thị số 37-CT/TW, đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể mang
tính đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế trong tình hình mới để phát huy tối
đa năng lực và sự phối kết hợp giữa các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, tổ
chức trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về lao động, hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn, tổ chức
đại diện người lao động tại cơ sở và tổ chức đại diện người sử dụng lao động
trong quan hệ lao động; thúc đẩy các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể,
giải quyết tốt tranh chấp lao động và đình công; bảo đảm thúc đẩy phát triển sản
xuất kinh doanh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
2. Yêu cầu
Đánh giá đầy đủ, chính xác,
khách quan thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với quan hệ lao động trên địa
bàn tỉnh đến năm 2030.
Các nhiệm vụ, giải pháp phải đặt
trên cơ sở thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các Nghị quyết của Ban Chấp hành
Trung ương, Chỉ thị của Ban Bí thư và Bộ luật Lao động năm 2019; phát huy đúng
và đủ vai trò của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quản lý, hỗ trợ quan hệ
lao động, trung gian, hòa giải, trọng tài và xử lý các tranh chấp lao động,
đình công.
3. Đối tượng
áp dụng
Người lao động, các cấp công
đoàn và tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, người sử dụng lao động trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Cơ quan quản lý nhà nước về
quan hệ lao động cấp tỉnh, địa phương, đội ngũ hòa giải viên lao động.
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan đến việc thực hiện nội dung Đề án.
4. Phạm
vi điều chỉnh và thời gian áp dụng
Phạm vi điều chỉnh: quản lý và
hỗ trợ quan hệ lao động, đối thoại, thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động
tập thể và giải quyết tranh chấp lao động, đình công tại các doanh nghiệp hoạt
động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Thời gian áp dụng: giai đoạn
năm 2025 - 2030.
Phần 2.
THỰC TRẠNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
I. ĐẶC ĐIỂM
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Khái
quát đặc điểm kinh tế - xã hội
Hà Tĩnh thuộc khu vực Bắc Trung
bộ, phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía tây
giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với hơn 164,5 km đường biên, phía đông
giáp biển Đông với bờ biển dài 137 km, có diện tích tự nhiên gần 6.000 km2,
dân số hơn 1,6 triệu người.
Tăng trưởng kinh tế bình quân
giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 6,4%. Quy mô nền kinh tế (GRDP) tăng gấp 1,5 lần,
GRDP bình quân đầu người tăng từ 63,6 triệu đồng lên 94 triệu đồng; thu nhập
bình quân đầu người tăng từ 38,8 triệu đồng lên 53 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp còn 13,6%, công nghiệp -
xây dựng 40,6%, dịch vụ 45,8%.
2. Quy mô
và cơ cấu dân số, lao động
Quy mô dân số Hà Tĩnh tính đến
ngày 01/3/2025: 1.632.784 người; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên: 767.764
người (chiếm tỷ lệ 47,02% tổng dân số toàn tỉnh), trong đó, nam: 402.688 người,
nữ: 365.076 người; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm: 599.605
người (chiếm tỷ lệ 36,72% dân số), trong đó: nam: 319.977 người, nữ: 279.628
người.
Số lao động làm việc tại các loại
hình doanh nghiệp: 98.968 người; số lao động ngoại tỉnh đang làm việc trên địa
bàn tỉnh: 5.346 người; số lao động theo hình thức tự làm, tự do: 370.091 người;
số lao động đi làm việc ngoại tỉnh: 47.175 người (không tính số học sinh, sinh
viên đang học tập tại các tỉnh, thành phố); số lao động đi làm việc ở nước
ngoài: 78.025 người, đang làm việc trên 65 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tổng số lao động đang làm việc
tại các doanh nghiệp, hợp tác xã: 158.814 người. Trong đó, lao động làm việc tại
các loại hình doanh nghiệp: 98.968 người (doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu:
1.206 lao động; doanh nghiệp cổ phần có vốn góp chi phối của Nhà nước: 1.737
lao động; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 13.547 lao động; doanh nghiệp
dân doanh và doanh nghiệp thuộc các loại hình khác: 82.478 lao động); lao động
làm việc tại các hợp tác xã: 59.846 người, trong đó số lao động thường xuyên
trong hợp tác xã: 33.358 người.
Số lao động làm việc trong các
khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp: 27.571 người. Cụ thể: Khu kinh tế
Vũng Áng 19.344 người; Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo 758 người; Khu
công nghiệp Gia Lách sử dụng 921 người; số lao động làm việc tại 23 cụm công
nghiệp: 6.548 người.
3. Số lượng
doanh nghiệp: hiện nay, trên địa bàn tỉnh có hơn 13.000 doanh nghiệp và
đơn vị trực thuộc, vốn đăng ký bình quân 7 tỷ đồng/doanh nghiệp, mỗi năm thành
lập mới gần 1.200 doanh nghiệp. Trong đó có khoảng 47% doanh nghiệp có phát
sinh doanh thu và phát sinh thuế. Ngoài ra, có gần 1.000 hợp tác xã, 3.000 tổ hợp
tác và trên 60.000 hộ kinh doanh.
4. Số lượng
doanh nghiệp có công đoàn cơ sở: tổng số doanh nghiệp có từ 05
lao động trở lên tham gia đóng bảo hiểm xã hội đã có tổ chức công đoàn và đủ điều
kiện thành lập tổ chức công đoàn là 1.122 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp đã có tổ
chức công đoàn là 399 doanh nghiệp, có 82/399 doanh nghiệp có tổ chức đảng; số
doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn là 679 doanh nghiệp, bao gồm: 458 doanh
nghiệp sử dụng dưới 10 lao động, 136 doanh nghiệp sử dụng từ 10 đến 14 lao động,
62 doanh nghiệp sử dụng từ 15 đến 24 lao động và 23 doanh nghiệp sử dụng từ 25
lao động trở lên.
II. THỰC
TRẠNG CƠ CHẾ, THIẾT CHẾ QUAN HỆ LAO ĐỘNG
1. Công
tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động: thực hiện Chỉ thị số
37-CT/TW, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 203-KH/TU ngày 30/10/2019
về thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Văn bản số
8650/UBND-VX1 ngày 30/12/2019 về việc chỉ đạo và phân công nhiệm vụ
cho các sở, ngành, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện. Bổ nhiệm 47 Hòa giải
viên lao động, ban hành Quy chế hoạt động của Hòa giải viên lao động; Lãnh đạo Ủy
ban nhân dân tỉnh định kỳ hằng năm tổ chức các buổi đối thoại với đại diện các
doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, kịp thời giải quyết các đề xuất,
kiến nghị của doanh nghiệp.
2. Công
tác quản lý nhà nước về lao động
Hoạt động quản lý nhà nước về
quan hệ lao động được thực hiện lồng ghép, thông qua các buổi đối thoại, tuyên
truyền phổ biến giáo dục pháp luật, các cuộc thanh tra, kiểm tra, giám sát
doanh nghiệp về lao động, hoạt động hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động, đình
công. Công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước về quan hệ lao động cho người sử dụng lao động, người
lao động và các cơ quan, đơn vị liên quan được Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm,
chú trọng thực hiện. Giai đoạn 2019 - 2025, trung bình hằng năm trên 45.000 người
và khoảng 2.500 doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động được tuyên truyền, phổ biến
chính sách pháp luật lao động trực tiếp thông qua tập huấn, hội nghị đối thoại,
cấp phát tài liệu, ấn phẩm.
Công tác thanh tra, kiểm tra chấp
hành pháp luật về lao động, công đoàn trong các doanh nghiệp trên địa bàn được
triển khai thường xuyên nhằm xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật.
Củng cố lực lượng thanh tra lao động phù hợp với thực tế số lượng doanh nghiệp
tại địa phương; theo dõi và giải quyết các vướng mắc, mâu thuẫn phát sinh trong
quan hệ lao động.
Hằng năm, Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ), Bảo hiểm xã hội tỉnh đã phối hợp với Liên
đoàn Lao động tỉnh tổ chức các cuộc kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động,
bảo hiểm xã hội tại khoảng 30 doanh nghiệp; các sở, ngành liên quan: Nông nghiệp
và Môi trường, Công Thương, Xây dựng, Công an tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền
theo chức năng nhiệm vụ đã tổ chức kiểm tra chuyên ngành theo lĩnh vực quản lý
tại các đơn vị, doanh nghiệp, qua đó đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý
những sai phạm, tồn tại theo quy định.
3. Tổ chức
công đoàn
Hiện nay, Liên đoàn Lao động tỉnh
đang quản lý 445 công đoàn cơ sở đơn vị, doanh nghiệp với tổng số đoàn viên
công đoàn là 37.388 người, trong đó có 381 công đoàn cơ sở khối doanh nghiệp với
26.060 đoàn viên.
Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo
của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tỉnh ủy Hà Tĩnh, các cấp công đoàn trong
tỉnh đã từng bước phát huy vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của đoàn viên, người lao động. Các cấp công đoàn đã chủ động nắm bắt
tình hình lao động việc làm, diễn biến tư tưởng trong công nhân lao động; kịp
thời giải quyết các vướng mắc phát sinh nhằm hạn chế tối đa tranh chấp lao động;
giám sát việc thực hiện chế độ chính sách, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của người lao động. Tích cực, chủ động phối hợp với các ngành chức
năng giải quyết các vụ ngừng việc tập thể, không để ảnh hưởng đến an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định,
tiến bộ trong doanh nghiệp. Ngoài ra, các cấp công đoàn chủ động trong việc phối
hợp với các ngành chức năng triển khai kiểm tra công tác an toàn vệ sinh lao động,
đặc biệt hoạt động khám sức khỏe định kỳ; các hoạt động văn hóa, thể thao được
triển khai trong các cấp công đoàn góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần
cho người lao động.
Công tác phát triển đoàn viên,
thành lập công đoàn cơ sở của tổ chức công đoàn thường xuyên được các cấp, các
ngành quan tâm. Việc thành lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp có những chuyển
biến tích cực, được các cấp công đoàn trong hệ thống tập trung lãnh đạo, chỉ đạo,
tuyên truyền, vận động thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp; cấp ủy,
chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp có nhiều cơ chế, chính
sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển; việc thành lập và hoạt động của công
đoàn cơ sở ngày càng được chủ doanh nghiệp quan tâm.
4. Tổ chức
đại diện người sử dụng lao động
Việc thành lập và hoạt động của
các tổ chức đại diện người sử dụng lao động luôn được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân
tỉnh, các cấp, các ngành quan tâm tạo điều kiện. Một số tổ chức đại diện người
sử dụng lao động được thành lập có hoạt động nổi bật như Hiệp hội doanh nghiệp
tỉnh, Liên minh hợp tác xã,...
Các tổ chức được thành lập với
mục đích tập hợp, trao đổi liên kết, hợp tác giúp đỡ giữa các doanh nghiệp, hợp
tác xã, chủ yếu trong việc xúc tiến thương mại, tìm kiếm nguồn hàng và cơ bản
đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, tuy nhiên còn chưa tập trung hỗ
trợ doanh nghiệp và lao động trong vấn đề phát triển quan hệ lao động.
5. Đối thoại,
thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể
Những năm qua, các cấp công
đoàn đã chủ động phối hợp với người sử dụng lao động trong việc xây dựng và thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định,
tiến bộ trong doanh nghiệp. Hằng năm, có 85% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn
(trên 10 lao động) xây dựng quy chế dân chủ cơ sở, 80% doanh nghiệp có tổ chức
công đoàn (trên 10 lao động) tổ chức Hội nghị người lao động.
Tuy nhiên, một số lãnh đạo
doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng công tác thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở,
coi việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là nhiệm vụ và trách nhiệm của tổ chức
công đoàn; một số doanh nghiệp do chưa tìm thấy tiếng nói chung trong quan hệ
lao động, người lao động và người sử dụng lao động chưa đối thoại thực sự dân
chủ nên còn xảy ra ngừng việc tập thể; việc tổ chức Hội nghị người lao động còn
mang tính hình thức.
Việc tổ chức đối thoại tại nơi
làm việc theo quy định của Bộ luật Lao động chủ yếu được thực hiện tại các
doanh nghiệp có sử dụng đông lao động. Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp sử
dụng đông lao động đã chủ động đề xuất, phối hợp với người sử dụng lao động tổ
chức đối thoại để kịp thời nắm bắt diễn biến, tư tưởng và giải quyết kịp thời
những kiến nghị liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động, góp phần xây
dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, hoạt động đối thoại
tại nơi làm việc của một số doanh nghiệp chưa thực sự được quan tâm, còn mang
tính hình thức, nhiều doanh nghiệp không xây dựng quy chế đối thoại hoặc nội
dung của buổi đối thoại nghèo nàn, đơn điệu, chủ yếu là các nội dung liên quan
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thỏa ước lao động tập thể của
các doanh nghiệp đã được ký kết theo trình tự quy định của pháp luật, số lượng
thỏa ước lao động tập thể tăng dần qua các năm. Đến nay có 94% doanh nghiệp có
tổ chức công đoàn đã thương lượng thành công và ký kết thỏa ước lao động tập thể.
Đa số thỏa ước lao động tập thể
đã tập trung vào những cam kết thiết thực, có lợi hơn cho người lao động, nhất
là về tiền lương, tiền thưởng, bảo đảm việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi, bảo hộ lao động, đào tạo và đào tạo lại tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp,
đảm bảo phúc lợi ngày một tốt hơn cho người lao động, hỗ trợ ăn ca, tham gia
nghỉ mát, trợ cấp khó khăn, hiếu hỉ, hỗ trợ nhà trẻ mẫu giáo, tạo điều kiện để
người lao động nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho người lao động.
6. Giải quyết
tranh chấp lao động và đình công
Việc giải quyết tranh chấp lao
động, đình công gắn với bảo đảm giữ vững an ninh, trật tự xã hội; việc xử lý những
đối tượng lợi dụng, lôi kéo, kích động, ép buộc người lao động gây rối an ninh,
trật tự. Giai đoạn 2021-2025, có 08 doanh nghiệp xảy ra tranh chấp lao động.
Nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động chưa tuân thủ nghiêm các quy định
của Luật Lao động, như chưa kịp thời thông báo công khai cho người lao động biết
về việc điều chỉnh tiền lương, mức thưởng, làm thêm giờ, chậm trả lương, nợ tiền
bảo hiểm xã hội của người lao động. Ngoài ra, phía sử dụng lao động chưa đáp ứng
kịp thời các yêu cầu tăng mức tiền thưởng, các khoản phụ cấp, cải thiện chất lượng
bữa ăn của người lao động.
Các vụ tranh chấp lao động nêu
trên đã được Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp chỉ đạo các sở, ban, ngành liên
quan và chính quyền các địa phương phối hợp với các doanh nghiệp kịp thời giải
quyết đảm bảo quyền lợi cho người lao động và giữ vững an ninh, trật tự xã hội.
III. ĐÁNH
GIÁ CHUNG
1. Ưu điểm
Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn
quan tâm, chỉ đạo các cấp, các ngành trong việc xây dựng và phát triển quan hệ
lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; nhận thức của các cấp, các ngành từng bước
được cải thiện, đặc biệt người lao động, người sử dụng lao động nhận thức ngày
càng rõ hơn về quyền lợi, nghĩa vụ của mình, qua đó từng bước xác lập và vận
hành các cơ chế đối thoại, thương lượng, giải quyết các tranh chấp theo nguyên
tắc của quan hệ lao động trong cơ chế thị trường.
Công tác quản lý nhà nước về
quan hệ lao động được xác lập đầy đủ hơn, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý
nhà nước về quan hệ lao động được nâng lên rõ rệt; vai trò quản lý nhà nước về
quan hệ lao động từng bước được củng cố tạo sự chuyển biến trong việc chấp hành
pháp luật của các doanh nghiệp; công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, phổ
biến pháp luật lao động được tăng cường, góp phần xây dựng ý thức thượng tôn
pháp luật, làm tiền đề để xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ
trong doanh nghiệp.
Vai trò của tổ chức công đoàn
trong việc thực hiện các cơ chế đối thoại, thương lượng bước đầu được phát huy
hiệu quả, từng bước nâng cao về số lượng và chất lượng, bảo đảm thực sự là tổ
chức đại diện của người lao động. Cùng với đó, các cấp công đoàn cũng đã từng
bước hướng nhiều hơn về cơ sở, lấy người lao động trong doanh nghiệp làm đối tượng
vận động, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng. Nhiều hoạt động chăm lo đời
sống người lao động được triển khai, tạo hiệu ứng lan tỏa tốt về vị trí của
công đoàn đối với người lao động, thu hút người lao động tham gia hệ thống công
đoàn.
Cơ chế phối hợp ba bên bước đầu
được thực hiện, phát huy được vai trò của các bên trong việc tham vấn các chính
sách pháp luật về lao động.
Một số chính sách liên quan đến
tạo lập yếu tố môi trường xã hội hỗ trợ cho phát triển quan hệ lao động như
chính sách về xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, chăm
lo, cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho người lao động được triển khai,
bước đầu đã có những hỗ trợ tích cực, góp phần giảm bớt khó khăn cho người lao động,
nhất là những lao động tập trung trong các khu công nghiệp, qua đó hỗ trợ tích
cực cho việc thúc đẩy xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định trong
doanh nghiệp và trên địa bàn tỉnh.
2. Tồn tại
hạn chế và nguyên nhân
2.1. Tồn tại, hạn chế
a) Công tác quản lý nhà nước về
quan hệ lao động còn bất cập
Cán bộ làm công tác quản lý nhà
nước về quan hệ lao động của Sở Nội vụ, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, các địa
phương chưa đáp ứng được về số lượng, chất lượng còn hạn chế.
Vai trò của hòa giải viên mới
chỉ giới hạn trong giải quyết tranh chấp một cách bị động khi được yêu cầu;
chưa có nhiệm vụ hỗ trợ hai bên trong doanh nghiệp phát triển quan hệ lao động
để phòng ngừa tranh chấp xảy ra.
Số vụ giải quyết tranh chấp lao
động thông qua hòa giải chưa nhiều, do nhiều người lao động chưa biết hoặc chưa
hiểu đúng về các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ
luật Lao động nên vẫn yêu cầu giải quyết tranh chấp thông qua khiếu nại, tố
cáo.
b) Hoạt động của tổ chức công
đoàn, nhất là tổ chức công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp chậm được đổi mới:
Việc thành lập tổ chức công
đoàn cơ sở trong doanh nghiệp, phát triển đoàn viên công đoàn tỷ lệ còn thấp.
Khi có tranh chấp phát sinh, đặc
biệt khi đình công xảy ra thì tổ chức công đoàn cơ sở chưa phát huy tốt vai trò
đại diện cho người lao động trong thương lượng, hòa giải với người sử dụng lao
động.
Các chính sách tạo lập môi trường
xã hội hỗ trợ cho phát triển quan hệ lao động như chính sách phát triển nhà ở
cho công nhân, xây dựng các thiết chế của công đoàn, các công trình phúc lợi xã
hội, xây dựng đời sống văn hóa công nhân... còn chưa được đầu tư tương xứng.
2.2. Nguyên nhân
a) Nguyên nhân khách quan:
Chính sách pháp luật tuy đã được
quan tâm xây dựng, ban hành nhưng vẫn còn chưa đầy đủ, hiệu lực hiệu quả chưa
cao; quan hệ lao động chưa hoàn thiện; thương lượng tập thể chưa phát triển,
quy định về công đoàn tổ chức đình công chưa khả thi.
Mặt trái của nền kinh tế thị
trường tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội; đời sống của người
lao động còn nhiều khó khăn; một bộ phận người lao động nhận thức còn hạn chế.
b) Nguyên nhân chủ quan:
Sự phối hợp, kết hợp của các cơ
quan, ban, ngành có liên quan trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục
pháp luật chưa thực sự chặt chẽ. Một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến
công tác xây dựng quan hệ lao động.
Nhận thức của người lao động và
người sử dụng lao động về chính sách pháp luật lao động có nơi còn hạn chế.
Số lượng công chức thực hiện
công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chính sách pháp luật đối với người
sử dụng lao động và người lao động còn thiếu, chưa tương xứng với số lượng
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Kinh phí, cơ sở vật chất,
phương tiện làm việc dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế,
chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác này, nhất là ở địa phương, cơ sở.
Phần 3. MỤC
TIÊU, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM
2030
I. BỐI CẢNH
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
Trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tác động của Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, quan hệ lao động ở Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói
riêng sẽ xuất hiện nhiều thách thức mới với nhiều nhiệm vụ mới:
1. Việc Việt Nam phê chuẩn Công
ước số 98 của ILO về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng
tập thể theo Nghị quyết số 80/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội và tham gia
các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP và EVFTA) đồng nghĩa với việc
Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quan hệ lao động trong cả
luật pháp và thực tiễn. Vì vậy, quan hệ lao động trong tình hình mới sẽ hết sức
phức tạp, đòi hỏi sự thay đổi lớn về nhận thức từ các cấp lãnh đạo đến cán bộ
làm công tác về quan hệ lao động cũng như các chủ sử dụng lao động và mỗi cá
nhân người lao động để thực hiện đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, đồng
thời đảm bảo tuân thủ đúng các cam kết lao động quốc tế mà Việt Nam tham gia và
ký kết.
2. Bộ luật Lao động năm 2019
cho phép thành lập các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp (ngoài tổ chức
công đoàn) đặt ra những yêu cầu mới về quản lý, hỗ trợ để các tổ chức này hoạt
động lành mạnh, đúng pháp luật. Khi tổ chức được thành lập và hoạt động sẽ tiềm
ẩn nhiều vấn đề phức tạp mà Việt Nam chưa có kinh nghiệm quản lý, Nhà nước cần
có biện pháp để chủ động hỗ trợ tổ chức này ngay từ khi mới thành lập và hoạt động.
3. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày
04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ra đời kéo theo sự gia
tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp và người lao động trong khu vực này.
Các hình thức việc làm, hợp đồng lao động, tổ chức đại diện của người lao động
cũng đa dạng hóa, gia tăng nhu cầu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định,
tiến bộ đòi hỏi cơ chế điều tiết và quản lý chặt chẽ, linh hoạt hơn từ phía Nhà
nước.
II. QUAN
ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất
trong chỉ đạo, thực hiện các giải pháp phát triển quan hệ lao động. Nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý và hỗ trợ quan hệ lao động của cơ quan quản lý nhà nước
trên tinh thần phát huy tốt nhất tính chủ động, độc lập của các chủ thể trong
quan hệ lao động.
Phát triển quan hệ lao động
trên cơ sở bảo đảm sự tuân thủ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước về phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến
bộ trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và đặc thù của tỉnh.
2. Mục tiêu của Đề án
2.1. Mục tiêu tổng quát: đến
năm 2030, xây dựng và vận hành đồng bộ hệ thống quan hệ lao động của tỉnh phù hợp
với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, bảo đảm
hài hòa quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ lao động; củng cố,
kiện toàn bộ máy, biên chế, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của các cơ quan quản
lý nhà nước về quan hệ lao động đảm bảo thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra
trong tình hình mới, đặc biệt là việc thành lập và quản lý các tổ chức đại diện
người lao động, các vấn đề hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Bảo đảm triển khai xây dựng, củng
cố và vận hành các thiết chế quan hệ lao động phù hợp với các quy định của Bộ
luật Lao động 2019, Luật Công đoàn, các quy định của pháp luật liên quan và các
tiêu chuẩn, cam kết quốc tế gắn với quan hệ lao động.
Phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ
đặt ra tại Chỉ thị số 37-CT/TW và Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số
37-CT/TW ban hành kèm theo Quyết định số 416/QĐ- TTg ngày 25/3/2020 của Thủ tướng
Chính phủ.
Hoàn thành việc phân công và tổ
chức thực hiện chức năng đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động,
đảm bảo các cơ chế tiếp nhận, phân công và hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động
diễn ra hiệu quả.
Có 100% cán bộ quản lý nhà nước
về quan hệ lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý và hỗ trợ
quan hệ lao động.
Có 100% tổ chức của người lao động
tại doanh nghiệp khi có yêu cầu được hướng dẫn đăng ký thành lập; được hỗ trợ đối
thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể.
Củng cố, kiện toàn đội ngũ hòa
giải viên lao động; có 100% hòa giải viên lao động được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ hỗ trợ quan hệ lao động và hòa giải tranh chấp lao động, đình công.
Có ít nhất 90% doanh nghiệp, tổ
chức, đơn vị có tổ chức công đoàn đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
thương lượng, ký kết được thỏa ước lao động tập thể.
Phấn đấu mỗi năm thành lập mới
ít nhất 15 công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước, phát triển mới ít nhất 3.000
đoàn viên công đoàn.
III. GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2030
1. Tăng
cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ:
các sở, ban, ngành cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân các xã, phường phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan, đơn vị có liên quan tiếp tục tổ chức nghiên cứu, quán triệt đến
toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nội dung Chỉ thị
số 37-CT/TW; nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của xây dựng quan hệ lao động
hài hòa, ổn định và tiến bộ gắn với ổn định chính trị, xã hội, môi trường kinh
doanh, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động, người sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế; xác định rõ nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài
hòa, ổn định, tiến bộ vừa cấp bách, vừa lâu dài, là trách nhiệm của Đảng, Nhà
nước, các tổ chức chính trị - xã hội, người lao động, người sử dụng lao động và
toàn xã hội. Trên cơ sở đó có các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các
nhiệm vụ, giải pháp phát triển quan hệ lao động trong thời gian tới đồng thời đảm
bảo bố trí nguồn lực phù hợp để triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ,
giải pháp đề ra.
2. Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động
2.1. Rà soát, bổ sung nhiệm vụ
và hoạt động quản lý nhà nước của Sở Nội vụ, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, Ủy
ban nhân dân các xã, phường về quan hệ lao động, quản lý tổ chức đại diện người
lao động và quản lý, hỗ trợ phát triển quan hệ lao động đảm bảo đúng theo quy định
hiện hành.
2.2. Tăng cường vai trò hỗ trợ
phát triển quan hệ lao động
Xây dựng chương trình, kế hoạch
và tổ chức triển khai có hiệu quả công tác bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao nghiệp
vụ đối với đội ngũ công chức, viên chức, người làm công tác nhân sự tại doanh
nghiệp, hòa giải viên lao động để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước, hỗ
trợ phát triển quan hệ lao động, quản lý tổ chức đại diện người lao động, thực
hiện nhiệm vụ giải quyết tranh chấp lao động, đình công, thúc đẩy xây dựng quan
hệ lao động phù hợp yêu cầu của Bộ luật Lao động và Chỉ thị số 37-CT/TW.
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến
pháp luật lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội cho người lao động và
người sử dụng lao động, nhất là người lao động, người sử dụng lao động trong
các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp tạo điều kiện cho người lao động,
người sử dụng lao động tiếp cận thông tin chính thức, nâng cao ý thức giữ gìn
an ninh trật tự, an toàn xã hội; đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, chú
trọng thông tin trên mạng xã hội để tạo sự chuyển biến thực sự trong việc chấp
hành pháp luật của các bên trong quan hệ lao động.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu
về quan hệ lao động, thông tin thị trường lao động để phục vụ tốt cho công tác
quản lý nhà nước về quan hệ lao động và hỗ trợ các bên trong quá trình đối thoại,
thương lượng tập thể.
2.3. Hoàn thiện cơ chế, thiết
chế tham vấn ba bên về quan hệ lao động: căn cứ điều kiện thực tế, Sở Nội vụ phối
hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trên địa
bàn tỉnh, các cơ quan, tổ chức có liên quan thiết lập, vận hành các cơ chế tham
vấn ba bên để tư vấn, hỗ trợ cho cơ quan nhà nước trong quá trình tham vấn hoạch
định chính sách, thúc đẩy các cơ chế, thiết chế của quan hệ lao động và giải
quyết các vấn đề quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng quy định.
2.4. Đẩy mạnh các hoạt động
thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm
nhằm thúc đẩy việc tuân thủ các quy định của pháp luật lao động trong doanh
nghiệp; đồng thời đổi mới nội dung và phương thức thanh tra, kiểm tra, giám sát
để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, giảm thiểu các tranh chấp, xung đột, tạo
môi trường thuận lợi cho xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
3. Nâng
cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động
Triển khai thực hiện có hiệu quả
Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt
động của công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, xây dựng tổ chức công đoàn thực
sự là tổ chức của người lao động, do người lao động và vì người lao động; tăng
cường trách nhiệm giải trình của tổ chức công đoàn cấp trên với công đoàn cấp
dưới, của tổ chức công đoàn cơ sở với người lao động; lấy sự hài lòng của người
lao động là thước đo đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của công đoàn.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động
và phát triển đoàn viên, chú trọng thành lập công đoàn cơ sở ngoài khu vực Nhà
nước, phi chính thức, đa dạng hóa phương thức kết nạp người lao động, bảo đảm
tính tự nguyện khi gia nhập, hoạt động công đoàn.
Không ngừng nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở để công đoàn thực sự là chỗ dựa vững chắc
của đoàn viên, người lao động trên cơ sở ưu tiên nguồn lực cho hoạt động thương
lượng tập thể, nhất là thương lượng về tiền lương, tăng cường thực hiện đối thoại,
tham vấn tại nơi làm việc, tích cực, chủ động sử dụng các cơ chế theo quy định
để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.
Triển khai có hiệu quả các biện
pháp hỗ trợ, bảo vệ đoàn viên, cán bộ công đoàn và tổ chức công đoàn cơ sở
trong doanh nghiệp trước sự phân biệt đối xử, can thiệp, thao túng từ phía người
sử dụng lao động nhằm làm suy yếu vai trò của tổ chức công đoàn.
4. Thúc đẩy
các hoạt động đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước tập thể và giải quyết
tranh chấp lao động
Hỗ trợ xây dựng và tăng cường
năng lực đối thoại, thương lượng cho các chủ thể quan hệ lao động, tập trung mạnh
vào nâng cao năng lực của các tổ chức đại diện người lao động trong đối thoại,
thương lượng tập thể. Đảm bảo các tổ chức đại diện của người lao động và người
sử dụng lao động có đủ năng lực để thực hiện việc đối thoại, thương lượng tập
thể thực chất theo những quy định mới của Bộ luật Lao động và các quy định có
liên quan.
Thúc đẩy các hoạt động đối thoại,
thương lượng, ký kết thỏa ước tập thể ở cấp ngành và cấp nhóm doanh nghiệp để hỗ
trợ mở rộng phạm vi xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ ở cấp
ngoài doanh nghiệp.
Tăng cường ý thức chấp hành
pháp luật của người lao động và người sử dụng lao động, bảo đảm các tranh chấp
phát sinh đều phải được giải quyết nhanh chóng, kịp thời và theo đúng trình tự,
thủ tục quy định của pháp luật.
5. Nâng
cao năng lực và hiệu quả các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, đình
công
5.1. Rà soát, kiện toàn, nâng
cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, bảo đảm
các tranh chấp lao động phát sinh được giải quyết đúng trình tự thủ tục, trong
đó tập trung các nhiệm vụ sau:
Rà soát, sắp xếp, kiện toàn lại
đội ngũ hòa giải viên để có đủ số lượng và chất lượng tham gia vào giải quyết
các tranh chấp lao động và hỗ trợ phát triển quan hệ lao động trong bối cảnh mới.
Tổ chức thí điểm bố trí một số
hòa giải viên, trọng tài viên chuyên trách trên một số địa bàn có nhiều doanh
nghiệp, tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tranh chấp lao động.
Thiết lập đầu mối tiếp nhận yêu
cầu giải quyết tranh chấp lao động của tỉnh và phân công nhiệm vụ giải quyết
tranh chấp lao động giữa Sở Nội vụ và Ủy ban nhân dân các xã, phường, bảo đảm sự
kết nối, vận hành giữa đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
với các thiết chế hòa giải, trọng tài nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết
tranh chấp theo nguyên tắc của quan hệ lao động, giảm thiểu các biện pháp can
thiệp hành chính.
Từng bước nâng cao hiệu quả hoạt
động của thiết chế hòa giải viên lao động thông qua việc hỗ trợ, thúc đẩy hòa
giải viên lao động tham gia giải quyết các vụ việc tranh chấp lao động tập thể,
hỗ trợ giải quyết đình công không đúng theo quy định của pháp luật.
Nghiên cứu, hướng dẫn cơ chế giải
quyết các cuộc tranh chấp lao động tập thể, đình công từ can thiệp hành chính
trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước sang giải quyết thông qua các cơ chế,
thiết chế quan hệ lao động (thương lượng, hòa giải, trọng tài...) theo luật định;
từng bước đưa các vụ tranh chấp lao động tập thể, đình công được tiến hành theo
đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích các bên, giảm thiểu
các tranh chấp phát sinh.
5.2. Chủ động triển khai các biện
pháp bảo đảm an ninh, an toàn tại các cuộc tranh chấp lao động tập thể và đình
công, không để đối tượng xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, gây rối an ninh trật
tự; xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng tranh chấp lao động, đình công để vi phạm
pháp luật.
6. Tiếp tục
triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách liên quan đến quan hệ lao động:
tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách về đầu tư phát triển
nhà ở, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội (trường học, nhà mẫu giáo, các
thiết chế văn hóa), các thiết chế công đoàn, các biện pháp cải thiện và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động... để hỗ trợ tích cực cho
việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Phần 4.
KINH PHÍ THỰC HIỆN
Kinh phí thực hiện các hoạt động
của Đề án được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của các địa phương, đơn
vị theo phân cấp ngân sách, nguồn kinh phí lồng ghép từ các chương trình, dự
án, đề án; kinh phí huy động từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các
nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Phần 5. TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Nội
vụ
Là cơ quan thường trực, tham
mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện Đề án. Chủ trì, phối hợp với các
cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện các giải pháp: nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về quan hệ lao động, nâng cao năng lực và hiệu quả các thiết
chế giải quyết tranh chấp lao động, đình công.
Chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, tổ chức có
liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Đề án; định kỳ
tháng 12 hằng năm tổng hợp kết quả thực hiện, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ
Nội vụ theo quy định.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan,
đơn vị có liên quan rà soát vị trí việc làm, chức năng, nhiệm vụ hoạt động quản
lý nhà nước về quan hệ lao động thuộc phạm vi quản lý để báo cáo cấp có thẩm
quyền điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và quy định hiện
hành của Nhà nước.
2. Sở Tài
chính
Trên cơ sở đề xuất của các cơ
quan, đơn vị liên quan; căn cứ khả năng cân đối ngân sách, Sở Tài chính tham
mưu phương án kinh phí thực hiện Đề án theo quy định, đảm bảo thiết thực, hiệu
quả và tiết kiệm.
Phối hợp với các cơ quan liên
quan bố trí nguồn vốn đầu tư công để triển khai nhiệm vụ liên quan của Đề án đảm
bảo đúng quy định hiện hành.
3. Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch
Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan
báo chí, hệ thống thông tin cơ sở trên địa bàn tỉnh phối hợp với các cơ quan,
đơn vị có liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và của tỉnh về quan hệ lao động
tới mọi tầng lớp nhân dân, người lao động, người sử dụng lao động để tạo sự đồng
thuận trong triển khai thực hiện.
Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị có liên quan hướng dẫn, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ,
thể dục, thể thao nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân lao động.
4. Sở Xây
dựng: chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan rà soát
quy hoạch, dành quỹ đất phát triển nhà ở công nhân, khu lưu trú cho người lao động
trong và gần các khu, cụm công nghiệp; tham mưu đề xuất các cơ chế chính sách về
nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, người lao động trong khu công nghiệp trên địa
bàn tỉnh.
5. Công
an tỉnh: triển khai các phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự tại
các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu tập trung đông công nhân; kịp thời
phát hiện và đấu tranh ngăn chặn, xử lý những hành vi lợi dụng, lôi kéo, kích động,
ép buộc người lao động gây rối an ninh, trật tự; chủ động nắm tình hình và phối
hợp các cơ quan liên quan triển khai các giải pháp bảo đảm việc thành lập, hoạt
động của tổ chức người lao động đúng tôn chỉ, mục đích theo quy định của pháp
luật.
6. Thanh
tra tỉnh: thực hiện giải quyết tố cáo và giải quyết khiếu nại về
lao động, an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật và theo phân
công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
7. Ban Quản
lý Khu kinh tế tỉnh
Phối hợp chặt chẽ với các sở,
ban, ngành cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân các xã, phường và các đơn vị liên quan
trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án trong các khu
kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị có liên quan rà soát vị trí việc làm, chức năng, nhiệm vụ hoạt động
quản lý nhà nước về quan hệ lao động thuộc phạm vi quản lý để báo cáo cấp có thẩm
quyền điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và quy định hiện
hành của Nhà nước.
8. Bảo hiểm
xã hội tỉnh Hà Tĩnh
Xây dựng các giải pháp nhằm khắc
phục tình trạng trốn đóng, chậm đóng, nợ đọng bảo hiểm xã hội của các tổ chức,
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên kiểm tra, rà soát, hoàn thiện hồ
sơ chuyển cơ quan Công an để khởi tố các tổ chức, doanh nghiệp về tội trốn đóng
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo
quy định của pháp luật.
Chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành, đoàn thể có liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, đối thoại,
phổ biến các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,
nhất là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người tham gia, đảm bảo cho người
lao động tiếp cận được đầy đủ thông tin của các chính sách.
9. Ủy ban
nhân dân các xã, phường
Chỉ đạo các đơn vị, bộ phận
chuyên môn phối hợp triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án; bố
trí các nguồn lực theo quy định để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải
pháp của Đề án tại địa phương.
Chủ trì rà soát vị trí việc
làm, chức năng, nhiệm vụ hoạt động quản lý nhà nước về quan hệ lao động thuộc
phạm vi quản lý để báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với
yêu cầu nhiệm vụ và quy định hiện hành của Nhà nước.
10. Liên
đoàn Lao động tỉnh: phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành,
đơn vị, doanh nghiệp trong việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án. Chủ
trì, phối hợp triển khai thực hiện các giải pháp: nâng cao hiệu quả hoạt động của
tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động; thúc đẩy hoạt động đối thoại, thương
lượng, ký kết thỏa ước tập thể trong doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp; đẩy mạnh
công tác tuyên truyền và hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho
người lao động.
11. Liên
minh hợp tác xã tỉnh, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh
Phối hợp với các sở, ban, ngành,
Ủy ban nhân dân các xã, phường thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án;
tăng cường các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ đối với doanh nghiệp, đơn vị
thành viên trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động, tham
gia có hiệu quả các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể để thúc đẩy quan
hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Trên cơ sở nhiệm vụ, nội dung
công việc được giao tại Đề án, Giám đốc (Thủ trưởng) các sở, ban, ngành cấp tỉnh,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn vị liên quan theo
chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo triển khai thực hiện; hằng năm báo cáo kết quả thực
hiện gửi Sở Nội vụ trước ngày 15 tháng 11 để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân
tỉnh, Bộ Nội vụ theo quy định. Trong quá trình thực hiện, trường hợp có khó
khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương kịp thời kiến nghị, phản ánh về
Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ) để được hướng dẫn, xem xét, giải quyết
theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định./.