|
VĂN PHÒNG CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 510/TB-VPCP
|
Hà Nội, ngày 01
tháng 10 năm 2026
|
THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO TRUNG
ƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI
PHIÊN HỌP CHUYÊN ĐỀ VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
ĐÓNG GÓP CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUÝ III
NĂM 2026
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại
Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung
ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban
Chỉ đạo) chủ trì Phiên họp chuyên đề về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá kết quả
công tác Quý III năm 2026 (Phiên họp), cùng tham dự tại điểm cầu Trụ sở Chính
phủ có đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó
Trưởng Ban Chỉ đạo, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy
viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Ban Chỉ đạo, thành viên
Tổ Công tác, Tổ Giúp việc, Hội đồng tư vấn quốc gia, lãnh đạo các ban của Đảng,
các bộ, cơ quan Trung ương, các viện nghiên cứu, trường đại học, ngân hàng
thương mại và doanh nghiệp.
Tại điểm cầu địa phương, có đồng
chí Ủy viên Bộ Chính trị, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy,
Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; các đồng chí thành viên Ban
Chỉ đạo của tỉnh, thành phố và các sở, ban, ngành có liên quan.
Sau khi nghe Báo cáo trung tâm
của Bộ Công an - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương và ý kiến tham luận
của các bộ, cơ quan, địa phương, phát biểu của các đại biểu dự họp, Thủ tướng
Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận như sau:
I. VỀ KẾT QUẢ
ĐẠT ĐƯỢC
(1) Công tác lãnh đạo,
chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt, đồng bộ, liên tục, thông suốt[1]; (2) Thể chế đã được hoàn
thiện tạo cơ sở pháp lý đồng bộ triển khai hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS)[2]; (3) Kinh tế số, công nghiệp công nghệ số và hạ tầng
số tiếp tục có bước phát triển, đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế[3]; (4) Việc triển khai thực
hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14
tháng 01 năm 2026, Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02 tháng 02 năm 2026 và
các kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ có nhiều
chuyển biến tích cực[4]; (5)
KHCN, ĐMST đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận[5]; (6) Chính phủ số, Đề án 06 tiếp tục mang lại hiệu
quả thiết thực[6]. Các điểm nghẽn về
thể chế và thủ tục hành chính, nhất là thủ tục hành chính theo Nghị quyết số
66.7/2025/NQ-CP cơ bản đã được xử lý[7].
II. VỀ TỒN TẠI,
HẠN CHẾ
(1) Vẫn còn nhiệm vụ quá
hạn, trong đó có nhiều nhiệm vụ quá hạn kéo dài, chưa có giải pháp khắc phục
triệt để; (2) Việc tạo lập, kết nối, chia sẻ dữ liệu vẫn là điểm nghẽn lớn.
Còn 04/12 cơ sở dữ liệu (CSDL) trọng yếu và 34/104 CSDL chuyên ngành chưa đồng
bộ, kết nối với Trung tâm dữ liệu quốc gia, trong đó mới có 24 CSDL vận hành “đúng,
đủ, sạch, sống”; (3) Cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ
liệu chưa thực chất; vẫn tồn tại tình trạng yêu cầu người dân nộp thành phần hồ
sơ giấy đã có trong cơ sở dữ liệu[8].
Cổng Dịch vụ công quốc gia vận hành chưa ổn định và hiệu quả; (4) Việc
phê duyệt và tổ chức triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược tại
các bộ, cơ quan còn lúng túng[9];
việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu còn khó khăn; hệ thống phòng thí nghiệm
chưa được đầu tư đồng bộ liên thông, chia sẻ, dùng chung. Nhiều nhiệm vụ phát
triển khoa học, công nghệ tại các địa phương chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu
của thị trường, chưa xác định rõ sản phẩm đầu ra; (5) Còn 35 bộ, cơ
quan, địa phương chưa thực hiện chính sách hỗ trợ người làm công tác chuyên
trách chuyển đổi số, an ninh mạng theo Nghị định số 179/2025/NĐ-CP; (6)
Phân bổ, giao dự toán và giải ngân kinh phí khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số năm 2026 đạt thấp[10].
Khả năng hấp thụ nguồn lực để phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số còn hạn chế; (7) An ninh mạng, an ninh dữ liệu còn tiềm
ẩn nhiều rủi ro[11]; (8)
Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực trí tuệ
nhân tạo (AI), bán dẫn, an ninh mạng, dữ liệu lớn; cơ chế đãi ngộ chưa đủ cạnh
tranh.
III. VỀ
NGUYÊN NHÂN
Có cả nguyên nhân khách quan và
chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ
chức thực hiện ở một số bộ, cơ quan, địa phương còn thiếu quyết liệt, giao việc
chưa bảo đảm “6 rõ”, công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả; còn
tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm; vai trò người đứng đầu chưa được phát huy; còn
tình trạng “khoán trắng” cho đơn vị chuyên môn; kỷ luật, kỷ cương hành chính một
số nơi chưa nghiêm[12]; năng lực
tham mưu, tổ chức thực hiện, tháo gỡ khó khăn vướng mắc phát sinh còn hạn chế.
IV. NHIỆM VỤ,
GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
Ban Chỉ đạo yêu cầu người đứng
đầu các bộ, cơ quan, địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm
trước Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo 57 Trung ương về kết quả triển
khai nhiệm vụ KHCN, ĐMST, CĐS của bộ, cơ quan, địa phương mình; quán triệt, tổ
chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trong
triển khai Nghị quyết số 57- NQ/TW, các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo các
chương trình, kế hoạch, thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo; trong đó, tập trung
thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
1. Về xử lý
dứt điểm nhiệm vụ chậm, muộn
Yêu cầu các bộ, cơ quan, địa
phương khẩn trương rà soát toàn bộ nhiệm vụ được giao tại các nghị quyết, chương
trình, kết luận của Ban Chỉ đạo, bao gồm nhiệm vụ đã giao của Ban Chỉ đạo Trung
ương và các Ban Chỉ đạo trước đây nay đã tích hợp nhiệm vụ vào Ban Chỉ đạo
Trung ương, triển khai quyết liệt bảo đảm chất lượng và đúng thời hạn, tập
trung xử lý dứt điểm các nhiệm vụ chậm, muộn, không để phát sinh nhiệm vụ quá hạn
mới; kịp thời cập nhật kết quả thực hiện lên Hệ thống theo dõi
(theodoinq.dcs.vn).
2. Về hoàn
thiện thể chế
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp
với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an khẩn trương tháo gỡ các khó khăn về mức thu, sử dụng
phí, lệ phí trong quá trình triển khai cấp Phiếu Lý lịch tư pháp điện tử cho
công dân Việt Nam ở nước ngoài, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ
Nội vụ theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa
phương khẩn trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai chính
sách hỗ trợ đối với người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an ninh mạng
theo Nghị định số 179/2025/NĐ-CP, hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp với các bộ, cơ quan khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn Luật Khoa học, Công nghệ
và Đổi mới sáng tạo, trình Chính phủ trong tháng 10 năm 2026[13].
3. Về phát
triển hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, chuyển đổi số
- Các bộ, cơ quan: Giáo dục và
Đào tạo, Nội vụ, Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Tư pháp, Tài chính; Tòa án
nhân dân tối cao tập trung tối đa nguồn lực, khẩn trương khắc phục, xử lý dứt
điểm các tồn tại, hạn chế bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ với các CSDL đã được giao
theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 9690/VPCP-CĐS ngày 23 tháng
9 năm 2026; trong đó tập trung ưu tiên, tạo chuyển biến rõ nét với CSDL ngành
Giáo dục và Đào tạo, CSDL quốc gia về an sinh xã hội, CSDL quốc gia về cán bộ,
công chức, viên chức, CSDL quốc gia về y tế, hoàn thành trước ngày 30 tháng 11
năm 2026; đối với CSDL bản án, quyết định, hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm
2027. Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa
chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thiện CSDL quốc gia về đất đai.
- Các bộ, cơ quan, địa phương
hoàn thiện Khung quản trị dữ liệu, trong đó xác định rõ cơ quan chủ quản, trách
nhiệm cập nhật; thực hiện đối soát định kỳ giữa các CSDL, xử lý dứt điểm tình
trạng dữ liệu không thống nhất; hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo đúng tiến
độ để triển khai Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, trong đó ban hành khung
kiến trúc số của bộ, cơ quan, địa phương trước ngày 29 tháng 01 năm 2027.
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an đẩy mạnh thu hút các dự án FDI quy mô lớn
về trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao gắn với chuyển giao
công nghệ và an ninh mạng, an ninh dữ liệu; đề xuất cơ chế ưu đãi, đơn giản hoá
thủ tục đầu tư trong quá trình hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đầu tư trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2.
- Bộ Công Thương chủ trì, phối
hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách và
giải pháp bảo đảm nguồn cung ứng điện năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội,
nhất là vận hành các hệ thống trung tâm dữ liệu lớn và hạ tầng tính toán hiệu
năng cao; kịp thời cập nhật trong quá trình rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện
VIII.
4. Về cắt
giảm TTHC, cung cấp DVC trực tuyến và Đề án 06
- Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn
trương triển khai đồng bộ dữ liệu học bạ, văn bằng, chứng chỉ để tích hợp trên
VNeID và chỉ đạo các cơ sở giáo dục làm sạch, gắn số định danh cho 12 triệu dữ
liệu văn bằng, chứng chỉ trên VNeID, hoàn thành trước ngày 30 tháng 10 năm
2026.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường
chủ trì, phối hợp với Bộ Công an đẩy nhanh tiến độ đồng bộ giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất để tích hợp trên VNeID và đôn đốc, hướng dẫn địa phương kết nối với
hệ thống định danh điện tử để công dân được hưởng mức ưu đãi giảm phí, lệ phí
theo Nghị quyết 66.22/2026/NQ-CP về phát triển Công dân số, hoàn thành trước
ngày 30 tháng 11 năm 2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn
trương hoàn thành thẩm định hệ thống cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng và tổ
chức triển khai chữ ký số miễn phí trên VNeID; hoàn thành trong tháng 11 năm
2026.
- Bộ Công an: (i) Bảo đảm Cổng
Dịch vụ công quốc gia mới và Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính vận
hành ổn định, an toàn; nâng cao hiệu năng, xử lý dứt điểm các lỗi kỹ thuật;
hoàn thành tích hợp 82 thủ tục hành chính thiết yếu trước ngày 31 tháng 10 năm
2026; (ii) chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn
trương triển khai các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1830/QĐ-TTg ngày 22
tháng 9 năm 2026 để sớm kết nối VNeID với hệ thống định danh điện tử của
Singapore và Lào, thí điểm định danh hàng không quốc tế tại Nội Bài, Tân Sơn Nhất
và một số tiện ích xuyên biên giới.
- Bộ Xây dựng và Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với Bộ
Công an khẩn trương rà soát, đẩy mạnh, đồng bộ dữ liệu định danh địa điểm đủ
thông tin thuộc phạm vi quản lý với Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, hoàn
thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2026.
- Các bộ, cơ quan, địa phương
rà soát các TTHC, trong đó tập trung vào các TTHC theo Nghị quyết số
66.7/2025/NQ-CP và 82 dịch vụ công thiết yếu theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày
19 tháng 6 năm 2025, trên 03 nội dung: (i) Thành phần hồ sơ (rà
soát, loại bỏ các trường thông tin đã có dữ liệu hoặc không cần thiết); (ii)
quy trình thực hiện; (iii) tối ưu hoá giao diện cung cấp dịch vụ
công, để cấu hình trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC, bảo đảm đáp ứng các
yêu cầu theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, hoàn thành trong tháng 12 năm 2026; gửi
báo cáo về Bộ Tư pháp và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo trước ngày 05 tháng 01
năm 2027; Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng
01 năm 2027.
- Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp
với Bộ Công an và các bộ, cơ quan, địa phương: (i) Đề xuất giải
pháp tổng thể về cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu, báo cáo Thủ tướng
Chính phủ trước ngày 05 tháng 10 năm 2026; (ii) tổ chức thực hiện
chuẩn hóa tên, mã kết quả giải quyết TTHC và mã thành phần hồ sơ; hướng dẫn gắn
mã kết quả với mã thành phần hồ sơ để khai thác, tái sử dụng tự động, không yêu
cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại giấy tờ, dữ liệu đã có; báo cáo Thủ tướng
Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 31 tháng 10 năm 2026.
5. Về phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Các bộ, cơ quan và Bộ Khoa học
và Công nghệ tiếp tục đề xuất, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện nhiệm vụ
phát triển công nghệ chiến lược theo quy định, bảo đảm mỗi nhiệm vụ phải làm rõ
mục tiêu tạo giá trị, có đóng góp thực chất vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế -
xã hội; Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ
tình hình thực hiện định kỳ trước ngày 30 hằng tháng. Đối với 14 nhiệm vụ đã
phê duyệt, các bộ khẩn trương tuyển chọn tổ chức chủ trì để triển khai; đối với
08 nhiệm vụ đã được thẩm định đủ điều kiện còn lại, các bộ, cơ quan khẩn trương
hoàn thành phê duyệt trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.
- Bộ Công Thương chủ trì, phối
hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính xây dựng phương án thí điểm tạo đơn
hàng đầu tiên cho sản phẩm công nghệ chiến lược, trình cấp có thẩm quyền chậm
nhất trong tháng 6 năm 2027.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương rà soát, tháo gỡ triệt để các điểm
nghẽn trong việc thương mại hoá kết quả nghiên cứu; khẩn trương nghiên cứu đề
xuất bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật về sàn giao dịch khoa học công nghệ,
báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 10 năm 2026; đề xuất cơ chế phù
hợp, hiệu quả để tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong việc thực hiện
các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy thương mại
hoá kết quả nghiên cứu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10 năm 2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn
trương nghiên cứu, rà soát ban hành quy định về hoạt động, cơ chế vận hành dùng
chung của các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm
quốc gia, nhằm tạo điều kiện cho các viện, trường và doanh nghiệp sử dụng; hoàn
thành trước ngày 31 tháng 3 năm 2027.
- Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ
Giáo dục và Đào tạo theo chức năng, nhiệm vụ được giao triển khai các giải pháp
đổi mới mô hình liên kết “3 Nhà” theo hướng các bộ, cơ quan, doanh nghiệp chủ động
đặt bài toán, viện, trường nghiên cứu, Nhà nước kiến tạo và chia sẻ rủi ro,
tham gia một phần ngân sách; tập trung phát triển nhân lực theo các nhóm:
chuyên gia dẫn dắt; kỹ sư nghiên cứu và phát triển (R&D) - thiết kế - tích
hợp; kỹ thuật viên sản xuất, vận hành, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng
11 năm 2026.
- Các tập đoàn, doanh nghiệp
phát huy vai trò trung tâm trong phát triển KHCN, ĐMST, CĐS; chủ động phát hiện,
đề xuất tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, xác định các bài toán lớn, sản phẩm và
công nghệ trọng điểm; cơ chế tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp,
viện nghiên cứu, trường đại học và nhà khoa học; tham gia xuyên suốt từ xác định
nhu cầu, đặt hàng, nghiên cứu, lựa chọn công nghệ, đầu tư, thử nghiệm đến tiếp
nhận, làm chủ, thương mại hóa, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường. Trong
đó: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp công nghệ cao phát huy vai trò dẫn dắt, tiên
phong trong phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
6. Về sử dụng
kinh phí, vốn đầu tư và các nguồn lực
- Các bộ, cơ quan, địa phương
tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, hạn chế tối đa chuyển nguồn; trường hợp
không có khả năng giải ngân hoặc có nhu cầu bổ sung vốn cho KHCN, ĐMST, CĐS thì
báo cáo đề xuất gửi Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính trước ngày 10 tháng
10 năm 2026. Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát tổng hợp, gửi Bộ Tài chính trước
ngày 20 tháng 10 năm 2026 xem xét, trình cấp có thẩm quyền theo quy định trong
tháng 10 năm 2026 để điều chuyển vốn từ các bộ, cơ quan, địa phương giải ngân
chậm sang các Bộ, cơ quan, địa phương có khả năng giải ngân tốt và có nhu cầu bổ
sung vốn.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp Bộ Tài chính xử lý dứt điểm số kinh phí năm 2026 chưa phân bổ, tập
trung bố trí kinh phí cho các nhiệm vụ công nghệ chiến lược năm 2026; rà soát kỹ,
mạnh dạn đề xuất các cơ chế đột phá; hoàn thành trước ngày 20 tháng 10 năm
2026.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan, địa phương rà soát, nhận diện
các điểm nghẽn cấp bách về vấn đề tài chính, giải ngân kinh phí cho KHCN, ĐMST,
CĐS; trên cơ sở đó hướng dẫn cho các bộ, cơ quan, địa phương theo thẩm quyền, đề
xuất cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền; báo cáo Thủ tướng
Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 30 tháng 10 năm 2026.
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp
với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện phương
pháp biên soạn tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), bổ sung đo lường
trữ lượng vốn theo loại tài sản, ngành kinh tế và chất lượng lao động, mở rộng
tính toán TFP theo ngành, lĩnh vực. Hoàn thành thử nghiệm trong năm 2027.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp Bộ Tài chính rà soát, cập nhật bổ sung Bộ tiêu chí đánh giá hiệu
quả của KHCN, ĐMST, CĐS tại Quyết định số 2244/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm
2025; trong đó làm rõ các chỉ tiêu gắn với nghiên cứu và phát triển, thương mại
hoá kết quả nghiên cứu, năng suất lao động, TFP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 12 năm 2026.
7. Về thúc
đẩy kinh tế số, xã hội số gắn với tăng trưởng, năng suất và năng lực cạnh tranh
- Các bộ, cơ quan, địa phương
chủ động tổ chức các hội nghị chuyên đề về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS thuộc
ngành, lĩnh vực, địa bàn phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội; rà
soát dư địa tăng trưởng của từng ngành, vùng, địa phương và chuỗi giá trị, xác
định rõ điểm nghẽn, bài toán cần giải quyết, góp phần thực hiện mục tiêu tăng
trưởng hai con số; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, tham gia trong toàn bộ quá
trình; ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt, huy động nguồn lực và
đưa sản phẩm tham gia chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu, kết quả gửi
về Bộ Công an - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo trước ngày 15 tháng 11 năm 2026
để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ, trong đó:
+ Bộ Nông nghiệp và Môi trường
chủ trì tổ chức các hội nghị vùng trong tháng 10 năm 2026 về KHCN, ĐMST, CĐS gắn
với dư địa tăng trưởng trong nông nghiệp.
+ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
chủ trì tổ chức Hội nghị chuyên đề về phát triển du lịch gắn với KHCN, ĐMST,
CĐS, hoàn thành trong tháng 11 năm 2026.
+ Bộ Xây dựng chủ trì tổ chức Hội
nghị chuyên đề về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS gắn với mục tiêu tăng trưởng trong
lĩnh vực xây dựng, hoàn thành trong tháng 11 năm 2026.
- Các địa phương chủ động rà
soát, triển khai theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ
doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhất là doanh nghiệp mới thành lập, tạo điều
kiện thuận lợi về mặt bằng, trụ sở, thủ tục, cơ chế, chính sách…; nghiên cứu, đề
xuất cấp có thẩm quyền các chính sách ưu đãi phù hợp, trong đó có chính sách về
thuế, nhằm thúc đẩy thành lập, phát triển doanh nghiệp, thương mại hóa kết quả
nghiên cứu và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng của địa phương.
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp
với các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương đẩy nhanh tiến độ hướng dẫn quy
trình, thủ tục cung cấp, quản lý, vận hành nền tảng số, phần mềm kế toán cho
doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, gắn
với triển khai thực hiện Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sau khi được
Quốc hội thông qua, hoàn thành trong tháng 3 năm 2027.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục rà soát, đánh giá các nhiệm
vụ, sản phẩm KHCN, ĐMST của địa phương; đề xuất lựa chọn sản phẩm có khả năng
thương mại hóa, tổ chức thành chuỗi giá trị vùng, liên vùng, phát triển thành sản
phẩm quốc gia, gắn với doanh nghiệp có năng lực đồng hành, dẫn dắt từ nghiên cứu,
hoàn thiện công nghệ, sản xuất đến phát triển thị trường, hướng tới tham gia
sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ
trong tháng 11 năm 2026.
8. Giao
Bộ Khoa học và Công nghệ - đầu mối Tổ Công tác về phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược; Bộ Tài chính - đầu mối Tổ Công tác về
tài chính, nguồn lực, chủ trì tổng hợp, xây dựng báo cáo hằng tháng về tình
hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ của Tổ Công tác, gửi Bộ Công an
- Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo
trước ngày 15 hằng tháng để tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo.
Văn phòng Chính phủ thông báo để
các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương và các bộ, cơ quan, địa phương
biết, thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
Tô Lâm (để b/c);
- Đồng chí Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo 57 Trung ương (để b/c);
- Các đồng chí Thành viên Ban Chỉ đạo 57 Trung ương;
- Các PTTgCP (để b/c);
- Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam;
- Văn phòng Trung ương và các ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước;
- Bộ, cơ quan ngang bộ;
- Bí thư Tỉnh uỷ, Thành ủy, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố;
- Các thành viên Tổ Công tác, Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo 57 Trung ương;
- VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ, Cục;
- Lưu: VT, CĐS (2).
|
BỘ TRƯỞNG, CHỦ
NHIỆM
Đặng Xuân Phong
|
[1] Kiện
toàn Ban Chỉ đạo Trung ương do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban, Ban Chỉ đạo
đã trình Bộ Chính trị sửa đổi chức năng, nhiệm vụ, quan hệ công tác, đồng thời
đã ban hành quy chế hoạt động, thành lập các tổ công tác, tổ giúp việc, Hội đồng
tư vấn quốc gia của Ban Chỉ đạo.
[2]
Trong năm 2026, Chính phủ đã trình Quốc hội 01 luật; ban hành 40 nghị định, 10
quyết định quy phạm pháp luật liên quan KHCN, ĐMST, CĐS; TTgCP đã ban hành
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; đã hoàn thiện thể chế thông suốt từ Luật
đến các thông tư hướng dẫn phục vụ triển khai nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến
lược.
[3]
Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt
101 tỷ USD, tăng 51,1%, là nhóm hàng đầu tiên vượt mốc 100 tỷ USD. Việt Nam lần
đầu vào nhóm 10 nước có tốc độ Internet nhanh nhất thế giới; có hơn 505.000 cơ
sở kinh doanh đã áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền; thu thuế
thương mại điện tử đạt gần 114,2 nghìn tỷ đồng. Sáu tháng đầu năm 2026 có hơn
15 tỷ giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, tăng 34,3% về số lượng.
[4]
Trong tổng số 2.011 nhiệm vụ, đã hoàn thành 1.326 nhiệm vụ, tăng 98 nhiệm vụ so
với quý II;
[5]
Hoàn thiện danh mục 3.030 tiêu chuẩn phục vụ 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến
lược. Sàn giao dịch khoa học và công nghệ quốc gia đã kết nối dữ liệu với 15
sàn của địa phương. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng
giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt xấp xỉ 54,2%. Đã có 2.647 công bố quốc tế trên
Scopus. Các bộ, cơ quan đã đề xuất 38 nhiệm vụ để giải quyết 11 bài toán công
nghệ chiến lược; Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành thẩm định 28/38 nhiệm vụ,
06 bộ, cơ quan đã phê duyệt 14 nhiệm vụ và đang tuyển chọn tổ chức thực hiện;
[6] Đã
tích hợp 08 nhóm thông tin, giấy tờ trên VNeID, trong đó có 18,9 triệu tài khoản
hưởng an sinh xã hội, 25,8 triệu giấy phép lái xe, 24,2 triệu thông tin tình trạng
hôn nhân. Đã hoàn thành đồng bộ 08/12 CSDL trọng yếu và 70/104 CSDL chuyên
ngành về Trung tâm Dữ liệu quốc gia; CSDL đảng viên quản lý trên 5,3 triệu hồ
sơ, làm sạch 99,83%. Đã đồng bộ 148 triệu thuê bao vào cơ sở dữ liệu quốc gia về
dân cư, hoàn thành xử lý SIM rác, không chính chủ.
[7] Các
địa phương đã hoàn thành rà soát vướng mắc thể chế và ban hành danh mục thủ tục
hành chính ưu tiên tái thiết kế quy trình theo yêu cầu "6 rõ". Bộ Tư
pháp đã tổng hợp hơn 470 văn bản quy phạm pháp luật có nội dung mâu thuẫn, cản
trở chuyển đổi số để đề xuất phương án sửa đổi.
[8] Tỷ
lệ hồ sơ trực tuyến tại các bộ, ngành còn thấp, mới đạt 34,24%, số hóa hồ sơ đạt
19,23%, tái sử dụng dữ liệu chỉ đạt 5,29%.
[9] Có
5/28 đề xuất không đủ điều kiện là nhiệm vụ công nghệ chiến lược; 8/28 nhiệm vụ
CNCL đã thẩm định đủ điều kiện nhưng đến nay chưa được các Bộ, cơ quan phê duyệt.
[10]
Tổng nguồn kinh phí năm 2026 cho KHCN, ĐMST và CĐS là 104.461,4 tỷ đồng (bao gồm
cả dự toán 2025 chuyển nguồn sang năm 2026); đến ngày 18/9/2026 còn khoảng
18.096 tỷ đồng chưa phân bổ; giải ngân mới đạt 17.442 tỷ đồng.
[11] Trong
6 tháng đầu năm 2026, hơn 6,9 triệu bản ghi tài khoản bị lộ lọt, tăng 53% so với
cùng kỳ; 165 vụ rao bán dữ liệu với hơn 473,7 triệu bản ghi; 3.890 tên miền lừa
đảo, gấp 4,3 lần cùng kỳ; còn nhiều cuộc tấn công mạng vào hệ thống thông tin của
cơ quan, tổ chức.
[12]
Đáng lưu ý, việc tham dự các cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Cơ quan Thường trực, còn
tình trạng cử đại diện chưa đúng thành phần, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc họp.
[13]
Các Nghị định số: 262, 263, 265, 267, 268/2025/NĐ-CP.