|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 2162/QĐ-UBND
|
Thành phố Hồ Chí
Minh, ngày 26 tháng 5 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN CHĂM SÓC SỨC KHỎE TOÀN DIỆN CHO NGƯỜI DÂN
THÀNH PHỐ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN LÀM TĂNG TỔNG TỶ SUẤT SINH GIAI ĐOẠN
2025-2030
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật về Tổ chức chính
quyền địa phương số 65/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số
20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe
nhân dân trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số 21-NQ/TW
ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số
139/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội
nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương đảng khóa XII về tăng cường công tác
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Căn cứ Quyết định số
641/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề
án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030;
Căn cứ Quyết định số
1092/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương
trình sức khỏe Việt Nam;
Căn cứ Quyết định số
1679/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số
588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chương
trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số
1999/QĐ-TTg ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
duyệt Chương trình mở rộng tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước
sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số
23/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương
trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030;
Căn cứ Quyết định số
89/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến
năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Quyết định số
1807/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2020 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn về
chuyên môn kỹ thuật trong sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh;
Căn cứ Quyết định số
2539/QĐ-BYT ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch hành
động thực hiện chương trình mở rộng, tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh,
tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số
5175/QĐ-BYT ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng
dẫn triển khai phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc;
Căn cứ Quyết định số
1862/QĐ-BYT ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Bộ Y tế về việc Ban hành tài liệu hướng
dẫn chẩn đoán và can thiệp trẻ có rối loạn phổ tự kỷ;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Y tế tại Tờ trình số 4608/TTr-SYT ngày 05 tháng 5 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án chăm sóc sức
khỏe toàn diện cho người dân Thành phố và một số giải pháp góp phần làm tăng tổng
tỷ suất sinh giai đoạn 2025-2030.
Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Giám đốc Sở
Y tế, Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên
quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thành phố Thủ Đức, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân phường, xã chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Y tế;
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND Thành phố;
- TTUB: CT, các PCT;
- Các sở, ngành Thành phố;
- UBND quận, huyện, Thành phố Thủ Đức;
- UBND các phường, xã;
- VPUB: các PCVP; Phòng VX;
- Lưu: VT, (VX-MĐ).
|
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Thị Diệu Thúy
|
ĐỀ ÁN
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TOÀN DIỆN CHO NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN LÀM TĂNG TỔNG TỶ SUẤT SINH GIAI ĐOẠN 2025-2030
(Kèm theo Quyết định số 2162/QĐ-UBND ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)
Phần I
TỔNG QUAN VỀ CHĂM SÓC SỨC
KHỎE NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. ĐẶC ĐIỂM
TÌNH HÌNH MẠNG LƯỚI CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Tính đến thời điểm hiện nay, mạng
lưới khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn Thành phố bao gồm 135 bệnh viện (12 bệnh
viện thuộc bộ, ngành, 32 bệnh viện Thành phố, 19 bệnh viện quận, huyện và 72 bệnh
viện tư nhân), các trung tâm y tế quận, huyện, Thành phố Thủ Đức (trong đó có
04 trung tâm y tế có giường bệnh nội trú), các trạm y tế, hơn 8.000 phòng khám
tư nhân cùng với mạng lưới cấp cứu ngoại viện gồm Trung tâm cấp cứu 115 và 43
trạm cấp cứu vệ tinh.
Song song với hệ điều trị, hệ
thống y tế dự phòng của Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm Chi cục Dân số, Trung tâm
Kiểm soát bệnh tật Thành phố, các phòng y tế, trung tâm y tế quận, huyện, Thành
phố Thủ Đức cùng mạng lưới trạm y tế phường, xã, thị trấn cũng phát triển mạnh
mẽ và thực hiện tốt công tác dự phòng như cảnh báo, phát hiện, kiểm soát dịch bệnh,
triển khai các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe trẻ em, tiêm
chủng mở rộng và nhiều hoạt động phòng bệnh khác. Ngoài ra, còn có Viện Pasteur
Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ
quan, văn phòng đại diện của Bộ Y tế cùng phối hợp chặt chẽ và hiệu quả với hệ
thống y tế Thành phố Hồ Chí Minh trong công tác phòng, chống dịch, bệnh truyền
nhiễm; bệnh không lây nhiễm; phòng, chống tác động của các yếu tố nguy cơ ảnh
hưởng tới sức khỏe; quản lý sức khỏe cộng đồng; khám phát hiện, điều trị dự
phòng.
Đối với hoạt động Sản Nhi:
Thành phố có 02 bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản với trên 2.000 giường, 03 bệnh viện
chuyên khoa Nhi với khoảng 4.000 giường bệnh dành cho trẻ em từ sơ sinh đến 16
tuổi với đầy đủ các dịch vụ chẩn đoán, điều trị và chăm sóc toàn diện từ cơ bản
đến chuyên sâu. Với năng lực hiện tại, các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản, Nhi tại
Thành phố Hồ Chí Minh không những đáp ứng được nhu cầu điều trị và chăm sóc sức
khỏe phụ nữ mang thai, trẻ em cho Thành phố Hồ Chí Minh mà còn cho cả khu vực
phía Nam và một số tỉnh duyên hải miền Trung. Hợp tác giữa các bệnh viện chuyên
khoa Nhi và chuyên khoa Phụ Sản trong phát triển chuyên sâu về can thiệp bệnh
lý sơ sinh trong giai đoạn bào thai và ngay sau sinh là nhằm làm giảm tỷ lệ tử
vong chu sinh nói riêng và trẻ em dưới 01 tuổi nói chung, đồng thời nâng cao chất
lượng cuộc sống của trẻ em, đặc biệt là các trẻ sinh non hoặc mắc các dị tật bẩm
sinh. Hiện nay, các bệnh viện chuyên khoa Nhi đã chủ động triển khai các dự án
hợp tác song phương nhằm cải thiện hơn nữa việc chuyển viện không an toàn, chẩn
đoán tiền sản, sàng lọc dị tật bẩm sinh, can thiệp ngay trong giai đoạn bào
thai (thông tim xuyên tử cung) hoặc ngay tại phòng sinh (thủ thuật EXIT). Ngoài
ra, các bệnh viện chuyên khoa Nhi (Bệnh viện Nhi Đồng 1) còn phối hợp với các bệnh
viện chuyên khoa Phụ Sản (Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương) trong khám tầm
soát và điều trị bệnh lý võng mạc do sinh non. Các hoạt động hợp tác hiệu quả
này cần được tiếp tục triển khai nhân rộng.
Đối với việc tích hợp và kết nối
dữ liệu tại các bệnh viện chuyên khoa Nhi, Phụ Sản và các hoạt động hợp tác giữa
bệnh viện chuyên khoa Nhi với các đối tác như bệnh viện Phụ Sản, Trung tâm Kiểm
soát bệnh tật Thành phố… đang được triển khai nhưng chưa đầy đủ hoặc chưa đồng
bộ. Ví dụ: việc kết nối và đồng bộ dữ liệu của 03 hệ thống PACS, HIS và LIS tại
mỗi bệnh viện hiện nay còn gặp nhiều thách thức; kết nối dữ liệu tiêm chủng trẻ
em vào hệ thống HIS của các bệnh viện Nhi; xây dựng dữ liệu số về theo dõi định
kỳ sức khỏe trẻ em…
II. NHỮNG
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA THÀNH PHỐ TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN
1. Nâng cao chất lượng dân số
và điều chỉnh mức sinh
Quy mô dân số Thành phố tính đến
cuối năm 2024 là 9.521.886 người; tỷ suất sinh thô năm 2024 là: 12,22‰, tăng so
với năm 2023 (12,15‰).
Tổng tỷ suất sinh tại Thành phố
Hồ Chí Minh năm 2024 là 1,39 con, thấp hơn rất nhiều so với mức 1,91 con của cả
nước. Thống kê số liệu từ năm 2000 đến nay cho thấy, tổng tỷ suất sinh của
Thành phố liên tục giảm (năm 2000 là 1,76; năm 2023 là 1,32), xuống rất thấp
vào năm 2016 là 1,24, xu hướng khôi phục theo hướng tăng xảy ra rất ít ở thời
điểm năm 2013 là 1,68.
Hàng năm, Thành phố đều đạt và
vượt chỉ tiêu tăng tỷ lệ thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn tham gia tư vấn và
khám sức khỏe trước khi kết hôn. Cụ thể, trong năm 2024 đã vận động 1.469 cặp
nam, nữ thanh niên sắp kết hôn thực hiện khám sức khỏe trước khi kết hôn, vượt
10% chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
2. Chăm sóc quản lý sức khỏe
phụ nữ mang thai, sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh
Quản lý thai là một trong những
nội dung quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, góp phần giảm
tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh.
Những nội dung quan trọng trong
quản lý thai kỳ bao gồm: khám thai định kỳ, sàng lọc tiền sản giật, sàng lọc
trước sinh, tiêm chủng, tư vấn chăm sóc thai kỳ và dinh dưỡng. Điều này sẽ giúp
nhân viên y tế phân loại thai kỳ bình thường, thai kỳ nguy cơ cao để có kế hoạch
chăm sóc và can thiệp kịp thời. Theo báo cáo thống kê từ hệ thống thống kê y tế
của Bộ Y tế, tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2020 - 2023 tỷ lệ phụ nữ mang
thai khám thai ít nhất 03 lần/ thai kỳ đều đạt trên 95%, tuy nhiên khám thai ít
nhất 04 lần/ thai kỳ thì chỉ đạt dưới 90%.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt
động tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh (sàng
lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh) đã được triển khai thí điểm từ năm 2011. Thực
hiện sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh giúp cho trẻ sinh ra phát triển
bình thường hoặc tránh được những hậu quả nặng nề do dị tật bẩm sinh gây ra, giảm
thiểu số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng, góp phần nâng cao
chất lượng dân số.
- Sàng lọc trước sinh là việc sử
dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu để đánh giá nguy cơ mắc hội chứng Down,
Trisomy 13 và Trisomy 18 kết hợp tầm soát bệnh Thalassemia thai nhi bằng xét
nghiệm huyết đồ của bố mẹ, những thai phụ thuộc nhóm nguy cơ cao sẽ được bác sĩ
tư vấn sinh thiết gai nhau hoặc xét nghiệm dịch ối để chẩn đoán bệnh lý, từ đó
bác sĩ tư vấn cho thai phụ và gia đình hướng điều trị. Tất cả các trường hợp
nghi ngờ bất thường đều được tư vấn, hướng dẫn quy trình để tiến hành chẩn đoán
xác định và điều trị phù hợp. Hoạt động can thiệp, tác động vào quá trình phát
hiện và điều trị sớm các bệnh, tật, các rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay
trong giai đoạn bào thai và sơ sinh; giúp trẻ sinh ra bình thường hoặc tránh được
những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, giảm số người tàn tật, thiểu năng
trí tuệ trong cộng đồng. Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, toàn Thành
phố đã thực hiện sàng lọc trước sinh cho 283.488 phụ nữ mang thai, số trường hợp
được chẩn đoán xác định bệnh sớm ngay trong giai đoạn bào thai là 11.753 chiếm
tỷ lệ 4,15%. Những thai phụ thuộc nhóm nguy cơ cao được bác sĩ tư vấn sinh thiết
gai nhau hoặc xét nghiệm dịch ối để chẩn đoán bệnh lý, từ đó bác sĩ tư vấn cho
thai phụ và gia đình hướng điều trị nhằm giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh hàng năm đạt 86,1%.
- Sàng lọc sơ sinh: việc sàng lọc
sơ sinh phát hiện sớm các bệnh rối loạn chuyển hóa hiện nay chỉ cần lấy 3-5 giọt
máu ở gót chân của bé vào thời điểm từ 48 đến 72 giờ sau sinh. Theo Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có tới 8 triệu trẻ sơ sinh mắc dị tật bẩm
sinh. Tuy nhiên, có thể phòng tránh được những hậu quả nặng nề của dị tật đối với
trẻ bằng các biện pháp sàng lọc sơ sinh ngay trong vòng 48 giờ đầu khi trẻ được
sinh ra. Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, toàn Thành phố đã thực hiện
sàng lọc sơ sinh cho 267.160 trẻ, số trường hợp được chẩn đoán xác định mắc bệnh
là 1.612 trường hợp, chiếm tỷ lệ 0,44 %. Các trường hợp chẩn đoán xác định được
tư vấn giúp can thiệp và điều trị sớm để trẻ có thể có một cuộc sống bình thường.
3. Chăm sóc quản lý sức khỏe
trẻ em
Trong những năm qua, Thành phố đã
triển khai nhiều hoạt động chuyên môn, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị chuyên
sâu, hiện đại đã nâng cao chất lượng điều trị, giúp giảm tỷ lệ tử vong và nâng
cao chất lượng cuộc sống như tầm soát và điều trị giảm thính lực trên trẻ nguy
cơ cao hoặc biến chứng của bệnh, âm ngữ trị liệu, tâm lý trị liệu, phẫu thuật
khe hở môi - vòm phối hợp với chỉnh nha… Các hoạt động này cần được triển khai
đồng bộ và chuyên sâu hơn nữa.
Hiện nay, 03 bệnh viện chuyên
khoa Nhi đang hỗ trợ, phối hợp với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố triển
khai các chương trình quản lý sức khỏe trẻ em như chương trình xử trí lồng ghép
trẻ bệnh (IMCI), khám sức khỏe trẻ em dưới 24 tháng, chăm sóc toàn diện trẻ em
trong 05 năm đầu đời và tiêm chủng mở rộng. Hoạt động phối hợp này bước đầu
mang lại kết quả tốt khi Thành phố Hồ Chí Minh triển khai các dự án của Bộ Y tế
một cách chủ động và hiệu quả.
Nhằm giảm tỷ lệ tử vong chu
sinh nói riêng và trẻ em dưới 01 tuổi nói chung, đồng thời nâng cao chất lượng
cuộc sống của trẻ em, đặc biệt là trẻ sinh non hoặc mắc các dị tật bẩm sinh, hiện
nay các bệnh viện chuyên khoa Nhi đã chủ động triển khai các dự án hợp tác song
phương nhằm cải thiện hơn nữa việc chuyển viện không an toàn, chẩn đoán tiền sản,
sàng lọc dị tật bẩm sinh, can thiệp ngay trong giai đoạn bào thai (thông tim
xuyên tử cung) hoặc ngay tại phòng sanh (thủ thuật EXIT). Ngoài ra Bệnh viện
Nhi Đồng 1 còn phối hợp với các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản (Bệnh viện Từ Dũ,
Bệnh viện Hùng Vương) trong khám tầm soát và điều trị bệnh lý võng mạc do sanh
non. Các hoạt động hợp tác hiệu quả này cần được tiếp tục triển khai.
Bên cạnh đó, việc theo dõi tình
trạng dinh dưỡng và đảm bảo cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em đang được
ngành y tế và các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao thể trạng và
tầm vóc của người dân Thành phố. Hoạt động dinh dưỡng tại Thành phố bao gồm
dinh dưỡng trong bệnh viện và dinh dưỡng ngoài cộng đồng được triển khai theo
chỉ đạo của Bộ Y tế. Hiện nay, các bệnh viện đã thành lập khoa/tổ Dinh dưỡng và
triển khai theo Thông tư số 18/2020/TT-BYT của Bộ Y tế. Công tác dinh dưỡng -
tiết chế tiếp tục được triển khai và hoạt động có hiệu quả hơn, đặc biệt tại
các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến đầu của Thành phố: 100% bệnh viện
tuyến Thành phố có khoa/tổ Dinh dưỡng và 89% bệnh viện tư nhân có khoa/tổ Dinh
dưỡng. Công tác sàng lọc, đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh nội trú
được triển khai 98,8% bệnh viện. Tỷ lệ bệnh viện cung cấp suất ăn bệnh lý cho từng
đối tượng người bệnh đạt 72,6%.
Tình trạng dinh dưỡng ở cộng đồng
đang được cải thiện. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi, trẻ em lứa tuổi học
đường giảm dần theo thời gian và gần như thấp nhất cả nước. Tỷ lệ suy dinh dưỡng
thể thấp còi và gầy còm ở trẻ dưới 5 tuổi năm 2023 lần lượt là 6,0% và 2,8% thấp
hơn so với toàn quốc năm 2020 là 19,6% và 5,2%. Tuy nhiên, tỷ lệ thừa cân, béo
phì gia tăng ở các nhóm đối tượng từ trẻ em đến người trưởng thành. Cụ thể, tỷ
lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi năm 2023 là 11,3% cao hơn so với tỷ lệ
toàn quốc năm 2023 là 9,4%. Đồng thời, sự gia tăng các yếu tố nguy cơ gây bệnh
không lây như thói quen ăn mặn, ít rau và trái cây, thiếu vận động thể lực ở
người trưởng thành so với khuyến nghị cũng là vấn đề tồn tại của Thành phố.
4. Chăm sóc sức khỏe sinh sản,
sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên
Hiện nay, việc cung cấp thông
tin về sức khỏe sinh sản (SKSS), sức khỏe tình dục (SKTD) cho vị thành niên,
thanh niên (VTN-TN) vẫn đang sử dụng các cách tiếp cận truyền thống là chính.
Việc áp dụng các hình thức truyền thông dựa trên tiến bộ khoa học và công nghệ
như tương tác qua mạng xã hội, đường dây nóng, vẫn đang ở qui mô nhỏ và chưa có
các bằng chứng thuyết phục về kết quả thay đổi hành vi SKSS, SKTD của VTN-TN.
Các chương trình giáo dục SKSS, SKTD trong nhà trường đang được thực hiện thí
điểm và cũng chưa cập nhật với nội dung và phương pháp tiếp cận giáo dục giới
tính và tình dục toàn diện theo hướng dẫn quốc tế. Các hoạt động truyền thông
cung cấp thông tin, tư vấn về SKSS, SKTD VTN-TN tới các đối tượng VTN-TN ngoài
nhà trường cũng đã được thực hiện nhưng tổ chức rời rạc, phạm vi hẹp và thiếu
tính đồng bộ. Cung cấp thông tin và các dịch vụ về SKSS, SKTD cho các nhóm ưu
tiên như nhóm VTN-TN chưa kết hôn, nhóm VTN trong độ tuổi từ 10 đến 14, nhóm
VTN-TN khuyết tật, nhóm VTN di cư, nhóm VTN-TN lao động tại các khu công nghiệp
và nhóm VTN-TN có xu hướng tính dục khác nhau còn gặp nhiều thách thức.
Qua kết quả điều tra quốc gia về
SKSS, SKTD cho thấy ngày nay VTN-TN được thụ hưởng chất lượng cuộc sống cao
hơn, có điều kiện tiếp cận thông tin dễ dàng hơn như máy tính và kết nối
internet. Tuy nhiên, tình trạng SKSS, SKTD của VTN-TN vẫn đang tồn tại những vấn
đề rất đáng quan tâm, cụ thể: độ tuổi trung bình lần quan hệ tình dục đầu tiên ở
nhóm vị VTN-TN từ 14 đến 24 tuổi đang dần trẻ hóa là 18,7 tuổi (2017) so với
19,6 tuổi (2010) và hầu hết đều chưa có kiến thức đầy đủ và chưa thực hành đúng
về các vấn đề sức khỏe tình dục. Bên cạnh đó, tỷ lệ phá thai ở nhóm trẻ chưa có
dấu hiệu giảm, tại Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ phá thai ở trẻ vị thành niên
trên tổng số phá thai là 2% vào năm 2020 và năm 2023 tỷ lệ này là 2,32%, mỗi
năm tỷ lệ này dao động trong khoảng 1,8-2,5%. Trẻ vị thành niên vẫn gặp phải
nhiều khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe/sức khỏe sinh sản chất
lượng và an toàn.
5. Chăm sóc và nâng cao sức
khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp
Hiện nay, công tác quản lý sức
khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp được ưu tiên tập trung ở các đơn
vị sản xuất, dịch vụ có nhiều lao động, có yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp,
bao gồm công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật vệ sinh lao động,
đo quan trắc môi trường, giám sát yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp và tình
trạng sức khỏe của người lao động.
Ngành y tế Thành phố trong thời
gian qua đã triển khai thực hiện đánh giá hiện trạng sức khỏe của người lao động
để kịp thời có các biện pháp can thiệp, các chính sách phù hợp, qua đó cải thiện
tình hình sức khỏe chung của lực lượng lao động. Một số kết quả đạt được như
sau: 89% cơ sở lao động sản xuất có quy mô hơn 50 lao động được thực hiện đo
quan trắc môi trường lao động kiểm soát yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp, và
34% cơ sở lao động sản xuất có quy mô hơn 50 lao động có yếu tố có hại được tổ
chức khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
6. Chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi
Hiện nay, số người cao tuổi tại
Thành phố đứng thứ hai cả nước, khiến Thành phố phải đối diện với nhiều thách
thức trong bối cảnh “Già hóa Dân số”. Tính đến năm 2023, tỷ lệ người cao tuổi tại
Thành phố đã tăng lên 11,33%, với tổng số 1.071.442 người cao tuổi. Trong vòng
6 năm (2017-2023), số lượng người cao tuổi tăng thêm 182.264 người, bình quân mỗi
năm tăng gần 30.000 người. Sự gia tăng nhanh chóng này cho thấy tốc độ già hóa
tại Thành phố Hồ Chí Minh đang vượt qua các dự báo trước đây, đặt ra yêu cầu cấp
thiết về chính sách và hạ tầng y tế, xã hội nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống
cho nhóm dân số cao tuổi đang ngày càng đông.
Trong những năm qua, Thành phố
Hồ Chí Minh thực hiện nghiêm túc công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi theo
Điều 12, Điều 13 Luật Người cao tuổi và Thông tư số 35/TT-BYT ngày 15 tháng 10
năm 2011 của Bộ Y tế về hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Tất cả các
đơn vị đều tổ chức khu vực tiếp nhận, khám và điều trị ưu tiên cho người cao tuổi
từ 80 tuổi trở lên theo luật quy định. Theo số liệu năm 2024, tại Thành phố có:
13/32 bệnh viện tuyến Thành phố thành lập khoa Lão; 08/32 bệnh viện tuyến Thành
phố có đơn vị Lão khoa; 04/19 bệnh viện tuyến quận, huyện có đơn vị Lão khoa.
Từ đầu năm 2024 đến nay, toàn
Thành phố có 329.388 người thực hiện khám sức khỏe, phát hiện sớm bệnh không
lây nhiễm ở người cao tuổi tại trạm y tế theo mô hình mới. Qua đó, Sở Y tế ghi
nhận có 201.544 người cao tuổi (61,6%) bị tăng huyết áp, 25,68% người cao tuổi
mắc và nghi ngờ đái tháo đường, 0,26% người cao tuổi có mức độ trầm cảm, lo âu
từ vừa đến nặng; 18,3% người cao tuổi có dấu hiệu tiền suy yếu, 1,3% người cao
tuổi có dấu hiệu suy yếu; 2,2% người cao tuổi có các hoạt động sống cơ bản hằng
ngày (tắm, mặc quần áo, ăn uống, vệ sinh, tiêu tiểu, di chuyển) cần người khác
hỗ trợ và 7,9% người cao tuổi có các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (khả năng sử
dụng điện thoại, mua sắm, chuẩn bị thức ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ.....) cần
người khác hỗ trợ. Ngoài ra, cũng nhờ hoạt động khám sức khỏe người cao tuổi,
Thành phố đã phát hiện thêm 49.197 người bị tăng huyết áp (15%), 26.375 người
nghi ngờ đái tháo đường (8%).
Thành phố tiếp tục duy trì hoạt
động của 184 Câu lạc bộ “Người cao tuổi giúp người cao tuổi”, với 5.389 thành
viên là người cao tuổi tham gia sinh hoạt, duy trì hoạt động của 184 tổ tình
nguyện viên với 2.726 thành viên, giúp đỡ cho hơn 5.248 người cao tuổi già yếu
neo đơn, có hoàn cảnh khó khăn tại cộng đồng.
III. NHỮNG
THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE
1. Thuận lợi
Các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản,
Nhi của Thành phố đã duy trì mạng lưới chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em trên địa
bàn Thành phố và khu vực phía Nam từ nhiều năm qua.
Trình độ chuyên môn, tay nghề của
đội ngũ y, bác sĩ của Thành phố được đánh giá cao, đã làm chủ nhiều kỹ thuật điều
trị hiện đại, phức tạp, chất lượng điều trị không thua kém các nước trong khu vực
trong khi chi phí lại thấp hơn các nước. Đồng thời, hoạt động nghiên cứu khoa học
tại các bệnh viện trên địa bàn Thành phố ngày càng được chú trọng và có chất lượng,
nhiều công trình nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và có giá trị ứng dụng
cao.
Tình trạng dinh dưỡng và đảm bảo
cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em đang được ngành y tế và các cấp chính quyền
đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao thể trạng và tầm vóc của người dân Thành phố.
Hiện nay, các bệnh viện quan tâm và triển khai sàng lọc yếu tố nguy cơ dinh dưỡng
đồng thời tư vấn, chỉ định chế độ dinh dưỡng bệnh lý phù hợp với tình trạng
dinh dưỡng, bệnh lý của bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện. Dinh dưỡng
ngoài cộng đồng được các cơ sở y tế triển khai theo chỉ đạo của Bộ Y tế nhằm giảm
các trường hợp mắc bệnh liên quan đến dinh dưỡng.
Đối với công tác quản lý sức khỏe
người lao động thì ngành y tế ưu tiên tập trung công tác kiểm tra, giám sát việc
chấp hành pháp luật vệ sinh lao động, đo quan trắc môi trường, giám sát yếu tố
nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp và tình trạng sức khỏe của người lao động ở các
đơn vị sản xuất, dịch vụ có nhiều lao động, có yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề
nghiệp. Đồng thời, luôn triển khai thực hiện đánh giá hiện trạng sức khỏe của
người lao động để kịp thời có các biện pháp can thiệp, các chính sách phù hợp,
qua đó cải thiện tình hình sức khỏe chung của lực lượng lao động.
Các bệnh viện cấp Thành phố đã
chú trọng đầu tư trang thiết bị, đào tạo nhân sự để thành lập khoa Lão. Một số
bệnh viện cấp quận, huyện đã thực hiện điều trị các bệnh lý Lão học, thành lập
Lão khoa kết hợp với khoa Nội. Tuy chưa đảm bảo 100% cơ sở khám, chữa bệnh triển
khai được phòng khám ngoại trú và phòng điều trị nội trú dành riêng cho người
cao tuổi, nhưng tất cả các đơn vị đều tổ chức khu vực tiếp nhận, khám và điều
trị ưu tiên cho người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên theo luật quy định.
2. Khó khăn
Nhận thức của người dân về lợi
ích của Chương trình tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn chưa đầy đủ, các
nhóm đối tượng chưa chủ động sử dụng dịch vụ. Mạng lưới cung cấp dịch vụ chưa
được bao phủ rộng khắp gây hạn chế việc tiếp cận sử dụng dịch vụ của người dân,
đặc biệt ở những vùng khó khăn.
Trang thiết bị y tế hiện nay vẫn
còn thiếu để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và ứng dụng chẩn đoán chuyên sâu về di
truyền, nhất là đối với các bệnh lý như dị tật bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần.
Đây là những vấn đề phổ biến trong cộng đồng, gây ra gánh nặng lớn cho xã hội,
trong khi bản chất di truyền lại rất đa dạng và phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật chẩn
đoán hiện đại.
Sàng lọc tiền hôn nhân rất cần
thiết nhưng chưa triển khai rộng khắp và thống nhất ở các tuyến chăm sóc y tế;
Sàng lọc sơ sinh tim bẩm sinh nặng, sàng lọc khiếm thính ở trẻ sơ sinh chưa triển
khai rộng rãi ở các cơ sở y tế vì còn thiếu cơ sở vật chất và thiết bị.
Số lượng và chất lượng đội ngũ
cán bộ làm công tác sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh còn thiếu làm ảnh
hưởng đến công tác đào tạo, quy hoạch phát triển, nghiên cứu khoa học, triển
khai ứng dụng các tiến bộ mới.
Công tác quản lý, theo dõi trẻ
dị tật bẩm sinh sau khi phát hiện vẫn chưa được quan tâm, giám sát chặt chẽ làm
hạn chế hiệu quả và ý nghĩa xã hội.
Trẻ vị thành niên vẫn gặp phải
nhiều khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe/sức khỏe sinh sản đảm
bảo chất lượng.
Công tác chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi vẫn còn một số hạn chế như: thiếu các dịch vụ chăm sóc tại nhà cho người
cao tuổi; Nguồn nhân lực cho chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn chưa được
quan tâm phát triển; Chất lượng chăm sóc người cao tuổi còn chưa cao; Thiếu nguồn
kinh phí tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi già yếu neo đơn
tại cộng đồng.
Chưa có hệ thống phần mềm quản
lý chung để có thể tích hợp dữ liệu sức khỏe của từng nhóm thành kho dữ liệu
chung cho người dân.
3. Thách thức
Mức sinh thấp và già hóa dân số:
Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang được xếp trong nhóm 21 tỉnh, Thành phố có mức
sinh thấp. Mức sinh thấp sẽ dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về cơ cấu dân số, tốc
độ già hóa dân số sẽ diễn ra rất nhanh. Điều này tạo ra áp lực ngày càng tăng đối
với hệ thống an sinh xã hội, tác động trực tiếp đến tỷ lệ phát triển dân số tự
nhiên, làm suy giảm nguồn nhân lực đặc biệt là lao động trẻ, ảnh hưởng lâu dài
đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Thay đổi mô hình bệnh tật -
gánh nặng kép: sự gia tăng các bệnh mạn tính không lây (tiểu đường, hen suyễn…)
trong khi các bệnh truyền nhiễm vẫn còn là gánh nặng, đặc biệt là các bệnh có
khả năng phát triển thành dịch như sốt xuất huyết, tay chân miệng, cúm, sởi…
Xu hướng gia tăng tỷ lệ thừa
cân-béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường cùng với một số bệnh mạn tính không lây
liên quan đến chế độ dinh dưỡng, vận động thể lực. Nhiều hành vi, thói quen ảnh
hưởng xấu tới sức khỏe chưa được khắc phục như thói quen ít vận động, sử dụng
máy tính nhiều, ăn thức ăn nhanh, nước ngọt có gas, sử dụng thuốc lá, lạm dụng
rượu, bia... Bên cạnh đó, có thêm những vấn đề sức khỏe mới phát sinh như già
hóa dân số, gánh nặng bệnh mạn tính không lây, tổng tỷ suất sinh thấp, bạo hành
và xâm hại trẻ em, các dịch bệnh nguy hiểm mới nổi, tái nổi thường xuyên xuất
hiện hơn (cúm A H1N1, đại dịch COVID-19) nhưng chưa có chiến lược và kế hoạch
giải quyết căn cơ.
Công tác thông tin, giáo dục
truyền thông chưa thật sự hiệu quả. Gánh nặng xã hội và gánh nặng kinh tế do bệnh
tật còn chưa được các cấp, các ngành nhận thức đầy đủ. Ý thức chấp hành pháp luật
về phòng, chống tác hại thuốc lá, phòng chống tác hại rượu, bia của người dân
còn chưa cao. Nhận thức của một bộ phận cộng đồng về nâng cao sức khỏe, phòng,
chống yếu tố nguy cơ còn chưa đầy đủ; những hiểu biết về tự theo dõi phát hiện
sớm bệnh, chăm sóc, theo dõi và tuân thủ điều trị trong Nhân dân còn hạn chế.
Sự phối hợp đa ngành trong kiểm
soát các yếu tố nguy cơ bệnh tật, các chính sách kiểm soát yếu tố nguy cơ chưa đồng
bộ, toàn diện và việc tuân thủ chưa tốt (thiếu chính sách tạo điều kiện môi trường
thuận lợi cho tăng cường hoạt động thể lực, thể thao quần chúng; chính sách
khuyến khích các thực phẩm có lợi cho sức khỏe, hạn chế các thực phẩm không có
lợi cho sức khỏe ...). Chưa có một đầu mối tổ chức thống nhất để điều phối, huy
động sự tham gia liên ngành trong kiểm soát các yếu tố nguy cơ bệnh tật. Các sở,
ngành liên quan chưa phát huy hiệu quả vai trò, trách nhiệm trong thực thi các
chính sách của các Bộ, ngành mình để kiểm soát rượu bia, thuốc lá, khuyến khích
dinh dưỡng hợp lý và hoạt động thể lực...
Quản lý, chăm sóc và điều trị
các bệnh lý, biến chứng liên quan đến sinh non: với sự phát triển và phối hợp Sản
- Nhi, ngày càng có nhiều trẻ sinh non hoặc cực non được cứu sống và phát triển
bình thường. Tuy nhiên, cũng có không ít trẻ sinh non cần phải tiếp tục được điều
trị và chăm sóc vì các biến chứng như: bệnh lý võng mạc (ROP), loạn sản phế quản
phổi, khiếm thính, động kinh, chậm phát triển tâm thần, vận động… và các dị tật
bẩm sinh đi kèm.
Phát hiện và điều trị trẻ có rối
loạn phổ tự kỷ: việc chẩn đoán sớm và chính xác rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em là
một quá trình đánh giá, tích hợp thông tin phức tạp, đòi hỏi bác sĩ và những
người tham gia chẩn đoán là những người có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực
phát triển nhi khoa và kinh nghiệm làm việc với trẻ có rối loạn phổ tự kỷ. Hiện
nay các cơ sở giáo dục đặc biệt dành cho trẻ tự kỷ chưa đáp ứng được nhu cầu thực
tế.
Về nhân lực và cơ sở hạ tầng y
tế: ngành Nhi ngoài việc chăm lo sức khỏe cho trẻ em của Thành phố Hồ Chí Minh
còn gánh thêm trách nhiệm khám và điều trị cho bệnh nhi đến từ nhiều tỉnh,
thành trong cả nước. Hiện tại Thành phố có 03 bệnh viện chuyên khoa Nhi, trong
đó 02 bệnh viện Nhi đồng 1 và Nhi đồng 2 ở khu vực trung tâm, bệnh viện Nhi đồng
Thành phố ở cửa ngõ phía Tây. Vì vậy, Thành phố cần đầu tư phát triển thêm 01 bệnh
viện chuyên khoa Nhi ở cửa ngõ phía đông của Thành phố (Thành phố Thủ Đức). Bên
cạnh đó, sự thiếu hụt bác sĩ chuyên khoa Nhi và điều dưỡng có chuyên môn cao dẫn
đến chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu trong thời điểm hiện tại và
tương lai.
Thành phố còn thiếu các số liệu
chuẩn hóa mang tính hệ thống; các cơ sở dữ liệu để theo dõi và dự báo xu hướng,
quy mô, sự phân bố của bệnh tật và các yếu tố nguy cơ.
Hệ thống quản lý dữ liệu sức khỏe
cộng đồng của Thành phố hiện nay còn chưa đồng bộ, nhiều phần mềm nhưng chưa
liên thông…chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của người dân.
Việc tiếp cận đầy đủ các dịch vụ
tư vấn và chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi còn bị giới hạn, hệ thống chăm
sóc sức khỏe chưa bắt kịp với tốc độ già hóa dân số ngày càng tăng. Nhìn chung
các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn phân tán, riêng lẻ, chưa
mang tính hệ thống và thiếu sự lồng ghép với các chương trình khác liên quan đến
người cao tuổi.
IV. SỰ CẦN
THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe toàn
diện cho Nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là ưu tiên hàng đầu
của Nhà nước ta. Nghị quyết số 20- NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 Hội nghị lần
thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” (gọi tắt là Nghị
quyết số 20-NQ/TW) đã khẳng định mục tiêu không ngừng phấn đấu nâng cao sức khỏe,
tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam; bảo đảm mọi người
dân đều được bảo vệ, chăm sóc; được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham
gia, hưởng thụ bảo hiểm y tế và các dịch vụ có liên quan.
Trước những khó khăn, thách thức
ngày càng gia tăng trong bối cảnh mới như mức sinh thấp, già hóa dân số, gánh nặng
kép về bệnh tật, sự chuyển đổi mô hình bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe
toàn diện ngày càng cao, yêu cầu đặt ra đối với ngành y tế Thành phố là phải kịp
thời có các giải pháp đồng bộ để bảo đảm mọi người dân được sống khỏe mạnh, được
quản lý sức khỏe suốt vòng đời, từ đó tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng với chi
phí hợp lý.
Để đạt được mục tiêu đó, cần
triển khai hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe toàn diện ngay từ giai đoạn
đầu đời đến tuổi trưởng thành và tuổi già; đẩy mạnh các biện pháp dự phòng,
phát hiện sớm, điều trị kịp thời; tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức
khỏe, khuyến khích lối sống lành mạnh và xây dựng môi trường sống an toàn cho
người dân.
Vì vậy, việc xây dựng và triển
khai thực hiện Đề án “Chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân Thành phố và một
số giải pháp góp phần làm tăng tổng tỷ suất sinh giai đoạn 2025-2030” là hết sức
cần thiết và cấp bách. Đề án không chỉ góp phần bảo đảm mọi người dân trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh được tiếp cận các dịch vụ y tế toàn diện, liên tục,
chất lượng cao mà còn tạo tiền đề quan trọng để nâng cao sức khỏe bà mẹ, trẻ
em, người lao động và người cao tuổi; góp phần tăng tổng tỷ suất sinh, cải thiện
chất lượng dân số và nguồn nhân lực, phục vụ cho sự phát triển bền vững của
Thành phố trong tương lai.
V. CƠ SỞ
PHÁP LÝ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25
tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong
tình hình mới;
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25
tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31
tháng 12 năm 2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ
sáu Ban chấp hành Trung ương đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày
28 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể
phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030;
Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày
02 tháng 9 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình sức khỏe Việt
Nam;
Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày
22 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số
Việt Nam đến năm 2030;
Quyết định số 588/QĐ-TTg ngày
28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình điều
chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030;
Quyết định số 659/QĐ-TTg ngày
20 tháng 5 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chăm sóc và
nâng cao sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp giai đoạn 2020 -
2030;
Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày
13 tháng 10 năm 2020 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Chương trình Chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030;
Quyết định số 1999/QĐ-TTg ngày
07 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mở
rộng tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến
năm 2030;
Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 07
tháng 01 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình hành động
quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030;
Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23
tháng 01 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045;
Thông tư số 23/2017/TT-BYT ngày
15 tháng 5 năm 2017 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn việc lập hồ sơ theo dõi sức
khỏe, khám sức khỏe định kỳ theo độ tuổi cho trẻ em; tư vấn chăm sóc sức khỏe
và dinh dưỡng;
Quyết định số 1807/QĐ-BYT ngày
21 tháng 4 năm 2020 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật
trong sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh;
Quyết định số 403/QĐ-BYT ngày
20 tháng 01 năm 2021của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện
Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030;
Quyết định số 2539/QĐ-BYT ngày
24 tháng 5 năm 2021 của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện
chương trình mở rộng, tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh
và sơ sinh đến năm 2030;
Quyết định số 5175/QĐ-BYT ngày
09 tháng 11 năm 2021 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn triển
khai phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc.
Phần II
NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I. PHẠM
VI, ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG
1. Phạm vi:
Đề án được triển khai trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2025 đến năm 2030.
2. Đối tượng thụ hưởng:
Toàn bộ người dân trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh.
II. MỤC
TIÊU
1. Mục tiêu chung: đảm bảo
mọi người dân trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh được tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục và chất
lượng, sống trong môi trường an
toàn, phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
Qua đó, góp phần nâng cao sức
khỏe của phụ nữ mang thai, bào thai, trẻ sơ sinh, trẻ em, người lao động và người
cao tuổi, đồng thời làm tăng tổng tỷ suất sinh và cải thiện chất lượng cuộc sống
cộng đồng.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Giai đoạn chăm sóc sức
khỏe tiền hôn nhân
- Mục tiêu 1: đảm bảo mỗi
cặp nam nữ thanh niên trong độ tuổi kết hôn trước khi kết hôn được thực hiện tư
vấn, khám sức khỏe, tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước
và trong khi mang thai;
- Mục tiêu 2: phấn đấu
thực hiện tăng tổng tỷ suất sinh nhằm giải quyết tình trạng mức sinh thấp của
Thành phố.
2.2. Giai đoạn chăm sóc sức
khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh
- Mục tiêu 3: cải thiện
tình trạng sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng của phụ nữ có thai và trẻ em.
- Mục tiêu 4: đẩy mạnh
hoạt động tầm soát, chẩn đoán, can thiệp bào thai, điều trị một số bệnh, tật
trước sinh.
- Mục tiêu 5: đẩy mạnh
hoạt động sàng lọc sơ sinh để phát hiện, can thiệp và điều trị sớm các rối loạn
chuyển hóa bẩm sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
2.3. Giai đoạn chăm sóc phát
triển trẻ toàn diện trong 5 năm đầu đời và chăm sóc trẻ từ 06 tuổi đến 18 tuổi
- Mục tiêu 6: bảo đảm
cho trẻ em từ 02 tháng đến dưới 06 tuổi được phát triển toàn diện về thể chất,
trí tuệ, tinh thần; được bình đẳng tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc
phát triển toàn diện theo độ tuổi.
- Mục tiêu 7: tăng cường
công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh, trong đó tập trung hoạt
động tư vấn tâm lý, phòng ngừa các bệnh tật học đường và sức khỏe sinh sản vị
thành niên.
2.4. Giai đoạn bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khỏe người lao động và người cao tuổi
- Mục tiêu 8: thực hiện
quản lý, chăm sóc sức khỏe liên tục, lâu dài, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người
lao động, khuyến khích lối sống, dinh dưỡng lành mạnh nơi làm việc; phòng, chống
bệnh tật, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
- Mục tiêu 9: chăm sóc, nâng
cao sức khỏe người cao tuổi toàn diện (người từ 60 tuổi trở lên) bảo đảm thích ứng
với già hóa dân số, góp phần thực hiện thành công kế hoạch hành động thực hiện
Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Các chỉ tiêu cụ thể (theo
Phụ lục 1)
III. NỘI
DUNG THỰC HIỆN
1. Tư vấn
và khám sức khỏe trước khi kết hôn
Tư vấn và khám sức khỏe trước
khi kết hôn là một vấn đề mới trong quan niệm của người dân nhưng bước đầu đã
nhận được sự đồng tình hưởng ứng thực hiện. Với việc xác định ý nghĩa, lợi ích
của việc tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn sẽ góp phần chuẩn bị tâm,
sinh lý để xây dựng một gia đình hạnh phúc cả về thể chất lẫn tinh thần, góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, trong đó tập trung các nội dung sau:
- Xây dựng quy trình chuyên môn
kỹ thuật, danh mục chung thống nhất cho tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của
Thành phố khi tham gia cung cấp dịch vụ khám sức khỏe trước khi kết hôn dành
cho cả nam và nữ; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
khi cung cấp dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, mẫu phiếu khám và
thực hiện kiểm tra, giám sát đánh giá chất lượng dịch vụ định kỳ.
- Phát triển mạng lưới cung cấp
dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn: tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh trên địa bàn Thành phố bao gồm công lập và ngoài công lập tuyến Thành phố
và quận, huyện đều có thể tham gia tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn khi
đủ điều kiện cung cấp dịch vụ. Chú trọng phát triển cung cấp dịch vụ khám nam
khoa tại bệnh viện tuyến Thành phố và quận, huyện. Đảm bảo tuân thủ quy trình
tiêu chuẩn tư vấn và cung cấp các dịch vụ khám sức khỏe trước khi kết hôn theo
hướng dẫn của Bộ Y tế.
- Tăng cường công tác truyền
thông - giáo dục, tư vấn lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thân
thiện với trẻ vị thành niên và thanh niên. Xây dựng và áp dụng các mô hình truyền
thông mới, xã hội hóa công tác dân số trong triển khai thực hiện chương trình
tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, hỗ trợ bà mẹ trong quá trình mang thai
và nuôi con.
- Nghiên cứu, ban hành hoặc đề
xuất cấp có thẩm quyền ban hành chính sách hỗ trợ chi phí gói tư vấn, khám sức
khỏe trước khi kết hôn cho các cặp nam, nữ chuẩn bị kết hôn, hỗ trợ tiêm vắc
xin phòng bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước và trong khi mang thai.
- Triển khai các giải pháp hỗ
trợ tư vấn, điều trị sau khám sức khỏe trước khi kết hôn.
Nghị quyết dự định trình là:
Chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe cho các cặp nam nữ trước khi kết
hôn và tiêm vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước khi mang thai trên
địa bàn Thành phố từ năm 2025.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Trường
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Sở Tài chính, Ủy ban nhân dân phường, xã và các
tổ chức, đơn vị có liên quan.
2. Triển
khai các giải pháp làm tăng tổng tỷ suất sinh
Thành phố Hồ Chí Minh đang ở
trong nhóm 21 tỉnh thành có tổng tỷ suất sinh thấp nhất cả nước. Trên cơ sở đó,
Thành phố Hồ Chí Minh cần đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về dân số để có những
giải pháp giải quyết tình trạng mức sinh thấp.
Nghiên cứu, ban hành hoặc đề xuất
cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng
sinh đủ hai con trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về
lao động, việc làm, nhà ở; phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế… có liên quan đến việc
sinh ít con, cụ thể như sau:
- Hỗ trợ phụ nữ khi mang thai,
sinh con: hỗ trợ chi phí cho phụ nữ mang thai khi tham gia chương trình sàng lọc
trước sinh, sàng lọc sơ sinh và hỗ trợ toàn bộ kinh phí đồng chi trả (sau khi
đã trừ chi phí được bảo hiểm y tế thanh toán) khi khám thai định kỳ và sinh
con.
- Chú trọng quy hoạch, xây dựng
các điểm trông, giữ trẻ, nhà mẫu giáo phù hợp với điều kiện của bà mẹ, nhất là
các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị. Thí điểm các dịch vụ thân thiện
với người lao động như điều chỉnh thời gian trông trẻ, hỗ trợ chi phí học bán
trú ở cấp mầm non và tiểu học, nhân rộng phòng vắt và trữ sữa mẹ tại nơi làm việc,
sử dụng hiệu quả nguồn sữa từ ngân hàng sữa mẹ…
- Ban hành các văn bản (trên cơ
sở khảo sát, đánh giá hiện trạng và xu hướng mức sinh của từng quận, huyện) để
lãnh đạo, chỉ đạo tập trung giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Các chỉ tiêu
phấn đấu về tăng mức sinh phải được lồng ghép vào việc hoạch định cụ thể trong
kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của Thành phố, của từng ngành, từng
địa phương.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động
thay đổi hành vi, tổ chức các sự kiện truyền thông, tuyên truyền thực hiện các
mục tiêu về tăng mức sinh của Thành phố. Tăng cường phối hợp liên ngành, phát
huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội
- nghề nghiệp và của cả cộng đồng trong việc chung tay giải quyết tình trạng mức
sinh thấp.
Rà soát các quy định về việc đề
cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện sinh đủ
hai con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.
Đảm bảo cung cấp đầy đủ các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ trẻ em tới mọi người dân. Tăng cường
quản lý nhà nước đối với việc cung cấp các dịch vụ phá thai, cơ bản loại trừ
phá thai không an toàn. Có cơ chế chính sách hỗ trợ điều trị vô sinh cho người
thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn.
Thí điểm cung cấp dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, hỗ trợ bà mẹ trong quá trình mang
thai và nuôi con bằng hình thức trực tuyến qua mạng xã hội, kết nối công nghệ
thông tin để nâng cao cơ hội tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ này.
Xây dựng và triển khai các loại
hình phòng, tránh vô sinh từ tuổi vị thành niên thông qua các chương trình giáo
dục, can thiệp tại cộng đồng. Có cơ chế chính sách hỗ trợ điều trị vô sinh cho
người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Các Sở,
ngành, tổ chức, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân phường, xã.
3. Tăng
cường chăm sóc và quản lý thai kỳ
Chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang
thai luôn được đặt ở vị trí ưu tiên trong các chiến lược chăm sóc sức khỏe cho
toàn dân. Các can thiệp về chăm sóc sức khỏe phụ nữ đã được bao phủ ở các tỉnh
thành trong cả nước. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ đẻ nhận được ít nhất
04 lần khám thai trong suốt thai kỳ giai đoạn năm 2019-2024 dao động từ 87,9% -
90,6%, cao hơn so với chỉ tiêu toàn quốc đến năm 2025 là 85%. Trong giai đoạn
2025-2030, Thành phố tập trung các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số,
giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh:
3.1. Tăng cường công tác
quản lý sức khỏe thai kỳ, theo dõi sát thai kỳ nguy cơ
Tăng cường công tác thông tin,
truyền thông và vận động về lợi ích của việc khám thai định kỳ. Củng cố và phát
triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn Thành phố nhằm đảm bảo
tất cả phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 04 lần/thai kỳ theo quy định và
được tầm soát các bệnh truyền nhiễm lây truyền từ mẹ sang con trong thai kỳ,
phát hiện kịp thời thai kỳ nguy cơ cao, dị tật bẩm sinh. Kết nối thông tin giữa
các bệnh viện và tuyến y tế cơ sở để theo dõi sát thai phụ nhằm giảm tỷ lệ tử
vong mẹ và trẻ sơ sinh.
Đảm bảo phá thai an toàn, ưu
tiên chọn phương pháp phá thai nội khoa đối với những trường hợp có thai ngoài
ý muốn.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Sở Văn
hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
3.2. Chăm sóc dinh dưỡng
cho phụ nữ mang thai
Sàng lọc, đánh giá tình trạng
dinh dưỡng và tư vấn can thiệp độ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng dinh dưỡng
và bệnh lý của phụ nữ mang thai.
Tăng cường công tác thông tin,
truyền thông và chăm sóc dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và đảm bảo dinh dưỡng
nuôi con bằng sữa mẹ.
Củng cố và phát triển đội ngũ
cán bộ làm công tác dinh dưỡng tại cộng đồng và bệnh viện đảm bảo tính bền vững,
kiến thức chuyên ngành.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Văn
hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
3.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu
sức khỏe của phụ nữ mang thai
Số hóa hoạt động quản lý thai kỳ,
thu thập dữ liệu quản lý thai kỳ tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Số liệu sẽ
được chuẩn hóa thông qua việc xây dựng sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em điện
tử để số hóa, quản lý các dữ liệu về chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai, trẻ
em. Triển khai phần mềm, theo dõi, đánh giá phần mềm tại tất cả các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám thai và sinh đẻ.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Sở Văn
hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
4. Tầm
soát, chẩn đoán, can thiệp bào thai, điều trị một số bệnh, tật trước sinh
Trong giai đoạn hiện nay, cùng
bắt nhịp với những tiến bộ trong chẩn đoán trước sinh và can thiệp bào thai tại
các đơn vị tiền sản trong nước đã giúp cải thiện rõ rệt kết cục thai kỳ, tránh
được những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, tàn tật trong cộng đồng, việc
thực hiện và phát triển về xét nghiệm sàng lọc, đội ngũ tư vấn tiền sản và thực
hiện các thủ thuật chẩn đoán, phẫu thuật can thiệp bào thai là vô cùng cần thiết.
Từ những cơ sở dữ liệu trên cho thấy, y học chẩn đoán và can thiệp bào thai đã
vươn lên một tầm cao mới, nhưng vẫn rất cần sự hỗ trợ từ đa chuyên khoa, nhất
là can thiệp chuyên khoa Nhi, cần duy trì và phát triển hoạt động phối hợp
chuyên khoa Sản, Nhi trong hội chẩn liên viện.
4.1. Phát triển mạng lưới
chẩn đoán trước sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đảm bảo tất cả phụ nữ mang thai
được khám thai, tầm soát các bệnh di truyền di tật ngay trong giai đoạn bào
thai tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, giảm thiểu số người
tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng. Tất cả các bệnh viện, trung tâm y
tế có khoa sản/phòng khám phụ sản thực hiện tư vấn, xét nghiệm sàng lọc trước
sinh.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Ủy ban
nhân dân phường, xã.
4.2. Hình thành “Trung
tâm can thiệp bào thai” tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đảm bảo can thiệp các dị tật
trong giai đoạn bào thai có thể can thiệp để giảm tỷ lệ tử vong bào thai và
nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ sơ sinh sau này. Biên soạn quy trình kỹ
thuật can thiệp bào thai phối hợp liên chuyên khoa. Xây dựng cơ sở vật chất,
trang bị thiết bị hiện đại, đào tạo ê kíp thực hiện kỹ thuật can thiệp bào thai
tại Thành phố Hồ Chí Minh từ các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản và bệnh viện
chuyên khoa Nhi.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Ủy ban
nhân dân phường, xã.
5. Đẩy mạnh
hoạt động sàng lọc sơ sinh, can thiệp, điều trị và phục hồi chức năng các bệnh,
tật
Đẩy mạnh hoạt động sàng lọc sơ
sinh, can thiệp, điều trị và phục hồi chức năng các bệnh lý bẩm sinh và di truyền
là một giải pháp y tế thiết yếu nhằm nâng cao chất lượng dân số, giảm thiểu tỷ
lệ bệnh tật, tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Sàng lọc sơ sinh đóng vai trò
quan trọng trong việc phát hiện sớm các bệnh lý bẩm sinh và bất thường di truyền
ngay từ những ngày đầu đời của trẻ. Đây cũng là cơ sở để triển khai các chương
trình can thiệp cộng đồng một cách hiệu quả, từng bước giảm tỷ lệ trẻ mắc các bệnh
lý bẩm sinh và bất thường di truyền trong dân số, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống đồng thời giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
5.1. Xây dựng mạng lưới
sàng lọc sơ sinh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa Phụ Sản ở
Thành phố Hồ Chí Minh
Đảm bảo tất cả các trẻ sơ sinh
được xét nghiệm tầm soát các rối loạn bẩm sinh có thể phát hiện được ngay sau
sinh (thiếu men G6PD, suy giáp bẩm sinh, tăng sinh tuyến thượng thận bẩm sinh,
khiếm thính và tim bẩm sinh). Việc sàng lọc sẽ được chuẩn hóa tại tất cả các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh; chuẩn hóa quy trình xét nghiệm sàng lọc sau sinh dựa
trên hướng dẫn của Cục Dân số. Xây dựng mạng lưới sàng lọc sơ sinh tại các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có thực hiện đỡ sinh. Nâng cao năng lực chuyên môn về công
tác sàng lọc sơ sinh cho mạng lưới trên địa bàn.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Ủy ban
nhân dân phường, xã.
5.2. Phối hợp Sản-Nhi
trong chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng bệnh lý sơ sinh
Củng cố và phát triển đơn
nguyên, khoa Sơ sinh, Hồi sức sơ sinh tại các bệnh viện có chuyên khoa Phụ Sản,
Nhi. Đảm bảo tất cả các trẻ sơ sinh có kết quả xét nghiệm tầm soát các rối loạn
bẩm sinh bất thường được chẩn đoán và điều trị ngay. Thành lập Tổ chuyên gia
xây dựng quy trình chẩn đoán và xử trí các bất thường sàng lọc sơ sinh. Xây dựng
hoàn thiện và triển khai quy trình phối hợp liên chuyên khoa chẩn đoán và xử
trí các bất thường sàng lọc sơ sinh. Tăng cường phối hợp Sản-Nhi trong phát hiện,
quản lý, điều trị và chăm sóc toàn diện trẻ sinh non hoặc trẻ mắc các bệnh lý
liên quan đến sinh non. Đồng thời phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ phát hiện,
điều trị, trị liệu và phục hồi chức năng cho trẻ sơ sinh theo quy định của pháp
luật, triển khai phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Ủy ban
nhân dân phường, xã.
6. Chăm sóc
sức khỏe toàn diện trẻ em 05 năm đầu đời
Phát triển trẻ toàn diện là kết
quả tổng hòa của nhiều can thiệp về xã hội, y tế và giáo dục, chăm sóc và bảo vệ
trẻ em, hướng tới sự phát triển sớm và toàn diện của trẻ em. Can thiệp y tế đối
với sự phát triển toàn diện của trẻ em trong dự án này bao gồm: (1) Khám sức khỏe
định kỳ theo lứa tuổi để phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh lý; (2) Khám,
tư vấn và thực hiện tiêm chủng đầy đủ; (3) Đánh giá và tư vấn dinh dưỡng; (4) Tầm
soát, phát hiện sớm và điều trị kịp thời trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ, chậm phát
triển tâm thần vận động; (5) Hướng dẫn cha mẹ cách tương tác với trẻ trong giai
đoạn phát triển sớm và hỗ trợ trị liệu các trẻ gặp khó khăn về phát triển, nhằm
giúp trẻ được phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và vận động để phát
huy được tối đa tiềm năng trong tương lai. Các hoạt động được triển khai như
sau:
6.1. Khám sức khỏe định kỳ
theo lứa tuổi
Nhằm phát hiện sớm và điều trị
kịp thời bệnh lý hoặc những dấu hiệu bất thường, trẻ em được khám sức khỏe toàn
diện ít nhất mỗi năm một lần. Việc khám sức khỏe định kỳ sẽ được tổ chức tại
các trạm y tế phường, xã, trung tâm y tế quận, huyện, bệnh viện đa khoa, bệnh
viện chuyên khoa Nhi hoặc tại cơ sở giáo dục (nếu trẻ đi học). Hoạt động này có
thể lồng ghép vào công tác tiêm chủng mở rộng được tổ chức định kỳ tại tuyến y
tế cơ sở hoặc khám sức khỏe tại các cơ sở giáo dục mầm non.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở
Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
6.2. Khám, tư vấn và thực
hiện tiêm chủng
Khám, tư vấn và thực hiện tiêm
chủng đã được triển khai thường quy tại các cơ sở y tế công lập và tư nhân. Để
duy trì và tăng tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các vắc xin trong chương trình tiêm chủng
mở rộng cần đảm bảo cung ứng đầy đủ vắc xin. Bên cạnh việc tiêm chủng cho trẻ
khỏe mạnh cần tăng cường khám sàng lọc và thực hiện tiêm chủng vào thời điểm
thích hợp cho trẻ đang điều trị tại bệnh viện, trẻ nguy cơ, trẻ có bệnh nền hoặc
bệnh bẩm sinh.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp:Ủy ban
nhân dân phường, xã.
6.3. Tổ chức triển khai
hiệu quả các can thiệp dinh dưỡng
Đánh giá sự tăng trưởng về thể
chất và can thiệp dinh dưỡng: sàng lọc, theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dưỡng
cho trẻ em tại cộng đồng, trường học và bệnh viện. Tổ chức tư vấn chế độ dinh
dưỡng phù hợp cho từng đối tượng.
Cải thiện chất lượng bữa ăn, đảm
bảo thực phẩm đa dạng, lành mạnh: Phổ biến các nhu cầu dinh dưỡng, khuyến nghị,
thực đơn và khẩu phần, chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực phù hợp cho mọi lứa
tuổi và thể trạng.
Tổ chức thực hiện các hoạt động
khám, tư vấn và điều trị bằng chế độ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng dinh dưỡng
và bệnh lý cho trẻ đến khám và điều trị tại bệnh viện.
Quản lý và điều trị suy dinh dưỡng
cấp tính nặng; phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng; cung ứng các dịch vụ tư vấn,
phục hồi dinh dưỡng, phòng chống thừa cân béo phì.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở
Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
6.4. Tầm soát, phát hiện
sớm và điều trị kịp thời trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ, chậm phát triển tâm thần vận
động
Trẻ em cần được đánh giá phát
triển tâm thần vận động nhằm phát hiện sớm và hỗ trợ trị liệu kịp thời cho các
trẻ gặp khó khăn trong quá trình phát triển, đặc biệt như chậm phát triển tâm
thần vận động và rối loạn phổ tự kỷ, giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất
và tinh thần. Công việc này sẽ được thực hiện tại tất cả các tuyến y tế, các
phòng khám tiêm chủng và trẻ em lành mạnh, kể cả hệ thống phòng khám tư nhân,
có thể lồng ghép vào khám sức khỏe định kỳ và tiêm chủng. Những trường hợp có
chỉ định can thiệp cần được chuyển đến các cơ sở phục hồi chức năng phù hợp.
Đây là công việc mới đối với hầu hết nhân viên y tế tuyến cơ sở, vì vậy họ cần
được huấn luyện, đào tạo trước khi triển khai.
Phát triển mạng lưới cung cấp dịch
vụ phát hiện sớm, điều trị, trị liệu và phục hồi chức năng đối với trẻ em tự kỷ
và người bị rối nhiễu tâm trí theo quy định của pháp luật.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Giáo
dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
6.5. Hướng dẫn cha mẹ
cách tương tác với trẻ
Sự tương tác giữa trẻ và người
chăm sóc có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện về thể chất
và tinh thần của trẻ, đặc biệt là khả năng ngôn ngữ và học tập. Thực tế cho thấy
nhiều trẻ bị chậm phát triển ngôn ngữ do thiếu tương tác với cha mẹ hoặc các
người thân khác trong gia đình và những người xung quanh. Hướng dẫn cha mẹ cách
tương tác với trẻ được thực hiện bởi nhân viên y tế tuyến y tế cơ sở, các phòng
khám ngoại trú của trung tâm y tế, bệnh viện quận, huyện và các phòng khám tiêm
chủng trẻ em lành mạnh của các bệnh viện chuyên khoa Nhi. Ngoài ra, hoạt động
này còn được triển khai bởi nhân viên sức khỏe cộng đồng và cô giáo mầm non,
nhà trẻ. Đây là hoạt động mới nên tất cả các đối tượng trên cần được huấn luyện,
đào tạo.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở
Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7. Tăng cường
công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh
7.1. Chuẩn hóa mạng lưới
nhân viên y tế trường học
Phấn đấu đảm bảo tất cả các cơ
sở giáo dục có nhân viên y tế trường học chuyên trách, trình độ chuyên môn phù
hợp. Nhân viên y tế trường học phải được thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên
môn y tế thông qua các hình thức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên
môn do ngành Y tế, ngành Giáo dục tổ chức để triển khai được các nhiệm vụ quy định.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao năng lực chuyên môn cho cán bộ, nhân viên làm công tác y tế trường học theo
quy định.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo
dục và Đào tạo.
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế,
các trường đại học thuộc khối ngành sức khỏe.
7.2. Tăng cường công tác
truyền thông giáo dục sức khỏe
Xây dựng đội ngũ truyền thông
có chuyên môn hỗ trợ các cơ sở giáo dục trong các hoạt động truyền thông trực
tiếp; Phối hợp tập huấn về chuyên môn khi có yêu cầu.
Tổ chức truyền thông, giáo dục
sức khỏe cho học sinh và cha mẹ hoặc người giám hộ với các chuyên đề phù hợp
theo lứa tuổi trên cơ sở định hướng của ngành y tế qua đó xây dựng hành vi có lợi
cho sức khỏe của thế hệ tương lai.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo
dục và Đào tạo
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế,
Sở Văn hóa và Thể thao, các cơ quan báo đài, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.3.Tăng cường công tác
quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh
Xây dựng, hướng dẫn nội dung tập
huấn về chuyên môn như khám, tầm soát sức khỏe học sinh, đánh giá tình trạng
dinh dưỡng, xây dựng thực đơn đáp ứng nhu cầu khuyến nghị của Bộ Y tế; tổ chức
tập huấn về hướng dẫn hoạt động khám, tầm soát sức khỏe học sinh cho nhân viên
y tế của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và nhân viên y tế trường học của các cơ
sở giáo dục.
Thực hiện chuyển đổi số dữ liệu
sức khỏe của học sinh, theo dõi, quản lý theo dõi kết quả sức khỏe học sinh
trên phần mềm để kịp thời phát hiện và xử lý các tình huống sức khỏe khẩn cấp của
học sinh; đồng thời xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp.
Triển khai hiệu quả chương
trình nha học đường, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu
học nhằm hạn chế thấp nhất các bệnh lý về răng miệng, đặc biệt là tình trạng
sâu răng, mất răng ở trẻ em.
Triển khai tổ chức các đợt tiêm
chủng tại cơ sở giáo dục nhằm tăng tỷ lệ bao phủ các vắc xin cho trẻ để chủ động
phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm. Triển khai tiêm vắc xin HPV cho trẻ em gái từ
11 tuổi đến 18 tuổi bằng nguồn vắc xin của Bộ Y tế (nếu có) hoặc nguồn ngân
sách của Thành phố.
Nghị quyết dự kiến sẽ trình là:
- Chính sách đặc thù hỗ trợ
kinh phí khám sức khỏe cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học (bao gồm điều trị dự
phòng răng miệng), trung học cơ sở, trung học phổ thông công lập, ngoài công lập
và học giáo dục thường xuyên (cấp trung học phổ thông) trên địa bàn Thành phố từ
năm học 2025-2026.
- Xây dựng giá gói khám sức khỏe
cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông công lập,
ngoài công lập và học giáo dục thường xuyên (cấp trung học phổ thông) trên địa
bàn Thành phố
- Xây dựng giá gói dịch vụ chăm
sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học trên địa bàn Thành phố.
- Chính sách đặc thù hỗ trợ
kinh phí tiêm vắc xin phòng các bệnh do HPV cho trẻ từ 11 tuổi đến 18 tuổi trên
địa bàn Thành phố (Bộ Y tế đang đề xuất triển khai thực hiện từ năm 2026. Do
đó, nếu đến năm 2026 Bộ Y tế chưa có Kế hoạch triển khai thì Sở Y tế sẽ trình
Nghị quyết).[1]
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở
Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.4. Triển khai công tác
chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện
Tổ chức các phòng tư vấn tâm lý
tại các cơ sở giáo dục phù hợp với chiến lược y tế trong công tác chăm sóc sức
khỏe tâm thần cho người dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ chức sàng lọc về sức khỏe
tâm thần cho tất cả học sinh trong các đợt khám sức khỏe đầu năm học. Tập huấn
cho nhân viên phụ trách công tác y tế trường học về kiến thức, kỹ năng, hướng dẫn
các phương pháp nhận biết và kỹ thuật can thiệp cơ bản đối với trẻ em tự kỷ, thực
hiện chuyển gửi đến các bệnh viện chuyên khoa để được chẩn đoán xác định và điều
trị.
Phát triển hệ thống dịch vụ và
mô hình giáo dục trẻ em tự kỷ, phù hợp với nhu cầu đa dạng của trẻ em tự kỷ và
người chưa thành niên rối nhiễu tâm trí: Phát hiện sớm, can thiệp sớm, giáo dục
hòa nhập, giáo dục chuyên biệt, giáo dục trẻ em tự kỷ và người chưa thành niên
rối nhiễu tâm trí tại cơ sở trợ giúp xã hội, gia đình và cộng đồng, giáo dục từ
xa.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo
dục và Đào tạo.
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế,
Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.5. Đảm bảo điều kiện cải
thiện vệ sinh phòng học, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, dinh dưỡng học
đường, phòng ngừa bệnh
Cơ sở giáo dục có đủ nhà vệ
sinh cho học sinh theo quy định và đảm bảo điều kiện hợp vệ sinh, cung cấp đủ
nước uống và nước sạch cho sinh hoạt, hoạt động trong trường học đảm bảo chất
lượng theo quy định. Phòng học đạt yêu cầu về chiếu sáng, đủ cỡ bàn ghế theo
nhóm chiều cao học sinh.
Tổ chức bữa ăn học đường đảm bảo
các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm; dinh dưỡng hợp lý theo lứa tuổi và
đa dạng thực phẩm (đối với các trường học có tổ chức bữa ăn học đường);
Triển khai các biện pháp phòng
chống dịch bệnh trong trường học như vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường học tập,
cung cấp thông tin và tài liệu hướng dẫn về cách phòng ngừa và nhận biết các triệu
chứng dịch bệnh, cách xử lý khi bị bệnh.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo
dục và Đào tạo
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế,
Sở An toàn thực phẩm, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.6. Đẩy mạnh truyền
thông, tư vấn và tăng cường cung cấp dịch vụ chuyên môn kỹ thuật chăm sóc sức
khỏe sinh sản
Tăng cường truyền thông, tư vấn
và giáo dục sức khỏe: đặc biệt chú trọng đến sức khỏe tình dục trẻ vị thành
niên như phổ biến các biện pháp tránh thai và phòng bệnh lây truyền qua đường
tình dục; cung cấp thông tin và khuyến khích tiêm ngừa phòng các bệnh ung thư
nguy hiểm do vi rút HPV cho cả trẻ em, thanh thiếu niên nam và nữ; mở rộng và
tăng cường áp dụng các cách tiếp cận mới trong cung cấp thông tin và dịch vụ
chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản cho vị thành niên; xây dựng góc tư vấn về
sức khỏe, sức khỏe sinh sản với nội dung phù hợp với từng bậc học, trong nhà
trường; lồng ghép các nội dung chăm sóc sức khỏe/sức khỏe sinh sản trong các hoạt
động sinh hoạt tập thể, các cuộc thi trong nhà trường.
Triển khai các hoạt động truyền
thông, tư vấn và tăng cường cung cấp dịch vụ chuyên môn kỹ thuật chăm sóc sức
khỏe sinh sản bằng nhiều hình thức trực tiếp như tập huấn, nói chuyện chuyên đề…
hoặc gián tiếp như tin bài đăng webiste, trang fanpage, kênh yotube…
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo
dục và Đào tạo
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế,
Ủy ban nhân dân phường, xã.
8. Chăm sóc
và nâng cao sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp
8.1. Triển khai có hiệu
quả công tác chăm sóc sức khỏe và bệnh nghề nghiệp, sơ cấp cứu cho người lao động
tại nơi làm việc
Triển khai các biện pháp phòng,
chống một số bệnh nghề nghiệp phổ biến, thường gặp tại một số ngành nghề có
nguy cơ cao về bệnh nghề nghiệp như: bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp trong ngành y
tế, bệnh điếc nghề nghiệp tại các ngành cơ khí, nhà máy sản xuất... có tiếng ồn
vượt mức cho phép, bụi phổi nghề nghiệp. Giảm thiểu tiếp xúc với yếu tố có hại
tại các cơ sở lao động có nguy cơ.
Tổ chức khám sức khỏe định kỳ,
khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động đúng quy định tại các cơ sở
lao động có nguy cơ cao gây bệnh nghề nghiệp. Lập hồ sơ quản lý sức khỏe định kỳ,
hồ sơ khám bệnh nghề nghiệp tại đơn vị đúng theo quy định. Thực hiện hiệu quả
phòng chống các bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm phổ biến (ung thư,
tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn, hen phế quản...) tại nơi làm việc,
đặc biệt là các doanh nghiệp trong Khu chế xuất - Khu công nghiệp, Khu công nghệ
cao.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài
chính, Sở Văn hóa và Thể thao; Bảo hiểm xã hội Thành phố, Ban quản lý KCX-KCN,
Ban quản lý Khu công nghệ cao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
8.2. Đẩy mạnh công tác
quan trắc môi trường lao động tại nơi làm việc
Xây dựng dữ liệu quan trắc môi
trường lao động, bệnh nghề nghiệp. Đầu tư, trang bị thiết bị phục vụ nâng cao
năng lực và hiệu quả công tác kiểm tra quan trắc môi trường lao động, nâng cao
năng lực hệ thống cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn, vệ
sinh lao động. Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị quan trắc môi trường
lao động theo quy chuẩn quốc gia và các quy định của nhà nước phù hợp với quy
mô và nhu cầu phát triển của các đơn vị, doanh nghiệp trong giai đoạn
2025-2030.
Thực hiện giám sát môi trường
lao động của các ngành nghề nguy cơ cao, kịp thời phát hiện các nguy cơ, tác hại
nghề nghiệp đề xuất biện pháp cải thiện phù hợp. Tiếp tục xây dựng dữ liệu chỉ
số quan trắc môi trường lao động, bệnh nghề nghiệp.
Hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật,
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc môi trường lao động, đảm bảo
chất lượng trong quá trình quan trắc môi trường lao động tại nơi làm việc.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài
chính, Sở Văn hóa và Thể thao; Bảo hiểm xã hội Thành phố, Ban quản lý KCX-KCN,
Ban quản lý Khu công nghệ cao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
8.3. Truyền thông, giáo dục,
huấn luyện, tư vấn về công tác an toàn, vệ sinh lao động
Xây dựng tài liệu truyền thông
về các chủ đề chăm sóc sức khỏe người lao động và tổ chức thực hiện truyền
thông đến doanh nghiệp, người lao động bằng nhiều hình thức (Ngày hội tại khu
chế xuất, khu công nghiệp; các lớp truyền thông trực tiếp; tin, bài, tranh ảnh,
poster, clip… trên website, youtube).
Tăng cường hoạt động tập huấn,
truyền thông nâng cao kiến thức về phòng chống bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức
khỏe người lao động cho cán bộ quản lý các cấp, cán bộ an toàn vệ sinh lao động,
cán bộ y tế cơ quan, người sử dụng lao động, người lao động.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài
chính, Sở Văn hóa và Thể thao; Bảo hiểm xã hội Thành phố, Ban quản lý KCX-KCN, Ban
quản lý Khu công nghệ cao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
9. Chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục
nâng cao nhận thức của người dân, cơ quan, tổ chức và gia đình về trách nhiệm
kính trọng, giúp đỡ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; nghĩa vụ,
trách nhiệm phụng dưỡng người cao tuổi của gia đình có người cao tuổi; trách
nhiệm thực hiện tốt và tích cực tham gia giám sát việc thực hiện chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi; ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân
trong việc chủ động tự lo cho tuổi già từ khi còn trẻ.
Triển khai hiệu quả hoạt động
khám sức khỏe, phát hiện, can thiệp sớm bệnh không lây nhiễm ở người cao tuổi tại
các địa phương. Củng cố, nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở trong việc
thực hiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh và chăm sóc
y tế cho người cao tuổi theo định hướng ưu tiên, thuận tiện, sẵn có và dễ tiếp
cận.
Huy động nguồn lực xã hội hóa để
phát triển cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập đáp ứng
điều kiện tiêu chuẩn về hoạt động cơ sở trợ giúp xã hội và nhu cầu của người
cao tuổi trong tình hình mới. Định hướng hành vi sinh hoạt, lối sống và chăm
sóc sức khỏe tại gia đình và cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng sống và gia
tăng tuổi thọ dân số.
Xây dựng, phát triển mạng lưới
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng. Hình thành mạng lưới tình
nguyện viên, cộng tác viên tham gia hoạt động theo dõi, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe,
quản lý các bệnh mạn tính, bệnh không lây nhiễm của người cao tuổi tại gia đình
và cộng đồng.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài
chính, Sở Văn hóa và Thể thao, Bảo hiểm xã hội Thành phố, Hội Người cao tuổi
Thành phố, Ủy ban nhân dân phường, xã.
IV. KINH
PHÍ THỰC HIỆN: Nguồn ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện
hành, kinh phí của chương trình, dự án liên quan, nguồn xã hội hóa và các nguồn
kinh phí hợp pháp khác theo quy định.
Phần III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Y tế
Chủ trì, phối hợp với các sở,
ngành, các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành các
chế độ, chính sách để triển khai thực hiện Đề án theo quy định.
Chủ trì, phối hợp với các sở,
ngành, tổ chức, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân các phường, xã để chỉ đạo,
tổ chức triển khai, điều phối thực hiện các nhóm giải pháp chính đã nêu trong Đề
án trên phạm vi toàn Thành phố, đảm bảo gắn kết, lồng ghép chặt chẽ với các đề
án, kế hoạch khác có liên quan.
Chủ trì, phối hợp với các sở,
ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc
ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực xã hội,
kêu gọi sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế nhằm triển khai, thực hiện
Đề án.
Xây dựng Kế hoạch triển khai thực
hiện Đề án theo lộ trình cụ thể, trình Ủy ban nhân dân Thành phố. Rà soát, đánh
giá hiệu quả để tiếp tục triển khai hoặc đề xuất thay thế mục tiêu, các nhóm giải
pháp của Thành phố nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong từng giai đoạn.
Hàng năm, hướng dẫn triển khai
Đề án đối với các đơn vị chức năng có liên quan, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra -
giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện và định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân Thành
phố. Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, chủ nhiệm các chương trình sức khỏe xây dựng
kế hoạch thực hiện theo từng lĩnh vực phụ trách theo nội dung Đề án.
Xây dựng dự toán hằng năm về
các lĩnh vực liên quan đến Đề án để kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố
hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách và nguồn xã hội hóa.
2. Sở
Giáo dục và Đào tạo
Chủ trì, phối hợp ngành y tế và
các đơn vị có liên quan triển khai công tác y tế trường học, thực hiện hoạt động
quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh; vệ sinh trường học; bảo đảm dinh
dưỡng hợp lý, phòng, chống bệnh, tật học đường; an toàn thực phẩm; hoạt động
truyền thông, giáo dục sức khỏe; chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đào tạo phối hợp
với các cơ sở y tế có liên quan thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục, phục hồi
khả năng học tập và học nghề cho học sinh, sinh viên, học viên bị tự kỷ, rối
nhiễu tâm trí và mắc bệnh tâm thần.
Phối hợp Sở Y tế thực hiện chuyển
đổi số dữ liệu sức khỏe của học sinh, theo dõi, quản lý theo dõi kết quả sức khỏe
học sinh trên phần mềm do Sở Y tế xây dựng để kịp thời phát hiện và xử lý các
tình huống sức khỏe khẩn cấp của học sinh; đồng thời xây dựng kế hoạch can thiệp
phù hợp.
3. Sở Tài
chính: phối hợp Sở Y tế, Ủy ban nhân dân phường, xã, các cơ
quan, đơn vị liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố đảm bảo nguồn kinh
phí thực hiện theo quy định.
4. Sở Nội
vụ: trên cơ sở đề nghị của Sở Y tế, phối hợp đề xuất các chính
sách, thực hiện công tác thi đua - khen thưởng nhằm động viên kịp thời các tập
thể, cá nhân, cộng đồng thực hiện tốt công tác bảo vệ sức khỏe người dân; đề xuất
các chính sách về tổ chức bộ máy và chế độ thù lao đối với cán bộ làm công tác
dân số ở cơ sở; vận động các chức sắc tôn giáo, những người có uy tín trong cộng
đồng tham gia hỗ trợ chuyển tải các thông tin về dân số nhằm nâng cao hiệu quả
tuyên truyền cho người dân.
5. Sở Văn
hóa và Thể thao
Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế chỉ
đạo các cơ quan báo, đài Thành phố và hệ thống thông tin cơ sở đẩy mạnh tuyên
truyền, nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của toàn xã hội và người dân
Thành phố trong hoạt động nâng cao sức khỏe người dân.
Đưa các nội dung chính sách dân
số lồng ghép tuyên truyền ở cơ sở để thực hiện chủ trương gia đình có đủ hai
con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc; lồng ghép các nội
dung khuyến sinh vào sinh hoạt cộng đồng dân cư, các tiêu chuẩn văn hóa trong
thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” bao gồm danh
hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu phố văn hóa, ấp văn hóa”, “Xã văn hóa nông thôn mới”,
“Xã văn hóa - văn minh đô thị”.
6. Sở An
toàn thực phẩm
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào
tạo triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm trong trường học. Đồng
thời, phối hợp tổ chức các chương trình đào tạo, tuyên truyền về an toàn thực
phẩm cho cán bộ quản lý, nhân viên bếp ăn và học sinh.
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm
tra, hậu kiểm, giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm, nhằm phát hiện, ngăn chặn
và xử lý kịp thời các sản phẩm không đảm bảo an toàn ảnh hưởng sức khỏe người
tiêu dùng. Thực hiện công tác kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm
(rượu, bia, đồ uống có cồn,…), kinh doanh dịch vụ ăn uống, cơ sở cung cấp suất
ăn công nghiệp, nhằm giảm nguy cơ, sự cố về an toàn thực phẩm, hạn chế các vụ
ngộ độc thực phẩm cho cộng đồng, xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định của
pháp luật.
7. Các
trường thuộc khối ngành Sức khỏe của Thành phố: chủ trì, phối hợp với Sở
Y tế triển khai thí điểm các chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực y tế
chất lượng cao; liên kết hợp tác với các các trường đại học Y khoa có uy tín
trên thế giới để đào tạo đội ngũ y bác sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế.
8. Bảo hiểm
xã hội Thành phố: phối hợp ngành y tế vận dụng các chính sách bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phù hợp để tạo điều kiện về nguồn lực tài chính cho
công tác chăm sóc sức khỏe toàn diện người dân trên địa bàn Thành phố; triển
khai BHYT tại các trạm y tế, các phòng khám chuyên khoa lao, HIV, sức khỏe sinh
sản của tuyến y tế cơ sở; hướng dẫn sử dụng hiệu quả quỹ BHYT trong công tác y
tế trường học; quỹ BHYT trong công tác chăm sóc sức khỏe
người lao động, người cao tuổi…
cung cấp dữ liệu về tình hình khám chữa bệnh của người dân từ hệ thống dữ liệu
BHYT lên hệ thống Hồ sơ sức khỏe điện tử VNeID.
9. Đề nghị
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh và các tổ chức Chính trị
- Xã hội: tổ chức các chiến dịch tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về
tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sức khỏe sinh sản, chăm sóc trẻ em
và trẻ vị thành niên. Tổ chức giám sát việc thực hiện các chính sách, chương
trình liên quan đến sức khỏe sinh sản, chăm sóc trẻ em và trẻ vị thành niên tại
cộng đồng.
10. Ủy ban
nhân dân các phường, xã
Căn cứ kế hoạch của Thành phố,
xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch trên địa bàn quản lý phù hợp với điều
kiện thực tiễn địa phương; bố trí ngân sách thực hiện kế hoạch; tăng cường công
tác thông tin tuyên truyền giúp người dân hiểu và thực hiện tốt các nội dung của
kế hoạch; đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành và thường xuyên kiểm tra, theo
dõi, đôn đốc thực hiện đạt các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Ủy ban nhân dân Thành phố yêu cầu
các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các phường, xã triển khai thực hiện các nội dung
theo phân công; định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện về Sở Y tế để tổng hợp,
tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo. Trong quá trình tổ chức thực hiện,
các cơ quan, đơn vị kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, điều chỉnh,
bổ sung những vấn đề mới liên quan Đề án phù hợp với tình hình thực tế của
Thành phố.
PHỤ LỤC 1
CÁC CHỈ TIÊU CỦA ĐỀ ÁN ĐẾN NĂM 2030
|
TT
|
Lĩnh vực/Chỉ tiêu
|
Thực trạng
|
Chỉ tiêu
|
Đơn vị phụ trách
|
Đơn vị phối hợp
|
|
2020
|
2021
|
2022
|
2023
|
2024
|
2025
|
2030
|
|
|
|
1.
|
Tỷ lệ cặp nam, nữ thanh niên
được tư vấn về nội dung khám sức khỏe trước khi kết hôn (%)
|
91,46
|
91,8
|
92
|
92,1
|
92
|
90
|
95
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
2.
|
Tổng tỷ suất sinh (số con/phụ
nữ)
|
1,53
|
1,48
|
1,39
|
1,32
|
1,39
|
1,4
|
1,6
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
3.
|
Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám
thai ít nhất 04 lần/thai kỳ theo quy định (tầm soát thai kỳ nguy cơ cao, phát
hiện và dự phòng tiền sản giật) (%)
|
89,32
|
88,27
|
88,02
|
89,57
|
90,6
|
90
|
95
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
4.
|
Tỷ lệ phụ nữ mang thai được
sàng lọc trước sinh (%)
|
88,57
|
85,62
|
86,3
|
86,1
|
86,4
|
85
|
90
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
5.
|
Tỷ lệ trẻ tại TP.HCM được
sàng lọc sơ sinh (%)
|
85,38
|
82,78
|
83,4
|
83,9
|
83,98
|
85
|
90
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
6.
|
Tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc
xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng theo quy định của Bộ Y tế (%)
|
97
|
82,4[2]
|
89,3[3]
|
94,7[4]
|
96,7
|
≥ 95
|
≥95
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
7.
|
Tỷ lệ trẻ sơ sinh sàng lọc
các bệnh tật để can thiệp, điều trị và phục hồi chức năng kịp thời (%)
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
> 50
|
> 80
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
8.
|
Tỷ lệ trẻ em dưới 24 tháng đang
sinh sống tại TP.HCM được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 lần trong 2 năm đầu
đời (%)
|
-
|
-
|
-
|
-
|
30
|
50
|
70
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
9.
|
Tỷ lệ học sinh được khám sức
khỏe; sàng lọc sức khỏe tâm thần và tạo lập dữ liệu đầy đủ trên hệ thống (%):
- Tỷ lệ học sinh được khám,
kiểm tra sức khỏe vào đầu mỗi năm học.
- Tỷ lệ học sinh được khám,
kiểm tra sức khỏe và tạo lập dữ liệu đầy đủ trên hệ thống
|
98.9
-
|
93,5
-
|
68
-
|
93,14
-
|
97,9
-
|
98
|
>98
|
Sở Y tế
|
Sở Giáo dục và Đào tạo Ủy ban
nhân dân phường, xã
|
|
10.
|
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp
còi của trẻ em dưới 5 tuổi (%)
|
6,5
|
Không có số liệu
|
6,6
|
6,0
|
5,8
|
< 8
|
< 7
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
11.
|
Tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì
(%)
|
|
|
|
|
|
|
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
Dưới 5 tuổi
|
12,2
|
14
|
14,6
|
11,3
|
12
|
<14
|
<14
|
|
|
|
Từ 5-18 tuổi
|
34,3
|
34,3
|
31,8
|
36,5
|
39,9
|
< 40
|
< 40
|
|
|
|
Từ 19-64 tuổi
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
< 35
|
< 35
|
|
|
|
12.
|
Tỷ lệ trường học có nhân viên
y tế chuyên trách (chuyên môn y từ y sỹ trung cấp trở lên) về công tác y tế
trường học theo quy định. (%)
|
Chưa tách ra được số chuyên trách
|
Chưa tách ra được số chuyên trách
|
Chưa tách ra được số chuyên trách
|
51
|
53
|
60
|
80
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
13.
|
Tỷ lệ các cơ sở giáo dục được
bảo đảm điều kiện làm việc tối thiểu cho công tác y tế trường học, trang thiết
bị, dụng cụ sơ cấp cứu thông thường, thuốc thiết yếu (%)
|
92,08
|
99,15
|
97,63
|
92,32
|
97,25
|
> 95
|
> 95
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Y tế và Ủy ban nhân dân
phường, xã
|
|
14.
|
Tỷ lệ trường học có tổ chức bữa
ăn học đường và căn tin trường học bảo đảm các điều kiện về vệ sinh, an toàn
thực phẩm theo quy định, xây dựng thực đơn đáp ứng nhu cầu theo khuyến nghị của
Bộ Y tế về đảm bảo dinh dưỡng hợp lý theo lứa tuổi và đa dạng thực phẩm (%)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Trường học ở khu vực nội
thành
|
|
|
|
|
|
60
|
70
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Y tế
Sở ATTP
|
|
- Trường học ở khu vực ngoại
thành
|
|
|
|
|
|
40
|
50
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Y tế
Sở ATTP
|
|
15.
|
Tuổi thọ bình quân
|
76,5
|
76,2
|
76,3
|
76,5
|
76,6
|
76,8
|
77
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
|
16.
|
Tuổi thọ khỏe mạnh
|
-
|
65,4
|
-
|
-
|
-
|
67
|
68
|
Sở Y tế
|
Ủy ban nhân dân phường, xã
|
PHỤ LỤC 2
DANH SÁCH CÁC NGHỊ QUYẾT DỰ KIẾN TRÌNH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ
|
STT
|
Tên Nghị quyết
|
Thời gian dự kiến trình
|
|
1
|
Chính sách đặc thù hỗ trợ
kinh phí khám, kiểm tra sức khỏe cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học (bao gồm
chăm sóc và điều trị dự phòng răng miệng), trung học cơ sở, trung học phổ
thông công lập, ngoài công lập và học giáo dục thường xuyên (cấp trung học phổ
thông) trên địa bàn Thành phố từ năm học 2025-2026
|
Tháng 5-6 năm 2025
|
|
2
|
Xây dựng giá gói dịch vụ
khám, kiểm tra sức khỏe học sinh (bao gồm chăm sóc, điều trị dự phòng răng miệng)
và giá gói dịch vụ khám, kiểm tra sức khỏe (không bao gồm chăm sóc, điều trị
dự phòng răng miệng) học sinh
|
|
3
|
Chính sách đặc thù hỗ trợ
kinh phí khám sức khỏe cho các cặp nam nữ trước khi kết hôn và tiêm vắc xin
phòng bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước khi mang thai trên địa bàn Thành phố
từ năm 2025.
|
Tháng 12 năm 2025
|
|
4
|
Chính sách đặc thù hỗ trợ
kinh phí tiêm vắc xin phòng các bệnh do HPV cho trẻ từ 11 tuổi đến 18 tuổi
trên địa bàn Thành phố (Bộ Y tế đang đề xuất triển khai thực hiện từ năm
2026. Do đó, nếu đến năm 2026 Bộ Y tế chưa có Kế hoạch triển khai thì Sở Y tế
sẽ trình Nghị quyết).[5]
|
Năm 2026
|
[1] Căn
cứ Khoản 2, Điều 1, Nghị Quyết 104/NQ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ
về lộ trình tăng số lượng vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng giai đoạn
2021-2030
[2] Tổ
chức tiêm bù đến tháng 12 năm 2022 đã đạt 95%
[3] Tổ
chức tiêm bù đến tháng 4 năm 2023 đã đạt 97%
[4] Tổ
chức tiêm bù đến tháng 02 năm 2024 đã đạt 95,2%
[5] Căn
cứ Khoản 2, Điều 1, Nghị Quyết 104/NQ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ
về lộ trình tăng số lượng vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng giai đoạn
2021-2030