|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 2131/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày 14 tháng
7 năm 2026
|
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “HƯỚNG DẪN
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH”
BỘ TRƯỞNG
BỘ Y TẾ
Căn cứ Luật Khám bệnh,
chữa bệnh năm 2023;
Căn cứ Nghị định số
42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo đề nghị của Cục
trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh.
QUYẾT
ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều
trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”.
Điều 2. Tài
liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”
được áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước.
Điều 3. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành và thay thế Quyết định số
2767/QĐ-BYT ngày 04 tháng 07 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành
tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính”.
Điều 4. Các
ông, bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng và Vụ trưởng các Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế,
Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Giám đốc các Bệnh
viện trực thuộc Bộ Y tế, Thủ trưởng Y tế các ngành chịu trách nhiệm thi hành
Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 4;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Các Thứ trưởng;
- Hội Hô Hấp Việt Nam;
- Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế; Website Cục KCB;
- Lưu: VT, KCB.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Trần Văn Thuấn
|
HƯỚNG
DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
(Ban hành kèm theo
Quyết định số QĐ/BYT ngày tháng năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
GS.TS. Trần Văn Thuấn –
Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia
TS. Hà Anh Đức – Phó
Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y
tế.
CHỦ BIÊN
GS.TS. Ngô Quý Châu -
Chủ tịch Hội Hô Hấp Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Viết
Nhung – Phó Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam
TS. Nguyễn Trọng Khoa –
Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế.
THAM GIA BIÊN SOẠN VÀ
THẨM ĐỊNH
PGS.TS. Nguyễn Hải Anh
- Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Nguyễn Hoàng
Anh – Phó trưởng khoa Dược, Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc trung tâm DI&ADR
Quốc Gia
PGS.TS. Lê Khắc Bảo –
Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
TS. Đào Ngọc Bằng - Chủ
nhiệm Khoa Bệnh phổi, Bệnh viện Quân y 103
TS. Phạm Minh Châu -
Khoa Vi Sinh – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
GS.TS. Ngô Quý Châu -
Chủ tịch Hội Hô Hấp Việt Nam
PGS.TS. Lê Tiến Dũng –
Phó Chủ tịch Hội Hô hấp TP. Hồ Chí Minh
ThS. Hoàng Anh Đức -
Viện Hô hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Nguyễn Quang Đợi –
Phó Trưởng khoa Hô Hấp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
PGS.TS. Vũ Văn Giáp –
Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai
TS. Nguyễn Minh Hải -
Chủ nhiệm Khoa Nội Hô hấp (A5) - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
ThS. Nguyễn Ngọc Hải -
Giảng viên Bộ môn Dị ứng - miễn dịch lâm sàng, Đại học Y Hà Nội
PGS.TS. Trần Thúy Hạnh
– Phó Chủ tịch Hội Hen, Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Việt Nam
PGS.TS. Chu Thị Hạnh –
Phó Chủ tịch Hội Hô Hấp Việt Nam, Trưởng khoa Hô Hấp Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
PGS.TS. Lê Hoàn –
Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
PGS.TS. Nguyễn Thanh
Hồi – Trưởng khoa Y trường Đại học Phenikaa
TS. Nguyễn Thị Thanh
Huyền – Phó Viện trưởng Viện Hô Hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
BSCKII. Hoàng Thị Lan
Hương - Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế
TS. Lê Thị Thu Hương –
Trưởng khoa Nội Hô hấp, Bệnh viện Nhân dân Gia Định
PGS.TS. Lê Thị Tuyết
Lan – Phó Chủ tịch Hội Hô hấp Việt Nam
TS. Đoàn Thị Phương Lan
– Phó Viện trưởng Viện Hô Hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Đặng Hùng Minh
- Phó Trưởng Khoa Khám Bệnh – Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Trần Văn Ngọc –
Phó Chủ tịch Hội Phổi Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Bích
Ngọc - Giám đốc Trung tâm Điều trị bệnh phổi hiếm và các bệnh nhiễm khuẩn hô
hấp, Bệnh viện Phổi Trung ương
ThS. Trương Lê Vân Ngọc
- Trưởng phòng Nghiệp vụ Cục QLKCB, Bộ Y tế PGS.
TS. Nguyễn Viết Nhung –
Phó chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam
PGS.TS. Phạm Hồng Nhung
– Phó Trưởng khoa Vi sinh, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Đỗ Thị Tường Oanh –
Giảng viên Thỉnh giảng Bộ môn Nội, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
PGS.TS. Phan Thu Phương
– Viện trưởng Viện Hô Hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Phạm Thị Lệ Quyên –
Phó Trưởng khoa Hô Hấp Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
GS.TSKH. Dương Quý Sỹ -
Phó chủ tịch Hội Hô Hấp Việt Nam
TS. Vũ Thị Thanh -
Quyền trưởng khoa Dinh dưỡng lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Nguyễn Văn Thành –
Phó Chủ tịch Hội Phổi Việt Nam
ThS. Vũ Văn Thành -
Trưởng khoa Bệnh phổi mạn tính, Bệnh viện Phổi Trung ương
PGS.TS. Tạ Bá Thắng -
Phó Giám đốc Bệnh viện Quân y 103
PGS.TS. Nguyễn Văn Thọ
- Trưởng Bộ môn Lao & Bệnh Phổi, Trường Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
BSCKII. Đặng Vũ Thông –
Trưởng khoa Nội Phổi, Bệnh viện Chợ Rẫy
TS. Nguyễn Thanh Thuỷ -
Bộ môn Nội Đại học Y Hà Nội
TS. Phan Thanh Thủy -
Viện Hô hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Nguyễn Đình
Tiến – Nguyên Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
TS. Vũ Thị Thu Trang -
Bộ môn Nội Đại học Y Hà Nội
PGS.TS. Phạm Thị Thúy
Vân - Trưởng khoa Dược lý - Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội
PGS.TS. Lê Thượng Vũ –
Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
THƯ KÝ
ThS. Nguyễn Ngọc Dư -
Viện Hô hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
ThS. Đào Ngọc Phú - Viện
Hô hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
ThS. Trương Lê Vân Ngọc
- Trưởng phòng Nghiệp vụ, Cục QLKCB, Bộ Y tế
DS. Đỗ Thị Ngát -
Chuyên viên phòng Nghiệp vụ, Cục QLKCB, Bộ Y tế
CN. Đỗ Thị Thư - Cục
QLKCB, Bộ Y tế.
LỜI NÓI ĐẦU
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính (BPTNMT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong
trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam dẫn đến gánh nặng kinh tế xã hội ngày
càng gia tăng. Nguyên nhân phổ biến gây bệnh là hút thuốc lá, thuốc lào và ô
nhiễm không khí.
Chẩn đoán BPTNMT nên
được xem xét ở các bệnh nhân có các triệu chứng ho và khó thở mạn tính, xác
định bệnh dựa vào đo chức năng hô hấp. Điều trị BPTNMT cần chú trọng đến cá thể
hóa điều trị, điều trị các bệnh đồng mắc, điều trị dự phòng để tránh các đợt
cấp và làm chậm quá trình tiến triển bệnh. Bên cạnh đó, các biện pháp khác như
hỗ trợ cai nghiện thuốc lá, phục hồi chức năng hô hấp, giáo dục bệnh nhân cũng
có vai trò quan trọng trong việc điều trị và quản lý bệnh nhân BPTNMT.
“Hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” (Bản cập nhật năm 2026) được xây dựng
với sự tâm huyết và nỗ lực của các chuyên gia hàng đầu có kinh nghiệm về quản
lý, lâm sàng, giảng dạy của cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
Về nguyên tắc áp dụng:
Các thuốc, vắc xin, sinh phẩm được đề cập trong Hướng dẫn này phải là thuốc
được phép lưu hành tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về Dược. Việc chỉ
định, kê đơn, sử dụng thuốc phải phù hợp với chỉ định, liều dùng, đường dùng,
chống chỉ định và các nội dung khác được Bộ Y tế phê duyệt.
Cục Quản lý Khám, chữa
bệnh trân trọng cảm ơn sự đóng góp công sức và trí tuệ của lãnh đạo các bệnh
viện, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ chuyên khoa đã tham gia góp ý
cho tài liệu này. Trong quá trình biên tập, in ấn tài liệu khó có thể tránh
được các sai sót, chúng tôi rất mong nhận được sư đóng góp từ quý độc giả đồng
nghiệp để tài liệu ngày một hoàn thiện hơn. Mọi ý kiến góp ý xin gửi về Cục
Quản lý Khám, chữa bệnh – Bộ Y tế, 138A Giảng Võ, phường Giảng Võ, Hà Nội.
Trân trọng cảm ơn!
MỤC
LỤC
CHƯƠNG 1. HƯỚNG DẪN
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1.1. Đại cương
1.2. Sàng lọc người mắc
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.3. Chẩn đoán
1.3.1. Triệu chứng lâm
sàng
1.3.2. Cận lâm sàng
1.3.3. Chẩn đoán phân
biệt
1.4. Đánh giá bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính
1.4.1. Đánh giá mức độ
tắc nghẽn đường thở
1.4.2. Đánh giá triệu
chứng và ảnh hưởng của bệnh
1.4.3. Đánh giá nguy cơ
đợt cấp
1.4.4. Đánh giá bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính theo nhóm ABE
1.5. Chỉ định chuyển
khám chuyên khoa
CHƯƠNG 2. QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU
TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH
2.1. Mục tiêu điều trị
2.2. Biện pháp điều trị
chung (điều trị không thuốc)
2.2.1. Ngừng tiếp xúc
với yếu tố nguy cơ
2.2.2. Cai nghiện thuốc
lá, thuốc lào
2.2.3. Tiêm vắc xin
phòng nhiễm trùng đường hô hấp
2.2.4. Phục hồi chức
năng hô hấp
2.2.5. Các điều trị
khác
2.3. Các thuốc điều trị
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
2.3.1. Các nhóm thuốc điều
trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
2.3.2. Lựa chọn dụng cụ
phân phối thuốc
2.4. Hướng dẫn lựa chọn
thuốc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
2.4.1. Lựa chọn phác đồ
điều trị ban đầu
2.4.2. Chuyển đổi điều
trị thuốc
2.5. Thở oxy dài hạn
tại nhà
2.5.1. Mục tiêu
2.5.2. Chỉ định
2.5.3. Lưu lượng, thời
gian thở oxy
2.5.4. Các nguồn cung
cấp oxy
2.6. Thở máy không xâm
nhập
2.7. Nội soi can thiệp
và phẫu thuật
2.7.1. Phẫu thuật giảm
thể tích phổi (LVRS)
2.7.2. Ghép phổi
2.7.3. Giảm thể tích
phổi qua nội soi phế quản (Endoscopic Lung Volume Reduction: ELVR)
2.8. Theo dõi người
bệnh
CHƯƠNG 3. HƯỚNG DẪN
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
3.1. Đại cương
3.2. Nguyên nhân
3.3. Chẩn đoán
3.3.1. Triệu chứng lâm
sàng của đợt cấp BPTNMT
3.3.2. Các xét nghiệm cho
đợt cấp BPTNMT tại bệnh viện
3.3.3. Chẩn đoán xác
định đợt cấp BPTNMT
3.3.4. Đánh giá độ nặng
và phân tầng nguy cơ của đợt cấp BPTNMT
3.4. Hướng dẫn điều trị
đợt cấp BPTNMT
3.4.1. Quyết định nơi điều
trị đợt cấp BPTNMT
3.4.2. Tiêu chuẩn nhập
viện
3.4.3. Điều trị ngoại
trú đợt cấp BPTNMT
3.4.4. Điều trị nội trú
đợt cấp BPTNMT
CHƯƠNG 4. BỆNH ĐỒNG MẮC
VỚI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
4.1. Quản lý người bệnh
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc bệnh tim mạch
4.1.1. Dịch tễ học bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính và bệnh tim mạch
4.1.2. Sinh lý bệnh của
sự chồng lấn giữa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và bệnh tim mạch
4.1.3. Chẩn đoán bệnh
tim mạch ở người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
4.1.4. Chẩn đoán bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính ở người mắc bệnh tim mạch
4.1.5. Quản lý người
bệnh BPTNMT đồng mắc bệnh tim mạch
4.1.6. Tăng áp phổi
4.1.7. Bệnh mạch máu
ngoại biên
4.2. Bệnh hô hấp
4.2.1. Ung thư phổi
4.2.2. Giãn phế quản
4.2.3. Ngưng thở tắc
nghẽn khi ngủ & mất ngủ
4.3. Viêm nha chu và vệ
sinh răng miệng
4.4. Trào ngược dạ dày
– thực quản
4.5. Hội chứng chuyển
hóa và tiểu đường
4.6. Loãng xương
4.7. Thiếu máu
4.8. Đa hồng cầu
4.9. Lo âu và trầm cảm
4.10. Suy giảm nhận
thức
4.11. Suy nhược
4.12. BPTNMT là một phần
của chủ thể đa bệnh
CHƯƠNG 5. PHỤC HỒI CHỨC
NĂNG HÔ HẤP, DINH DƯỠNG VÀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
5.1. Phục hồi chức năng
hô hấp trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
5.1.1. Đại cương
5.1.2. Các thành phần
của chương trình PHCN hô hấp
5.1.3. Xây dựng chương
trình PHCN hô hấp
5.2. Dinh dưỡng cho
người bệnh BPTNMT
5.3. Chăm sóc giảm nhẹ
ở người bệnh BPTNMT
5.3.1. Định nghĩa
5.3.2. Mục tiêu
5.3.3. Đối tượng
5.3.4. Đánh giá toàn
diện
5.3.5. Quản lý triệu
chứng
5.3.6. Hỗ trợ tâm lý
5.3.7. Điều trị giảm
nhẹ khó thở
5.3.8. Lập kế hoạch
chăm sóc nâng cao
5.3.9. Chuẩn bị cuối
đời
Phụ lục 1. Danh mục
thuốc cần thiết cho tuyến y tế cấp ban đầu
Phụ lục 2. Đánh giá
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với bảng điểm CAT (COPD Assessment Test)
Phụ lục 3. Đánh giá
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với bảng điểm mMRC (modified Medical Research
Council)
Phụ lục 4. Cách sử dụng
các dụng cụ phân phối thuốc
Phụ lục 5. Thở máy
không xâm nhập ở người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Phụ lục 6. Kế hoạch
hành động của người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Phụ lục 7. Xây dựng chương
trình PHCN hô hấp 8 tuần
Phụ lục 8. Nghiệm pháp
đi bộ 6 phút
Phụ lục 9. Quy trình
lâm sàng từ xử trí đợt cấp đến điều trị duy trì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Phụ lục 10. Liều kháng
sinh theo chức năng thận
Phụ lục 11. Các tương
tác thuốc chống chỉ định liên quan thuốc điều trị COPD
Phụ lục 12. Chỉ định và
chống chỉ định đo chức năng hô hấp
Phụ lục 13. Hướng dẫn
đo huyết áp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
|
BPTNMT
|
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính
|
|
BTTMCB
|
Bệnh tim thiếu máu cục
bộ
|
|
BCAT
|
Bạch cầu ái toan
|
|
Eos
|
Eosinophils
|
|
CNHH
|
Chức năng hô hấp
|
|
CDC
|
Trung tâm kiểm soát
và phòng ngừa dịch bệnh
|
|
COPD
|
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính
|
|
DPI
|
Dụng cụ hít bột khô
không có chất đẩy
|
|
ELVR
|
Giảm thể tích phổi
qua nội soi phế quản
|
|
EBV
|
Van một chiều nội phế
quản
|
|
GINA
|
Global Initiative for
Asthma (Sáng kiến toàn cầu về Hen phế quản)
|
|
GOLD
|
Global Initiative for
Chronic Obstructive Lung Disease (Sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính)
|
|
HPPQ
|
Test đáp ứng với thuốc
giãn phế quản (Hồi phục phế quản)
|
|
HRCT
|
Cắt lớp vi tính lồng
ngực lớp mỏng độ phân giải cao
|
|
ICU
|
Đơn vị hồi sức tích cực
|
|
KS
|
Kháng sinh
|
|
LVRS
|
Phẫu thuật giảm thể
tích phổi
|
|
MDI
|
Bình xịt định liều
|
|
NTTĐ
|
Nhịp tim tối đa NB
Người bệnh
|
|
PHCN
|
Phục hồi chức năng
|
|
SGRQ
|
Thang điểm đánh giá
chất lượng cuộc sống St.George
|
|
TTM
|
Truyền tĩnh mạch
|
|
WHO
|
Tổ chức Y tế Thế giới
|
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng câu hỏi
tầm soát BPTNMT ở cộng đồng (theo GOLD)
Bảng 1.2. Chẩn đoán phân
biệt BPTNMT với hen phế quản
Bảng 1.3. Mức độ tắc
nghẽn đường thở theo GOLD 2026
Bảng 2.1. Các nhóm
thuốc chính điều trị BPTNMT
Bảng 2.2. Mức liều một
số loại corticosteroid dạng hít (ICS) (theo GINA 2025)
Bảng 2.3. Các dụng cụ
phân phối thuốc
Bảng 2.4. Lựa chọn
thuốc theo phân nhóm ABE của GOLD 2026
Bảng 3.1. Giá trị của
các xét nghiệm trong đánh giá đợt cấp BPTNMT
Bảng 3.2. Phân loại độ
nặng đợt cấp BPTNMT theo đề xuất Rome (năm 2022)
Bảng 3.3. Phân loại mức
độ suy hô hấp trong đợt cấp BPTNMT khi nhập viện và cân nhắc nơi điều trị
Bảng 3.4. Hướng dẫn sử
dụng kháng sinh đợt cấp nặng nhập viện
Bảng 5.1. Những lợi ích
của chương trình PHCN hô hấp
Bảng 5.2. Các nội dung
giáo dục sức khỏe
Bảng 5.3. Các biện pháp
quản lý triệu chứng
Bảng 5.4. Phác đồ điều
trị khó thở bằng Morphin ở người bệnh BPTNMT giai đoạn cuối đời
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1. Lưu đồ
chẩn đoán BPTNMT theo GOLD 2026
Biểu đồ 1.2. Đánh giá
BPTNMT theo nhóm ABE (Theo GOLD 2026)
Biểu đồ 2.1. Sơ đồ
chuyển đổi điều trị thuốc
Biểu đồ 2.2. Sơ đồ tiếp
cận người bệnh đang điều trị với ICS+LABA
Biểu đồ 3.1. Lựa chọn
kháng sinh theo kinh nghiệm cho đợt cấp BPTNMT ngoại trú 27
Biểu đồ 3.2. Lựa chọn
kháng sinh theo kinh nghiệm cho đợt cấp BPTNMT nặng nhập viện
Biểu đồ 4.1. Lưu đồ
giới thiệu khám chuyên khoa Hô hấp khi nghi ngờ BPTNMT ở người bệnh mắc bệnh
tim mạch.
Biểu đồ 4.2. Hướng dẫn
sử dụng chẹn beta cho BPTNMT đồng mắc tim mạch
Biểu đồ 4.3. Hướng dẫn
sử dụng chẹn beta cho BPTNMT đồng mắc suy tim
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1.1. Lưu đồ sàng
lọc người bệnh BPTNMT
Sơ đồ 2.1. Cách lựa
chọn dụng cụ phân phối thuốc trong BPTNMT
Hình 4.1. Cơ chế về
nguy cơ tim phổi ở người bệnh BPTNMT
CHƯƠNG 1. HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ BỆNH
PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1.1.
Đại cương
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính (BPTNMT) là bệnh hô hấp phổ biến có thể phòng và điều trị được. Đây là
bệnh lý không đồng nhất, đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp mạn tính (khó
thở, ho, khạc đờm) và các đợt cấp do tình trạng bất thường của đường thở (viêm
phế quản, viêm tiểu phế quản) và/hoặc phế nang (khí phế thũng) gây ra tắc nghẽn
đường thở dai dẳng và thường tiến triển nặng dần. Nguyên nhân gây BPTNMT liên
quan phơi nhiễm với các hạt hoặc khí độc hại và các yếu tố chủ thể bao gồm phổi
kém phát triển khi còn nhỏ, lão hóa phổi nhanh, đột biến gen SERPINA1 gây ra
thiếu hụt alpha-1- antitrysin. Khói thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ
chính, ô nhiễm không khí và khói chất đốt sinh hoạt cũng là yếu tố nguy cơ rất
quan trọng gây BPTNMT. Bệnh đồng mắc và đợt kịch phát làm nặng thêm tình trạng
bệnh và tăng tử vong. Chẩn đoán bệnh sớm có thể có tác động rất lớn đến sức
khỏe.
BPTNMT là một trong các
nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới dẫn đến gánh
nặng kinh tế xã hội ngày càng gia tăng. Dựa trên các nghiên cứu dịch tễ học, tỉ
lệ lưu hành bệnh là 11,8% ở nam giới và 8,5% ở nữ giới, 3-11% ở những người
chưa từng hút thuốc, tỉ lệ bệnh toàn cầu là 11,3%. Ở Việt Nam, nghiên cứu dịch
tễ học của BPTNMT năm 2009 cho thấy tỷ lệ mắc ở người >40 tuổi là 4,2%. Gia
tăng tỷ lệ hút thuốc lá tại các nước đang phát triển và già hóa dân số ở những
quốc gia phát triển là yếu tố tiên đoán tỷ lệ mắc BPTNMT sẽ tăng cao những năm
tới và đến 2030 ước tính có hơn 4,5 triệu tử vong hàng năm do BPTNMT và các rối
loạn liên quan.
1.2.
Sàng lọc người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Các nghiên cứu dữ liệu
lớn trên toàn thế giới cho thấy khoảng 70% người trưởng thành mắc BPTNMT vẫn
chưa được chẩn đoán. Phân tích dữ liệu từ 27 quốc gia cho thấy tỷ lệ BPTNMT xác
định bằng đo chức năng hô hấp là 9,7%, nhưng 81% các trường hợp BPTNMT này
không được chẩn đoán. Người bệnh (NB) BPTNMT chưa được chẩn đoán có chất lượng
cuộc sống kém và phải đối mặt với các đợt kích phát giống như những người bệnh
đã được chẩn đoán và điều trị bệnh. Vì vậy, việc sàng lọc sớm người bệnh rất
quan trọng.
Sàng lọc chủ động người
bệnh BPTNMT : Phát hiện các trường hợp chủ động bao gồm việc chủ động tìm kiếm
những người có khả năng mắc bệnh cao. Những người có biểu hiện của các triệu
chứng và có các nguy cơ của bệnh (khó thở không rõ nguyên nhân, hút thuốc lá
>20 bao – năm, tiền sử nhiễm trùng hô hấp tái phát, hoặc các rối loạn hô hấp
sau khi sinh) được hỏi bộ câu hỏi đánh giá khả năng mắc bệnh (Bảng 1.1), và đo
chức năng hô hấp nếu đủ tiêu chí. Các thiết bị cầm tay như lưu lượng đỉnh kế
được sử dụng ở những cơ sở y tế không có máy đo chức năng hô hấp kết hợp bộ câu
hỏi sàng lọc giúp tăng khả năng xác định người bệnh BPTNMT chưa được chẩn đoán.
Sàng lọc cơ hội: sàng
lọc những người có khả năng mắc bệnh mặc dù có hoặc không có biểu hiện triệu
chứng đến khám bệnh tại các cơ sở y tế. Những trường hợp đang được sàng lọc ung
thư phổi, hoặc phát hiện các bất thường về nhu mô hoặc đường thở cần được đo
chức năng hô hấp để chẩn đoán xác định bệnh.
Nếu nghi ngờ mắc
BPTNMT, cần chuyển người bệnh đến các cơ sở y tế có đủ điều kiện để làm thêm
các thăm dò chẩn đoán nhằm chẩn đoán xác định và loại trừ những nguyên nhân
khác có triệu chứng lâm sàng giống BPTNMT.
Bảng
0.1. Bảng
câu hỏi tầm soát BPTNMT ở cộng đồng (theo GOLD)
|
|
Câu
hỏi
|
Chọn
câu trả lời
|
|
1
|
Ông/bà có ho vài lần
trong ngày ở hầu hết các ngày
|
Có
|
Không
|
|
2
|
Ông/bà có khạc đờm ở
hầu hết các ngày
|
Có
|
Không
|
|
3
|
Ông/bà có dễ bị khó
thở hơn những người cùng tuổi
|
Có
|
Không
|
|
4
|
Ông/bà có trên 40
tuổi
|
Có
|
Không
|
|
5
|
Ông/bà vẫn còn hút
thuốc lá hoặc đã từng hút thuốc lá
|
Có
|
Không
|
* Phát hiện sớm
BPTNMT: các đối tượng trả lời “Có” từ 3 câu trở lên trong Bảng
1.1 nên được giới
thiệu tới cơ sở y tế có thực hiện đo chức năng hô hấp để chủ động phát hiện
sớm BPTNMT.

Sơ
đồ 0.1. Lưu đồ sàng lọc người bệnh BPTNMT
1.3.
Chẩn đoán
1.3.1. Triệu chứng lâm
sàng
Khai thác kỹ tiền sử
tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây bệnh, thăm khám lâm sàng và áp dụng bảng điểm
lâm sàng để định hướng chẩn đoán:
- Bệnh hay gặp ở nam
giới trên 40 tuổi.
- Tiền sử: hút thuốc
lá, thuốc lào (bao gồm cả hút thuốc chủ động và thụ động). Ô nhiễm môi trường
trong và ngoài nhà: khói bếp, khói chất đốt, bụi nghề nghiệp (bụi hữu cơ, vô
cơ), hơi, khí độc. Nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn, di chứng lao phổi,... Tăng tính
phản ứng đường thở (hen phế quản hoặc viêm phế quản co thắt).
- Ho, khạc đờm kéo dài:
Lúc đầu có thể chỉ có ho ngắt quãng, sau đó ho dai dẳng hoặc ho hàng ngày (là
biểu hiện viêm phế quản mạn: ho kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và trong 2
năm liên tiếp), ho khan hoặc ho có đờm, thường khạc đờm về buổi sáng. Ho đờm mủ
là một trong các dấu hiệu của đợt cấp do bội nhiễm.
- Khó thở chủ yếu thì
thở ra: tiến triển nặng dần theo thời gian, lúc đầu chỉ có khó thở khi gắng
sức, sau đó khó thở cả khi nghỉ ngơi và khó thở liên tục. Người bệnh “phải gắng
sức để thở”, “khó thở, nặng ngực”, “cảm giác thiếu không khí, hụt hơi” hoặc
“thở hổn hển”, thở khò khè. Khó thở tăng lên khi gắng sức hoặc nhiễm trùng
đường hô hấp.
- Người bệnh đến khám ở
giai đoạn muộn có thể có biểu hiện mệt mỏi, biếng ăn, sụt cân, yếu hoặc teo cơ.
Những dấu hiệu này có giá trị tiên lượng xấu nhưng cũng có thể là biểu hiện của
bệnh đồng mắc BPTNMT như lao phổi hoặc ung thư phổi.
Khám lâm sàng:
- Giai đoạn sớm của
bệnh khám phổi có thể bình thường. Nếu người bệnh có khí phế thũng có thể thấy
lồng ngực hình thùng, gõ vang, rì rào phế nang giảm.
- Giai đoạn nặng hơn
hoặc trong đợt cấp khám phổi thấy rì rào phế nang giảm, có thể có ran rít, ran
ngáy.
- Giai đoạn muộn có thể
thấy những biểu hiện của suy hô hấp mạn tính: tím môi, tím đầu chi, thở nhanh,
co kéo cơ hô hấp phụ, biểu hiện của suy tim phải (tĩnh mạch cổ nổi, phù 2 chân,
gan to, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính).
1.3.2. Cận lâm sàng
Những người bệnh có
tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ mắc
BPTNMT như đã mô tả ở trên, tùy theo tính có sẵn của trang thiết bị và mục đích
đánh giá, cần được làm các xét nghiệm sau:
Đo chức năng hô hấp
Kết quả đo chức năng hô
hấp là tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ tắc nghẽn
đường thở của người bệnh BPTNMT.
Một số điểm cần lưu ý:
- Cần trang bị máy chức
năng hô hấp đảm bảo đủ tiêu chuẩn, nếu được nên có trị số tham khảo cho người
Đông Nam Á và phải được định chuẩn hằng ngày. Máy chức năng hô hấp nên thể hiện
được chỉ số giới hạn bình thường dưới (LLN).
- Kỹ thuật viên cần
được đào tạo về đo chức năng hô hấp và biết cách làm test đáp ứng với thuốc
giãn phế quản (test hồi phục phế quản).
- Thực hiện đo chức
năng hô hấp theo quy trình kỹ thuật đo chức năng hô hấp đã được phê duyệt.
Nhận định kết quả:
- Chẩn đoán xác định
khi: rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn sau test đáp ứng với
thuốc giãn phế quản: chỉ số FEV1/(F)VC < 70% sau test đáp ứng với thuốc giãn
phế quản. Việc so sánh FEV1/(F)VC với giới hạn bình thường dưới (Lower limit of
Normal – LLN) sẽ chính xác hơn so với giá trị 70%.
- Tiêu chuẩn ERS/ATS
2021 đánh giá test đáp ứng với thuốc giãn phế quản dựa trên thay đổi %FEV1 so
với trị số dự đoán khi dùng bộ giá trị tham khảo của GLI, %FEV1 thay đổi >
10% sau test đáp ứng với thuốc giãn phế quản là có đáp ứng).
- Nhưng lưu ý test đáp
ứng với thuốc giãn phế quản dương tính cũng không là yếu tố loại trừ chẩn đoán
BPTNMT để chẩn đoán hen.
- Dựa vào FEV1 giúp
đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở (xem bảng 1.3).
- Quan sát đường cong
lưu lượng – thể tích để đảm bảo kết quả đo đáng tin cậy.
X-quang ngực:
- X-quang ngực nên được
thực hiện trước khi đo CNHH để loại trừ các bệnh gây lây nhiễm như lao phổi
hoặc viêm phổi.
- BPTNMT ở giai đoạn
sớm: hình ảnh X-quang ngực có thể bình thường.
- Giai đoạn muộn có thể
có hình ảnh khí phế thũng: trường phổi 2 bên tăng sáng không đều, cơ hoành hạ
thấp và dẹt, có thể thấy cơ hoành hình bậc thang, khoang liên sườn giãn rộng,
có thể có bóng (kén) khí hoặc mạch máu ở ngoại biên thưa thớt.
- X-quang ngực giúp
phát hiện một số bệnh phổi đồng mắc hoặc biến chứng của BPTNMT như: u phổi,
giãn phế quản, lao phổi, tràn khí màng phổi, suy tim, bất thường khung xương
lồng ngực, cột sống...
CLVT ngực độ phân giải
cao (HRCT)
- Giúp phát hiện sự
hiện diện và mức độ khí phế thũng (giãn phế nang), bóng (kén) khí, phát hiện
sớm ung thư phổi, giãn phế quản… đồng mắc với BPTNMT.
- Đánh giá người bệnh
trước khi chỉ định can thiệp giảm thể tích phổi bằng phẫu thuật hoặc đặt van
phế quản một chiều và trước khi ghép phổi.
Điện tâm đồ
Ở giai đoạn muộn có thể
thấy các dấu hiệu của tăng áp động mạch phổi và dày nhĩ phải: sóng P cao
(>2,5mm) nhọn đối xứng (P phế), trục phải (>110o), dày thất
phải (R/S ở V6 <1).
Siêu âm tim
Để phát hiện tăng áp
lực động mạch phổi, suy tim phải giúp cho chẩn đoán sớm tâm phế mạn.
Đo độ bão hòa oxy qua
da theo mạch đập (SpO2) và khí máu động mạch
Đo SpO2 và
xét nghiệm khí máu động mạch được chỉ định ở tất cả các người bệnh có dấu hiệu
suy hô hấp hoặc suy tim phải, để đánh giá mức độ và phân loại suy hô hấp, hỗ
trợ cho quyết định điều trị oxy dài hạn hoặc thở máy không xâm lấn tại nhà.
Đo thể tích khí cặn, đo
các thể tích phổi (phế thân ký, pha loãng Helium, rửa Nitrogen…)
Chỉ định khi người bệnh
có tình trạng khí phế thũng nặng, giúp lựa chọn phương pháp điều trị và đánh
giá hiệu quả điều trị.
Đo khả khuếch tán của
phổi (DLCO), đo các thể tích phổi bằng phế thân ký, pha loãng khí Heli… nếu
người bệnh có triệu chứng khó thở nặng hơn mức độ tắc nghẽn khi đo bằng CNHH.
Đo phế thân ký cần được
chỉ định trong những trường hợp nghi ngờ rối loạn thông khí tắc nghẽn nhưng
không phát hiện được bằng đo CNHH hoặc khi nghi ngờ rối loạn thông khí hỗn hợp.
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định BPTNMT theo GOLD:

Biểu
đồ 0.1. Lưu đồ chẩn đoán BPTNMT theo GOLD 2026
Cần chú ý theo dõi để
chẩn đoán kịp thời và điều trị thích hợp các trường hợp sau:
Tiền BPTNMT: có triệu
chứng hô hấp và/hoặc bất thường về cấu trúc, chức năng nhưng không có tắc nghẽn
đường thở trên chức năng hô hấp.
Chức năng hô hấp giảm
(FEV1 < 80% sau test đáp ứng với thuốc giãn phế quản) nhưng bảo tồn tỉ số
(FEV1/FVC ≥ 70%).
1.3.3. Chẩn đoán phân
biệt
- Lao phổi: gặp ở mọi
lứa tuổi, ho kéo dài, khạc đờm hoặc có thể ho ra máu, sốt nhẹ về chiều, gầy sút
cân... X-quang phổi: tổn thương nhiều nốt đông đặc tụ đám hoặc dạng hang,
thường ở đỉnh phổi. Xét nghiệm đờm hoặc dịch rửa phế quản: nhuộm huỳnh quang
thấy trực khuẩn kháng toan-cồn, hoặc Xpert MTB/RIF có vi khuẩn lao, hoặc thấy
trực khuẩn lao khi nuôi cấy trên môi trường lỏng MGIT.
- Giãn phế quản: ho
khạc đờm tái đi tái lại, đờm đục hoặc đờm mủ nhiều, nghe phổi có ran nổ, ran ẩm
khu trú vùng tổn thương. Chụp cắt lớp vi tính ngực độ phân giải cao: thấy hình
ảnh giãn phế quản.
- Suy tim ứ huyết: tiền
sử tăng huyết áp, bệnh lý van tim; X-quang phổi: bóng tim to, có thể có dấu
hiệu phù phổi, đo chức năng hô hấp: rối loạn thông khí hạn chế, không có tắc
nghẽn, xét nghiệm pro-BNP tăng, suy tim có giảm chức năng tâm thu thất trái.
- Viêm toàn tiểu phế
quản lan tỏa (hội chứng xoang phế quản): gặp ở cả 2 giới, hầu hết nam giới
không hút thuốc, có viêm mũi xoang mạn tính. X-quang phổi và chụp cắt lớp vi
tính độ phân giải cao: nhiều nốt mờ nhỏ lan tỏa dạng trung tâm tiểu thùy và ứ
khí.
- Hen phế quản (xem chi
tiết bảng 1.2).
Bảng 0.2. Chẩn đoán phân biệt BPTNMT với hen
phế quản
|
Hen
phế quản
|
BPTNMT
|
|
Thường bắt đầu khi
còn nhỏ
|
Xuất hiện thường ở
người > 40 tuổi
|
|
Các triệu chứng biến
đổi từng ngày
|
Các triệu chứng tiến
triển nặng dần
|
|
Tiền sử dị ứng thời
tiết, dị ứng thức ăn, viêm khớp, và/hoặc chàm. Gia đình có người cùng huyết
thống mắc hen.
|
Tiền sử hút thuốc lá,
thuốc lào nhiều năm
|
|
Các triệu chứng ho,
khó thở thường xuất hiện vào ban đêm/sáng sớm
|
Khó thở lúc đầu khi
gắng sức sau khó thở liên tục
|
|
Ngoài cơn hen có thể
hoàn toàn bình thường
|
Luôn có triệu chứng
tại phổi
|
|
Giới hạn luồng khí
thường dao động: FEV1 tăng hơn 12% và 200ml hoặc hồi phục hoàn toàn: FEV1/FVC
≥ 70% sau test hồi phục phế quản
|
Rối loạn thông khí
tắc nghẽn không phục hồi hoàn toàn: FEV1/FVC < 70% sau test hồi phục phế
quản
|
|
Hiếm khi có biến
chứng tâm phế mạn hoặc suy hô hấp mạn
|
Biến chứng tâm phế
mạn hoặc suy hô hấp mạn tính thường xảy ra ở giai đoạn cuối
|
1.4.
Đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Mục tiêu của đánh giá
BPTNMT để xác định mức độ giới hạn của luồng khí thở, ảnh hưởng của bệnh đến
tình trạng sức khỏe của người bệnh và nguy cơ đợt cấp trong tương lai giúp điều
trị bệnh hiệu quả hơn.
Đánh giá BPTNMT dựa
trên các khía cạnh sau: mức độ tắc nghẽn đường thở, độ nặng của triệu chứng
hiện tại và sự ảnh hưởng của bệnh đối với sức khỏe và cuộc sống của người bệnh,
tiền sử đợt cấp trong năm trước) và các bệnh lý đồng mắc.
1.4.1. Đánh giá mức
độ tắc nghẽn đường thở
Bảng
0.3. Mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD 2026
|
Giai
đoạn GOLD
|
Giá
trị FEV1 sau test hồi phục phế quản
|
|
GOLD 1
|
FEV1 ≥ 80% trị số lý
thuyết
|
|
GOLD 2
|
50% ≤ FEV1 < 80%
trị số lý thuyết
|
|
GOLD 3
|
30% ≤ FEV1< 50%
trị số lý thuyết
|
|
GOLD 4
|
FEV1 < 30% trị số
lý thuyết
|
1.4.2. Đánh giá triệu
chứng và ảnh hưởng của bệnh
Công cụ để đánh giá
triệu chứng và sự ảnh hưởng của bệnh lên tình trạng sức khỏe của người bệnh:
- Bộ câu hỏi về mức độ
khó thở được hiệu chỉnh của Hội đồng nghiên cứu y khoa Anh (mMRC) (phụ lục 3):
gồm 5 câu hỏi với điểm cao nhất là 4, điểm càng cao thì mức độ khó thở càng
nhiều. mMRC < 2 được định nghĩa là ít triệu chứng, mMRC ≥ 2 được định nghĩa
là nhiều triệu chứng.
- Bộ câu hỏi CAT (phụ
lục 2): gồm 8 câu hỏi, tổng điểm 40, điểm càng cao thì ảnh hưởng của bệnh tới
tình trạng sức khỏe của người bệnh càng lớn. CAT < 10 được định nghĩa ít
triệu chứng, ít ảnh hưởng, CAT ≥ 10 được định nghĩa nhiều triệu chứng, ảnh
hưởng của bệnh nhiều, CAT ≥ 20 được định nghĩa rất nhiều triệu chứng. CAT đánh
giá ảnh hưởng của BPTNMT lên tình trạng sức khỏe chung của người bệnh toàn diện
hơn mMRC.
1.4.3. Đánh giá nguy
cơ đợt cấp
Dựa vào tiền sử đợt cấp
trong năm trước (số đợt cấp và mức độ nặng của đợt cấp) mà người bệnh được phân
loại vào 2 nhóm nguy cơ. Số đợt cấp/năm: không có đợt cấp mức độ trung bình
hoặc nặng được định nghĩa là nguy cơ thấp. Số đợt cấp/năm: có từ 1 đợt cấp mức
độ trung bình hoặc nặng được định nghĩa là nguy cơ cao. Có thể áp dụng các bảng
câu hỏi từ hiệp hội quốc tế (GAAPP, IPCRG,..) phù hợp nhằm phát hiện sớm người
bệnh BPTNMT có nguy cơ đợt cấp cao.
1.4.4. Đánh giá bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính theo nhóm ABE
Phân nhóm ABE dựa vào:
- Mức độ triệu chứng,
ảnh hưởng của bệnh (mMRC, CAT).
- Nguy cơ đợt cấp (tiền
sử đợt cấp/năm, độ nặng đợt cấp). BPTNMT được đánh giá tổ hợp theo biểu đồ 1.2:

FEV1: Thể tích thở ra
gắng sức trong giây đầu tiên. FVC: Dung tích sống gắng sức. mMRC: bộ câu hỏi
sửa đổi của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh; CAT: Bộ câu hỏi đánh giá COPD.
Biểu
đồ 0.2. Đánh giá BPTNMT theo nhóm ABE (Theo GOLD 2026)
- BPTNMT nhóm A -
Nguy cơ thấp, ít triệu chứng: không có đợt cấp mức độ trung bình hoặc nặng
trong năm trước và mMRC 0 - 1 hoặc CAT < 10.
- BPTNMT nhóm B -
Nguy cơ thấp, nhiều triệu chứng: không có đợt cấp mức độ trung bình hoặc
nặng trong năm trước và mMRC ≥ 2 hoặc điểm CAT ≥ 10.
- BPTNMT nhóm E -
Nguy cơ cao: có từ 1 đợt cấp mức độ trung bình hoặc nặng trong năm trước.
Sau khi đánh giá toàn
diện, người bệnh nên được phân loại theo mức độ tắc nghẽn GOLD 1234 và nhóm
ABE. Ví dụ: Chẩn đoán: BPTNMT GOLD 4, nhóm B.
1.5. Chỉ định chuyển
khám chuyên khoa
Người bệnh nên được xem
xét chuyển khám chuyên khoa Hô hấp trong một số tình huống lâm sàng sau:
- Người bệnh có triệu
chứng lâm sàng và/hoặc X-quang ngực gợi ý BPTNMT nhưng kết quả chức năng hô hấp
không thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán xác định.
- Người bệnh bị đợt cấp
thường xuyên hoặc phải nhập viện nhiều lần dù đã được điều trị đầy đủ bằng các
thuốc hiện có.
- Người bệnh cần được
cá thể hóa điều trị dựa trên kiểu hình như: hen chồng lấp BPTNMT, BPTNMT có
căng phồng phổi quá mức, BPTNMT có khí phế thũng khu trú hoặc có bóng khí, suy
hô hấp giảm oxy máu hoặc tăng CO2 máu.
- Người bệnh BPTNMT có
các bệnh đồng mắc khó điều trị (xem chương Bệnh đồng mắc).
CHƯƠNG 2. QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC
NGHẼN MẠN TÍNH GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH
2.1.
Mục tiêu điều trị
- BPTNMT hiện chưa có
biện pháp điều trị khỏi, vì vậy mục tiêu điều trị bao gồm giảm triệu chứng và
các nguy cơ cho người bệnh.
- Giảm triệu chứng gồm:
kiểm soát các triệu chứng cơ năng, thực thể, tăng khả năng gắng sức, nâng cao
sức khỏe chung.
- Giảm nguy cơ gồm: làm
chậm tiến triển bệnh, phòng ngừa và điều trị các đợt cấp, giảm tỷ lệ tử vong.
- Các biện pháp điều
trị gồm điều trị không thuốc và điều trị bằng thuốc.
2.2.
Biện pháp điều trị chung (điều trị không thuốc)
2.2.1. Ngừng tiếp xúc
với yếu tố nguy cơ
- Cần hỏi bệnh tỉ mỉ để
phát hiện các yếu tố nguy cơ. Các phơi nhiễm trong môi trường có thể dẫn đến
BPTNMT bao gồm hút thuốc lá thuốc lào, phơi nhiễm với các phần tử khí độc hại
trong môi trường trong nhà, ngoài nhà và phơi nhiễm nghề nghiệp.
- Cai nghiện thuốc lá
thuốc lào, ngừng tiếp xúc với khói thuốc lá, thuốc lào, bụi, khói bếp rơm, củi,
than, khí độc... cần được áp dụng cho tất cả người bệnh BPTNMT.
2.2.2. Cai nghiện thuốc
lá, thuốc lào
Cai thuốc lá không chỉ
là biện pháp dự phòng BPTNMT mà còn là biện pháp rất quan trọng trong điều trị
toàn diện và ngăn chặn BPTNMT tiến triển nặng lên. Trong cai thuốc lá, việc tư
vấn cho người bệnh đóng vai trò then chốt, các thuốc hỗ trợ cai giúp người bệnh
cai thuốc lá dễ dàng hơn.
Thực hiện theo hướng
dẫn cai nghiện thuốc lá, thuốc lào.
2.2.3. Tiêm vắc xin
phòng nhiễm trùng đường hô hấp: thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế
2.2.4. Phục hồi chức
năng hô hấp
Xem chi tiết tại chương 5.
2.2.5. Các điều trị
khác
- Vệ sinh mũi họng
thường xuyên.
- Giữ ấm cổ ngực về mùa
lạnh.
- Phát hiện sớm và điều
trị kịp thời các nhiễm trùng tai mũi họng, răng hàm mặt.
- Phát hiện và điều trị
các bệnh đồng mắc.
2.3.
Các thuốc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
2.3.1. Các nhóm thuốc điều
trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Thuốc giãn phế quản
được coi là nền tảng trong điều trị triệu chứng BPTNMT. Ưu tiên các loại thuốc
giãn phế quản tác dụng kéo dài, dùng đường phun hít hoặc khí dung.
- Liều lượng và đường
dùng của các thuốc này tùy thuộc vào mức độ và giai đoạn bệnh (tham khảo phụ
lục thuốc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính).
- Phối hợp các nhóm
thuốc giãn phế quản đem lại hiệu quả tốt hơn từng loại đơn độc. Ví dụ SABA+SAMA
hiệu quả hơn SABA hoặc SAMA đơn độc, LAMA+LABA hiệu quả giảm triệu chứng tốt
hơn LAMA đơn độc.
- Theophyllin hiệu quả
giãn phế quản không nhiều, tuy nhiên vẫn còn là một lựa chọn ở những nước thu
nhập trung bình/thấp như Việt Nam.
Bảng
0.1. Các nhóm thuốc chính điều trị BPTNMT
|
Nhóm
thuốc
|
Tên
viết tắt
|
Hoạt
chất
|
|
Cường beta 2
adrenergic tác dụng ngắn
|
SABA
|
Salbutamol,
Terbutaline
|
|
Cường beta 2
adrenergic tác dụng dài
|
LABA
|
Formoterol,
Indacaterol, Olodaterol, Salmeterol, Vilanterol, Bambuterol
|
|
Kháng cholinergic tác
dụng ngắn
|
SAMA
|
Ipratropium
|
|
Kháng cholinergic tác
dụng dài
|
LAMA
|
Glycopyronium
Tiotropium
Umeclidinium
|
|
Cường beta 2 adrenergic
tác dụng ngắn + kháng cholinergic tác dụng ngắn
|
SABA+SAMA
|
Ipratropium/salbutamol
Ipratropium/fenoterol
|
|
Cường beta 2
adrenergic tác dụng dài + kháng cholinergic tác dụng dài
|
LABA+LAMA
|
Formoterol/Glycopyronium
Indacaterol/Glycopyronium
Olodaterol/Tiotropium
Vilanterol/Umeclidinium
|
|
Corticosteroid dạng hít
+ cường beta 2 adrenergic tác dụng dài
|
ICS+LABA
|
Budesonide/Formoterol
Fluticasone/Vilanterol
Fluticasone/Salmeterol
|
|
Corticosteroid dạng hít
+ kháng cholinergic tác dụng dài+ cường beta 2 adrenergic tác dụng dài
|
ICS+LAMA+LABA 1 dụng
cụ
|
Budesonide/
Glycopyronium/ Formoterol
Fluticasone furoate/
Umeclidinium/ Vilanterol
|
|
Kháng sinh, kháng
viêm
|
Macrolide Kháng PDE4
|
Azithromycin,
Erythromycin
Roflumilast
|
|
Nhóm xanthine tác dụng
ngắn/dài
|
Xanthine
|
Theophyllin/Theostat
|
|
Thuốc loãng đờm
|
|
Carbocystein,
Erdosteine, N- acetylcysteine
|
Bảng
0.2. Mức liều một số loại corticosteroid dạng hít (ICS) (theo GINA 2025)
|
Corticosteroid
dạng hít
|
Người
trưởng thành và thanh thiếu niên
|
|
Thấp
|
Trung
bình
|
Cao
|
|
Beclometasone dipropionate
(HFA)
|
100
– 200
|
>200
– 400
|
>400
|
|
Budesonide (DPI)
|
200
– 400
|
>400
– 800
|
>800
|
|
Ciclesonide (HFA)
|
80
– 160
|
>160
– 320
|
>320
|
|
Fluticasone furoate
(DPI)
|
100
|
200
|
|
Fluticasone
propionate (DPI)
|
100
- 250
|
>250
– 500
|
>500
|
|
Fluticasone
propionate (HFA)
|
100
- 250
|
>250
– 500
|
>500
|
|
Mometasone furoate
DPI
|
Phụ
thuộc vào dụng cụ DPI, xem thông tin của sản phẩm
|
|
Liều
lượng tính bằng microgam. DPI: dụng cụ hít bột khô, HFA: hydroflouroalkane là
chất đẩy.
|
2.3.2. Lựa chọn dụng cụ
phân phối thuốc
Đa số các thuốc điều
trị BPTNMT được sử dụng dưới dạng thuốc phun hít thông qua các loại dụng cụ
phân phối thuốc hoặc khí dung. Có nhiều loại dụng cụ phân phối thuốc với hình
dạng, nguyên lý hoạt động khác nhau nhưng nói chung gồm các loại sau: bình xịt
định liều có dùng chất đẩy (MDI còn được viết tắt là pMDI) hoặc dùng lực nén
của lò xo (respimat), dụng cụ hít bột khô không có chất đẩy (DPI) và máy khí
dung. Các bước sử dụng dụng cụ phun hít thuốc gồm: chuẩn bị thuốc, thở ra hết
sức đến thể tích cặn rồi hít vào sâu hết sức (kết hợp với động tác ấn bình xịt
hoặc không cần ấn tùy loại dụng cụ), nín thở 10 giây và hít thở bình thường ít
nhất 30 giây trước khi lặp lại liều mới. Việc lựa chọn dụng cụ phân phối thuốc
phù hợp với người bệnh giúp đảm bảo người bệnh có thể sử dụng đúng kỹ thuật,
giúp thuốc được phát huy hiệu quả tối ưu.
Người bệnh cần được
hướng dẫn cách sử dụng dụng cụ phun hít thuốc trực tiếp bởi nhân viên y tế,
video hướng dẫn hoặc các trang web hướng dẫn. Tại mỗi lần tái khám định kỳ, cần
đánh giá kỹ thuật sử dụng dụng cụ phân phối thuốc của người bệnh bằng cách yêu
cầu người bệnh thực hiện cách sử dụng dụng cụ, phát hiện các lỗi sai và hướng
dẫn lại. Khi hiệu quả điều trị không đạt được như mong muốn, cần xem lại kỹ
thuật sử dụng dụng cụ phân phối thuốc trước khi quyết định thay đổi phác đồ.
Bảng
0.3. Các dụng cụ phân phối thuốc
|
Loại
dụng cụ
|
Đặc
điểm
|
|
Bình xịt định liều
pMDI/ Bình phun sương hạt mịn (Respimat)
|
Cần hít chậm và sâu,
phối hợp động tác đồng thời tay ấn bình xịt và miệng hít.
Có thể phối hợp với
buồng đệm (spacer) nếu người bệnh không đảm bảo kỹ thuật sử dụng thuốc
|
|
Bình hít bột khô
|
Cần lực hít mạnh và
sâu. Không cần phối hợp động tác.
|
|
Máy khí dung
|
Không cần nỗ lực hít
|
Nguyên lý lựa chọn dụng
cụ phân phối thuốc cần dựa vào đặc điểm của người bệnh (khả năng hít thuốc, khả
năng phối hợp động tác, khả năng nhận thức, sự ưa thích của người bệnh), tính
sẵn có của dụng cụ trên thị trường, giá cả, sự đơn giản khi sử dụng (ít loại
dụng cụ đơn giản hơn phối hợp nhiều loại dụng cụ, ít bước sử dụng đơn giản hơn
nhiều bước sử dụng dụng cụ).

Sơ
đồ 0.1. Cách lựa chọn dụng cụ phân phối thuốc trong BPTNMT
2.4.
Hướng dẫn lựa chọn thuốc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
2.4.1. Lựa chọn phác
đồ điều trị ban đầu
Thuốc giãn phế quản tác
dụng ngắn dạng hít (SABA hoặc SABA+SAMA) nên được kê cho tất cả người bệnh để giảm
nhanh triệu chứng khó thở (gọi là thuốc cắt cơn).
Bảng
0.4. Lựa chọn thuốc điều trị ban đầu theo phân nhóm ABE (áp dụng cho người bệnh
chưa từng điều trị thuốc duy trì)

* Phối hợp thuốc trong
cùng 1 dụng cụ hít có thể thuận tiện và hiệu quả hơn trong nhiều dụng cụ hít
Phác đồ trong Bảng 2.4
chỉ áp dụng cho người bệnh chưa từng sử dụng thuốc điều trị duy trì. Trong phác
đồ này, lựa chọn thuốc ưu tiên phải thỏa mãn điều kiện là thuốc có sẵn, khả
năng sử dụng đúng dụng cụ hít, chi phí và tác dụng phụ chấp nhận được. Trong
trường hợp không có sẵn thuốc ưu tiên như khuyến cáo thì xem xét thuốc thay thế
như được trình bày cụ thể sau đây.
a, Người bệnh nhóm A
Tất cả người bệnh nhóm
A nên được điều trị với thuốc giãn phế quản.
- Có thể lựa chọn nhóm
thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn dạng hít (SABA hoặc SABA+SAMA) hoặc tác dụng
kéo dài dạng hít (LABA hoặc LAMA). Chỉ dùng thuốc giãn phế quản dạng uống khi
không có dạng hít do thuốc dạng uống có thời gian khởi phát tác dụng chậm hơn,
hiệu quả giãn phế quản kém hơn và có nhiều tác dụng phụ hơn như tăng nhịp tim,
run cơ, hạ kali máu.
- Nếu có điều kiện,
thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài được ưu tiên sử dụng ngoại trừ những người
bệnh gần như không có khó thở.
b, Người bệnh nhóm B
- Lựa chọn điều trị tối
ưu là thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài. Với người bệnh nhóm B, nên khởi đầu
điều trị bằng phối hợp 2 thuốc giãn phế quản LABA+LAMA.
- Nếu không có sẵn phối
hợp LABA+LAMA, có thể lựa chọn khởi đầu điều trị với LABA hoặc LAMA. Không có
bằng chứng để khuyến cáo sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài ưu tiên
nhóm nào giúp giảm triệu chứng tốt hơn nhóm nào. Lựa chọn thuốc tuỳ thuộc vào
sự dung nạp và cải thiện triệu chứng của người bệnh.
- Nếu người bệnh nhóm B
nhưng có đặc điểm hen, hoặc đặc điểm gợi ý đáp ứng ICS (tiền sử được chẩn đoán
hen hoặc bệnh dị ứng, bạch cầu ái toan (BCAT) ≥ 300 tế bào/µl, FEV1 dao động
theo thời gian ≥ 400mL) xem xét sử dụng ICS+LABA.
c, Người bệnh nhóm E
- LABA+LAMA là lựa chọn
ưu tiên để khởi trị cho người bệnh nhóm E.
- Cân nhắc khởi trị
bằng ICS+LABA+LAMA cho người bệnh BPTNMT nhóm E có BCAT trong máu cao, đặc biệt
BCAT ≥ 300 tế bào/µl, ngưỡng để nhận biết nhóm người bệnh có khả năng cao hưởng
lợi giảm đợt cấp từ liệu pháp có chứa ICS.
- Nếu người bệnh BPTNMT
có đặc điểm hen thì nên được điều trị thuốc có chứa ICS.
- Nếu phải chỉ định ICS
thì ICS+LABA+LAMA trong một dụng cụ hít là lựa chọn ưu tiên vì phối hợp này
hiệu quả hơn ICS+LABA. Nếu không có sẵn ICS+LABA+LAMA trong một dụng cụ hít, có
thể thay thế bằng ICS+LABA và LAMA trong 2 dụng cụ hít.
- Không ủng hộ liệu
pháp có chứa ICS ở người bệnh bị viêm phổi ít nhất 2 lần trong năm qua, giãn
phế quản đáng kể, lao phổi cũ có di chứng mức độ trung bình đến nặng (tổn
thương chiếm nhiều hơn 1 thùy phổi hoặc > 25% diện tích toàn bộ 2 phổi).
- Nguy cơ viêm phổi
hiện hữu khi người bệnh có các yếu tố: lớn tuổi (>55 tuổi), BMI thấp (<25
kg/m2), tiền sử đợt cấp hoặc viêm phổi trong năm trước, mMRC cao,
FEV1 thấp (<50% GTDĐ), BCAT/máu < 2%, khí phế thũng và giãn phế quản. Do
đó cần thận trọng khi chỉ định liệu pháp chứa ICS cho nhóm đối tượng này.
2.4.2. Chuyển đổi điều
trị thuốc
Cần theo dõi sát người
bệnh khi điều trị phác đồ thuốc ban đầu. Theo dõi điều trị thuốc nên tuân theo
nguyên tắc: Xem xét – Đánh giá – Điều chỉnh.
- Xem xét: Triệu chứng
và nguy cơ đợt cấp
- Đánh giá: Kỹ thuật
hít và sự tuân thủ điều trị, các biện pháp điều trị không dùng thuốc
- Điều chỉnh: Chuyển
đổi phác đồ điều trị thuốc, bao gồm lên hoặc xuống thang điều trị, thay đổi
dụng cụ hít hoặc hoạt chất thuốc cùng nhóm.
Nếu người bệnh đáp ứng
tốt với điều trị ban đầu, tiếp tục duy trì phác đồ đó. Nếu không đáp ứng, cần
áp dụng theo nguyên tắc trên và chuyển đổi phác đồ điều trị nếu cần thiết.
Sơ đồ chuyển đổi điều
trị thuốc có thể áp dụng với bất kì người bệnh ở nhóm nào theo GOLD và không
phụ thuộc nhóm ABE ban đầu. Quyết định chuyển đổi dựa trên triệu chứng khó
thở/hạn chế khả năng gắng sức hoặc đợt cấp của bệnh. Nếu người bệnh còn nhiêu
triệu chứng và nhiều đợt cấp, nên chọn chuyển đổi theo hướng giảm đợt cấp.

Biểu
đồ 0.1. Sơ đồ chuyển đổi điều trị thuốc
a, Trường hợp người
bệnh vẫn còn khó thở hoặc hạn chế gắng sức với LABA hoặc LAMA đơn trị thì
khuyến cáo dùng LABA+LAMA
- Nếu thêm thuốc giãn
phế quản tác dụng kéo dài thứ 2 mà vẫn không cải thiện triệu chứng thì cân nhắc
chuyển đổi dụng cụ hít hoặc hoạt chất thuốc cùng nhóm.
- Thuốc giãn phế quản
tác dụng kéo dài dạng hít được khuyến cáo dùng đều đặn mỗi ngày để phòng ngừa
hoặc giảm triệu chứng, trong khi đó thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn thì
khuyến cáo không dùng mỗi ngày (mà dùng để cắt cơn khi cần) vì nguy cơ tác dụng
phụ tăng với liều tăng.
Ở tất cả các giai đoạn,
cần tìm các nguyên nhân gây khó thở khác (bệnh lý đồng mắc, biến chứng, …) và điều
trị phù hợp. Kĩ thuật hít kém và tuân thủ điều trị kém cũng là nguyên nhân gây
đáp ứng kém với điều trị.
Chuyển bác sĩ chuyên
khoa hô hấp để xem xét đánh giá toàn diện, cân nhắc chỉ định dùng ICS+LABA+LAMA
trong trường hợp người bệnh vẫn còn khó thở.
b, Trường hợp người
bệnh vẫn còn đợt cấp sau khi đã điều trị theo phác đồ ban đầu và tối ưu các
biện pháp điều trị khác
- Nếu người bệnh đang
được điều trị LABA hoặc LAMA đơn trị liệu: nâng bậc lên LABA+LAMA nếu BCAT
trong máu < 300 tế bào/µL.
- Nếu người bệnh đang
được điều trị LABA hoặc LAMA đơn trị liệu và BCAT/máu ≥ 300 tế bào/µL thì cân
nhắc nâng bậc lên ICS+LABA+LAMA.
- Nếu người bệnh đang
được điều trị LABA+LAMA: có thể áp dụng một trong hai phác đồ thay thế:
+ Nếu BCAT/máu ≥ 100 tế
bào/µL: nâng bậc với phác đồ ICS+LABA+LAMA
+ Nếu BCAT/máu < 100
tế bào/µL thì thêm Roflumilast nếu NB có FEV1<50% hoặc triệu chứng viêm phế
quản hoặc Azithromycin nếu NB từng hút thuốc.
- Nếu người bệnh đang
được điều trị với ICS+LABA+LAMA: có thể xem xét:
+ Thêm Roflumilast với
FEV1 < 50% dự đoán và viêm phế quản mạn tính, đặc biệt nếu người bệnh có ≥1
đợt cấp nhập viện trong năm trước.
+ Thêm macrolide:
Azithromycin cho người từng hút thuốc, cần xem xét tới yếu tố vi khuẩn kháng
thuốc hoặc tác dụng phụ giảm thính lực hoặc tương tác thuốc với thuốc tim mạch
(điện tâm đồ làm trước khi chỉ định dùng thuốc và 2-3 tuần sau khi bắt đầu
dùng: chống chỉ định khi QTc > 450ms, ngừng thuốc nếu kéo dài thêm khoảng QT
hoặc QTc > 450ms), không dùng ở người suy thận nặng (GFR<10ml/min).
+ Ngừng ICS: nếu có tác
dụng phụ nghiêm trọng hoặc không hiệu quả sau 3 tháng điều trị. Tuy nhiên, ở
người bệnh có BCAT/máu ≥ 300 tế bào/µL, nếu ngừng ICS có thể có nhiều đợt cấp
hơn.
- Người bệnh đang điều
trị với ICS+LABA: xem xét chỉ định ICS + LABA trước đó dựa vào tiền sử đợt cấp
hoặc đặc điểm gợi ý đáp ứng ICS có phù hợp không và người bệnh có đáp ứng với
ICS + LABA hay không (Biểu đồ 2.2).
+ Nếu chỉ định ICS +
LABA trước đó không phù hợp (tiền sử < 2 đợt cấp trung bình hoặc < 1 đợt
cấp nặng trong năm trước khởi trị ICS + LABA), xem xét chuyển sang LABA + LAMA
+ Nếu chỉ định ICS +
LABA trước đó phù hợp, NB hiện không còn đợt cấp (gợi ý có đáp ứng về đợt cấp
với điều trị ICS + LABA): NB hiện ít triệu chứng (ví dụ giảm khó thở so với
trước điều trị) thì tiếp tục ICS + LABA; NB hiện nhiều triệu chứng (vẫn còn khó
thở) thì xem xét nâng bậc lên ICS + LABA + LAMA.
+ Nếu tiếp tục có đợt
cấp thì nâng bậc lên ICS + LABA + LAMA nếu BCAT/máu ≥ 100 tế bào/µL, chuyển
sang LABA + LAMA nếu BCAT/máu < 100 tế bào/µL.
Lưu ý: BCAT/máu được
đếm trong giai đoạn ổn định và nên được đếm nhiều lần để phản ánh rõ đặc điểm
BCAT/máu của từng NB.
Lưu ý: Lựa chọn thuốc điều
trị cần được cá thể hóa và phù hợp với sự sẵn có của thuốc, khả năng sử dụng
đúng dụng cụ hít, chi phí điều trị, đáp ứng và sự ưa thích của người bệnh.

Biểu
đồ 0.2. Sơ đồ tiếp cận người bệnh đang điều trị với ICS+LABA
2.5.
Thở oxy dài hạn tại nhà
2.5.1. Mục tiêu
- Làm giảm khó thở và
giảm công hô hấp do giảm kháng lực đường thở và giảm thông khí phút.
- Giảm tình trạng tăng
áp động mạch phổi và tỷ lệ tâm phế mạn do cải thiện tình trạng thiếu oxy máu
mạn tính, giảm hematocrit, cải thiện huyết động học phổi.
2.5.2. Chỉ định
BPTNMT có suy hô hấp
mạn tính, thiếu oxy máu:
- PaO2 ≤ 55
mmHg hoặc SaO2 ≤ 88% trên hai mẫu máu trong vòng 3 tuần, người bệnh
trong giai đoạn ổn định, ở trạng thái nghỉ ngơi, không thở oxy, đã sử dụng các
biện pháp điều trị tối ưu.
- PaO2 từ 56
- 59 mmHg hoặc SaO2 ≤ 88% kèm thêm một trong các biểu hiện:
+ Dấu hiệu suy tim
phải.
+ Đa hồng cầu
(hematocrit > 55%).
+ Tăng áp động mạch
phổi đã được xác định (siêu âm Doppler tim...).
2.5.3. Lưu lượng, thời
gian thở oxy
- Lưu lượng oxy: 1-3
lít/phút, thời gian thở oxy ít nhất 16-18 giờ/24 giờ.
- Đánh giá lại khí máu
động mạch sau 30 phút để điều chỉnh lưu lượng oxy nhằm đạt mục tiêu PaO2
từ 65 - 70 mmHg, tương ứng với SaO2 tối ưu là 90 - 92% lúc nghỉ
ngơi.
- Để tránh tăng CO2
máu quá mức, khuyến cáo nên bắt đầu với lưu lượng thở oxy ≤ 2 lít/phút.
- Sau 60-90 ngày điều
trị với liệu pháp oxy, làm lại khí máu động mạch khi thở khí phòng hoặc thở oxy
với lưu lượng đã cho để đánh giá hiệu quả thở oxy và xem xét ngừng oxy nếu được
hoặc tiếp tục dùng, thay đổi lưu lượng nếu cần.
2.5.4. Các nguồn cung
cấp oxy
Bao gồm bình oxy, máy
chiết xuất oxy, ngoài ra còn có các bình oxy lỏng.
- Bình oxy cổ điển:
cồng kềnh và phải nạp thường xuyên. Thường dùng làm nguồn oxy dự phòng khi mất
điện hoặc lúc người bệnh đi ra khỏi nhà.
- Máy chiết xuất oxy từ
khí trời: thuận tiện cho các người bệnh ít hoạt động.
2.6.
Thở máy không xâm nhập
a, Thở máy không xâm
nhập trong đợt cấp
Đây là một trong những
biện pháp hỗ trợ hô hấp hiệu quả cho người bệnh BPTNMT trong đợt cấp. Nếu chỉ
định sớm sẽ giảm tỷ lệ phải đặt nội khí quản. Chỉ định, chống chỉ định và hướng
dẫn cụ thể xem thêm chương đợt cấp BPTNMT.
b, Thở máy không xâm
nhập giai đoạn ổn định
- Chỉ định thở máy
không xâm nhập (BiPAP) đối với người bệnh BPTNMT giai đoạn ổn định có tăng CO2
máu ban ngày (PaCO2 ≥ 53 mmHg) và tiền sử nhập viện gần đây.
- Người bệnh BPTNMT có
ngưng thở khi ngủ (chồng lấp BPTNMT và ngưng thở khi ngủ) chỉ định thở máy áp
lực dương liên tục (CPAP) giúp cải thiện thời gian sống thêm và giảm tần suất
nhập viện.
2.7.
Nội soi can thiệp và phẫu thuật
2.7.1. Phẫu thuật giảm
thể tích phổi (LVRS)
Căng phồng phổi là
nguyên nhân chính dẫn đến giảm chức năng hô hấp, tăng tỷ lệ nhập viện và tử
vong, tăng nặng triệu chứng khó thở và giảm hoạt động thể lực. Căng phồng phổi
rõ rệt nhất ở những người bệnh COPD có kiểu hình khí phế thũng chiếm ưu thế.
Với LVRS, phần khí phế thũng nhiều nhất sẽ được cắt bỏ. Những thay đổi cấu trúc
phổi do LVRS có thể giúp cải thiện đáng kể lưu lượng thở ra, cải thiện cơ thành
ngực, cơ hô hấp khác và cơ học tim, cải thiện FEV1, khoảng cách đi bộ và chất
lượng cuộc sống.
Những người bệnh phù
hợp cho LVRS: Tuổi < 75, khó thở nặng mặc dù đã điều trị nội khoa tối ưu và
phục hồi chức năng phổi tối đa, đã bỏ thuốc lá > 6 tháng, FEV1< 45%, DLCO
> 20%, RV >150%, TLC > 100%, RV/TLC tăng, hình ảnh chụp cắt lớp vi
tính cho thấy tình trạng căng phồng phổi quá mức và khí phế thũng phân bố không
đồng nhất với một số vùng có mô phổi được bảo tồn tốt hơn, khí phế thũng thùy
trên phổi, sau phục hồi chức năng, khoảng cách đi bộ 6 phút > 140m.
2.7.2. Ghép phổi
Người bệnh BPTNMT nên
được xem xét ghép phổi khi bệnh tiến triển nặng mặc dù đã điều trị nội khoa tối
đa, không có chỉ định phẫu thuật giảm thể tích phổi, có chỉ số BODE từ 5 - 6,
PaCO2 > 50 mmHg (6,6 kPa) và/ hoặc PaO2 < 60 mmHg
(8 kPa) và FEV1 < 25%. Những người bệnh BPTNMT nên được đưa vào danh sách
ghép phổi khi chỉ số BODE > 7, FEV1 < 15% - 20% và đã có ≥ 3 đợt cấp nặng trong
năm trước, hoặc một đợt cấp nặng kèm theo suy hô hấp tăng CO2 hoặc bị
tăng áp phổi từ trung bình đến nặng.
2.7.3. Giảm thể tích phổi
qua nội soi phế quản (endoscopic lung volume reduction: ELVR)
Ở những người bệnh
BPTNMT có khí phế thũng không đồng nhất hoặc đồng nhất và tình trạng căng phồng
phổi, kém đáp ứng với chăm sóc y tế tối ưu, có thể xem xét các phương thức nội
soi phế quản để giảm thể tích phổi.
Do tỷ lệ mắc bệnh và tử
vong liên quan đến phẫu thuật giảm thể tích phổi (LVRS), áp dụng các kỹ thuật nội
soi phế quản sẽ ít xâm lấn hơn. Một số kỹ thuật qua nội soi phế quản bao gồm
stent bắc cầu đường thở, đặt van một chiều nội phế quản (EBV), coil tự kích hoạt,
vật liệu gây bít tắc phế quản và kỹ thuật đốt nhiệt.
a, Van một chiều nội phế
quản (EBV- endobronchial valve)
EBV là kỹ thuật được
nghiên cứu kỹ nhất trong tất cả các kỹ thuật ELVR. Các nghiên cứu RCT cho thấy
sự gia tăng đáng kể FEV1 và khoảng cách đi bộ 6 phút, cải thiện tình trạng sức
khỏe, cải thiện điểm chất lượng cuộc sống so với nhóm chứng tại thời điểm 6
tháng và 12 tháng. Bất lợi chủ yếu ở nhóm điều trị van nội phế quản bao gồm
tràn khí màng phổi, tụt van ra ngoài hoặc thay đổi vị trí van.
b, Stent bắc cầu đường
thở
Stent bắc cầu đường thở
là việc tạo ra những đoạn cầu nối xuyên qua thành đường thở trung tâm vào vùng
nhu mô phổi có khí phế thũng để giải phóng khí cặn. Trong một thử nghiệm lâm
sàng ngẫu nhiên có đối chứng, người bệnh có những cải thiện ngắn hạn, nhưng
không phát hiện thấy sự cải thiện lâu dài về chức năng phổi, test đi bộ 6 phút
hoặc chất lượng cuộc sống.
2.8.
Theo dõi người bệnh
- Tái khám định kỳ 1 -
3 tháng 1 lần và cần đánh giá phân loại lại triệu chứng và đợt cấp để điều chỉnh
phác đồ điều trị phù hợp.
- Đo chức năng hô hấp mỗi
3 đến 6 tháng.
- Chụp X-quang tim phổi
mỗi 6 tháng hoặc khi có các dấu hiệu của đợt cấp hoặc viêm phổi.
- Đánh giá triệu chứng:
ho khạc đờm, khó thở, mệt mỏi, khả năng hoạt động, chất lượng giấc ngủ. Nên sử
dụng bộ câu hỏi CAT. Phát hiện sớm các dấu hiệu của đợt cấp và tác dụng phụ của
thuốc.
- Làm thêm một số xét
nghiệm thường quy như công thức máu, sinh hóa máu,… để phát hiện, điều trị các
biến chứng và các bệnh đồng mắc phối hợp (bệnh tim mạch, ung thư phổi, loãng
xương, đái tháo đường...).
- Đánh giá khả năng hoạt
động, hợp tác với thầy thuốc và tái hoà nhập cộng đồng.
- Giáo dục người bệnh về
kỹ thuật sử dụng các dụng cụ phân phối thuốc, tuân thủ điều trị, tránh tiếp xúc
với yếu tố nguy cơ và áp dụng các phương pháp dự phòng đợt cấp.
- Mỗi lần khám lại, cần
yêu cầu người bệnh thực hiện thao tác sử dụng dụng cụ hít và kiểm tra hướng dẫn
lại cho người bệnh kỹ thuật sử dụng các dụng cụ phân phối thuốc.
Lưu ý: đối với tuyến y
tế ban đầu, tuỳ theo nguồn nhân lực và sự sẵn có của thuốc, máy móc phục vụ chẩn
đoán và điều trị người bệnh, có thể triển khai:
- Quản lý người bệnh
BPTNMT ở giai đoạn ổn định sau khi đã được tuyến trên chẩn đoán và có phác đồ điều
trị.
- Hướng dẫn tư vấn người
bệnh cai thuốc lá, ngừng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ. Hướng dẫn, kiểm tra
việc dùng thuốc của người bệnh theo đơn của các cơ sở y tế tuyến cơ bản hoặc
tuyến chuyên sâu. Theo dõi và phát hiện các tác dụng phụ của thuốc, phát hiện
các triệu chứng của đợt cấp và đáp ứng với điều trị (xem thêm chương
3) để kịp thời chuyển tuyến trên nếu thấy cần.
CHƯƠNG 3. HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ĐỢT CẤP
BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
3.1.
Đại cương
Ở người bệnh BPTNMT, đợt
cấp là tình trạng nặng lên trong vòng 14 ngày qua, được đặc trưng bởi khó thở
và/hoặc ho khạc đờm, có thể kèm tăng tần số thở và/hoặc tăng nhịp tim, thường
liên quan đến tăng đáp ứng viêm tại phổi hoặc toàn thân do nhiễm trùng phế quản
hoặc do ô nhiễm không khí hoặc do tổn hại khác với phế quản.
Đợt cấp BPTNMT thường
do các yếu tố kích phát làm tăng đáp ứng viêm trong phế quản, gây ra phù nề
niêm mạc, tăng tiết đờm và co thắt phế quản. Tình trạng này sẽ gây giới hạn luồng
khí thở, từ đó xuất hiện căng phồng phổi động quá mức và tạo cảm giác khó thở.
Trong một đợt cấp, triệu chứng thường kéo dài 7-10 ngày, nhưng triệu chứng có
thể dai dẳng hơn ở một số người bệnh. Đợt cấp làm giảm chất lượng cuộc sống,
làm tăng tốc độ sụt giảm chức năng hô hấp phổi, gây nhập viện và thậm chỉ tử
vong.
3.2.
Nguyên nhân
Nguyên nhân do nhiễm
trùng: đây là nguyên nhân thường gặp nhất, chiếm tới 70-80% nguyên nhân gây đợt
cấp BPTNMT:
- Vi khuẩn: chiếm tới
50%, các vi khuẩn thường gặp là Haemophilus influenzae, Streptococcus
pneumoniae, Moraxella catarrhalis, Pseudomonas aeruginosa. Người bệnh bị đợt
cấp nặng phải nhập viện còn có thể nhiễm các vi khuẩn Gram âm không sinh men
như Acinetobacter baumannii, Stenotrophomonas maltophilia, Peudomonas spp.,…;
các vi khuẩn đường ruột khác như Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae,
Klebsiella aerogenes, Proteus spp.,… và Staphylococcus aureus (kể cả
chủng kháng methicillin). Gợi ý nguyên nhân nhiễm vi khuẩn khi người bệnh khạc
đờm tăng và đờm mủ.
- Virus: thường gặp là
virus gây bệnh cảm (Rhinovirus, virus corona), cúm, á cúm, virus hợp bào
hô hấp. Gợi ý nguyên nhân virus khi người bệnh có triệu chứng đường hô hấp
trên: chảy mũi, nghẹt mũi, đau họng hoặc rát họng, ho; nếu có thêm triệu chứng
toàn thân như sốt, lạnh run, mệt mỏi, đau cơ toàn thân sẽ gợi ý nguyên nhân
cúm.
- Không do nhiễm trùng:
+ Ô nhiễm không khí
(khói thuốc, tiếp xúc khói bụi nghề nghiệp, tiếp xúc bụi mịn).
+ Giảm nhiệt độ môi trường
(trong và ngoài nhà) đột ngột; viêm có tăng bạch cầu ái toan; kỹ thuật hít thuốc
điều trị duy trì không đúng, ngưng thuốc điều trị duy trì đột ngột.
+ Dùng thuốc an thần,
thuốc ngủ.
- Một số trường hợp
không rõ căn nguyên.
3.3.
Chẩn đoán
3.3.1. Triệu chứng lâm
sàng của đợt cấp BPTNMT
Người bệnh đã được chẩn
đoán BPTNMT xuất hiện các triệu chứng nặng hơn thường ngày, hoặc các trường hợp
tuổi trung niên chưa có chẩn đoán, nhưng xuất hiện các triệu chứng:
- Triệu chứng hô hấp:
+ Ho tăng.
+ Khó thở tăng hoặc
tăng tần số thở.
+ Khạc đờm tăng và/hoặc
thay đổi màu sắc của đờm: đờm chuyển thành đờm mủ.
+ Nghe phổi thấy rì rào
phế nang giảm, hoặc ran rít, ran ngáy lan tỏa 2 phổi.
+ Các biểu hiện khác có
thể có hoặc không có tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh:
+ Tim mạch: nặng ngực,
nhịp nhanh, loạn nhịp. Các dấu hiệu của tâm phế mạn (phù, tĩnh mạch cổ nổi, gan
to…).
+ Triệu chứng toàn thân
có thể có: sốt, rối loạn tri giác, trầm cảm, mất ngủ, giảm khả năng gắng sức…
+ Trường hợp nặng có dấu
hiệu suy hô hấp cấp: thở nhanh nông hoặc thở chậm, tím môi đầu chi, nói ngắt
quãng, co kéo cơ hô hấp phụ, vã mồ hôi…
3.3.2. Các xét nghiệm
cho đợt cấp BPTNMT tại bệnh viện
Với các dấu hiệu lâm
sàng như đã mô tả ở trên, người bệnh có thể được làm một số xét nghiệm cần thiết
để chẩn đoán xác định hoặc loại trừ chẩn đoán phân biệt và hỗ trợ cho điều trị.
Bảng
0.1. Giá trị của các xét nghiệm trong đánh giá đợt cấp BPTNMT
|
Xét
nghiệm
|
Có
thể phát hiện
|
|
Đo SpO2
|
Giảm oxy máu
|
|
Khí máu động mạch
|
Tăng CO2
máu, giảm oxy máu
Toan máu, kiềm máu.
|
|
X-quang phổi
|
Giúp phát hiện viêm
phổi, tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi
|
|
Công thức máu
|
Thiếu máu, đa hồng
cầu
Tăng bạch cầu, tăng
bạch cầu ái toan
|
|
Xét nghiệm đờm
|
Nhuộm Gram
Cấy đờm và làm kháng
sinh đồ
|
|
Điện tim
|
Rối loạn nhịp tim:
nhịp nhanh, ngoại tâm thu, rung nhĩ
Thiếu máu cơ tim cục
bộ
Dấu hiệu suy tim
phải, suy tim trái
|
|
Siêu âm tim
|
Dãn thất phải
Tăng áp lực động mạch
phổi
|
|
Sinh hoá máu
|
Rối loạn điện giải
Rối loạn chức năng
gan, thận, tăng hoặc hạ đường huyết, các rối loạn chuyển hoá
Tăng BNP, NT-proBNP:
Suy tim
|
|
Đông máu
|
Tăng D-Dimer: huyết
khối – tắc động mạch phổi
Tăng các dấu ấn viêm:
Protein phản ứng C (CRP), tăng Procalcitonin
|
|
Chức năng hô hấp
|
Rối loạn thông khí
tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn; đo chức năng hô hấp sau khi đợt cấp ổn
định
|
3.3.3. Chẩn đoán xác
định đợt cấp BPTNMT
Đợt cấp BPTNMT thường
được chẩn đoán xác định dựa vào các triệu chứng lâm sàng đã đề cập bên trên.
Hoặc người bệnh đã được chẩn đoán BPTNMT và có triệu chứng đợt cấp theo tiêu
chuẩn Anthonisen (1987): tình trạng xấu đi ít nhất 2 ngày liên tục của ≥ 2
triệu chứng chính gồm tăng khó thở, tăng lượng đờm, đờm chuyển thành đờm mủ
(thay đổi màu sắc của đờm) hoặc tình trạng xấu đi của bất kỳ triệu chứng chính
nào kể trên kèm tăng lên ≥ 2 ngày liên tục của bất kỳ triệu chứng phụ: đau
họng; chảy nước mũi và/hoặc nghẹt mũi; sốt không có nguyên nhân khác.
Vì chẩn đoán đợt cấp
BPTNMT chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, trong khi đó, các triệu chứng này
có thể xuất hiện ở những bệnh khác hoặc bệnh đồng mắc với BPTNMT. Do đó, bác sĩ
có thể chỉ định thêm các xét nghiệm như trong Bảng 3.1 để loại trừ các chẩn
đoán phân biệt tương ứng của đợt cấp BPTNMT.
3.3.4. Đánh giá độ
nặng và phân tầng nguy cơ của đợt cấp BPTNMT
a, Theo đề xuất Rome
(2022)
Bảng
0.2. Phân loại độ nặng đợt cấp BPTNMT theo đề xuất Rome (năm 2022)
|
Mức
độ nặng
|
Tiêu
chuẩn
|
|
Nhẹ
|
• Mức độ khó thở
VAS<5*
• Nhịp thở < 24
• Nhịp tim <
95ck/phút
• SaO2 khí
trời khi nghỉ ngơi > 92% (hoặc đang thở oxy dài hạn với liều đã được chỉ
định) Và/hoặc thay đổi ≤ 3% (giá trị đã biết)
• CRP < 10mg/L
|
|
Trung bình (khi thỏa
mãn ít nhất 3 trong 5 tiêu chuẩn)
|
• Mức độ khó thở VAS
> 5*
• Nhịp thở ≥ 24
• Nhịp tim ≥
95ck/phút
• SaO2 khí
trời khi nghỉ ngơi < 92% (hoặc liều oxy thở thường xuyên) và/hoặc thay đổi
>3% (giá trị đã biết)
• CRP ≥ 10mg/L
• Khí máu (nếu có thể
làm được): hạ oxy máu (PaO2 ≤ 60mmHg) và hoặc tăng CO2
máu (PaCO2 > 45 mmHg) nhưng chưa bị toan máu (pH >7,35)
|
|
Nặng
|
Thoả mãn mức độ trung
bình và kèm theo:
Mới tăng hoặc tăng nặng
lên PaCO2 và toan hóa máu (PaCO2 >45mmHg và
pH<7,35)
|
*(Thang điểm khó thở
trực quan VAS: từ 0 đến 10, với 0 là không khó thở, 10 là khó thở nhiều nhất
mà người bệnh từng cảm nhận.)
b, Theo tiêu chuẩn
Anthonisen
Phân loại nguy cơ nhiễm
khuẩn trong đợt cấp BPTNMT theo tiêu chuẩn Anthonisen:
- Nặng: có đủ 3 triệu
chứng chính gồm khó thở tăng, số lượng đờm tăng và đờm chuyển thành đờm mủ (đờm
đổi màu).
- Trung bình: có 2
trong số 3 triệu chứng chính gồm khó thở tăng, số lượng đờm tăng, đờm chuyển
thành đờm mủ (đờm đổi màu).
- Nhẹ: có 1 trong số 3
triệu chứng chính và có ít nhất 1 trong các triệu chứng sau: ho tăng; khò khè
(thở rít) tăng; sốt không vì một nguyên nhân nào khác; có nhiễm khuẩn đường hô
hấp trên (đau họng, chảy mũi nước) trong vòng 5 ngày trước; hoặc nhịp thở hoặc
nhịp tim tăng > 20% so với ban đầu.
Phân loại độ nặng đợt
cấp BPTNMT theo tiêu chuẩn Anthonisen chủ yếu dành cho các đợt cấp do nguyên
nhân nhiễm trùng, để giúp bác sĩ quyết định có hay không dùng kháng sinh cho
đợt cấp.
c, Phân loại mức độ
nặng đợt cấp BPTNMT khi nhập viện: Xem bảng 3.3
d, Các yếu tố nguy cơ
cho kết cục xấu của đợt cấp BPTNMT
- Có bệnh đồng mắc (đặc
biệt suy tim hoặc bệnh tim thiếu máu cục bộ).
- Nhập viện vì đợt cấp
BPTNMT trong vòng 3 tháng trước.
- Có ≥ 2 đợt cấp BPTNMT
nhẹ - trung bình trong năm trước.
- Đã được chẩn đoán
BPTNMT có mức độ tắc nghẽn đường dẫn khí nặng hoặc rất nặng (FEV1 < 50%).
- Đã có chỉ định thở
oxy dài hạn, thở máy không xâm nhập tại nhà.
- ≥ 65 tuổi
e, Các yếu tố nguy cơ
nhiễm Pseudomonas aeruginosa:
- Có bằng chứng BPTNMT
rất nặng (FEV1 < 30%).
- Có vi khuẩn thường
trú mạn tính hoặc đã phân lập được Pseudomonas aeruginosa. trong đờm
trước đây (đặc biệt trong vòng 12 tháng qua).
- Có giãn phế quản trên
X-quang hoặc CT ngực.
- Dùng kháng sinh phổ
rộng trong vòng 3 tháng qua.
- Có dùng kéo dài glucocorticoid
toàn thân.
1.6. 3.4.
Hướng dẫn điều trị đợt cấp BPTNMT
Mục tiêu điều trị đợt
cấp BPTNMT: Giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của đợt cấp hiện tại và ngăn chặn sự
xuất hiện của đợt cấp trong tương lai.
3.4.1. Quyết định nơi điều
trị đợt cấp BPTNMT
Các người bệnh đợt cấp
BPTNMT nhẹ được điều trị ngoại trú. Việc quyết định nơi điều trị đợt cấp BPTNMT
tùy thuộc vào nhiều yếu tố: cảm nhận mức độ khó thở của người bệnh, đánh giá sự
cần thiết phải nhập viện của bác sĩ, điều kiện chăm sóc tại nhà hoặc tại bệnh viện,
khoảng cách từ nhà người bệnh đến cơ sở y tế và bệnh đồng mắc. Bác sĩ có thể
dựa vào các triệu chứng của đợt cấp BPTNMT để quyết định nơi điều trị cho người
bệnh: nhẹ điều trị ngoại trú; trung bình điều trị tại khoa Nội; nặng điều trị
tại khoa Hô hấp hoặc Hồi sức tích cực (ICU).
3.4.2. Tiêu chuẩn nhập
viện
- Các triệu chứng hô
hấp đột ngột nặng lên nhiều (khó thở nặng, co kéo cơ hô hấp phụ, rối loạn tri
giác, giảm bão hoà oxy, toan hô hấp, ngủ gà)
- Suy hô hấp cấp
- Xuất hiện các triệu
chứng: tím, phù ngoại biên
- Đợt cấp không đáp ứng
với điều trị ban đầu, diễn biến xấu đi
- Có các bệnh đồng mắc
nặng: suy tim, rối loạn nhịp
- Tuổi cao không có
người chăm sóc tại nhà
Bảng
0.3. Phân loại mức độ suy hô hấp trong đợt cấp BPTNMT khi nhập viện và cân nhắc
nơi điều trị
|
Mức
độ suy hô hấp
|
Tiêu
chuẩn
|
|
Không suy hô hấp (Điều
trị tại khoa nội hoặc khoa hô hấp)
|
- Nhịp thở ≤ 24
lần/phút
- Không co kéo cơ hô
hấp phụ
- Không rối loạn tri
giác
- Tình trạng oxy hoá
máu được cải thiện khi được thở oxy với FiO2 < 35%
- Không tăng PaCO2
- pH bình thường
|
|
Suy hô hấp cấp không
đe doạ tính mạng (Điều trị tại khoa hô hấp hoặc ICU)
|
- 25 < Nhịp thở ≤
30 lần/phút
- Co kéo cơ hô hấp
phụ
- Không rối loạn tri
giác
- Tình trạng giảm oxy
máu cải thiện khi thở oxy với 35
< FiO2
≤ 40%
- PaCO2
tăng hơn so với trước hoặc PaCO2 từ 50 – 60mmHg
- pH bình thường.
|
|
Suy hô hấp cấp đe doạ
tính mạng (Điều trị tại ICU)
|
- Nhịp thở > 30
lần/phút
- Co kéo cơ hô hấp
phụ
- Rối loạn tri giác
mới xuất hiện
- Tình trạng giảm oxy
máu có hoặc không cải thiện khi được thở oxy với FiO2 > 40%;
PaCO2 > 60mmHg, hoặc có toan hoá máu (pH ≤ 7,25).
|
3.4.3. Điều trị ngoại
trú đợt cấp BPTNMT
a, Thuốc giãn phế quản
tác dụng ngắn
Cường β2 tác dụng ngắn
dạng hít (SABA) kèm hoặc không kèm kháng cholinergic tác dụng ngắn dạng hít
(SAMA) là thuốc điều trị ban đầu cho đợt cấp BPTNMT. Trong đợt cấp điều trị
ngoại trú thì các thuốc này được dùng bằng bình hít định liều (MDI) kèm hoặc
không kèm buồng đệm. Khí dung được chỉ định cho người bệnh có khó thở trong đợt
cấp, có vấn đề phối hợp tay bóp miệng hít (lớn tuổi, bệnh lý thần kinh cơ, run
cơ) và không có sẵn buồng đệm. Tần suất và liều lượng: tùy theo nhu cầu giảm
khó thở của người bệnh, thuốc được dùng khi khó thở hoặc chia 3-4 lần/ngày. Ví
dụ: salbutamol MDI 100 µg liều 2-4 nhát/lần, mỗi 1 giờ cho 2-3 liều đầu, sau đó
mỗi 2-4 giờ, sau đó mỗi 6-8 giờ tùy đáp ứng của người bệnh;
fenoterol/ipratropium MDI 50/20 µg liều 2 nhát/lần, tần suất giống salbutamol
MDI hoặc thưa hơn do ipratropium tác dụng kéo dài 6-8 giờ thay vì 4-6 giờ của
salbutamol.
b, Thuốc giãn phế quản
tác dụng kéo dài
Tiếp tục dùng (nếu đã
dùng) hoặc khởi động (nếu chưa dùng) các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài
LAMA hoặc LABA+LAMA hoặc ICS+LABA hoặc ICS+LABA+LAMA.
c, Corticosteroid
Prednisone hoặc
prednisolone hoặc methylprednisolone: 30-40 mg/ngày uống 1 lần vào buổi sáng
trong 5 ngày.
Budesonide liều cao
phun khí dung có thể là một lựa chọn thay thế cho corticosteroid toàn thân ở
một số trường hợp người bệnh có nguy cơ nếu sử dụng corticosteroid toàn thân
liều cao. Hiệu quả của thuốc đường khí dung tương đương với đường toàn thân qua
một số nghiên cứu. Liều thông thường của budesonide trong đợt cấp BPTNMT là 4-8
mg/ngày, chia thành 2-4 lần/ngày, tối thiểu 5 ngày hoặc cho đến khi cải thiện
về mặt lâm sàng.
d, Thuốc kháng sinh
Dùng kháng sinh đường
uống khi có bằng chứng nhiễm khuẩn: có cả 3 triệu chứng chính gồm tăng khó thở,
tăng số lượng đờm, và đờm mủ; hoặc có triệu chứng đờm mủ và 1 trong 2 triệu
chứng còn lại.
Lựa chọn kháng sinh cho
đợt cấp điều trị ngoại trú theo Biểu đồ 3.1. Liều dùng các kháng sinh như sau:
amoxicillin/clavulanic acid (tính theo amoxicillin) 500 mg x 3 lần/ngày; 875 mg
x 2 lần/ngày, trường hợp nặng 875 mg x 3 lần/ngày, azithromycin 500 mg ngày đầu
sau đó 250 mg /ngày từ ngày 2-5 hoặc 500 mg 1 lần/ngày x 3 ngày, hoặc
clarithromycin 500mg 1 viên x 2 lần/ngày hoặc clarithromycin MR 500mg 2
viên/ngày; cefpodoxime 200mg x 2 lần/ngày; cefdinir 300mg x 2 lần/ngày;
moxifloxacin 400mg, 1 lần/ngày hoặc levofloxacin 500 mg x 1 lần/ngày, trường
hợp nghi ngờ trực khuẩn mủ xanh: 750 mg x 1 lần/ngày hoặc 500 mg x 2 lần/ngày
hoặc ciprofloxacin 500mg x 2 lần/ngày. Cân nhắc đến một số tác dụng không mong
muốn trên gân, cơ, tim mạch, thần kinh tâm thần và rối loạn đường huyết khi sử
dụng quinolone ở bệnh nhân cao tuổi.
(Liều dùng của các
kháng sinh theo chức năng thận xem chi tiết tại Phụ lục 10). Chi tiết các cặp
tương tác thuốc cần lưu ý liên quan đến kháng sinh và các thuốc khác điều trị đợt
cấp BPTNMT cùng hậu quả và cách xử trí của các cặp tương tác này được trình bày
tại Phụ lục 11).
Khi có nhiều nhóm kháng
sinh để lựa chọn, chọn nhóm nào là tùy thuộc vào đặc điểm nhạy cảm kháng sinh
của từng địa phương, đặc điểm người bệnh, tính có sẵn của thuốc, tương tác
thuốc và tác dụng không mong muốn của thuốc.
3.4.4. Điều trị nội trú
đợt cấp BPTNMT
a, Thuốc giãn phế quản
tác dụng ngắn:
Sử dụng thuốc giãn phế
quản tác dụng ngắn tương tự với đợt cấp điều trị ngoại trú. Tuy nhiên, phần lớn
người bệnh phải sử dụng thuốc bằng đường phun khí dung. Phun khí dung từng đợt
sẽ tốt hơn phun khí dung liên tục; phun khí dung bằng máy nén khí, không dùng
khí dung bằng oxy để tránh nguy cơ tăng CO2 máu trong đợt cấp
BPTNMT. Nếu người bệnh phải thông khí cơ học, sử dụng các ống chuyển đổi
(adaptor) hoặc máy phun khí dung dành cho máy thở (ví dụ hệ thống Aerogen Pro).
Khi đợt cấp BPTNMT xuất hiện trong khi nhiễm COVID-19, hạn chế phun khí dung,
nếu phải dùng thì nên phun ở phòng hút áp lực âm để giảm thiểu nguy cơ lan
truyền virus SARS-CoV-2.
Liều thuốc giãn phế
quản được chia ra 3-4 lần/ngày và dùng thêm khi cần. Liều thông thường của
salbutamol phun khí dung: 1 ống 2,5mg/2,5ml (pha thêm NaCl 0,9% đủ 3-5 ml),
dùng 4-6 lần/ngày và khi cần (tương đương 8 nhát salbutamol 100µg MDI kèm buồng
đệm). Hiệu quả giảm khó thở không cải thiện đáng kể khi tăng liều salbutamol từ
2,5mg lên 5mg, nhưng run cơ sẽ nhiều hơn ở liều 5 mg so với liều 2,5mg. Khoảng
liều salbutamol an toàn cho một lần phun khí dung là 2,5- 5mg. Lợi ích của phối
hợp salbutamol hoặc fenoterol (SABA) với ipratropium (SAMA) phun khí dung rõ
ràng nhất đối với người bệnh có tắc nghẽn đường dẫn khí nặng khi vào đợt cấp.
Liều thông thường: 1 ống 2,5ml salbutamol/ipratropium 2,5/0,5mg hoặc 20 giọt
(1ml) fenoterol/ipratropium 0,50/0,25 mg (tương đương 4 nhát
fenoterol/ipratropium MDI 50/20 µg kèm buồng đệm), dùng 3-4 lần/ngày và khi
cần. Trong trường hợp người bệnh bị tắc nghẽn nặng, sự phân phối thuốc đến
đường dẫn khí bị ảnh hưởng, xem xét tăng liều gấp đôi như 2 ống
salbutamol/ipratropium 2,5/0,5mg mỗi lần (tương đương 8 nhát fenoterol/ipratropium
MDI 50/20µg kèm buồng đệm).

Biểu
đồ 0.1. Lựa chọn kháng sinh theo kinh nghiệm cho đợt cấp BPTNMT ngoại trú
* Chọn kháng sinh nào
là tuỳ thuộc bệnh đồng mắc của người bệnh, tình hình nhạy cảm kháng sinh tại
địa phương, tác nhân nhiễm khuẩn trước đó, tác dụng phụ hoặc tương tác thuốc.
Nếu người bệnh đã từng dùng kháng sinh trong vòng 3 tháng trước, chọn kháng
sinh khác nhóm kháng sinh vừa dùng.
Các thuốc cường β2 tác
dụng ngắn dạng tiêm dưới da hoặc truyền tĩnh mạch (như salbutamol, terbutaline)
(xem phụ lục 1 cho liều dùng) gây nhiều tác dụng phụ như rối loạn nhịp tim hoặc
thiếu máu cơ tim nên cần rất thận trọng khi dùng cho điều trị đợt cấp BPTNMT.
Các thuốc này được xem xét trên từng trường hợp cụ thể khi SABA và/hoặc SAMA
đường phun hít với liều tối đa mà tình trạng lâm sàng chưa cải thiện hoặc người
bệnh đang thông khí cơ học nhưng cơ sở y tế không có dụng cụ để phun khí dung
qua máy thở. Theophylline uống hoặc aminophylline truyền tĩnh mạch (xem phụ lục
1 cho liều dùng) được xem là thuốc điều trị hàng thứ 2 cho đợt cấp BPTNMT vì
hiệu quả giãn phế quản tương đối kém và nguy cơ cao bị tác dụng phụ (đau đầu,
mất ngủ, co giật, buồn nôn, nôn, run cơ, rối loạn nhịp). Tác dụng phụ của
aminophylline tăng lên khi dùng kèm các thuốc giãn phế quản khác và
corticosteroid toàn thân, kháng sinh thuộc nhóm macrolides do đó, thuốc này chỉ
dùng khi người bệnh không thể dùng SABA và/hoặc SAMA đường phun hít hoặc không
đáp ứng với các thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn khác.
b, Thuốc giãn phế quản
tác dụng kéo dài
Nếu người bệnh đã dùng
các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài như LABA và/hoặc LAMA hoặc ICS+LABA
hoặc ICS+LABA+LAMA trước nhập viện thì nên tiếp tục dùng một khi người bệnh có
thể dùng được bình hít. Nếu người bệnh chưa dùng thì nên sớm khởi động dùng
trước khi cho người bệnh xuất viện.
c, Corticosteroid
Tùy mức độ suy hô hấp
mà methylprednisone đường tiêm mạch có thể dùng 40-80 mg/ngày, ngày 1-2 lần.
Dùng đường tiêm tĩnh mạch trong vài ngày đầu nếu người bệnh không dung nạp được
bằng đường uống, sau đó chuyển sang đường uống. Thời gian dùng: thường 5 ngày.
Thời gian dùng kéo dài có thể làm tăng tỷ lệ viêm phổi và tử vong. Khi đợt cấp
BPTNMT xuất hiện trong lúc nhiễm SARS-CoV2 , corticosteroid toàn thân cho đợt
cấp BPTNMT nên được chỉ định sớm.
Trong đợt cấp BPTNMT,
đang có khuynh hướng dùng corticosteroid toàn thân với thời gian ngắn nhất có
thể và cho những người bệnh có khả năng hưởng lợi nhiều nhất từ corticosteroid,
như nhóm người bệnh có BCAT trong máu ≥ 300 tế bào/mm3.
Budesonide liều cao phun
khí dung có thể là một lựa chọn thay thế cho corticosteroid toàn thân ở người
bệnh có chống chỉ định hoặc có nguy cơ cao bị tác dụng phụ với corticosteroid
toàn thân. Liều thông thường của budesonide trong đợt cấp BPTNMT là 4-8
mg/ngày, chia thành 2-4 lần/ngày, tối thiểu 5 ngày hoặc cho đến khi cải thiện
về mặt lâm sàng.
d, Kháng sinh
Kháng sinh được chỉ
định cho các trường hợp sau: có cả 3 triệu chứng chính gồm tăng khó thở, tăng
số lượng đờm, và đờm mủ (đờm màu xanh hoặc vàng); hoặc có triệu chứng đờm mủ và
1 trong 2 triệu chứng còn lại; hoặc khi phải thông khí cơ học (xâm nhập hoặc
không xâm nhập).
Lựa chọn kháng sinh
theo kinh nghiệm cho đợt cấp điều trị nội trú như Biểu đồ 3.2. Đối với người
bệnh không có nguy cơ nhiễm Pseudomonas, xem xét lựa chọn ceftriaxon
1-2g x 1 lần/ngày hoặc cefotaxim 1-2g x 3 lần/ngày truyền TM, moxifloxacin
400mg 1 lần/ngày uống hoặc truyền tĩnh mạch hoặc levofloxacin 500-750mg 1
lần/ngày uống hoặc truyền tĩnh mạch (TTM). Cân nhắc đến một số tác dụng không
mong muốn trên gân, cơ, tim mạch, thần kinh, tâm thần và rối loạn đường huyết
khi sử dụng quinolon ở bệnh nhân cao tuổi. Đối với người bệnh có nguy cơ nhiễm P.
aeruginosa, xem xét chọn ciprofloxacin 400 mg x2-3 lần/ngày truyền tĩnh
mạch; ceftazidim 1-2g x 2-3 lần/ngày truyền tĩnh mạch (TTM) hoặc cefepim 1-2g x
2-3 lần/ngày TTM; piperacillin- tazobactam 4,5g mỗi 6 h TTM; imipenem 500mg mỗi
6 giờ TTM hoặc meropenem 1g mỗi 8 giờ TTM. Đối với người bệnh có yếu tố nguy cơ
nhiễm P. aeruginosa đa kháng (bạch cầu đa nhân trung tính < 500/mm3,
tiền sử nhiễm P. aeruginosa đa kháng…) hoặc cấy đờm ra P. aeruginosa đa
kháng, xem xét phối hợp các kháng sinh có phổ trên trực khuẩn mủ xanh (nhóm
beta-lactam hoặc quinolon) với amikacin/tobramycin hoặc colistin theo kết quả
kháng sinh đồ. (Liều dùng của các kháng sinh theo chức năng thận xem chi tiết
tại Phụ lục 10. Chi tiết các cặp tương tác thuốc cần lưu ý liên quan đến kháng
sinh và các thuốc khác điều trị đợt cấp BPTNMT cùng hậu quả và cách xử trí của
các cặp tương tác này được trình bày tại Phụ lục 11).
Người bệnh đang dùng
kháng sinh đường tĩnh mạch nên xem xét chuyển sang đường uống khi có thể sử
dụng được thuốc đường uống. Người bệnh có đáp ứng với kháng sinh đang dùng nếu
giảm khó thở và giảm đờm mủ. Đổi kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ khi lâm
sàng không cải thiện và vi khuẩn kháng với kháng sinh đang dùng (ưu tiên dùng
kháng sinh phổ hẹp nếu được).
Điều trị cúm: được chỉ
định trong vòng 3 ngày khởi phát bệnh nếu đợt cấp BPTNMT nghi bị kích phát bởi
cúm (có bằng chứng lâm sàng và/hoặc xét nghiệm sinh học phân tử). Thuốc lựa
chọn là oseltamivir 75 mg x 2 lần/ngày trong 5 ngày.
Bảng
0.4. Hướng dẫn sử dụng kháng sinh đợt cấp nặng nhập viện
|
Điều
trị
|
Không
nguy cơ nhiễm P.aeruginosa
|
Nguy
cơ nhiễm
P.aeruginosa (*)
|
Nguy
cơ nhiễm P.aeruginosa đa kháng**
|
|
Kháng sinh
- Sử dụng khi có chỉ
định kháng sinh
- Điều chỉnh kháng
sinh theo kháng sinh đồ, chỉnh liều theo mức lọc cầu thận
- Chỉ đối kháng sinh theo
kết quả kháng sinh đồ khi lâm sàng không cải thiện và vi khuẩn kháng với
kháng sinh đang dùng
|
- Moxifloxacin 400mg
1 lần/ngày, hoặc
- Levofloxacin 500- 750mg
1 lần/ngày uống hoặc truyền tĩnh mạch (TTM); hoặc
- Ceftriaxon 1-2g x 1-2
lần/ngày hoặc Cefotaxime 1-2g x 3 lần/ngày TTM
|
- Ciprofloxacin 400mg
x 2-3 lần/ngày TM;
- Ceftazidime 1-2g x 2-3
lần/ngày TTM hoặc Cefepime 1- 2g x 2-3 lần/ngày TTM;
- Piperacillin-
Tazobactam 4,5g x 3-4 lần/ngày TTM;
- Imipenem 500mg x 4
TTM hoặc Meropenem 1g x 3 TTM
|
Phối hợp 1 trong các
thuốc (*) với:
- Amikacin 15- 20mg/kg/ngày
TTM, hoặc
- Tobramycin 5- 7mg/kg/ngày
TTM, hoặc
- Colistin liều nạp
5mg/kg, sau đó 2,5mg/kg x 2 lần/ngày TTM
|
|
* Nguy cơ nhiễm P.
aeruginosa
- Mới nhập viện gần
đây
- Thường xuyên điều
trị kháng sinh (4 đợt/năm)
- BPTNMT giai đoạn
GOLD 4, đồng mắc giãn phế quản
- Tìm thấy trực khuẩn
mủ xanh trong đợt cấp trước hoặc cư trú trong giai đoạn ổn định
** Nguy cơ nhiễm P.
aeruginosa đa kháng
- Có nguy cơ nhiễm P.
aeruginosa và/hoặc tiền sử nhiễm P. aeruginosa đa kháng
- Tiền sử điều trị
kháng sinh cephalosporin phổ rộng, aminoglycoside, carbapenem
|

*Chọn kháng sinh nào là
tùy thuộc bệnh đồng mắc của người bệnh, tình hình nhạy cảm kháng sinh tại địa
phương, tác nhân nhiễm khuẩn trước đó, tác dụng phụ hoặc tương tác thuốc. Nếu
người bệnh đã dùng kháng sinh trong vòng 3 tháng trước, chọn loại kháng sinh
khác nhóm kháng sinh vừa dùng. Có thể cần phải điều chỉnh phác đồ cho các người
bệnh bị nhiễm vi khuẩn cụ thể hoặc tiền sử nhiễm vi khuẩn kháng thuốc.
e, Điều trị dự phòng
thuyên tắc tĩnh mạch sâu
Heparin trọng lượng
phân tử thấp có thể được xem xét cho các người bệnh nhập viện bị hạn chế vận
động và không có yếu tố nguy cơ chảy máu, đặc biệt người bệnh nhập đơn vị hồi
sức tích cực (ICU).
f, Hỗ trợ hô hấp
* Thở oxy có kiểm soát:
điều
chỉnh liều oxy để đạt mục tiêu SpO2 88-92% hoặc PaO2 60-70
mmHg. Nên kiểm tra khí máu 30-60 phút sau khi bắt đầu thở oxy để đảm bảo đủ độ
bão hòa oxy mục tiêu mà không làm tăng CO2 máu và gây toan hoá máu.
Lựa chọn dụng cụ cung cấp oxy tùy thuộc nhu cầu FiO2 của người bệnh.
Ống thông mũi có thể cung cấp tốc độ dòng đến 6 L/phút với FiO2 khoảng
40%; thoải mái và thuận tiện hơn cho người bệnh, đặc biệt là khi cho ăn bằng
miệng. Mặt nạ Venturi cho phép điều chỉnh chính xác FiO2 với các
nồng độ 24, 28, 31, 35, 40 hoặc 60%; phù hợp hơn cho những người bệnh có nguy
cơ tăng CO2 máu. Mặt nạ có túi dự trữ có thể cung cấp FiO2
lên đến 55% bằng cách sử dụng tốc độ dòng từ 6-10 L/phút.
* Thông khí nhân tạo
không xâm nhập (xem
phụ lục 5) là chỉ định ưu tiên để điều trị suy hô hấp cấp nếu không có chống
chỉ định, khi có ít nhất 1 trong số các tiêu chuẩn sau:
+ Khó thở nặng với dấu
hiệu mệt cơ hô hấp, tăng công thở hoặc cả hai, hô hấp bụng-ngực nghịch thường.
+ Toan hô hấp: pH ≤
7,35 và PaCO2 ≥ 45mmHg.
+ Giảm oxy máu không
đáp ứng với oxy liệu pháp phù hợp
- Nếu sau 60 phút thông
khí nhân tạo không xâm nhập, các thông số PaCO2 tiếp tục tăng và PaO2
tiếp tục giảm hoặc các triệu chứng lâm sàng tiếp tục xấu đi thì cần chuyển sang
thông khí nhân tạo xâm nhập.
- Chống chỉ định thông
khí nhân tạo không xâm nhập:
+ Ngừng thở, ngủ gà,
rối loạn ý thức, không hợp tác.
+ Rối loạn huyết động:
tụt huyết áp, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim.
+ Nguy cơ hít phải dịch
dạ dày, đờm nhiều, dính.
+ Mới phẫu thuật răng
hàm mặt hoặc mổ dạ dày.
+ Bỏng, chấn thương
đầu, mặt, béo phì quá nhiều.
* Thông khí nhân tạo
xâm nhập khi có các dấu hiệu sau:
- Ngừng tim phổi, rối
loạn huyết động nặng và không đáp ứng với dịch truyền và thuốc vận mạch.
- Thiếu oxy máu đe doạ
tử vong: PaO2 < 40mmHg.
- pH < 7,25, PaCO2
> 60mmHg.
- Ngủ gà, rối loạn ý
thức, kích động không kiểm soát được bằng thuốc an thần.
- Rối loạn nhịp thất
hoặc trên thất nặng.
- Thông khí nhân tạo
không xâm nhập thất bại.
g, Đánh giá trước khi
ra viện và khuyến cáo theo dõi:
- Xem xét đầy đủ các
dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm.
- Tư vấn bỏ thuốc lá
- Kiểm tra phác đồ điều
trị duy trì và hiểu biết của người bệnh.
- Đánh giá lại các kỹ
thuật sử dụng các dụng cụ phân phối thuốc.
- Hướng dẫn sử dụng
thuốc trong đợt cấp (glucocorticoid và thuốc kháng sinh).
- Đánh giá nhu cầu điều
trị duy trì và oxy dài hạn.
- Có kế hoạch quản lý
và theo dõi các bệnh đồng mắc.
- Đảm bảo theo dõi: tái
khám sớm < 4 tuần và muộn nhất < 12 tuần, hướng tới đánh giá và điều trị
thuốc nhằm làm giảm đợt cấp.
- Nhận biết được các
dấu hiệu lâm sàng bất thường.
CHƯƠNG 4. BỆNH ĐỒNG MẮC VỚI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN
MẠN TÍNH
BPTNMT thường tồn tại
đồng thời với các bệnh lý khác (bệnh đồng mắc), điều này có thể ảnh hưởng đáng
kể đến tiên lượng của người bệnh BPTNMT. Một số bệnh đồng mắc phát sinh độc lập
với BPTNMT trong khi những bệnh khác có thể liên quan đến nguyên nhân, các yếu
tố nguy cơ chung. Nguy cơ bệnh đồng mắc có thể tăng lên do hậu quả của BPTNMT
như là giảm hoạt động thể chất, hoặc do người bệnh tiếp tục hút thuốc lá. Việc
quản lý người bệnh BPTNMT phải bao gồm việc chẩn đoán và điều trị các bệnh đồng
mắc vì các bệnh đồng mắc với các triệu chứng liên quan đến BPTNMT có thể bị bỏ
qua như là suy tim và ung thư phổi hoặc trầm cảm.
Bệnh đồng mắc thường
gặp ở bất kỳ mức độ nặng nào của BPTNMT và chẩn đoán phân biệt có thể khó khăn.
Mặc dù BPTNMT bị ảnh hưởng xấu bởi nhiều bệnh đồng mắc nhưng bản thân BPTNMT
cũng là một trong những tình trạng quan trọng ảnh hưởng xấu đến kết cục của các
bệnh lý khác. Sau đây là những hướng dẫn ngắn gọn về cách quản lý một số bệnh
đồng mắc phổ biến xảy ra ở những người bệnh BPTNMT giai đoạn ổn định.
4.1.
Quản lý người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc bệnh tim mạch
4.1.1. Dịch tễ học bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính và bệnh tim mạch
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính (BPTNMT) thường đồng mắc nhiều bệnh lý khác, phổ biến là các bệnh tim mạch
và làm tác động xấu đến tình trạng bệnh, tăng nguy cơ nhập viện và tử vong.
a, Ảnh hưởng bệnh tim
mạch trên bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Tỷ lệ bệnh tim mạch
được chẩn đoán trên người bệnh BPTNMT khoảng 28-70%, cao hơn người không mắc
BPTNMT. Cụ thể, nguy cơ suy tim tăng 8,48 lần, nhồi máu cơ tim cấp tăng 4,42
lần, rung nhĩ tăng 4,4 lần. Nguy cơ bệnh tim mạch tăng hơn trong đợt cấp, nhất
là đợt cấp nặng nhập viện. Hậu quả là người bệnh có chất lượng cuộc sống kém
hơn, nhiều triệu chứng hơn, tăng gấp đôi nguy cơ nhập viện và cơ tử vong.
Tại Việt Nam, một số
nghiên cứu cho thấy, đồng mắc tim mạch ở người bệnh BPTNMT cũng là tình trạng
phổ biến, với tỉ lệ đồng mắc tăng huyết áp 44,9-62,3%, bệnh tim thiếu máu cục
bộ 26,2%, suy tim 11,7-18,8%, rối loạn nhịp tim 3,2-63,1% và bệnh mạch vành 7,2%.
b, Ảnh hưởng của bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính lên bệnh tim mạch
Tỷ lệ mắc BPTNMT ở
người có bệnh tim mạch cao hơn so với dân số chung. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở người
bệnh có bệnh tim thiếu máu cục bộ là 12-30,5%, suy tim 13-39%, rung nhĩ 10-15%.
Tại Việt Nam, một số
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đồng mắc BPTNMT trên người bệnh bệnh tim mạch cao hơn
nhiều so với thế giới. Cụ thể, ở người bệnh động mạch vành là 27,7%, suy tim là
37,3%.
Người bệnh tim mạch
đồng mắc BPTNMT cũng có tình trạng sức khỏe kém hơn, tăng nguy cơ nhập viện và
tử vong.
c, Ảnh hưởng của đợt
cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính lên bệnh tim mạch
Người bệnh BPTNMT trải
qua một đợt cấp trung bình hoặc nặng có tăng nguy cơ biến cố tim mạch tăng 3
lần trong 30 ngày sau đợt cấp và kéo dài tới 12 tháng, đặc biệt sau đợt cấp
nặng nhập viện thì nguy cơ này tăng lên ~10-20 lần.
Dữ liệu nghiên cứu tại
Việt Nam cũng cho thấy, đợt cấp BPTNMT làm tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch như
tăng huyết áp 66,7-74,1%, bệnh mạch vành 44,4-67,9% và suy tim 7,4-22,2%.
4.1.2. Sinh lý bệnh của
sự chồng lấn giữa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và bệnh tim mạch
a, Các yếu tố nguy cơ
chung
Hút thuốc gây viêm bất
thường ở phổi và toàn thân, liên quan hình thành - mất ổn định mảng xơ vữa và
biến cố tim mạch. Lão hóa sớm, lối sống ít vận động và bất thường phát triển
phổi là các yếu tố nguy cơ chung. Những người không đạt được chức năng phổi đầy
đủ ở độ tuổi 25-40 có nguy cơ bệnh hô hấp, chuyển hóa, tim mạch cao hơn và tử
vong sớm. Các yếu tố nguy cơ khác như ô nhiễm không khí, dinh dưỡng kém, hạn
chế tiếp cận dịch vụ y tế, căng thẳng tâm lý mạn tính.
b, Các cơ chế sinh lý
bệnh chính
Viêm toàn thân
BPTNMT đặc trưng bởi
viêm mạn tính tại đường thở - tăng đại thực bào, bạch cầu trung tính và lympho
T CD8+ kèm giải phóng các chất trung gian gây viêm. Ở một số người bệnh, phản
ứng này kèm theo viêm toàn thân (“spill-over”), biểu hiện bằng tăng CRP, tăng
IL-6/IL-8/TNF-α, fibrinogen, và hoạt hoá bạch cầu trung tính, đơn nhân. Viêm
toàn thân góp phần vào bệnh sinh tim mạch thông qua ba con đường chính: (1) Tác
động lên cơ tim: các cytokine tiền viêm (đặc biệt IL-6, TNF-α) có thể góp phần
vào rối loạn co bóp và tái cấu trúc cơ tim; (2) Xơ hoá cơ tim: viêm mạn
liên quan xơ hoá kẽ, giảm giãn nở thất trái và kiểu hình suy tim với phân suất
tống máu bảo tồn; ở BPTNMT, xơ hoá cơ tim là yếu tố tiên lượng độc lập nhập
viện vì suy tim và tử vong; (3) Thúc đẩy xơ vữa: CRP, cytokine liên quan
rối loạn chức năng nội mô (tăng VCAM-1/ICAM-1), tạo điều kiện cho thâm nhập các
tế bào đơn nhân và hình thành tế bào bọt - nền tảng của mảng xơ vữa.
Stress oxy hóa
Stress oxy hoá giữ vai
trò trung tâm, thúc đẩy viêm mạn, lão hoá tế bào, rối loạn tự thực bào và kháng
corticosteroid trong BPTNMT, đồng thời liên kết chặt chẽ với nguy cơ tim mạch.
Trong BPTNMT, stress oxy hoá xuất phát từ hai nhóm chính: ngoại sinh- khói
thuốc lá và ô nhiễm không khí; và nội sinh – tăng tạo các gốc oxy tự do do hoạt
hoá tế bào viêm, suy giảm hệ thống chống oxy hoá, cùng rối loạn chức năng ty
thể ở tế bào biểu mô phổi và cơ xương làm tăng mtROS. Tình trạng này tồn tại cả
sau khi đã cai thuốc lá, tăng vọt trong các đợt cấp, và là mắt xích quan trọng
với tim mạch thông qua giảm sinh khả dụng NO, rối loạn chức năng nội mô và tăng
độ cứng động mạch.
Rối loạn chức năng nội
mô
Rối loạn nội mô là cơ
chế trung gian quan trọng liên kết viêm và stress oxy hóa với bệnh lý tim mạch,
chức năng nội mô giảm có ý nghĩa ở BPTNMT và tương quan với độ nặng bệnh21,22.
Ba trạng thái tiền xơ vữa gồm: (1) suy giảm giãn mạch do giảm NO và tăng co
mạch (endothelin-1 tăng); (2) trạng thái tiền viêm với hoạt hóa NF-κB tăng
VCAM-1, ICAM-1, E-selectin tạo thuận lợi bạch cầu bám dính-xuyên mạc. (3) trạng
thái tiền đông và rối loạn tiêu sợi huyết với tăng PAI-1, vWF, hoạt hóa tiểu
cầu, phức hợp bạch cầu-tiểu cầu, và suy giảm các cơ chế chống đông phụ thuộc
nội mô.
Căng phồng phổi và ảnh
hưởng huyết động
Căng phồng phổi (tĩnh
và động) là đặc điểm sinh lý bệnh quan trọng của BPTNMT, tác động mạnh đến chức
năng tim mạch. Ảnh hưởng cấu trúc: phổi giãn nén tim theo chu kỳ hô hấp,
làm giảm thể tích cuối tâm trương thất trái, thể tích nhát bóp và cung lượng
tim; thất phải giảm thể tích cuối tâm trương kiểu "cor pulmonale
parvus"; có thể tăng khối cơ thất trái. Ảnh hưởng huyết động: tăng
PEEP nội sinh làm thay đổi áp lực lồng ngực giảm hồi lưu tĩnh mạch và tiền gánh
cả hai thất; chèn ép mạch ngoại phế nang cùng mất giường mao mạch tăng sức cản
mạch phổi và hậu gánh thất phải; quá tải thất phải đẩy vách liên thất sang trái
làm giảm đổ đầy thất trái; giảm cung lượng tim và thể tích nhát bóp khi gắng
sức tương quan chặt với IC/TLC. Bằng chứng can thiệp: giảm thể tích phổi bằng
van nội phế quản cải thiện tiền gánh, co bóp và cung lượng tim25.
Thiếu oxy máu và rối
loạn trao đổi khí
Thiếu oxy máu gây ra
tái cấu trúc mạch máu và rối loạn chức năng nội mô, làm tăng sức cản mạch máu
và tăng nguy cơ xơ vữa động mạch: (1) Co mạch phổi do thiếu oxy: phản xạ
sinh lý giúp tái phân bố tưới máu khỏi vùng phổi thông khí kém. Khi thiếu oxy
lan tỏa, co mạch phổi dẫn tới tăng sức cản mạch máu phổi, tăng hậu gánh thất
phải và thúc đẩy tăng áp động mạch phổi nhóm 3; (2) Tái cấu trúc mạch máu
phổi do thiếu oxy mạn: tăng sinh/phì đại tế bào cơ trơn của động mạch phổi,
dày áo giữa/nội mạc và xơ hóa áo ngoài, làm tăng sức cản mạch máu phổi và góp phần
hình thành và tiến triển tăng áp động mạch phổi; (3) Mất cân bằng cung-cầu
oxy cơ tim: Ở người BPTNMT, tăng công thở, kích hoạt giao cảm, mất cân bằng
thông khí/tưới máu và thiếu oxy hệ thống làm giảm cung cấp oxy cho cơ tim trong
khi nhu cầu tăng lên, có thể gây thiếu máu cơ tim, nhất là ở người có bệnh mạch
vành tiềm ẩn; nguy cơ biến cố tim mạch tăng rõ giai đoạn sớm sau đợt cấp và kéo
dài nhiều tháng.
Rối loạn chức năng thần
kinh tự chủ
Người bệnh BPTNMT có
giảm biến thiên nhịp tim, phản ánh mất cân bằng tự chủ với chiếm ưu thế giao
cảm và giảm hoạt tính phó giao cảm23. Cơ chế: kích hoạt các thụ thể hóa
học do thiếu oxy máu và tăng CO2 máu mạn tính; kích hoạt các thụ thể cơ học
phổi do tăng thể tích và công thở; viêm toàn thân ảnh hưởng trực tiếp đến các
trung tâm tự chủ ở thân não và thần kinh phế vị; stress oxy hóa gây tổn thương
dây thần kinh tự chủ. Hậu quả: tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim (đặc biệt là rung
nhĩ), tăng huyết áp, tăng co mạch mạch vành và tăng nguy cơ đột tử do tim.

Hình
0.1. Cơ chế về nguy cơ tim phổi ở người bệnh BPTNMT
(Nguy cơ tim phổi: Nguy
cơ các biến cố hô hấp và/hoặc tim mạch nghiêm trọng ở người bệnh BPTNMT, bao
gồm, nhưng không giới hạn, đợt cấp BPTNTM, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim
mất bù, loạn nhịp và tử vong do các biến cố này)
Vai trò của đợt cấp
BPTNMT
Đợt cấp BPTNMT làm nguy
cơ biến cố tim mạch tăng đột ngột (đặc biệt trong 7 ngày đầu) và duy trì cao
nhiều tháng sau đó; các biến cố gồm NMCT, đột quỵ, rung nhĩ, suy tim cấp và tử
vong do tim mạch. Cơ chế chi phối: khuếch đại viêm hệ thống, tăng căng
phồng phổi và thiếu oxy, rối loạn thông khí–tưới máu; tăng hoạt hoá tiểu
cầu/đông máu và giảm tiêu sợi huyết thúc đẩy huyết khối; tăng
Tăng huyết áp là bệnh
đồng mắc thường gặp nhất ở người bệnh BPTNMT và có thể ảnh hưởng đến tiên lượng
của bệnh. Rối loạn chức năng tâm trương do tăng huyết áp được điều trị dưới mức
tối ưu có thể liên quan đến việc không đáp ứng vận động liệu pháp và gây nhầm
lẫn với các triệu chứng của đợt cấp BPTNMT, do vậy có thể góp phần làm gia tăng
nguy cơ nhập viện. Các bằng chứng lâm sàng đều nhấn mạnh vai trò của kiểm soát
huyết áp tối ưu ở người bệnh BPTNMT bị tăng huyết áp.
Tăng huyết áp ở người
bị BPTNMT nên được điều trị theo các hướng dẫn chung vì không có bằng chứng nào
cho thấy tăng huyết áp ở người bệnh BPTNMT cần phải điều trị khác biệt. Vai trò
của thuốc chẹn beta chọn lọc ít được nhấn mạnh trong những hướng dẫn tăng huyết
áp mới đây và không có bằng chứng khẳng định người bị BPTNMT sẽ tăng nguy cơ
tim mạch với thuốc chẹn beta chọn lọc hay thuốc sẽ làm giảm hiệu quả điều trị
BPTNMT với LABA. Ngược lại, người tăng huyết áp bị BPTNMT vẫn điều trị BPTNMT
theo thông lệ vì không có bằng chứng nào cho thấy việc điều trị bệnh sẽ khác đi
khi có bệnh đồng mắc tăng huyết áp.
4.1.3. Chẩn đoán bệnh
tim mạch ở người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
a, Xác định người bệnh
BPTNMT có nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch
Người bệnh BPTNMT có
nguy cơ cao đồng mắc bệnh tim mạch đặc biệt kèm theo suy thận mạn, đái tháo
đường, tăng cholesterol gia đình hoặc người có điểm SCORE2/SCORE2-OP vượt
ngưỡng (SCORE2 ≥2,5% ở người <50 tuổi; ≥5% ở người 50–70 tuổi; SCORE2-OP
≥7,5% ở người ≥70 tuổi).
Một số xét nghiệm cũng
gợi ý nguy cơ cao mắc bệnh lý tim mạch như CAC score, ABI, BNP/NT-proBNP,
hs-Tn, hs-CRP và các dấu hiệu viêm hệ thống.
b, Triệu chứng gợi ý
bệnh tim mạch ở người bệnh BPTNMT
- Khó thở: xuất hiện
khi gắng sức kèm phù toàn thân, phù chi, tĩnh mạch cổ nổi hoặc rale ẩm ở phổi
gợi ý suy tim; khởi phát rất nhanh kèm ho bọt hồng gợi ý phù phổi cấp.
- Đau ngực: đau điển
hình kéo dài >20 phút, lan cổ/hàm/vai/cánh tay, kèm khó thở/đổ mồ hôi gợi ý
hội chứng mạch vành cấp; đau ngực đột ngột dữ dội kèm theo khác biệt huyết áp
hai tay gợi ý nghĩ bóc tách động mạch chủ.
- Choáng/ngất: ngất khi
gắng sức, không có tiền triệu.
- Hồi hộp, đánh trống
ngực: cần khai thác tính chất, thời gian, triệu chứng đi kèm.
- Phù, tím trung tâm,
tiếng tim bất thường/tiếng thổi mới: là dấu hiệu chỉ điểm suy tim hoặc bệnh tim
cấu trúc.
c, Xét nghiệm cần làm
để chẩn đoán/điều trị bệnh tim mạch ở BPTNMT
- Điện tâm đồ (ECG):
phát hiện rối loạn nhịp, phì đại thất, một số dấu hiệu hướng tới bệnh mạch
vành, thuyên tắc động mạch phổi.
- Peptide lợi niệu
(BNP/NT-proBNP): hỗ trợ chẩn đoán/sàng lọc suy tim và đánh giá tiên lượng.
- Troponin: đánh giá
động học theo phác đồ 0/1h hoặc 0/2h để phát hiện bệnh động mạch vành cấp.
- Siêu âm tim: đánh giá
cấu trúc, chức năng thất, áp lực động mạch phổi, bệnh van, vận động vùng cơ tim
- X-quang ngực thẳng:
bằng chứng sung huyết phổi, bóng tim to hoặc nguyên nhân phổi khác.
- Siêu âm tim gắng sức
/ CT mạch vành / cộng hưởng từ tim: dùng để đánh giá thiếu máu cơ tim, xơ hóa
cơ tim, hay đánh giá tổn thương mạch.
- Chụp mạch vành xâm
lấn: khi cần xác định và can thiệp tổn thương mạch vành.
d, Thời điểm người bệnh
BPTNMT ổn định cần khám/hội chẩn chuyên khoa tim mạch
- Đau ngực điển hình
hoặc đau thắt ngực kèm biến đổi điện tâm đồ hoặc kèm tăng troponin theo động
học.
- Khó thở không tương
thích với mức độ tổn thương phổi (khó thở nặng hơn so với chức năng phổi) đặc
biệt nếu kèm bằng chứng trên X-quang, peptide lợi niệu tăng hoặc dấu hiệu suy
tim.
- Đánh trống ngực/rối
loạn nhịp có triệu chứng (choáng, giảm huyết áp) hoặc bất thường trên điện tâm
đồ/xét nghiệm.
- Ngất/choáng không rõ
nguyên nhân, đặc biệt khi xảy ra lúc gắng sức.
- Bất thường cận lâm
sàng (điện tâm đồ, chẩn đoán hình ảnh, BNP/troponin, D-dimer, khí máu) gợi ý
tổn thương tim mạch cần can thiệp.
e, Thời điểm người bệnh
BPTNMT có đợt cấp cần khám/hội chẩn chuyên khoa tim mạch
- Triệu chứng không điển
hình cho BPTNMT (khó thở tăng đột ngột không tương xứng với tắc nghẽn), đau
ngực kiểu thiếu máu cơ tim, phù chân/gan to/tĩnh mạch cổ nổi, tiếng S3 hoặc
tiếng thổi mới, loạn nhịp tim.
- Không đáp ứng điều
trị đợt cấp sau vài ngày (khó thở dai dẳng, PaO₂/PaCO₂ không cải thiện).
- Dấu hiệu cận lâm sàng
bất thường: điện tâm đồ, troponin, peptid lợi niệu, X-quang ngực, siêu âm tim,
tăng D-dimer hoặc bất thường khí máu.
4.1.4. Chẩn đoán bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính ở người mắc bệnh tim mạch
a, Tầm soát BPTNMT ở
người mắc bệnh tim mạch
Bác sĩ chuyên khoa tim
mạch hoặc bác sĩ đa khoa có thể tầm soát BPTNMT như được đề cập trong mục “1.2.1.
Chẩn đoán định hướng áp dụng tại cơ sở y tế chưa được trang bị máy đo CNHH”,
đặc biệt nên sử dụng Bảng câu hỏi tầm soát BPTNMT ở cộng đồng (Bảng 1.1).
Ở người bệnh tim mạch
hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, bác sĩ chuyên khoa tim mạch nghĩ tới
BPTNMT khi người bệnh có tiền sử hút thuốc lá (hơn 10 bao-năm), thuốc lào, hoặc
tiếp xúc khói than củi hoặc phơi nhiễm bụi nghề nghiệp và có triệu chứng ho
khạc đàm, khò khè và/hoặc khó thở (không thể giải thích bởi bệnh tim mạch) hoặc
được chẩn đoán viêm phế quản tái đi tái lại hoặc thường xuyên được chẩn đoán
mắc bệnh cảm thường hoặc ở người bệnh đo ECG có hình ảnh P phế hoặc chụp CT
động mạch vành tình cờ phát hiện khí phế thũng đáng kể (Biểu đồ 4.1).
b, Chẩn đoán xác định
BPTNMT ở người mắc bệnh tim mạch
Dựa vào mục
“1.3. Chẩn đoán”, đặc biệt dựa vào Biểu đồ 1.1. Trong trường
hợp người bệnh mắc bệnh tim mạch không thể đo CNHH do kém hợp tác hoặc đang bị
nhồi máu cơ tim cấp hoặc phình bóc tách động mạch chủ ngực (xem chống chỉ định
đo CNHH trong Phụ lục 12) thì có thể cho người bệnh khám chuyên khoa Hô
hấp để chẩn đoán dựa vào X-quang ngực thẳng (gợi ý khí phế thũng) và/hoặc CT
ngực (khí phế thũng trung tâm tiểu thùy và/hoặc dầy thành phế quản lan tỏa),
hoặc dao động xung ký. Đo CNHH có thể được thực hiện để khẳng định BPTNMT một
khi người bệnh có thể thực hiện được hoặc không còn chống chỉ định.
Trong trường hợp không
thể phân biệt khó thở do bệnh lý tim mạch hoặc BPTNMT, có thể thực hiện đo phế
thân ký, khả năng khuếch tán khí CO của phổi (DLCO) hoặc thậm chí thực hiện
nghiệm pháp tim phổi gắng sức.
c, Khám chuyên khoa hô
hấp cho người mắc bệnh tim mạch
Ở người bệnh tim mạch
hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, xem xét khám chuyên khoa hô hấp theo
Biểu đồ 4.1.

Biểu
đồ 0.1. Lưu đồ giới thiệu khám chuyên khoa Hô hấp khi nghi ngờ BPTNMT ở người
bệnh mắc bệnh tim mạch.
4.1.5. Quản lý người
bệnh BPTNMT đồng mắc bệnh tim mạch
a, Khuyến cáo điều trị
BPTNMT ở người bệnh đồng mắc bệnh tim mạch
Từ quan điểm của bác
sĩ Hô hấp
|
Liệu pháp điều trị
dùng thuốc
|
|
Điều trị bằng một
dụng cụ hít
|
Khuyến cáo điều trị
bằng một dụng cụ hít: thuận tiện và hiệu quả hơn nhiều dụng cụ hít.
|
|
Đánh giá sự tuân thủ,
tác dụng phụ và kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít tại mỗi lần tái khám
|
Với mục đích đạt được
sự ổn định lâm sàng tốt hơn
|
|
Điều trị với thuốc
giãn phế quản tác dụng kéo dài ở người bệnh BPTNMT không có nguy cơ đợt cấp
hoặc nguy cơ đợt cấp thấp
|
Thuốc giãn phế quản
tác dụng kéo dài duy trì đơn độc hoặc kết hợp cải thiện chức năng phổi, kiểm
soát triệu chứng tốt hơn và giảm các đợt cấp hơn so với các thuốc giãn phế
quản tác dụng ngắn và không tăng nguy cơ biến cố tim mạch.
|
|
Điều trị phác đồ bộ
ba (ICS+LABA+LAMA) ở người bệnh có đợt cấp
|
Sử dụng liệu pháp bộ
ba ICS+LABA+LAMA trong 1 dụng cụ hít đã được chứng minh làm giảm số lượng đợt
cấp, phòng ngừa nhập viện và giảm tử vong do mọi nguyên nhân. Phân tích tổng
quan hệ thống (năm 2025) cho thấy liệu pháp bộ ba ICS+LABA+LAMA trong một
dụng cụ hít giảm đáng kể tử vong do mọi nguyên nhân và tử vong do nguyên nhân
tim mạch so với LABA+LAMA.
|
|
Liệu pháp điều trị
không dùng thuốc
|
|
Cai thuốc lá
|
Áp dụng liệu pháp
hành vi–nhận thức kết hợp với hỗ trợ bằng thuốc (ví dụ nicotin dạng viên nhai
2mg). Nên áp dụng cho tất cả các trường hợp nhập viện vì đợt cấp BPTNMT.
|
|
Phục hồi chức năng hô
hấp
|
Tập luyện thể lực ở
mức 60–80% ngưỡng chịu đựng giới hạn bởi triệu chứng. Xác định cường độ bài
tập bằng nghiệm pháp đi bộ gắng sức để an toàn cho người bệnh tim mạch. Các
bài tập sức bền và tăng cường cơ hô hấp chuyên biệt.
|
|
Tiêm vắc-xin
|
Tiêm phòng cúm, phế
cầu, Tdap, zona và RSV theo khuyến cáo.
|
|
Không thực hiện
|
|
Điều trị bằng thuốc giãn
phế quản tác dụng ngắn
|
Nên tránh điều trị
đơn độc thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn (ngoại trừ để sử dụng cắt cơn)
|
|
Kê đơn điều trị bằng
ICS đơn độc hoặc với ICS+LABA
|
Không chỉ định ICS
đơn trị cho người bệnh BPTNMT, vì có thể làm tăng nguy cơ tử vong. Liệu pháp
bộ ba ICS+LABA+LAMA trong một dụng cụ hít đã được chứng minh là hiệu quả hơn
so với ICS+LABA trong việc phòng ngừa các đợt cấp BPTNMT.
|
Từ quan điểm của bác
sĩ Tim mạch
|
Cần thực hiện
|
|
Ưu tiên sử dụng phối
hợp liều cố định các thuốc giãn phế quản hoặc liệu pháp bộ ba trong 1 dụng cụ
hít
|
Sử dụng phối hợp các
thuốc trong một dụng cụ cải thiện tuân thủ điều trị và hiệu quả lâm sàng.
Điều trị liệu pháp bộ
ba theo hướng dẫn (bảng 2.4 và biểu đồ 2.1). Nên khởi trị sớm ở người bệnh có
nguy cơ bệnh tim mạch và/hoặc bệnh tim mạch mắc kèm cũng giảm nguy cơ tim phổi
trong tương lai.
|
|
Sử dụng các thuốc
đồng vận beta 2 tác dụng ngắn cho đợt cấp với liều thấp nhất có hiệu quả, ưu
tiên đường tại chỗ.
|
Đặc biệt ở những
người bệnh rối loạn nhịp nhanh và/hoặc bệnh tim thiếu máu cục bộ do tăng nhịp
tim và tăng giao cảm.
Liều khởi đầu thấp
được khuyến cáo:
- SABA (dạng
xịt-MDI): 100 µg/xịt, dưới 4 xịt/24 giờ
- SABA (khí dung): 2,5mg/nang/lần
khí dung. Không nên vượt quá 10 – 15 mg/24 giờ
Theo dõi sát nhịp tim
và điện tâm đồ.
|
|
Không thực hiện
|
|
Không nên điều chỉnh điều
trị thuốc giãn phế quản ở người bệnh BPTNMT ổn định
|
Bác sĩ hô hấp và tim
mạch nên xây dựng kế hoạch điều trị chung.
|
b, Khuyến cáo thuốc điều
trị tim mạch cho người bệnh BPTNMT đồng mắc
Từ quan điểm của bác
sĩ tim mạch
|
Ưu tiên sử dụng thuốc
chẹn beta chọn lọc trên tim mạch cho người bệnh BPTNMT đồng mắc tim mạch có
chỉ định chẹn beta
|
Nhiều nghiên cứu đã
chứng minh lợi ích > nguy cơ ở BPTNMT có chỉ định tim mạch cho nhóm thuốc này.

Biểu
đồ 0.2. Hướng dẫn sử dụng chẹn beta cho BPTNMT đồng mắc tim mạch
|
|
|

Biểu
đồ 0.3. Hướng dẫn sử dụng chẹn beta cho BPTNMT đồng mắc suy tim
|
|
Đánh giá nhu cầu sử
dụng amiodarone dài hạn ở người bệnh BPTNMT cùng với bác sĩ hô hấp
|
Cân nhắc sử dụng liều
amiodarone thấp hơn (thường là 200 mg/ngày thay vì 400 mg/ngày), vì liều thấp
hơn ít có khả năng gây độc tính phổi hơn.
|
|
Duy trì sử dụng thuốc
chống kết tập tiểu cầu ở người bệnh có chỉ định tim mạch
|
- Tăng số lượng tiểu
cầu (thrombocytosis) là một yếu tố tiên lượng kém ở những người bệnh có đợt
cấp BPTNMT, và điều trị kháng tiểu cầu liên quan tới giảm tử vong 1 năm.
- Aspirin liên quan
tới giảm số đợt cấp BPTNMT, cải thiện triệu chứng, chất lượng cuộc sống và
sống còn. Nên thay aspirin bằng thuốc chống kết tập tiểu cầu khác ở người
BPTNMT có hen chồng lấp.
- Ticagrelor liên
quan tới khó thở về đêm và các cơn ngưng thở trung ương ở một số người bệnh
nhưng không làm thay đổi chức năng hô hấp. Nên thay ticagrelor bằng thuốc
chống kết tập tiểu cầu khác ở người bệnh có triệu chứng khó thở về đêm.
|
|
ACEI/ARB/ARNI
|
ACEI/ARB/ARNI là
thuốc nền tảng cho tăng huyết áp, suy tim và nhồi máu cơ tim.
|
|
SGLT2i
|
Thuốc điều trị đái
tháo đường, có lợi về tiên lượng trong suy tim và có thể giảm nhập viện do
đợt cấp BPTNMT.
|
|
Lợi tiểu quai
|
Thận trọng vì nguy cơ
hạ kali (khi phối hợp với đồng vận β2, theophylline, ICS) và kiềm chuyển hóa
do lợi tiểu quai có thể làm nặng tăng CO2. Theo dõi điện giải và ưu tiên lợi
tiểu giữ kali khi có chỉ định tim mạch.
|
|
Thuốc chẹn kênh canxi
|
Non-dihydropyridine
được xem là an toàn.
Dihydropyridine có
thể làm xấu tương quan thông khí/tuần hoàn nhưng thường chỉ ảnh hưởng nhẹ.
|
|
Tăng điều trị tăng áp
phổi
|
Tăng áp động mạch
phổi xuất hiện ở một số ít người BPTNMT (nhóm III theo WHO). Ưu tiên tối ưu
hóa bệnh phổi nền trước khi cân nhắc điều trị đặc hiệu.
|
|
Không thực hiện
|
|
Kê đơn thuốc chẹn
beta không chọn lọc trên tim mạch
Thay thế thuốc chẹn
beta bằng các thuốc nhóm chẹn kênh Canxi như diltiazem, verapamil, hoặc
digoxin
Kê đơn thuốc chẹn
beta ở những người bệnh BPTNMT phụ thuộc oxy do nguy cơ tăng tử vong.
|
Từ quan điểm của bác
sĩ hô hấp
|
Điều trị chẹn beta ở
người bệnh tim mạch có chỉ định là 1 điều trị an toàn (ngoại trừ trường hợp sử
dụng propranolol làm giảm FEV1) và liên quan đến hiệu quả lợi ích tương tự
dân số chung.
|
|
Không thực hiện
|
|
Kê đơn thuốc statin dự
phòng đợt cấp
Không kê đơn thuốc chẹn
beta để dự phòng đợt cấp
|
4.1.6. Tăng áp phổi
Tăng áp phổi (TAP) được
định nghĩa khi áp lực trung bình của động mạch phổi (mPAP) > 20mmHg đo qua
thông tim phải. TAP được phân loại thành 5 nhóm dựa trên cơ chế sinh lý bệnh,
biểu hiện lâm sàng và điều trị: Nhóm 1: TAP do tăng áp lực động mạch phổi; Nhóm
2: TAP do bệnh tim bên trái; Nhóm 3: TAP do bệnh phổi hoặc thiếu oxy máu; Nhóm
4: TAP do huyết khối tắc nghẽn mạn tính trong phổi; Nhóm 5: TAP do rối loạn
khác. Việc chẩn đoán TAP ở người bệnh COPD cần đánh giá cẩn thận và kỹ càng cơ
chế dẫn đến TAP và phân nhóm cụ thể.
Siêu âm tim là công cụ
không xâm lấn đánh giá khả năng và mức độ nặng của TAP. Xét nghiệm NT-proBNP và
tăng tỷ số đường kính động mạch phổi và động mạch chủ trên phim HRCT cũng gợi ý
TAP.
Điều trị TAP ở người
bệnh BPTNMT tuân theo hướng dẫn hiện hành. Liệu pháp oxy dài hạn được chỉ định
cho người bệnh có giảm oxy máu (mục 2.5 chương 2).
4.1.7. Bệnh mạch máu
ngoại biên
Bệnh mạch máu ngoại
biên thường liên quan tới bệnh tim xơ vữa mạch máu và có thể gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới các hoạt động chức năng cũng như chất lượng sống ở người bệnh
BPTNMT. Một nghiên cứu trên quần thể lớn những người mắc BPTNMT với mọi mức độ
nặng của bệnh cho thấy 8,8% người bệnh BPTNMT được chẩn đoán mắc bệnh mạch máu
ngoại biên, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ lưu hành bệnh ở những người không mắc
BPTNMT.
Người bệnh BPTNMT có
đồng mắc bệnh mạch máu ngoại biên có sự suy giảm các hoạt động chức năng và
tình trạng sức khỏe chung xấu hơn so với những người bệnh BPTNMT không đồng mắc
bệnh mạch máu ngoại vi. Các bác sỹ lâm sàng cần lưu ý chẩn đoán bệnh mạch máu
ngoại biên ở người bệnh BPTNMT, nhất là những người có nguy cơ mắc các biến cố
mạch máu, nhằm giúp hiểu rõ hơn về sự suy giảm chức năng của người bệnh.
4.2.
Bệnh hô hấp
4.2.1. Ung thư phổi
Khói thuốc lá là yếu tố
nguy cơ gây bệnh cho cả ung thư phổi và BPTNMT; BPTNMT cũng là yếu tố nguy cơ
độc lập mắc ung thư phổi. Ngoài khói thuốc lá là nguồn gốc chung, ung thư phổi
và BPTNMT còn có nhiều cơ chế bệnh sinh khác. Tính nhạy cảm di truyền, những
thay đổi biểu sinh trong quá trình methyl hóa ADN, viêm mạn tính tại phổi và
các cơ chế sửa chữa cấu trúc phổi bất thường có trong BPTNMT cũng được cho là
những yếu tố góp phần quan trọng nhất cho sự phát triển ung thư phổi. Mức độ
nặng của rối loạn thông khí tắc nghẽn trên phế dung ký có liên quan trực tiếp
hay liên quan nghịch với nguy cơ phát triển ung thư phổi vẫn còn bàn cãi.
Mối liên quan giữa ung
thư phổi và mức độ nặng khí phế thũng mạnh hơn so với mối liên quan hiện có giữa
ung thư phổi và mức độ tắc nghẽn dòng khí. Nguy cơ cao nhất được quan sát thấy
ở những người bệnh BPTNMT có sự kết hợp giữa khí phế thũng được chẩn đoán bằng
CT ngực và rối loạn thông khí tắc nghẽn được xác định bằng phế dung ký. Biện
pháp dự phòng ung thư phổi tốt nhất và cũng là dự phòng BPTNMT là ngưng hút
thuốc lá.
Ở những người bệnh có
BPTNMT liên quan đến hút thuốc, tầm soát ung thư phổi hàng năm với CT liều thấp
nên được tiến hành ở những người 50 - 80 tuổi có tiền sử hút thuốc 20 bao - năm
và hiện đang hút thuốc hoặc bỏ hút thuốc trong vòng 15 năm qua. BPTNMT cũng đã
được báo cáo là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với tỷ lệ mắc ung thư phổi ở
những người không bao giờ hút thuốc. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tiếp xúc với
chất đốt sinh khối, hít khói thuốc lá thụ động, ô nhiễm không khí, tiền sử gia
đình bị ung thư phổi và phơi nhiễm amiăng. Việc tầm soát không được khuyến cáo
ở những người bệnh BPTNMT không bao giờ hút thuốc; CT liều thấp hàng năm hiện
không được khuyến nghị vì khả năng gây hại có thể có dường như lớn hơn khả năng
phát hiện ung thư phổi sớm.
Nhiều nghiên cứu đã đề
xuất rằng hiệu suất sàng lọc của CT sẽ được cải thiện nếu bổ sung các yếu tố
tuổi, tiền sử hút thuốc, BMI, sự hiện diện của rối loạn thông khí tắc nghẽn
và/hoặc khí phế thũng và tiền sử gia đình bị ung thư phổi được thêm vào tiêu
chí tầm soát hiện tại. Việc thực hiện chương trình tầm soát ung thư phổi ở
người bệnh COPD cần được thực hiện ở những cơ sở y tế với những quy trình phù
hợp để tránh việc chẩn đoán quá mức tỷ lệ mắc và tử vong do đồng mắc ung thư
phổi đối với những bất thường lành tính, cũng nhằm tránh sự lo lắng quá mức
hoặc theo dõi không đầy đủ. Các biện pháp can thiệp cai thuốc lá cùng với chương
trình tầm soát bằng CT liều thấp có thể được áp dụng. Các yếu tố nguy cơ phát
triển ung thư phổi bao gồm:
- Tuổi > 55;
- Hút thuốc lá > 30
bao - năm;
- Sự hiện diện của khí
phế thũng trên phim chụp cắt lớp vi tính;
- Có rối loạn thông khí
tắc nghẽn với FEV1/FVC < 0,7;
- BMI < 25 kg/m2
- Tiền sử gia đình có
ung thư phổi.
4.2.2. Giãn phế quản
Cùng với việc sử dụng
CT ngực trong đánh giá người bệnh BPTNMT, giãn phế quản không được chẩn đoán
trước đây đang dần được xác định. Tần suất giãn phế quản dao động từ 20 - 69%,
với tỷ lệ lưu hành chung là 54,3%. Kết quả các phân tích gộp cho thấy người bị
BPTNMT và đồng mắc giãn phế quản thường là nam giới, có tiền sử hút thuốc lâu
hơn, xuất tiết đàm hàng ngày nhiều hơn, đợt cấp thường xuyên hơn, chức năng
phổi kém hơn, chỉ điểm sinh học viêm cao hơn, tần suất có Pseudomonas
aeruginosa được phân lập trong đờm cao hơn và tăng nguy cơ tử vong.
Giãn phế quản nên được điều
trị theo các khuyến cáo hiện hành. Đối với người bệnh BPTNMT đồng mắc giãn phế
quản thì có thể việc điều trị kháng sinh phải tích cực và kéo dài hơn. Việc điều
trị bằng ICS có thể không được chỉ định trong điều trị BPTNMT ở người bệnh có
vi khuẩn thường trú bệnh lý và bị nhiễm trùng hô hấp dưới tái diễn.
4.2.3. Ngưng thở tắc
nghẽn khi ngủ & mất ngủ
Người bệnh BPTNMT đồng
mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ có tiên lượng xấu hơn so với bị từng bệnh riêng
lẻ. Trong khi ngủ, người bệnh đồng mắc BPTNMT và ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ bị
các đợt giảm độ bão hòa oxy máu thường xuyên hơn và có tổng thời gian ngủ với
tình trạng giảm oxy máu và tăng thán khí nhiều hơn so với người bệnh ngưng thở
tắc nghẽn khi ngủ không bị BPTNMT.
Các biến cố ngưng thở ở
người bệnh đồng mắc BPTNMT và ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ có giảm oxy máu sâu
hơn và rối loạn nhịp tim nhiều hơn. Người bệnh bị đồng mắc BPTNMT và ngưng thở
tắc nghẽn khi ngủ dường như bị tăng áp phổi ban ngày so với người bệnh chỉ mắc
ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ hoặc BPTNMT đơn thuần. Việc sử dụng thông khí áp
lực dương ở người bệnh BPTNMT đồng mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ đã được cho
là làm giảm mọi nguyên nhân nhập viện, phải nhập vào khoa cấp cứu, giảm đợt cấp
vừa và nặng và giảm chi phí liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra, mất
ngủ ở người bệnh BPTNMT cũng làm tăng tần suất khám ngoại trú và tỷ lệ nhập
viện.
4.3.
Viêm nha chu và vệ sinh răng miệng
Mối liên quan giữa
BPTNMT và viêm nha chu đã được ghi nhận, nhưng các yếu tố nguyên nhân phổ biến
như tuổi tác, hút thuốc lá, hoàn cảnh kinh tế xã hội vẫn chưa chắc chắn. Nguy
cơ hình thành viêm nha chu tăng lên cùng với số lần đến phòng cấp cứu của người
bệnh BPTNMT. Nghiên cứu tổng quan hệ thống gần đây với mức độ bằng chứng từ
thấp đến trung bình cho thấy điều trị nha chu có thể có liên quan đến suy giảm
chức năng phổi chậm hơn, giảm tần suất đợt cấp BPTNMT và sử dụng nguồn lực chăm
sóc sức khỏe ít hơn cho cả BPTNMT và viêm nha chu mạn tính.
4.4.
Trào ngược dạ dày – thực quản
Trào ngược dạ dày -
thực quản (GERD) là yếu tố nguy cơ độc lập đối với các đợt cấp BPTNMT và có
liên quan đến tình trạng sức khỏe xấu hơn. Các cơ chế làm tăng nguy cơ đợt kịch
phát BPTNMT vẫn chưa được thiết lập đầy đủ.
Các chất ức chế bơm
proton thường được sử dụng để điều trị cho trào ngược dạ dày - thực quản. Một
nghiên cứu nhỏ, mù đơn cho thấy nhóm thuốc này làm giảm nguy cơ đợt kịch phát
BPTNMT, nhưng vai trò của thuốc trong việc ngăn ngừa đợt cấp BPTNMT vẫn còn bàn
cãi. Do vậy điều trị hiệu quả nhất cho tình trạng đồng mắc BPTNMT và trào ngược
dạ dày – thực quản vẫn chưa được đề xuất.
4.5.
Hội chứng chuyển hóa và tiểu đường
Hội chứng chuyển hóa và
triệu chứng của bệnh tiểu đường thường gặp ở người bệnh BPTNMT, trường hợp muộn
có khả năng ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh BPTNMT. Tần suất hội chứng chuyển hóa
được ước tính là hơn 30 %. Tình trạng đề kháng insulin có liên quan với gia
tăng nguy cơ BPTNMT ở nữ giới nhưng không tăng nguy cơ ở nam giới.
Bệnh tiểu đường nên
được điều trị theo khuyến cáo cho bệnh tiểu đường. BPTNMT phải được điều trị
như hướng dẫn hiện hành.
4.6.
Loãng xương
Loãng xương là một bệnh
đồng mắc quan trọng và phổ biến thường không được chẩn đoán đầy đủ. Loãng xương
liên quan đến tình trạng suy giảm sức khỏe và tiên lượng xấu ở người bệnh
BPTNMT. Loãng xương thường liên quan đến khí phế thũng, giảm chỉ số khối cơ thể
và khối lượng mỡ thấp. Mật độ khoáng xương thấp, gãy xương thường xảy ra ở
người bệnh BPTNMT ngay cả khi đã hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ khác như sử
dụng corticoid, tuổi, số năm hút thuốc lá, hút thuốc hiện tại và các đợt kịch
phát.
Loãng xương nên được điều
trị theo hướng dẫn thông lệ. BPTNMT nên được điều trị như khuyến cáo mặc dù có
bệnh đồng mắc loãng xương. Corticoid dùng đường toàn thân làm gia tăng nghiêm
trọng nguy cơ loãng xương, do vậy nên tránh sử dụng corticoid trong điều trị
các đợt cấp nếu có thể.
4.7.
Thiếu máu
Thiếu máu thường gặp ở
người bệnh BPTNMT với tần suất từ 7,5 - 34 %. Người bị BPTNMT và thiếu máu thường
lớn tuổi hơn, thường mắc các bệnh tim mạch chuyển hóa đi kèm, khó thở nhiều
hơn, chất lượng cuộc sống kém hơn, rối loạn thông khí tắc nghẽn nặng hơn, giảm
khả năng vận động, tăng nguy cơ đợt kịch phát và tỷ lệ tử vong. Thiếu máu mạn
là phổ biến nhất được thấy trong BPTNMT, đặc biệt là thiếu máu do thiếu sắt và
chủ yếu liên quan đến viêm hệ thống mạn tính, suy giảm khả năng tổng hợp tế bào
máu. Tuy nhiên các yếu tố có thể đảo ngược khác cần được nghiên cứu bao gồm sử
dụng oxy dài hạn, dùng theophylline, các chất ức chế men chuyển, thuốc ức chế
thụ thể angiotensin II, rối loạn chức năng thận, sử dụng hormon sinh dục nam.
Mặc dù thiếu máu đã
được xác định là bệnh đồng mắc quan trọng trong BPTNMT, nồng độ hemoglobin và
hematocrit tối ưu ở những người bệnh BPTNMT vẫn chưa được xác định. Nên đánh
giá nồng độ hemoglobin ở người bệnh BPTNMT, đặc biệt là những người bệnh bị
BPTNMT nặng. Khi thiếu máu được chẩn đoán, cần phải tìm các nguyên nhân điều
trị được và tuân theo các hướng dẫn lâm sàng.
4.8.
Đa hồng cầu
Đa hồng cầu thứ phát là
bệnh đồng mắc phổ biến với tần suất khoảng 10,2% ở người bệnh BPTNMT ngoại trú
(Hb >17g/dL ở nam và >15g/dL ở nữ). Đồng mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ
cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ đa hồng cầu ở người bệnh BPTNMT. Hút
thuốc làm tăng carboxyhemoglobin, do đó làm tăng khối lượng hồng cầu và nguy cơ
đa hồng cầu thứ phát ở những người bị BPTNMT.
Đa hồng cầu thứ phát
trong BPTNMT có thể liên quan đến tăng áp phổi, huyết khối tĩnh mạch và tăng tỷ
lệ tử vong. Ở người bệnh BPTNMT, đa hồng cầu thứ phát có thể liên quan đến giảm
oxy máu nặng không được điều chỉnh, cũng như bệnh phổi kẽ đồng mắc hoặc bệnh
mạch máu phổi. Trong BPTNMT nếu có đa hồng cầu thứ phát cần đánh giá cẩn thận
để xác định tình trạng thiếu oxy máu không được điều chỉnh hoặc để loại trừ sự
hiện diện của bất kỳ bệnh đi kèm nào cần can thiệp cụ thể.
4.9.
Lo âu và trầm cảm
Lo âu và trầm cảm là
những bệnh đồng mắc quan trọng và thường không được chẩn đoán đầy đủ trong
BPTNMT. Cả hai bệnh đồng mắc này đều liên quan đến tiên lượng xấu của BPTNMT;
thường gặp là người bệnh BPTNMT tuổi trẻ hơn, giới tính nữ, hút thuốc, FEV1
thấp hơn, hay ho, điểm SGRQ cao hơn và tiền sử bệnh tim mạch. Sau khi được chẩn
đoán, người bệnh BPTNMT có nhiều khả năng bị trầm cảm và nguy cơ trầm cảm cũng
cao hơn ở những người bệnh bị khó thở nặng hơn.
BPTNMT nên được điều
trị như hướng dẫn hiện hành ở những người bệnh đồng mắc rối loạn tâm thần. Phục
hồi chức năng hô hấp nên được quan tâm vì có ảnh hưởng có lợi đối với trầm cảm.
BPTNMT rất phổ biến ở những người bệnh mắc các bệnh tâm thần khác, nhưng thường
không được chẩn đoán và điều trị.
4.10.
Suy giảm nhận thức
Suy giảm nhận thức
thường gặp ở người bệnh BPTNMT với tần suất khoảng 32%. Tần suất và mức độ
nghiêm trọng thay đổi tùy theo phương thức đánh giá. Đánh giá tâm thần kinh mở
rộng cho thấy có tới 56 % người bệnh có thể bị suy giảm nhận thức. Các báo cáo
cho thấy nguy cơ phát triển suy giảm nhận thức cao hơn trong BPTNMT được chẩn
đoán ở tuổi trung niên và có mối liên quan giữa BPTNMT và sự hình thành chứng
mất trí nhớ.
Suy giảm nhận thức có
liên quan đến suy giảm các hoạt động cơ bản hàng ngày và tình trạng suy giảm
sức khỏe chung với những mức độ khác nhau. BPTNMT đồng mắc suy giảm nhận thức
làm gia tăng rõ rệt tỷ lệ nhập viện và kéo dài thời gian nằm viện do điều trị
đợt cấp BPTNMT.
4.11.
Suy nhược
Suy nhược được định
nghĩa dựa trên sự hiện diện của năm thành tố: yếu ớt, chậm chạp, kiệt sức, hoạt
động thể chất thấp và giảm cân không chủ ý. Tỷ lệ suy nhược của những người mắc
BPTNMT cao hơn ở những người không mắc BPTNMT và giúp nhận định những người
bệnh BPTNMT có tiên lượng kém. Suy nhược có liên quan đến tỷ lệ tử vong do mọi
nguyên nhân, đợt kịch phát và nằm viện của người bệnh BPTNMT.
4.12.
BPTNMT là một phần của chủ thể đa bệnh
Dân số lớn tuổi ngày
càng gia tăng, do vậy số người có từ hai bệnh mạn tính trở lên ngày càng tăng
và BPTNMT là bệnh lý thường gặp trong nhóm đa bệnh này. Những người bệnh đa
bệnh, thường có triệu chứng lâm sàng cùng lúc của nhiều bệnh, do vậy các triệu
chứng lâm sàng giao thoa lẫn nhau và có thể do nhiều bệnh lý cùng gây ra. Hiện
không có bằng chứng về điều trị khác biệt ở những người bệnh BPTNMT có đa bệnh
đồng mắc và người bệnh BPTNMT không có đa bệnh đồng mắc, cần lưu ý đơn giản hóa
việc điều trị.
CHƯƠNG 5. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP, DINH DƯỠNG
VÀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
5.1. Phục hồi chức năng
hô hấp trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
5.1.1. Đại cương
a, Định nghĩa phục hồi
chức năng hô hấp
Theo Hội Lồng ngực Hoa
Kỳ/Hiệp Hội Hô hấp châu Âu 2013 “Phục hồi chức năng (PHCN) hô hấp là một can
thiệp toàn diện dựa trên sự lượng giá cẩn thận người bệnh tiếp theo sau là chương
trình điều trị phù hợp với từng người bệnh bao gồm nhưng không giới hạn ở tập
vận động, giáo dục, can thiệp tự quản lý nhằm mục đích thay đổi hành vi, được
thiết kế để cải thiện tình trạng thể chất và tâm lý của người bệnh hô hấp mạn
tính và thúc đẩy việc tuân thủ lâu dài các hành vi nâng cao sức khoẻ”.
b, Mục tiêu của phục
hồi chức năng hô hấp
Giảm triệu chứng, cải
thiện chất lượng cuộc sống và gia tăng các hoạt động thể chất và xã hội trong
đời sống hàng ngày. Chương trình PHCN hô hấp đã được chứng minh mang lại nhiều
lợi ích. (Bảng 5.1)
Bảng
0.1. Những lợi ích của chương trình PHCN hô hấp
|
Cải thiện khó thở,
tình trạng sức khỏe và khả năng vận động ở người bệnh BPTNMT giai đoạn ổn
định.
|
Bằng chứng loại A
|
|
Giảm nhập viện trong
số người bệnh vừa ra khỏi đợt cấp < 4 tuần.
|
Bằng chứng loại B
|
|
Giảm triệu chứng lo
âu và trầm cảm
|
Bằng chứng loại A
|
|
Giáo dục sức khỏe cần
thiết để thay đổi nhận thức của người bệnh nhưng sử dụng đơn thuần không đem
lại hiệu quả thay đổi hành vi.
|
Bằng chứng loại C
|
|
Tự quản lý bệnh kèm
trao đổi với nhân viên y tế giúp cải thiện tình trạng sức khỏe, giảm nhập
viện và khám cấp cứu.
|
Bằng chứng loại B
|
c, Chỉ định và chống
chỉ định
* Chỉ định
Chương trình PHCN hô
hấp nên thực hiện ở tất cả những người bệnh BPTNMT có triệu chứng và/ hoặc có
nguy cơ đợt cấp cao (Bằng chứng loại A). Đặc biệt, PHCN hô hấp cần thực hiện
đối với các trường hợp sau dù đã được dùng thuốc tối ưu:
- Khó thở và các triệu
chứng hô hấp mạn tính.
- Chất lượng cuộc sống
kém, giảm tình trạng sức khỏe chung.
- Khó khăn khi thực
hiện các sinh hoạt hàng ngày.
• Lo âu, trầm cảm.
• Suy dinh dưỡng.
• Tăng sử dụng dịch vụ
y tế (đợt cấp và nhập viện nhiều, thăm khám nhiều lần…).
• Rối loạn trao đổi khí
bao gồm hạ oxy máu.
* Chống chỉ định
- Có các vấn đề về
chỉnh hình hoặc thần kinh có thể làm hạn chế khả năng đi lại hoặc phối hợp
trong lúc tập vận động.
- Có các bệnh phối hợp
như bệnh tâm thần, bệnh tim mạch không ổn định.
5.1.2. Các thành phần
của chương trình PHCN hô hấp
Chương trình PHCN hô
hấp toàn diện bao gồm lượng giá người bệnh, tập vận động, tập cơ hô hấp, giáo
dục sức khỏe và tự quản lý bệnh.
a, Lượng giá người bệnh
Lượng giá: trước khi
tham gia chương trình PHCN hô hấp:
- Bệnh sử chi tiết và
kiểm tra thể chất.
- Đánh giá tình trạng
sức khoẻ và tác động của khó thở (bảng điểm CAT, mMRC, SGRQ,…)
- Đo chức năng hô hấp
có nghiệm pháp đánh giá đáp ứng với thuốc giãn phế quản và phân nhóm theo GOLD.
- Đánh giá bệnh đồng
mắc: tim mạch, cơ xương khớp, tâm thần kinh,...
- Đánh giá khả năng
gắng sức bằng các nghiệm pháp gắng sức (nghiệm pháp đi bộ 6 phút, nghiệm pháp
đi bộ con thoi, CPET,…)
- Đánh giá sức cơ của
các cơ hô hấp và cơ tứ đầu đùi.
- Đánh giá dinh dưỡng
(cân nặng, khối nạc, % mỡ...).
- Đánh giá lo âu, trầm
cảm...
b, Tập vận động
- Là thành phần chủ yếu
và bắt buộc của chương trình PHCN hô hấp và là cách tốt nhất để cải thiện hoạt
động cơ xương ở người bệnh BPTNMT.
- Phương thức tập
luyện: bao gồm tập sức bền (endurance), tập sức cơ (strenght), các bài tập căng
giãn, tập cơ hô hấp.
+ Tập sức bền: tập
chi dưới nhằm làm khỏe các cơ giúp đi lại và cải thiện hoạt động tim phổi. Tập
chi trên giúp giảm bớt khó thở và giảm bớt nhu cầu thông khí trong các hoạt
động dùng tay.
Cách tập: tập chi dưới:
dùng thảm lăn (khởi đầu từ 800m/giờ, tăng dần cho đến 5 km/giờ hoặc xe đạp lực
kế (khởi đầu bằng 30 vòng/phút) hoặc đi bộ trên mặt phẳng. Tập chi trên: dùng
máy tập tay cơ công kế (arm cycle ergometer), nâng tạ tự do hoặc bằng đàn hồi.
+ Tập sức cơ: lặp
đi lặp lại nhiều lần cùng một động tác làm gia tăng khối cơ và sức cơ tại chỗ,
nên vận động nhịp nhàng, tốc độ kiểm soát từ chậm đến trung bình, kết hợp với
hít vào khi giãn cơ và thở ra khi co cơ. Các cơ nên tập: cơ tứ đầu đùi, cơ tam
đầu, cơ nhị đầu, cơ Delta, cơ ngực lớn…
Cách tập: chi dưới: đạp
xe, nâng chân, băng đàn hồi, bước bậc thang, bài tập ngồi đứng…; chi trên: máy
tập (khởi đầu 50 vòng/phút không kháng lực), nâng tạ tự do (khởi đầu: 1/4 kg –
1 kg), băng đàn hồi, ném bóng… Lặp lại 8 – 12 lần/động tác x 1 – 3 đợt/buổi tập
x 2 - 3 ngày/tuần.
+ Các bài tập căng
giãn: cải thiện các bất thường về tư thế và dáng đứng có ảnh hưởng đến hoạt
động hô hấp như cứng cột sống, lệch cột sống, nhô vai, lệch vai….; bao gồm cả
chi trên lẫn chi dưới như bắp tay, bắp chân, khoeo chân, cổ, vai…
+ Tập cơ hô hấp: tập
vận động cơ hô hấp có thể được thêm vào bài tập vận động, giúp tăng cường hoạt
động của cơ hô hấp và giảm bớt khó thở trong sinh hoạt hàng ngày. Tập cơ hô hấp
chỉ định cho những người bệnh có bằng chứng hoặc nghi ngờ yếu cơ hô hấp. Dụng
cụ tập cơ hô hấp là dụng cụ nhỏ gọn, giúp người bệnh tăng khả năng hít vào. Số
lần tập trung bình: 30 lần/15 phút.
- Cường độ tập luyện:
cần phù hợp với độ nặng của bệnh, mức độ hạn chế do triệu chứng bệnh, bệnh lý
đi kèm và sự năng động của từng người bệnh. Thường sử dụng các điểm triệu chứng
để điều chỉnh và duy trì mức độ vận động như:
+ Thang điểm Borg: Điểm
Borg 4 – 6 là mục tiêu thích hợp khi luyện tập.
+ Nhịp tim trong lúc
tập sao cho xấp xỉ 75% nhịp tim tối đa (NTTĐ) theo công thức: NTTĐ = 220 –
tuổi.
- Các biện pháp hỗ
trợ: để việc tập vận động có thể đạt hiệu quả tối ưu:
+ Thuốc giãn phế quản
trước khi tập vận động giúp cải thiện khả năng gắng sức.
+ Thở oxy: đối với
người bệnh giảm bão hòa oxy khi gắng sức, oxy giúp tăng khả năng gắng sức và
giảm khó thở. Đối với người bệnh không hạ oxy máu khi gắng sức, oxy giúp gia
tăng hiệu quả tập sức bền. Đối với người bệnh đang thở oxy dài hạn tại nhà nên
tăng lưu lượng oxy khi vận động.
+ Dụng cụ hỗ trợ đi
lại: một số người bệnh nên sử dụng các dụng cụ như gậy, khung đẩy có bánh xe
(wheeled walking aid) với tư thế chồm người ra phía trước với điểm tựa ở hai
tay giúp giảm bớt khó thở và tăng khả năng gắng sức.
c, Giáo dục sức khỏe -
kỹ năng tự xử trí bệnh
Nội dung: các chủ đề
giáo dục sức khỏe được liệt kê ở bảng 5.2.
Bảng
0.2. Các nội dung giáo dục sức khỏe
|
Giáo dục kiến thức
Sinh lý hô hấp và
sinh lý bệnh học của BPTNMT.
Đối phó với bệnh phổi
mạn tính và các chuẩn bị cuối đời.
Du lịch, giải trí,
tình dục.
Dinh dưỡng đúng cách.
Bảo toàn năng lượng
và các cách đơn giản hóa công việc.
|
|
Giáo dục kỹ năng
Các phương pháp làm sạch
phế quản.
Ích lợi của vận động
và duy trì các tập luyện thể chất.
Các phương pháp tập
thở.
Sử dụng thuốc đúng
cách, bao gồm cả oxy.
|
|
Giáo dục hành vi
Phòng ngừa và chẩn
đoán sớm đợt cấp BPTNMT.
Kiểm soát lo âu và sợ
hãi, bao gồm cả phương pháp thư giãn và xử trí stress.
Cai thuốc lá.
|
- Các phương pháp tập
thở: bao gồm thở chúm môi, thở ra chủ động, các tư thế đối phó khó thở và cách
phối hợp giữa tập thở và các hoạt động thường ngày.
- Các kỹ thuật làm sạch
phế quản: bao gồm ho hữu hiệu, kỹ thuật thở ra mạnh (forced expiratory
technique – FET), dẫn lưu tư thế và vỗ rung.
Kỹ năng tự quản lý
bệnh: người
bệnh được khuyến khích tham gia chủ động và hướng đến cuộc sống lành mạnh, tích
cực với chất lượng cuộc sống cao. Hướng dẫn người bệnh biết sử dụng bảng kế
hoạch điều trị cá nhân hóa được xây dựng trước đó để đối phó với các diễn biến
sớm của đợt cấp. Cần xây dựng mối giao tiếp cởi mở, thân thiện và quan tâm, chú
ý đến tâm tư tình cảm và nhu cầu thật sự của người bệnh, phát hiện những vấn đề
về tâm lý thường gặp như lo âu, trầm cảm, mất tự tin, ngại giao tiếp.
5.1.3. Xây dựng chương
trình PHCN hô hấp
a, PHCN hô hấp giai
đoạn ổn định
PHCN hô hấp có thể tổ
chức nội trú tại bệnh viện, ngoại trú, tại nhà hoặc PHCN hô hấp từ xa.
PHCN hô hấp ngoại trú
được áp dụng rộng rãi nhất, hiệu quả, an toàn, và tiện lợi, bao gồm > 20
buổi tập hay kéo dài 6 – 8 tuần với > 3 buổi tập mỗi tuần hoặc 2 buổi tại cơ
sở y tế và 1 buổi tập tại nhà có giám sát. Mỗi buổi tập khoảng 20 - 30 phút;
nếu người bệnh mệt có thể bố trí những khoảng nghỉ ngắn xen kẽ trong buổi tập.
Một ví dụ thiết kế chương trình PHCN hô hấp kéo dài 8 tuần được trình bày trong
phụ lục 7.
PHCN hô hấp nội trú áp
dụng cho hỗ trợ nhóm, thường thiếu sự phối hợp của các nhân viên y tế từ nhiều
lĩnh vực, dụng cụ tập luyện không đồng nhất…
Ở những nơi thiếu nguồn
lực hoặc người bệnh sống ở khu vực nông thôn hoặc vùng sâu vùng xa, các chương
trình PHCN hô hấp tại nhà (đạp xe đạp tại chỗ hoặc chương trình đi bộ) hoặc
PHCN hô hấp từ xa (qua trang Web với sự hỗ trợ của chuyên gia qua điện thoại,
hoặc hình thức hội nghị truyền hình, trực tuyến qua các nền tảng, mạng xã hội…)
có thể là lựa chọn thay thế cho các chương trình PHCN hô hấp truyền thống tại
bệnh viện.
b, PHCN hô hấp sau đợt
cấp
PHCN hô hấp có thể khởi
đầu sớm ngay trong đợt cấp khi người bệnh còn đang nằm viện. Khởi đầu PHCN hô
hấp sớm < 3 tuần sau đợt cấp giúp cải thiện khả năng gắng sức, giảm triệu
chứng, tăng chất lượng cuộc sống và giảm tỉ lệ tái nhập viện.
- Nếu người bệnh nặng,
hôn mê, nằm ở khoa hồi sức/săn sóc đặc biệt: chỉ tập vận động thụ động, cử động
khớp, kéo dãn cơ, kích thích điện cơ – thần kinh.
- Nếu người bệnh tỉnh
táo: Tập di chuyển trên giường □ ngồi cạnh giường □ ngồi ghế □ đứng □ bước đi
trong phòng…
5.2.
Dinh dưỡng cho người bệnh BPTNMT
a, Sàng lọc và đánh giá
dinh dưỡng:
- Dựa vào cân nặng hoặc
BMI (body mass index): Suy dinh dưỡng khi BMI < 18,5kg/m2 theo
WHO 2016 hoặc sụt cân ngoài ý muốn từ 5 đến 10% cân nặng trong 3-6 tháng gần
đây, hoặc sụt cân ngoài ý muốn > 5% cân nặng trong 1tháng gần đây.
- Phân tích thành phần
cơ thể (Body Composition Analysis): Máy phân tích thành phần cơ thể InBody 770,
S10 để ước tính thành phần cơ thể bằng cách sử dụng sự khác biệt về độ dẫn điện
của các mô khác nhau dựa vào đặc điểm sinh học. Phân tích thành phần cơ thể
(Body Composition Analysis ); Phân tích Cơ Mỡ (Muscle Fat Analysis); Phân tích
khối nạc từng phần (Segmental Lean Analysis); Phân tích tỉ lệ nước ngoại bào
(Extracellular water (ECW) Ratio Analysis) từ đó chẩn đoán suy dinh dưỡng mức
độ nhẹ, vừa và nặng.
b, Điều chỉnh suy dinh
dưỡng:
- Nhu cầu năng
lượng: Nhu cầu năng lượng có thể được tính toán bằng cách sử dụng năng
lượng gián tiếp hoặc theo phương trình Harris – Benedict (1919):
Công thức cho Nam: Tiêu
hao năng lượng cơ bản (BEE) = 66,5 + (13,75 x kg) + (5,003 x cm) – (6,775 x
tuổi)
Công thức cho Nữ: Tiêu
hao năng lượng cơ bản BEE= 655,1 + (9,563 x kg) + (1,850 x cm) – (6,774 x tuổi)
Tiêu hao năng lượng cơ
bản BEE
x 1,25 – 1,56 đối với người bệnh COPD. (BEE: basal energy expenditure) Hoặc có
thể tính ra mức năng lượng khuyến nghị: 28 – 35 kcal/kg/ngày được nhiều tác giả
sử dụng cho COPD.
- Nhu cầu lipid: Nhu
cầu lipid từ 30 - 45%. Cơ cấu các loại chất béo cần có 1/3 acid béo no, 1/3
acid béo không no 1 nối đôi và 1/3 chất béo không no nhiều nối đôi. Lipid có
vai trò tham gia giảm viêm khi cơ thể có nhiễm trùng, tham gia vào điều hòa các
hoạt động chức phận của cơ thể, do nó tham gia vào màng tế bào, màng nhân và
các nội quan trong tế bào do vậy những hoạt động của cơ thể liên quan rất nhiều
với chức phận này.
- Nhu cầu
protein: Nhu cầu protein 1,2 – 1,7 g/kg/ngày là cần thiết để duy trì
hoặc khôi phục phổi và sức mạnh của cơ, duy trì chức năng miễn dịch. Protein
cần thiết cho quá trình tổng hợp mô, là thành phần chính của da, tóc, móng, gân
xương, dây chằng các cơ quan chính và cơ bắp. Amino acid là tiền chất của chất
dẫn truyền thần kinh (catecholamine).
- Nhu cầu Glucid:
Nhu cầu glucid từ 40-55% tổng năng lượng. Vai trò chính của glucid là sinh năng
lượng.
- Nhu cầu
vitamin: Vitamin được mô tả là một trong nhóm vi chất dinh dưỡng cần
thiết. Vitamin có 2 loại vitamin tan trong nước (vitamin C, B1, B2, B3, B5, B6,
B7, B9, B12 và vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E và K).
Vitamin A (retinol): 1500µg/ngày. Nguồn thực
phẩm chứa nhiều vitamin A là ở nguồn động vật và thực vật (nguồn gốc động vật:
gan, mỡ, trứng, cá tuyết, dầu gan cá bơn), nguồn gốc thực vật (các loại lá màu xanh
thẫm, các loại rau màu vàng cam như cà rốt, rau xanh, quả đu đủ, khoai tây, bí
ngô...).
Vitamin D (Calciferol):
5-15µg/ngày.
Nguồn gốc của vitamin D có nhiều trong các loại thực phẩm cá trích, cá hồi, cá
mòi, trứng, gan...
Vitamin E: 15mg/ngày. Vitamin E
có nhiều ở hạnh nhân, bột nho khô, dầu hướng dương, dầu lạc, dầu ngô, dầu oliu,
măng tây.
Vitamin C (Ascobic
Acid): 15-120mg/ngày.
Tác dụng chống oxy hóa chất gốc tự do, tăng cường hấp thu sắt phòng thiếu máu,
tác dụng chống viêm, duy trì và cải thiện chức năng phổi. Những người bệnh COPD
đang hút thuốc lá cần phải bổ sung vitamin C có thể là cần thiết. Nghiên cứu
trực tiếp ở những người hút thuốc lá 1bao/ngày đã cho thấy nhu cầu vitamin C
xấp xỉ 16mg/ngày, những người hút 2 bao thuốc lá/ngày cần 32mg vitamin C một
ngày.
- Nhu cầu muối
khoáng: 5 nguyên tố khoáng đa lượng cần thiết như magie, natri, kali,
clo, sulfur; 11 nguyên tố khoáng vi lượng như sắt kẽm, iod, selen, mangan,
fluo, molybdenum, đồng, chrom, cobalt, Bo. Yếu tố siêu vi lượng không được ước
tính trọng lượng trong cơ thể như arsenic, nhôm, kền, thiếc, vanadium, silicon
vì chúng cung cấp không đáng kể cho trọng lượng cơ thể.
Nguyên tố khoáng đa
lượng
Canxi:
1000-1200mg/ngày.
Phospho: 700mg/ngày.
Magie: 310-400mg/ngày.
Sulfur: không có khuyến
cáo liều cho chất này.
Nguyên tố khoáng vi
lượng
Sắt: 8-18mg/ngày.
Kẽm: 8-11mg/ngày.
Fluor: 3-4mg/ngày.
Đồng: 0,2-1,3mg/ngày.
Nguyên tố khoáng siêu
vi lượng
Iod: 150mg/ngày.
Selen: 55mg/ngày.
Crom: 20-35µg/ngày.
Molybdenum:
80-126µg/ngày.
Bo: không có khuyến cáo
liều.
Cobalt: 2-3µg/ngày.
- Nhu cầu điện giải và
nhu cầu nước:
Nhu cầu nước/ngày = số
lượng nước tiểu/24h + (300ml đến 500ml) + dịch bất thường (nếu người bệnh có
nôn, đi ngoài phân lỏng, dịch dẫn lưu).
5.3.
Chăm sóc giảm nhẹ ở người bệnh BPTNMT
5.3.1. Định nghĩa
Một cách tiếp cận toàn
diện, đa ngành, lấy con người làm trung tâm nhằm kiểm soát các triệu chứng và
cải thiện chất lượng cuộc sống của những người mắc bệnh nghiêm trọng liên quan
đến sức khỏe do BPTNMT, đồng thời hỗ trợ gia đình họ (ERS, GOLD, Bộ Y tế :
183/QĐ-BYT 2022).
5.3.2. Mục tiêu
Mục tiêu của chăm sóc
giảm nhẹ là ngăn ngừa và giảm bớt đau khổ, và hỗ trợ chất lượng cuộc sống tốt
nhất có thể cho người bệnh và gia đình của họ, bất kể giai đoạn bệnh hay nhu
cầu trị liệu khác.
5.3.3. Đối tượng
- Người bệnh BPTNMT ở
mọi giai đoạn bệnh, đặc biệt khi có các triệu chứng khó kiểm soát hoặc ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống.
- Người bệnh BPTNMT có
nhu cầu giảm nhẹ các triệu chứng khó chịu và cải thiện chất lượng sống.
- Người bệnh BPTNMT và
gia đình có nhu cầu hỗ trợ tâm lý, xã hội và tinh thần.
5.3.4. Đánh giá toàn
diện
- Triệu chứng: Khó thở,
ho, mệt mỏi, đau đớn, lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, chán ăn, sụt cân.
- Chất lượng sống: Sử
dụng các công cụ đánh giá như CRQ, CAT, mMRC.
- Nhu cầu tâm lý - xã
hội: Mối quan hệ gia đình, hỗ trợ xã hội, tình trạng tài chính, nhu cầu về
thông tin và giáo dục.
- Nhu cầu tinh thần:
Quan điểm về bệnh tật, giá trị sống, ý nghĩa cuộc sống, nhu cầu về tâm linh và
tôn giáo.
5.3.5. Quản lý triệu
chứng
Bảng
0.3. Các biện pháp quản lý triệu chứng
|
Triệu
chứng
|
Biện
pháp không dùng thuốc
|
Biện
pháp dùng thuốc
|
|
Khó thở
|
Châm cứu/ xoa bóp,
thông khí áp lực dương không xâm lấn, oxy bổ sung, kỹ thuật thở hoặc thư giãn
(ví dụ, thở chúm môi, thở-thư giãn), trị liệu bằng quạt
|
Opioid liều thấp
|
|
Ho
|
Vật lý trị liệu hô
hấp, kỹ thuật ho, trị liệu ngôn ngữ
|
Opioid, thuốc chống
ho, thuốc giãn phế quản, chất tương tự GABA (GABA analogs)
|
|
Mệt mỏi
|
Phục hồi chức năng
phổi, hoạt động thể lực phù hợp, nghỉ ngơi đầy đủ, dinh dưỡng, can thiệp tâm
trí- cơ thể (mind- body interventions)
|
Thuốc chống trầm cảm
|
|
Đau
|
Châm cứu/châm cứu/xoa
bóp, âm nhạc liệu pháp điều trị, chườm nóng/lạnh, xoa bóp
|
Opioid, thuốc giảm
đau, thuốc chống trầm cảm, giãn cơ, thuốc giải lo âu
|
|
Lo âu, trầm cảm
|
Tư vấn tâm lý, liệu
pháp nhận thức- hành vi, hỗ trợ tâm lý, chánh niệm, âm nhạc trị liệu
|
Thuốc chống trầm cảm,
thuốc giải lo âu
|
5.3.6. Hỗ trợ tâm lý
BPTNMT thường kèm theo
tăng nguy cơ lo âu, trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác, nhưng thường không
được nhận biết và điều trị đúng mức. Các bệnh lý tâm thần kinh có sẵn cũng
thường làm cho các rối loạn tâm lý nặng nề hơn.
Tầm soát: Đánh giá tình
trạng tâm lý xã hội bằng các bảng câu hỏi tầm soát (Hospital Anxiety and
Depression Questionnaire hay Beck Depression Inventory) và nhận biết các trạng
thái tâm lý đa dạng của người bệnh như lo lắng, sợ hãi, giận dữ, tội lỗi, bất
chấp, oán giận, buồn phiền, sầu khổ, vô dụng, tự cô lập, thất vọng…
Xử trí: Những người
bệnh rối loạn tâm lý trung bình và nặng nên được điều trị chuyên khoa. Các
người bệnh còn lại nên được tư vấn hỗ trợ, hướng dẫn các kỹ năng đối phó với
stress: tập thư giãn, thả lỏng cơ, yoga…
5.3.7. Điều trị giảm
nhẹ khó thở
Khó thở kháng trị với điều
trị khá thường gặp, chiếm tỉ lệ 50% ở giai đoạn nặng, nhất là những năm cuối
đời, ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống và khiến cho người bệnh hầu như
tàn phế. Ngoài các thuốc giãn phế quản kinh điển, điều trị giảm nhẹ hoặc xoa
dịu khó thở bao gồm cả biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc.
Oxy liệu pháp: Thở oxy
liên tục ở người bệnh BPTNMT nặng có hạ oxy máu lúc nghỉ giúp giảm khó thở,
giảm tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống; không có bằng chứng thở oxy
giảm khó thở ở người bệnh BPTNMT nặng không có hạ oxy máu.
Thở máy không xâm nhập:
Thở máy không xâm nhập áp lực dương tại nhà được chỉ định cho người bệnh tăng CO2
máu mạn tính (PaCO2 > 50 mmHg) có thể giúp cải thiện thời gian
sống còn.
Dẫn xuất thuốc phiện:
Chỉ dùng cho khó thở dai dẳng, giai đoạn tiến triển/cuối đời, sau khi đã tối ưu
điều trị nền; khởi liều thấp, tăng chậm; theo dõi các tác dụng phụ: ngủ gà, táo
bón, buồn nôn, suy hô hấp; thận trọng ở người tăng CO2 máu, suy
thận, người cao tuổi. Thường dùng Morphin dạng viên uống, phác đồ theo bảng
5.4. Lưu ý dạng Morphin phun khí dung không có hiệu quả.
Bảng
0.4. Phác đồ điều trị khó thở bằng Morphin ở người bệnh BPTNMT giai đoạn cuối
đời
|
Phác
đồ
|
Liều
dùng
|
|
Khởi đầu
|
+ Khởi đầu với
Morphin uống 0,5mg 2 lần/ngày x 2 ngày, sau đó tăng lên 0,5mg uống mỗi 4 giờ
đến hết tuần 1.
|
|
Tăng liều
|
+ Nếu dung nạp, tăng
liều lên 1mg uống mỗi 4 giờ trong tuần 2; sau đó tăng thêm 1mg/tuần cho đến
khi đạt liều thấp nhất có hiệu quả giảm khó thở.
+ Khi liều ổn định đã
đạt được (vd: không thay đổi liều đáng kể trong 2 tuần và giảm khó thở), thay
bằng Morphin dạng phóng thích chậm với liều tương đương.
|
|
Tác dụng phụ
|
+ Nếu bị nhiều tác
dụng phụ của Morphin (nôn ói, lú lẫn..), có thể thay thế bằng Hydromorphin
uống với liều tương đương (1mg Hydromorphin = 5mg Morphin).
+ Cho thuốc chống táo
bón và thuốc làm mềm phân để tránh táo bón do morphin.
|
Các biện pháp không
dùng thuốc
Trong điều trị BPTNMT
khi người bệnh vẫn có biểu hiện khó thở bất chấp các điều trị thuốc tối ưu, khi
đó cần áp dụng thêm một số phương pháp bao gồm:
- Tập thở bao gồm thở
chúm môi và thở chậm theo nhịp.
- Tư thế giúp giảm khó
thở như ngồi chồm ra phía trước, đứng có điểm tựa.
- Giáo dục sức khỏe
thay đổi lối sống: sống chậm, tiết kiệm năng lượng.
- Quạt cầm tay đưa gió
vào mặt: tạo luồng gió thổi trực tiếp vào mặt. Phương pháp được chứng minh giúp
giảm bớt cảm giác khó thở của người bệnh, nhất là khi đang có cơn khó thở kịch
phát.
5.3.8. Lập kế hoạch
chăm sóc nâng cao
- Thảo luận về mục tiêu
chăm sóc: Tôn trọng mong muốn và giá trị của người bệnh, xác định các mục tiêu
chăm sóc phù hợp.
- Quyết định về các
biện pháp hồi sức: Thảo luận về các biện pháp hồi sức như đặt nội khí quản, thở
máy.
- Chọn người đại diện
ủy quyền: Người bệnh chỉ định người đại diện để đưa ra quyết định y tế khi họ
không còn khả năng.
- Lập các văn bản pháp
lý: Giấy ủy quyền chăm sóc y tế, di chúc.
5.3.9. Chuẩn bị cuối
đời
Với những người bệnh
BPTNMT có dự đoán thời gian sống ít hơn 6 tháng, người bệnh và gia đình nên
được hướng dẫn để có những chuẩn bị thích hợp về tâm lý và xã hội, tâm linh
trong giai đoạn cuối của bệnh khi tình trạng sức khỏe giảm nhanh, triệu chứng
khó kiểm soát và gia tăng các đợt cấp.
PHỤ LỤC 1. DANH MỤC THUỐC CẦN THIẾT CHO TUYẾN Y
TẾ CẤP BAN ĐẦU
Cơ sở y tế cấp ban đầu:
sẽ thực hiện cấp phát thuốc và quản lý cho những người bệnh đã được tuyến trên
chẩn đoán và chỉ định
|
Thuốc
|
Liều dùng
|
|
Cường beta 2 tác dụng
ngắn
|
|
Salbutamol
|
Salbutamol, ống
0,5mg/ml; tiêm dưới da hoặc truyền tĩnh mạch
Salbutamol 5mg/5ml,
truyền tĩnh mạch
Viên 2mg, uống ngày 4
viên, chia 4 lần, hoặc
Nang khí dung
5mg/2,5ml hoặc 2,5mg/2,5ml, khí dung ngày 4 nang, chia 4 lần, hoặc
Salbutamol dạng xịt
định liều 100mcg/nhát, xịt ngày 4 lần, mỗi lần 2 nhát
|
|
Terbutaline
|
Terbutaline sulphate
0,5mg/ml, ống 1 ml, tiêm dưới da hoặc truyền tĩnh mạch, mỗi lần ½-1 ống
Viên 5mg, uống ngày 4
viên, chia 4 lần, hoặc
|
|
Cường beta 2 tác dụng
kéo dài
|
|
Bambuterol
|
Dạng viên, uống 1-2
viên/ngày
|
|
Indacaterol
|
Dạng hít, 150 mcg/lần
hít, ngày hít 1 lần
|
|
Kháng cholinergic tác
dụng kéo dài
|
|
Tiotropium
|
Dạng phun hạt mịn,
2,5 mcg/lần hít, ngày hít 2 hít/lần vào buổi sáng
|
|
Kết hợp cường beta 2
tác dụng ngắn và kháng cholinergic
|
|
Fenoterol/Ipratropium
|
Dạng dung dịch khí
dung (1ml chứa Fenoterol 0,50 mg/Ipratropium 0,25mg), khí dung ngày 3 lần,
mỗi lần pha 1- 2 ml Fenoterol/ Ipratropium với 3 ml natriclorua 0,9%
Dạng xịt định liều,
50/20 mcg/nhát: xịt ngày 3 lần, mỗi lần 2 nhát
|
|
Salbutamol/Ipratropium
|
Nang 2,5ml chứa salbutamol
2,5mg, ipratropium bromide 0,5mg. Khí dung ngày 3-6 nang, chia 3 lần
|
|
Kết hợp cường beta 2
và kháng cholinergic tác dụng kéo dài
|
|
Indacaterol/
Glycopyrronium
|
Dạng hít, Nang chứa
Indacaterol 110 mcg/glycopyrronium 50 mcg. Hít ngày 1 nang vào buổi sáng
|
|
Olodaterol/Tiotropium
|
Dạng phun hạt mịn.
Liều 2,5mcg/2,5mcg cho một liều hít; hít 2 liều vào buổi sáng
|
|
Vilanterol/
Umeclidinium
|
Dạng hít bột khô.
Liều 62,5mcg/25mcg cho 1 liều hít; hít 1 liều vào buổi sáng
|
|
Nhóm Methylxanthin
Chú ý: tổng liều (bao
gồm tất cả các thuốc nhóm methylxanthin) không quá 10mg/kg/ngày. Không dùng
kèm thuốc nhóm macrolide vì nguy cơ độc tính gây biến chứng tim mạch.
|
|
Aminophylline
|
Ống 240mg. Pha 1 ống
240mg với 100 ml glucose 5%, truyền tĩnh mạch chậm trong 20-30 phút Duy trì:
truyền tĩnh mạch 0,25-0,50 mg/kg/giờ tùy tuổi, chức năng gan, bệnh đồng mắc
để đạt nồng độ theophylline huyết thanh khoảng 10 mcg/mL.
|
|
Theophylline phóng
thích chậm (SR)
|
Viên 0,1g hoặc 0,3g.
Liều 10mg/kg/ngày. Uống chia 2 lần.
|
|
Theophylline loại
thường
|
Viên 0,1g. Liều uống
04 viên/ngày chia 4 lần.
|
|
Glucocorticosteroids
dạng khí dung
Chú ý: cần súc miệng sau
sử dụng các thuốc dạng khí dung, phun hít có chứa glucocorticosteroid
|
|
Budesonide
|
Nang khí dung
0,5mg/2ml hoặc 1mg/2ml. Khí dung ngày 4-8 nang, chia 2-4 lần
|
|
Kết hợp cường beta 2
tác dụng kéo dài và Glucocoticosteroids
|
|
Formoterol/Budesonide
|
Dạng ống hít hoặc
xịt. Liều 160mcg/4,5mcg cho 1 liều. Dùng 4 liều/ngày, chia 2 lần
|
|
Salmeterol/Fluticasone
|
Dạng xịt hoặc hít.
Liều 50mcg/250 mcg hoặc 25mcg/250 mcg cho 1 liều. Dùng ngày 2-4 liều, chia 2
lần.
|
|
Fluticasone/Vilanterol
|
Dạng ống hít. Liều
100mcg/25mcg hoặc 200mcg/25mcg cho 1 liều hít. Dùng 1 liều/ngày
|
|
Glucocorticosteroids
đường toàn thân
|
|
Prednisolon
|
Viên 5mg. Uống ngày
6-8 viên, uống 1 lần lúc 8h sau ăn sáng.
|
|
Methylprednisolon
|
Viên 4mg, 16mg.
Lọ tiêm tĩnh mạch
40mg. Ngày tiêm 1-2 lọ
|
|
Chất ức chế
Phosphodiesterase
|
|
Chất ức chế Phosphodiesterase
4
|
Chất ức chế
Phosphodiesterase 4
|
|
Kháng sinh
|
Xem PHỤ LỤC 10
|
PHỤ LỤC 2. ĐÁNH GIÁ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN
TÍNH VỚI BẢNG ĐIỂM CAT (COPD ASSESSMENT TEST)
Thang điểm CAT gồm 8
câu hỏi, cho người bệnh tự đánh giá mức độ từ nhẹ tới nặng, mỗi câu đánh giá có
6 mức độ, từ 0 -5, tổng điểm từ 0 → 40.
Bác sỹ hướng dẫn người
bệnh tự điền điểm phù hợp vào ô tương ứng. Người bệnh bị ảnh hưởng bởi bệnh
tương ứng với mức độ điểm như sau: 40-31 điểm: ảnh hưởng rất nặng; 30-
21 điểm: ảnh hưởng
nặng; 20-11 điểm: ảnh hưởng trung bình; ≤ 10 điểm: ít ảnh hưởng.
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính của ông/bà như thế nào?
Hãy sử dụng công cụ
đánh giá CAT
Bộ câu hỏi này sẽ giúp
ông/bà và các nhân viên y tế đánh giá tác động của BPTNMT ảnh hưởng lên sức
khỏe và cuộc sống hàng ngày của ông/bà. Nhân viên y tế sẽ sử dụng những câu trả
lời của ông/bà và kết quả đánh giá để giúp họ nâng cao hiệu quả điều trị BPTNMT
của ông/bà và giúp ông/bà được lợi ích nhiều nhất từ việc điều trị.
Đối với mỗi mục dưới
đây, có các ô điểm số từ 0 đến 5, xin vui lòng đánh dấu (X) vào mô tả đúng nhất
tình trạng hiện tại của ông/bà. Chỉ chọn một phương án trả lời cho mỗi câu.

PHỤ LỤC 3. ĐÁNH GIÁ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN
TÍNH VỚI BẢNG ĐIỂM mMRC (MODIFIED MEDICAL RESEARCH COUNCIL)
|
Bảng
điểm đánh giá khó thở mMRC
|
Điểm
|
|
Khó thở khi gắng sức
mạnh
|
0
|
|
Khó thở khi đi vội
trên đường bằng hay đi lên dốc nhẹ
|
1
|
|
Đi bộ chậm hơn người
cùng tuổi vì khó thở hoặc phải dừng lại để thở khi đi cùng tốc độ với người
cùng tuổi trên đường bằng
|
2
|
|
Phải dừng lại để thở
khi đi bộ khoảng 100m hay vài phút trên đường bằng
|
3
|
|
Khó thở nhiều đến nỗi
không thể ra khỏi nhà hoặc khó thở ngay cả khi thay quần áo
|
4
|
PHỤ LỤC 4. CÁCH SỬ DỤNG CÁC DỤNG CỤ PHÂN PHỐI
THUỐC
1. Bình hít định liều
(MDIs)
Bình hít định liều
(MDIs) là thiết bị phun hít cầm tay dùng lực đẩy để phân bố thuốc. MDI có hộp
kim loại có áp lực chứa thuốc dạng bột hoặc dung dịch, chất surfactant,
propellant, van định liều. Hộp kim loại này được bọc bên ngoài bằng ống nhựa,
có ống ngậm.
- Ưu điểm của MDIs: dễ
mang theo, khả năng phân bố đa liều, ít nguy cơ nhiễm khuẩn.
- Nhược điểm: cần sự
khởi động chính xác và phối hợp tốt giữa động tác xịt thuốc với hít vào. Kiểm
tra thuốc trong bình còn hay hết bằng cách: cho hộp thuốc vào trong một bát
nước, nếu hộp thuốc nổi và nằm ngang trên mặt nước nghĩa là trong bình hoàn
toàn hết thuốc.
- Kỹ thuật sử dụng
MDIs:

Hình
4.1p. Hướng dẫn sử dụng bình hít định liều (MDIs)
2. Buồng đệm
- Ưu điểm:
+ Giúp cải thiện phân
bố thuốc, giảm lượng thuốc dính ở họng và mất vào không khí.
+ Hỗ trợ khi người bệnh
phối hợp kém hoặc khó sử dụng bình hít đơn thuần.
- Nhược điểm: dụng cụ
cồng kềnh, diện tiếp xúc với vi khuẩn nhiều hơn, do lực tĩnh điện có thể giảm
phân bố thuốc vào phổi.
- Buồng đệm có van: cho
phép thuốc ở trong buồng đệm tới khi người bệnh hít thuốc vào qua van một
chiều, ngăn người bệnh thở ra vào buồng đệm, cải thiện việc hít thuốc và thời
gian khởi động.
- Kỹ thuật: gần tương
tự như trên, chỉ khác là thay vào việc ngậm trực tiếp vào đầu buồng đệm, người
bệnh hít thuốc qua mặt nạ nối với buồng đệm.

Hình
4.2p. Buồng đệm có van và buồng đệm với mặt nạ

Hình
4.3p. Hướng dẫn sử dụng buồng đệm với bình hít định liều
3. Bình hít bột khô
Bình hít bột khô (DPI)
là thiết bị được kích hoạt bởi nhịp thở giúp phân bố thuốc ở dạng các phân tử
chứa trong nang. Do không chứa chất đẩy nên kiểu hít này yêu cầu dòng thở thích
hợp. Các DPI có khả năng phun thuốc khác nhau tùy thuộc sức kháng với lưu lượng
thở.
Ưu điểm của DPI là được
kích hoạt bởi nhịp thở, không cần buồng đệm, không cần giữ nhịp thở sau khi
hít, dễ mang theo, không chứa chất đẩy. Nhược điểm là đòi hỏi lưu lượng thở
thích hợp để phân bố thuốc, có thể lắng đọng thuốc ở hầu họng và độ ẩm có thể
làm thuốc vón cục dẫn đến giảm phân bố thuốc. Chú ý khi sử dụng: giữ bình khô,
không thả vào nước, lau ống ngậm và làm khô ngay sau hít, không nuốt viên nang
dùng để hít.
3.1. Bình hít Accuhaler
Một Accuhaler mới chứa
60 liều đơn dạng bột. Mỗi liều đơn được đo lường chính xác và cửa sổ đếm đơn
liều ở mặt trên dụng cụ Accuhaler cho bạn biết còn bao nhiêu liều chưa dùng. Số
từ 5 đến 0 sẽ có màu đỏ để nhắc bạn chỉ còn lại vài liều mà thôi.

Hình
4.4p. Hướng dẫn sử dụng Accuhaler
3.2. Bình hít bột khô
Turbuhaler
Bình hít bột khô
Turbuhaler có 2 loại (ống chứa 120 liều và ống chứa 60 liều). Ống hít có cửa sổ
hiển thị mỗi 20 liều, khi thấy vạch đỏ là còn khoảng 20 liều. Khi vặn xoay để
nạp thuốc lưu ý cần để ống thẳng đứng song song với người bệnh.

Hình
4.5p. Hướng dẫn sử dụng Turbuhaler
4. Respimat
Respimat là một dụng cụ
phân phối thuốc mới với thiết kê đặc biệt giúp tạo ra các hạt mịn dưới dạng phun
sương.

Hình
4.6p. Hướng dẫn sử dụng Respimat
5. Breezhaler
Bộ Breezhaler gồm: Một
ống hít Breezhaler; Vỉ thuốc chứa viên nang được sử dụng trong ống hít. Không
sử dụng viên nang của dụng cụ Breezhaler với bất cứ ống hít nào khác, không sử
dụng ống hít Breezhaler với bất cứ thuốc nang nào loại khác. Không nuốt viên
nang. Bột chứa trong nang được sử dụng để hít.

Hình
4.7p. Hướng dẫn sử dụng Breehaler
6. Khí dung
- Máy khí dung là thiết
bị chuyển dung dịch thuốc thành dạng phun để tối ưu hóa sự lắng đọng thuốc ở
đường hô hấp dưới. Các thuốc có thể sử dụng dưới dạng khí dung bao gồm
corticosteroid, thuốc giãn phế quản, thuốc kháng cholinergic, kháng sinh, thuốc
làm loãng đờm. Có 2 dạng máy khí dung là dạng khí nén và siêu âm.
Ưu điểm: sử dụng cho
người bệnh yếu hoặc không thể sử dụng thuốc dạng xịt, hít; người bệnh không
phối hợp động tác nhấn xịt và hít đồng thời, cho phép dùng liều thuốc lớn hơn.
Nhược điểm: cồng kềnh, thời gian cài đặt và sử dụng lâu hơn, giá thành cao hơn,
có thể cần nguồn khí nén hoặc oxy (với máy phun tia).
- Các dụng cụ bao gồm:
bộ nén khí, ống đựng thuốc, ống ngậm hoặc mask và dụng cụ đo liều thuốc.

Hình
4.8p. Máy khí dung và cách sử dụng
- Cách sử dụng:
+ Đặt trên mặt phẳng
+ Lắp các bộ phận của
máy và cắm nguồn điện
+ Rửa tay
+ Dùng ống nhỏ giọt
hoặc ống tiêm sạch để lấy một lượng nước muối sinh lý 0,9% (theo liều lượng đã
được bác sĩ quy định) cho vào cốc đựng thuốc. Nếu dùng loại thuốc đã pha sẵn
thì không cần dùng nước muối.
+ Dùng ống nhỏ giọt
hoặc ống tiêm sạch để lấy một lượng thuốc (theo liều lượng đã được bác sĩ quy
định) cho vào cốc đựng thuốc cùng với nước muối. Có thể dùng loại đã phân sẵn
từng liều nhỏ trong ống nhựa.
+ Đóng nắp.
+ Gắn phần đầu của ống
đựng thuốc với ống ngậm hoặc mask.
+ Gắn phần cuối của ống
đựng thuốc với ống nối phần nén khí.
+ Đặt mặt nạ lên mặt và
chỉnh dây cho mặt nạ áp sát vừa khít (hoặc đưa ống ngậm vào miệng).
+ Bật máy và kiểm tra
xem thuốc có được phun ra không.
+ Thở chậm và sâu bằng
miệng (hít vào sâu, ngưng lại 1-2 giây rồi thở ra) cho đến khi hết thuốc trong
cốc đựng, khoảng 10-20 phút.
+ Trong khi khí dung
định kỳ theo dõi đáp ứng của người bệnh để kịp thời phát hiện các bất thường.
+ Dừng máy ngay khi
không thấy khí phun ra.
- Các tác dụng phụ tại
chỗ khi sử dụng máy khí dung: ho, khàn giọng, nhiễm nấm vùng hầu họng, kích
thích niêm mạc hầu họng hoặc kích thích da mặt nếu sử dụng mặt nạ. Do đó khi sử
dụng mặt nạ cần lắp vừa khít và sau khí dung nên súc miệng sạch.
- Sau khi dùng: tháo
mặt nạ hay ống ngậm, cốc đựng thuốc ra khỏi ống dẫn nhựa. Rửa mặt nạ, ống ngậm,
cốc đựng thuốc dưới vòi nước, để khô. Lắp trở lại vào ống dẫn rồi mở công tắc
cho máy chạy khoảng 10-20 giây để làm khô phía trong. Bầu khí dung, mặt nạ, ống
ngậm, dây nối với máy khí dung là các dụng cụ dùng riêng cho từng người bệnh.
Không được dùng chung để tránh lây nhiễm từ người bệnh này sang người bệnh
khác.
7. Ellipta
Ellipta là dụng cụ phân
phối thuốc dưới dạng bột khô bằng việc hít qua đường miệng.

Hình
4.9p. Hướng dẫn sử dụng bình hít bột khô Ellipta

Hình
4.10p. Những lưu ý khi dùng bình hít bột khô Ellipta
8. Aerosphere
Aerosphere là dụng cụ
phân phối thuốc được thiết kế đi kèm bộ đếm liều cho thấy số liều thuốc còn
lại.
8.1. Khởi động lần đầu
cho bình xịt mới
Khi sử dụng lần đầu
tiên, cần khởi động bình xịt để có đủ lượng thuốc khi sử dụng bình xịt. Việc
khởi động lại bình xịt cũng sẽ được tiến hành sau khi vệ sinh/rửa bình xịt hoặc
bình xịt bị rơi hoặc không được sử dụng trong hơn 7 ngày. Các bước khởi động
bình xịt như sau:
- Mở nắp, lắc đều
- Xịt thử vào không khí
4 lần (lắc đều trước mỗi lần xịt)
Người bệnh không được
bỏ qua giai đoạn khởi động bình xịt mới.

Hình
4.11p. Khởi động bình xịt
8.2. Sử dụng bình xịt
hằng ngày

Hình
4.12p. Hướng dẫn sử dụng bình xịt Aerosphere
8.3 Vệ sinh bình xịt
Bình xịt Aerophere cần
được vệ sinh hằng tuần để tránh tắc nghẽn và đạt hiệu quả tốt nhất.

Hình
4.13p. Hướng dẫn vệ sinh bình xịt Aerosphere
PHỤ LỤC 5. THỞ MÁY KHÔNG XÂM NHẬP Ở NGƯỜI BỆNH
BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1. Tóm tắt các điểm
chính
- Thở máy không xâm
nhập trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được sử dụng nhằm 2 mục đích:
+ Thở hỗ trợ trong các
trường hợp có suy hô hấp mạn tính.
+ Điều trị suy hô hấp
cấp hoặc hỗ trợ điều trị đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- Thở máy không xâm
nhập có nhiều ưu điểm như tiện lợi, an toàn, dễ chịu, dễ sử dụng, giá thành
thấp, tránh được đặt nội khí quản, giảm biến chứng nhiễm khuẩn hô hấp và giảm
được ngày nằm viện điều trị.
2. Chỉ định của thông
khí nhân tạo không xâm nhập (BiPAP) ở người bệnh BPTNMT
- Trong đợt cấp khi có
ít nhất 2 tiêu chuẩn sau:
+ Khó thở vừa tới nặng
có co kéo cơ hô hấp phụ và hô hấp nghịch thường.
+ Toan hô hấp: pH ≤
7,35 và/hoặc PaCO2 ≥ 45mmHg.
+ Tần số thở > 25
lần/phút.
+ Giảm oxy máu dai dẳng
dù đã dùng oxy liệu pháp.
- Trường hợp người bệnh
có suy hô hấp mạn: khi PaCO2 ≥ 53 mmHg
3. Chống chỉ định thông
khí nhân tạo không xâm nhập
- Toàn trạng:
+ Không hợp tác, người
bệnh trong tình trạng kích thích.
+ Có rối loạn ý thức.
+ Mệt cơ hô hấp.
- Tuần hoàn:
+ Tình trạng sốc hoặc
rối loạn nhịp tim nặng.
+ Sau cấp cứu ngừng
tuần hoàn.
- Hô hấp:
+ Tràn khí màng phổi
chưa được dẫn lưu, chấn thương lồng ngực gây suy hô hấp nặng.
+ Tắc nghẽn đường hô
hấp trên.
+ Ứ đọng đờm nhiều, ho
khạc kém.
- Nôn, rối loạn nuốt,
xuất huyết tiêu hoá cao, không có khả năng bảo vệ đường thở.
- Bệnh lý thần kinh cơ
cấp tính.
- Mới phẫu thuật răng
hàm mặt hoặc mổ dạ dày.
- Bỏng, chấn thương
đầu, mặt, béo phì quá nhiều.
4. Các bước tiến hành
- Phương tiện:
+ Máy thở không xâm
nhập BiPAP;
+ Mặt nạ mũi, mặt nạ
mũi miệng.
+ Người bệnh: được giải
thích và hướng dẫn về cách thở máy BiPAP.
+ Nhân viên y tế: bác
sỹ và điều dưỡng được đào tạo và có kinh nghiệm trong điều trị thở máy không
xâm nhập.
- Các bước tiến
hành:
+ Xem lại chỉ định,
chống chỉ định của thở máy không xâm nhập.
+ Đặt các thông số máy
thở ban đầu:
♦ Đặt FiO2
để duy trì SpO2 ≥ 92%.
♦ IPAP 8-12 cmH2O.
♦ EPAP 4-5 cmH2O.
♦ Áp lực hỗ trợ (PS) =
IPAP-EPAP; Áp lực chênh lệch giữa IPAP và EPAP nên duy trì khoảng 5cmH2O,
BiPAP thường bắt đầu IPAP/EPAP là 8/4 cmH2O hoặc 10/5 cmH2O.
+ Đặt các mức giới hạn
báo động: mức đặt tùy theo tình trạng bệnh lý cụ thể của mỗi người bệnh.
+ Nối máy thở với người
bệnh. Giữ và cố định mặt nạ cho người bệnh quen dần trong vòng 5-10 phút sau đó
cố định mặt nạ sao cho đủ khít đảm bảo không rò khí nhưng không được quá chặt.
+ Theo dõi SpO2,
mạch, huyết áp, nhịp thở. Làm xét nghiệm khí máu sau 30 phút đến 60 phút thở
máy.
+ Mục tiêu cần đạt
được:
♦ SpO2 >
92%, PaO2 > 60 mmHg.
♦ PaCO2, pH
bình thường hoặc ở mức chấp nhận được.
♦ Nhịp thở ≤ 30
lần/phút.
+ Điều chỉnh thông số
máy thở
♦ PaO2 giảm:
◊ Tăng FiO2
mỗi 10% để đạt SpO2 > 92%.
◊ Tăng IPAP mỗi lần
2cmH2O và EPAP mỗi lần 1cmH2O, có thể tăng IPAP đến 20cmH2O
(hoặc hơn nữa trong trường hợp không đáp ứng nhưng cần theo dõi sát lâm sàng và
khí máu động mạch) và EPAP tăng đến 10- 12cmH2O.
♦ PaO2 tăng:
giảm FiO2 mỗi 10% để đạt SpO2 > 92%.
♦ PaCO2 tăng
(pH < 7,3): tăng IPAP và EPAP mỗi lần 2cmH2O, có thể tăng IPAP
đến 20cmH2O và EPAP tăng đến 10-12cmH2O.
♦ PaCO2 giảm
(pH > 7,45): giảm IPAP và EPAP mỗi lần 2cmH2O.
5. Theo dõi
- Hoạt động của máy
thở, các áp lực đường thở, báo động.
- Tình trạng chống máy:
xem người bệnh có hợp tác với máy thở không. Nếu người bệnh không hợp tác, cần
giải thích, động viên và hướng dẫn cho người bệnh hợp tác với máy thở.
- Theo dõi thường
xuyên: mạch, huyết áp, điện tim (trên máy theo dõi), SpO2, ý thức.
- Xét nghiệm khí trong
máu: 12 - 24 giờ/lần - tùy theo tình trạng người bệnh, làm cấp cứu khi có diễn
biến bất thường.
- X-quang phổi: chụp 1
- 2 ngày/lần, chụp cấp cứu khi có diễn biến bất thường.
6. Tai biến và xử trí
- Ý thức: cần theo dõi
ý thức xem người bệnh có tỉnh không (hôn mê: nguyên nhân toan hô hấp, suy hô
hấp tiến triển nặng lên...), nếu người bệnh hôn mê, xử trí đặt nội khí quản thở
máy xâm nhập.
- Tụt huyết áp
+ Theo dõi huyết áp.
+ Xử trí tụt huyết áp:
truyền dịch, dùng thuốc vận mạch nếu cần.
- Tràn khí màng
phổi:
+ Biểu hiện: người bệnh
chống máy, SpO2 tụt, tràn khí dưới da, khám phổi có dấu hiệu tràn
khí màng phổi.
+ Xử trí: đặt dẫn lưu
màng phổi cấp cứu.
- Nhiễm khuẩn liên quan
thở máy: cần tuân thủ triệt để các nguyên tắc vô khuẩn bệnh viện để dự phòng. Điều
trị kháng sinh sớm và theo nguyên tắc xuống thang khi xuất hiện nhiễm khuẩn.
- Loét/xuất huyết tiêu
hóa do stress: dự phòng bằng thuốc ức chế bơm proton.
- Theo dõi người bệnh:
Nếu người bệnh dung nạp
tốt, các triệu chứng cải thiện:
+ Tần số thở < 30
lần/phút;
+ Tần số tim < 120
lần/phút;
+ Không loạn nhịp tim;
+ Không còn cảm giác
khó thở, không co kéo cơ hô hấp phụ;
+ Nếu SpO2
> 90%, duy trì các thông số, điều chỉnh mức FiO2 thấp nhất có thể
được.
Nếu người bệnh dung nạp
máy không tốt, SpO2 < 90%:
+ Tăng EPAP 2-3, chỉnh
FiO2 giữ SpO2 > 90%.
+ Đánh giá lại mặt nạ,
thay hay điều chỉnh nếu cần.
+ Nếu có biểu hiện yếu
cơ, tăng IPAP 2-3 cmH2O.
+ Nếu SpO2
< 90 %: tăng IPAP, EPAP lên 3 cmH2O.
Đánh giá hiệu quả thở
máy không xâm nhập:
Theo dõi người bệnh, ý
thức, các chỉ số sinh tồn, SpO2
+ Hiệu quả tốt: người
bệnh ra khỏi tình trạng suy hô hấp và không còn chỉ định thở máy.
+ Thông khí không xâm
nhập không hiệu quả: sau 60 phút thông khí, các thông số PaCO2 tiếp
tục tăng và PaO2 tiếp tục giảm hoặc các triệu chứng lâm sàng tiếp
tục xấu đi.
+ Xuất hiện chống chỉ
định.
+ Người bệnh khó chịu,
không dung nạp.
+ Tình trạng suy hô hấp
không được cải thiện khi đó cần kịp thời chỉ định đặt ống nội khí quản và tiến
hành thông khí nhân tạo xâm nhập.
Biến chứng:
+ Chướng bụng do khí
lọt vào dạ dày.
+ Sặc vào phổi.
+ Ù tai.
+ Hở quanh mặt nạ, viêm
kết mạc do khí thổi nhiều vào mắt người bệnh.
+ Người bệnh sợ khoảng
kín và không thích nghi với mặt nạ.
+ Loét, hoại tử sống
mũi do áp lực.
+ Khô đờm do không làm
ẩm.
+ Chấn thương áp lực:
tràn khí màng phổi.
+ Giảm cung lượng tim
do giảm tuần hoàn trở về.
PHỤ LỤC 6. KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI BỆNH
BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Ngày .... tháng
..................... năm
Họ và tên người bệnh:
........................................Giới: ..............Tuổi:...............
Địa chỉ:
...............................................................Điện thoại: ...............................
Giá trị FEV1:
Bác sỹ điều trị: ....................................
Điện thoại liên hệ: ....................................
|
SỨC KHỎE TỐT – THỞ
BÌNH THƯỜNG
|
|
Cảm thấy thoải mái
Không đau đầu, chóng mặt
Ngủ ngon
|
Tràn đầy năng lượng
Sử dụng thuốc bình
thường
Lượng đờm bình thường
|
|
Thuốc
thường dùng
|
Liều
dùng
|
Cách
dùng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐỢT CẤP NHẸ - KHÓ THỞ
HƠN
SỬ DỤNG THUỐC TĂNG
CƯỜNG - CẦN ĐI KHÁM BÁC SỸ
|
|
Ho nhiều hơn
|
Sử dụng thuốc nhiều
hơn bình thường
|
|
Đờm nhiều, đặc hơn
bình thường
|
Ăn không ngon miệng
|
|
Mầu sắc đờm thay đổi
|
Ngủ không ngon giấc
|
|
Thở ngắn, không thể
đi bộ xa
|
Mệt mỏi
|
|
Thuốc
tăng cường
|
Liều
dùng
|
Cách
dùng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ĐỢT CẤP NẶNG – KHÓ
THỞ NẶNG CẦN KHÁM CẤP CỨU
|
|
Khó thở ngay cả khi
nghỉ ngơi Buồn ngủ
Ho ra máu
Tức, nặng ngực
|
Lo lắng, sợ hãi Dễ bị
tỉnh giấc Phù chân
Lú lẫn, nói ngọng
|
|
KHÁM CẤP CỨU
ĐẢM BẢO HÔ HẤP, DUY
TRÌ ĐỘ BÃO HÒA OXY 88 - 92%
|
|
|
|
|
PHỤ LỤC 7. XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH PHCN HÔ HẤP 8
TUẦN
|
Xây dựng chương trình
PHCN Hô hấp 8 tuần
|
|
Tư vấn tham gia chương
trình
Khám lượng giá ban
đầu
Bảng câu hỏi CAT,
nghiệm pháp đi bộ
|
|
|
GIÁO
DỤC SỨC
KHOẺ
|
Buổi
1
|
Buổi
2
|
Buổi
3 (Tại BV hoặc tại nhà)
|
|
Tuần 1
|
Kiến thức chung về BPTNMT
|
Thở chúm môi BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế,thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: băng đàn hồi
|
Thở chúm môi BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ… Sức cơ: băng đàn hồi
|
Thở chúm môi BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: băng đàn hồi
|
|
Tuần 2
|
Cách sử dụng các dụng
cụ hít
|
Thở chúm môi BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế,thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: nâng tạ
|
Thở chúm môi BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: nâng tạ
|
Thở chúm môi BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: nâng tạ
|
|
Tuần 3
|
Tập vận động trong điều
trị BPTNMT
|
Thở cơ hoành BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực kế,
thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: ném bóng
|
Thở cơ hoành BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: ném bóng
|
Thở cơ hoành BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: ném bóng
|
|
Tuần 4
|
Tập thở và các phương
pháp thông đờm
|
Thở cơ hoành BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: BT ngồi đứng
|
Thở cơ hoành BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: BT ngồi đứng
|
Thở cơ hoành BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: BT ngồi đứng
|
|
Tuần 5
|
Dinh dưỡng trong BPTNMT
|
Thở cơ hoành BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: đi cầu
thang
|
Thở cơ hoành BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: đi cầu
thang
|
Thở cơ hoành BT căng
giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: đi cầu thang
|
|
Tuần 6
|
Nhận biết và phòng
tránh đợt cấp
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: máy tập đa
năng cơ tay
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: máy tập đa
năng cơ tay
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: BT ngồi đứng
|
|
Tuần 7
|
Sống chung với BPTNMT
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: máy tập đa
năng cơ chân
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: máy tập đa
năng cơ chân
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: đi cầu thang
|
|
Tuần 8
|
Điều trị oxy tại nhà
ở người bệnh BPTNMT
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: tập cơ hô hấp
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: tập cơ hô hấp
|
Ho hữu hiệu - FET BT
căng giãn
Sức bền: xe đạp lực
kế, thảm lăn, đi bộ…
Sức cơ: tập cơ hô hấp
|
|
Lượng giá sau phục
hồi CAT, nghiệm pháp đi bộ
Tư vấn duy trì tập
luyện tại nhà, tự quản lý bệnh Các phương tiện liên lạc, tư vấn từ xa, lịch tái
khám Viết tắt:
BT: bài tập
FET: kỹ thuật thở ra
mạnh (forced expiratory technique)
|
PHỤ LỤC 8. NGHIỆM PHÁP ĐI BỘ 6 PHÚT
1. Mở đầu
Các nghiệm pháp đi bộ
là các nghiệm pháp gắng sức nhằm đo lường trạng thái chức năng hay khả năng của
người bệnh, chủ yếu là khả năng liên quan đến việc thực hiện các hoạt động
thường ngày, nhằm đánh giá đáp ứng của sự phối hợp chung của tất cả các hệ cơ
quan có liên quan đến gắng sức như hệ hô hấp, hệ thống tuần hoàn, chuyển hóa cơ
và hệ thần kinh cơ. Nghiệm pháp đi bộ 6 phút dễ thực hiện, dễ dung nạp và phản
ánh tốt nhất các sinh hoạt hàng ngày nên được chọn lựa áp dụng nhiều nhất cho
các người bệnh có bệnh lý tim – phổi.
2. Chỉ định (Theo ATS
2002)
Nghiệm pháp đi bộ 6
phút thường được sử dụng trong các trường hợp sau:
So sánh trước và sau điều
trị
- Ghép phổi
- Phẫu thuật cắt phổi
- Phẫu thuật cắt giảm
thể tích phổi
- Phục hồi chức năng hô
hấp
- BPTNMT
- Cao áp động mạch phổi
- Suy tim
Trạng thái chức năng
(Đo 1 lần)
- BPTNMT
- Bệnh xơ nang
- Suy tim
- Bệnh mạch máu ngoại
biên.
- Bệnh xơ cơ
- Người già
Dự đoán bệnh suất và tử
vong
- Suy tim
- BPTNMT
- Cao áp động mạch phổi
nguyên phát
3. Chống chỉ định
3.1. Chống chỉ định
tuyệt đối
- Đau ngực không ổn
định trong một tháng trước đây.
- Nhồi máu cơ tim trong
một tháng trước đây.
3.2. Chống chỉ định
tương đối
- Nhịp tim lúc nghỉ
> 120 lần/phút .
- Huyết áp tâm thu >
180 mmHg.
- Huyết áp tâm trương
> 100mmHg.
Các trường hợp có chống
chỉ định tương đối nên được xem xét lại bởi BS chỉ định nghiệm pháp và nên được
khám và xử trí bởi BS chuyên khoa tim mạch. Điện tâm đồ thực hiện trong 6 tháng
gần đây nên được xem xét.
4. Phương tiện – Dụng
cụ
4.1. Địa điểm
Hành lang thẳng có mái
che, ít gió, ít người qua lại, nền gạch bằng phẳng dễ đi, chiều dài tối thiểu
30m. Nên có bờ tường dọc hai bên lối đi và vị trí thuận tiện để đến phòng cấp
cứu gần nhất. Đầu và cuối đoạn đường có đặt cột mốc đánh dấu. Điểm khởi hành,
chỗ vòng lại và đi tiếp đều được đánh dấu rõ trên mặt sàn. Đoạn đường đi được
đánh dấu mỗi 3 mét.
Lưu ý: tùy điều kiện cơ
sở vật chất, có thể chấp nhận khoảng đường đi 20 – 50 m (thay vì 30m)
Không sử dụng thảm lăn
thay cho mặt sàn trong nghiệm pháp này.
4.2. Các dụng cụ cần
thiết
- Đồng hồ đếm ngược.
- Dụng cụ đếm vòng (nếu
có).
- Cột mốc đánh dấu điểm
đầu và cuối đoạn đường đi.
- Ghế ngồi có thể di
chuyển theo lối đi bộ.
- Hồ sơ ghi chép (bao
gồm thang điểm Borg về mệt và khó thở).
- Nguồn oxy.
- Máy đo huyết áp.
- Máy đo SpO2
(nếu cần).
- Điện thoại hoặc các
phương tiện di chuyển đến phòng cấp cứu.
- Máy phá rung.
Thuốc cấp cứu: Nitrat
ngậm dưới lưỡi, Nifedipin 10mg ngậm dưới lưỡi, thuốc giãn phế quản cắt cơn
Salbutamol dạng hít hoặc khí dung.
5. Tiến hành
5.1. Chuẩn bị người
bệnh
▪ Người bệnh được hướng
dẫn trước để mặc quần áo thích hợp.
▪ Sử dụng giày hoặc dép
thuận tiện và quen thuộc (có thể không mang giày dép nếu thích).
▪ Có thể sử dụng gậy
chống hoặc xe đi vốn đã quen thuộc.
▪ Sử dụng thuốc men như
thường lệ nếu có.
▪ Có thể ăn nhẹ trước
khi thực hiện nghiệm pháp.
▪ Không vận động mạnh
hoặc gắng sức trong vòng 2 giờ trước nghiệm pháp.
5.2. Thực hiện nghiệm
pháp
- Người bệnh không cần
khởi động trước khi thực hiện nghiệm pháp.
- Người bệnh ngồi nghỉ
trên ghế gần điểm khởi hành ít nhất 10 phút. Trong lúc đó, đo mạch, huyết áp,
SpO2, kiểm tra lại các chống chỉ định và xem lại quần áo giày dép
người bệnh có thích hợp không. Cho người bệnh đứng và tự ghi nhận điểm khó thở
và mệt theo thang Borg.
- Hướng dẫn người bệnh
về cách tiến hành nghiệm pháp: cách đi dọc theo quãng đường đánh dấu, vòng lại
ở đoạn đầu và cuối quãng đường không do dự, dừng lại ngay khi có tiếng chuông
báo hiệu đã hết thời gian 6 phút. Cần nhấn mạnh các điểm sau:
+ Người bệnh cần đi
nhanh đến mức có thể được nhưng không được chạy.
+ Trong khi đi nếu cảm
thấy mệt, khó thở có thể đi chậm lại hoặc dừng lại, đứng dựa tường nghỉ mệt và
có thể tiếp tục đi ngay khi có thể.
+ Kỹ thuật viên nên đi
thử một đoạn đường cho người bệnh quan sát.
- Cho người bệnh đứng
tại điểm khởi hành. Vặn đồng hồ đếm ngược 6 phút, vặn dụng cụ đếm vòng (nếu có)
về số 0 ngay lúc người bệnh bắt đầu đi. Lưu ý kỹ thuật viên không đi cùng với
người bệnh, quan sát cẩn thận và bấm vào dụng cụ đếm vòng hoặc đánh dấu vào hồ
sơ mỗi vòng người bệnh đi được. Chỉ được dùng giọng nói đều đều để hướng dẫn và
thông báo cho người bệnh sau mỗi phút người bệnh đi được, tránh không khuyến
khích động viên người bệnh bằng giọng nói hoặc bằng động tác hình thể trong lúc
đi.
- Thông báo cho người
bệnh biết khi còn 15 giây cuối cùng, hô to đứng lại khi đồng hồ reo và đánh dấu
vị trí người bệnh đứng. Đưa ghế lại cho người bệnh ngồi nghỉ nếu người bệnh có
vẻ mệt. Đo SpO2, nhịp tim và điểm Borg về mệt và khó thở sau nghiệm
pháp.
- Nếu người bệnh cảm
thấy mệt và dừng lại, cho người bệnh biết có thể dựa vào tường để nghỉ và có
thể tiếp tục đi nếu bớt mệt. Không tắt đồng hồ trong lúc người bệnh nghỉ.
- Chỉ định ngưng nghiệm
pháp ngay lập tức nếu người bệnh có một hay hơn các triệu chứng sau:
+ Đau ngực.
+ Khó thở nhiều và
không cải thiện sau khi dừng lại vài phút.
+ Đau chân kiểu co
thắt.
+ Choáng váng, lảo đảo.
+ Vã mồ hôi.
+ Nhợt nhạt hoặc tái
mét.
- Nếu người bệnh dừng
lại và từ chối đi tiếp trước khi hoàn tất 6 phút, hoặc có chỉ định ngưng nghiệm
pháp, đưa ghế đến cho người bệnh ngồi, ghi vào hồ sơ khoảng đường đi được, thời
điểm và lý do ngưng nghiệm pháp.
- Nếu người bệnh đang
thở oxy dài hạn và cần phải sử dụng oxy trong lúc thực hiện nghiệm pháp, cần
ghi rõ vào hồ sơ
+ Liều oxy thường ngày
và liều oxy lúc đi bộ (nếu khác nhau).
+ Loại dụng cụ cung cấp
oxy.
+ Cách người bệnh mang
theo dụng cụ cung cấp oxy khi thực hiện nghiệm pháp.
1. Ghi nhận khoảng cách đi
bộ 6 phút bằng cách đếm số vòng đi được nhân với 60 mét rồi cộng với quãng
đường cuối cùng.
2. Ghi kết quả vào mẫu báo
cáo kết quả nghiệm pháp đi bộ 6 phút.
Thang
điểm Borg đánh giá mức độ khó thở và mệt mỏi
|
0
điểm
|
Không cảm thấy khó
thở/ mệt
|
|
|
0,5
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
rất rất ít
|
|
|
1
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
rất ít
|
|
|
2
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
ít
|
|
|
3
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
mức độ trung bình
|
|
|
4
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
hơi nhiều
|
|
|
5
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
nhiều
|
|
|
6
điểm
|
|
|
|
7
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
rất nhiều
|
|
|
8
điểm
|
|
|
|
9
điểm
|
Cảm thấy khó thở /
mệt rất rất nhiều
|
|
|
10
điểm
|
Cảm thấy khó thở/ mệt
quá sức chịu đựng
|
|
PHIẾU
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIỆM PHÁP ĐI BỘ 6 PHÚT
Họ tên người bệnh:……………………………………………………………………….
Tuổi:………………………..Giới:…………………Chủng
tộc:………………………..
Chiều cao:………………….Cân
nặng:…………….BMI:……………………………..
Ngày thực
hiện:…………………………………………………………………
Thở oxy khi thực hiện
nghiệm pháp: Có:........... l/phút Không
Kỹ thuật viên/Điều
dưỡng thực hiện:…………………………………………………...
|
|
Trước
NP (khi nghỉ ngơi)
|
Nghiệm
pháp đi bộ 6 phút
|
Sau
nghiệm pháp đi bộ 6 phút
|
|
Thời
gian (phút)
|
1
|
2
|
3
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
|
SpO2
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Mạch
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Khoảng
cách đi bộ 6 phút (6MWD) dự đoán:………..mét
(Với nam: 6MWD(m)= 867-
(5,71x tuổi theo năm) + (1,03x chiều cao cm)
Với nữ: 6MWD(m)= 525-
(2,86 x tuổi theo năm) + (2,71 x chiều cao cm) – (6,22 x BMI)
Khoảng
cách đi bộ 6 phút thực tế: ........... mét
Số lần nghỉ:
........... lần .................. Lý do nghỉ: ................... Khó thở
|
|
Đau ngực
Đi bộ khó khăn
Lý do khác
|
Những điểm lưu ý
khác:…………………………………………………………………
SPO2 thấp
nhất:…………………………………………………………………………
Thời gian hồi phục sau
nghiệm pháp: ..................phút
Thang điểm BORG:
Khó thở khi bắt đầu
nghiệm pháp:………… điểm
Khó thở khi kết thúc
nghiệm pháp:………... điểm
Biến chứng:……………………………………………………………………………...
Xử trí biến
chứng:……………………………………………………………………….
Kết luận:
PHỤ LỤC 9. QUY TRÌNH LÂM SÀNG TỪ XỬ TRÍ ĐỢT CẤP
ĐẾN ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
1. Bộ câu hỏi sàng lọc
phát hiện sớm BPTNMT
|
Bảng
9.1p. Bộ câu hỏi tầm soát BPTNMT ở cộng đồng (theo GOLD)
|
|
Bảng
9.2p. Bộ câu hỏi PUMA sàng lọc BPTNMT
|
|
STT
|
Dấu
hiệu
|
STT
|
Thông
số
|
|
Điểm
|
|
1
|
Ông/bà có ho vài lần
trong hầu hết các ngày
|
1
|
Giới tính
|
Nữ
|
0
|
|
Nam
|
1
|
|
2
|
Ông/bà có khạc đờm ở
hầu hết các ngày
|
2
|
Tuổi (năm)
|
40-49
|
0
|
|
3
|
Ông/bà có dễ bị khó
thở hơn những người cùng tuổi
|
50-59
|
1
|
|
60
+
|
2
|
|
4
|
Ông/bà có trên 40 tuổi
|
3
|
Số bao thuốc/năm
|
<
20
|
0
|
|
20-30
|
1
|
|
>
30
|
2
|
|
5
|
Ông/bà vẫn còn hút
thuốc lá hoặc đã từng hút thuốc lá
|
4
|
Khó thở
|
Không
|
0
|
|
Có
|
1
|
|
|
Nếu “có” từ 3 dấu hiệu
theo bảng câu hỏi của GOLD hoặc tổng điểm PUMA ≥ 5 điểm thì nên đi khám bệnh
để được đo CNHH nhằm phát hiện sớm Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
|
5
|
Đờm mạn tính
|
Không
|
0
|
|
Có
|
1
|
|
6
|
Ho mạn tính
|
Không
|
0
|
|
Có
|
1
|
|
7
|
Đã từng đo CNHH
|
Không
|
0
|
|
Có
|
1
|
|
|
Tổng
điểm
|
|
|
2. Quy trình chẩn đoán
và điều trị BPTNMT
Bước 1: Đánh giá triệu
chứng và yếu tố nguy cơ
Triệu chứng:
Khó thở
Ho mạn tính
Khạc đờm
|
Yếu tố nguy cơ:
|
Yếu tố chủ thể
|
Hút thuốc lá
|
|
|
Nghề nghiệp
|
Ô nhiễm trong/ngoài nhà
|
Bước 2: Chẩn đoán xác
định: Đo CNHH: FEV1/FVC < 70% (sau test phục hồi phế quản)
Bước 3: Đánh giá mức độ
giới hạn luồng khí, triệu chứng và tiền sử đợt kịch phát

Bước 4: Lựa chọn phác
đồ điều trị ban đầu

Bước 5: Đánh giá điều
trị
Triệu chứng
Đợt cấp
Tình trạng hút thuốc
Phơi nhiễm yếu tố nguy cơ
Kĩ thuật hít và tuân thủ điều trị
Hoạt động thể chất và thể
dục
Phục hồi chức năng hô hấp
Kĩ thuật tự xử trí (khó
thở, kế hoạch hành động)
Tiêm vắc xin
Đo CNHH (3 đến 6 tháng 1 lần)
Quản lý bệnh đồng mắc
Nhu cầu thở oxy, NIV, giảm dung
tích phổi, tiếp cận chăm sóc giảm nhẹ
Bước 6: Theo dõi điều
trị
• Đáp ứng tốt với
liệu pháp khởi đầu nên tiếp tục duy trì
• Nếu chưa đáp ứng
tốt, sẽ đánh giá về triệu chứng khó thở và đợt kịch phát
Liệu pháp dùng thuốc

Liệu pháp không dùng
thuốc
|
Khó
thở
|
Đợt
cấp
|
|
- Giáo dục tự xử trí
(kế hoạch hành động) kết hợp với:
+ Kĩ thuật thở và bảo
tồn năng lượng, và chiến lược kiểm soát căng thẳng
- Chương trình phục
hồi chức năng hô hấp (PR) và/hoặc chương trình hoạt động thể chất duy trì sau
PR
|
- Giáo dục tự xử trí
(kế hoạch hành động) được cá thể hóa về:
+ Phòng tránh các yếu
tố khởi phát
+ Làm thế nào để theo
dõi/kiểm soát triệu chứng diễn tiến xấu
+ Thông tin liên lạc
trong trường hợp đợt kịch phát
|

Hình
9.2p. Lưu đồ hướng dẫn điều trị đợt cấp và theo dõi sau đợt cấp

Hình
9.3p. Lưu đồ hướng dẫn điều trị duy trì Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau đợt
cấp
PHỤ LỤC 10. LIỀU KHÁNG SINH THEO CHỨC NĂNG THẬN
Hiện tại có nhiều công
thức ước tính mức lọc cầu thận (Clcr) trên người bệnh người lớn dựa trên
creatinin như công thức Cockcroft-Gault, MDRD Study, CKD-EPI eGFR. Trong đó,
công thức Cockcroft-Gault hiện là công thức được sử dụng chủ yếu để ước tính
mức lọc cầu thận cho người bệnh người lớn.
Công thức
Cockcroft-Gault:

Liều thường dùng của
các kháng sinh/kháng nấm/kháng virus theo chức năng thận cho người bệnh người
lớn không lọc máu được khuyến cáo cụ thể tại Bảng bên dưới.
Bảng
liều thường dùng kháng sinh, kháng virus theo chức năng thận cho người bệnh
người lớn không lọc máu
|
Tên
thuốc
|
Đường
dùng
|
Clcr (ml/ph)
|
Liều
dùng
|
Ghi
chú
|
|
I. KHÁNG SINH
|
|
Nhóm aminoglycosid
|
|
Amikacin (khuyến cáo nên giám sát
nồng độ thuốc trong máu)
|
Tiêm bắp, truyền tĩnh
mạch
(TTM)
|
≥ 80
|
20 mg/kg mỗi 24 giờ
|
* Nếu định lượng được
nồng độ amikacin trong máu: Clcr < 40 ml/ph, liều nạp 15-20 mg/kg, liều
tiếp theo được sử dụng dựa trên kết quả định lượng
*Nếu không định lượng
được nồng độ amikacin: liều dùng theo Clcr
|
|
60 - 79
|
15 - 20 mg/kg mỗi 24
giờ
|
|
40 - 59
|
15 - 20 mg/kg mỗi 36
giờ
|
|
30 - 39
|
15 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
20 - 29
|
12 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
10 - 19
|
10 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
< 10
|
7,5 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
Gentamicin (khuyến cáo nên giám sát
nồng độ thuốc trong máu)
|
Tiêm bắp, truyền TM
|
≥ 80
|
7 mg/kg mỗi 24 giờ
|
|
|
60 - 79
|
5 mg/kg mỗi 24 giờ
|
|
40 - 59
|
4 mg/kg mỗi 24 giờ
|
|
30 - 39
|
5 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
20 - 29
|
4 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
10 - 19
|
3 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
< 10
|
2,5 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
Tobramycin
|
Tiêm bắp, truyền TM
|
≥ 80
|
7 mg/kg mỗi 24 giờ
|
|
|
60 - 79
|
5 mg/kg mỗi 24 giờ
|
|
40 - 59
|
4 mg/kg mỗi 24 giờ
|
|
30 - 39
|
5 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
20 - 29
|
4 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
10 - 19
|
3 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
< 10
|
2,5 mg/kg mỗi 48 giờ
|
|
Nhóm beta-lactam
|
|
Kháng sinh carbapenem
|
|
Imipenem/ cilastatin
|
Truyền TM
|
≥ 90
|
0,5 g mỗi 6 giờ hoặc
1 g mỗi 8 giờ
Vi khuẩn nhạy cảm
trung bình: 1 g mỗi 6 giờ
|
Liều tính theo
imipenem
|
|
60 - 89
|
0,5 g mỗi 6 giờ
Vi khuẩn nhạy cảm
trung bình: 0,75 g mỗi 8 giờ
|
|
30 - 59
|
0,5 g mỗi 8 giờ
Vi khuẩn nhạy cảm
trung bình: 0,5 g mỗi 6 giờ
|
|
15 - 29
|
0,2 g mỗi 6 giờ hoặc
0,5 g mỗi 12 giờ
Vi khuẩn nhạy cảm
trung bình: 0,5 g mỗi 12 giờ
|
|
< 15, không lọc
máu
|
Không khuyến cáo sử
dụng
|
|
Meropenem
|
Truyền TM
|
> 50
|
1 g mỗi 8 giờ
|
|
|
25 - 50
|
1 g mỗi 12 giờ
|
|
10 - 25
|
0,5 g mỗi 12 giờ
|
|
< 10
|
0,5 g mỗi 24 giờ
|
|
Kháng sinh penicillin
|
|
Amoxicilin/acid
clavulanic
|
Uống
|
> 30
|
500 mg/125 mg mỗi 8
giờ hoặc 875 mg/125 mg mỗi 12 giờ
Trường hợp nặng 875
mg/125 mg mỗi 8 giờ
|
|
|
10 - 30
|
0,25 - 0,5 g mỗi 12
giờ (tính theo amoxicillin)
|
|
< 10
|
0,25 - 0,5 g mỗi 24
giờ (tính theo amoxicillin)
|
|
Piperacilin/
tazobactam (không hướng đến Pseudomonas)
|
Truyền TM
|
> 40
|
4,5 g mỗi 8 giờ
|
|
|
20 - 40
|
2,25 g mỗi 6 giờ
|
|
< 20
|
2,25 g mỗi 8 giờ
|
|
Piperacilin/
tazobactam (hướng đến Pseudomonas)
|
Truyền TM
|
> 40
|
4,5 g mỗi 6 giờ
|
|
|
20 - 40
|
4,5 g mỗi 8 giờ
|
|
< 20
|
4,5 g mỗi 12 giờ
|
|
Kháng sinh
Cephalosporin
|
|
Cefuroxim
|
Truyền TM
|
> 50
|
0,75 - 1,5 g mỗi 8
giờ
|
|
|
10 - 50
|
0,75 - 1,5 g mỗi 8 -
12 giờ
|
|
< 10
|
0,75 - 1,5 g mỗi 24
giờ
|
|
Cefuroxim axetil
|
Uống
|
≥ 30
|
0,5 g mỗi 12 giờ
|
|
|
10 - 29
|
0,5 g mỗi 24 giờ
|
|
< 10
|
0,5 g mỗi 48 giờ
|
|
Cefdinir
|
Uống
|
≥ 30
|
0,3 g mỗi 12 giờ
|
|
|
< 30
|
0,3 g mỗi 24 giờ
|
|
Cefixim
|
Uống
|
> 50
|
400 mg mỗi 24 giờ
|
|
|
10 - 50
|
300 mg mỗi 24 giờ
|
|
|
< 10
|
200 mg mỗi 24 giờ
|
|
Cefotaxim
|
Truyền TM
|
> 90
|
2 g mỗi 8 giờ
|
|
|
51 - 90
|
2 g mỗi 8 - 12 giờ
|
|
10 - 50
|
2 g mỗi 12 - 24 giờ
|
|
< 10
|
2 g mỗi 24 giờ
|
|
Cefodoxim
|
Uống
|
≥ 10
|
0,2 g mỗi 12 giờ
|
|
|
< 10
|
0,2 g mỗi 24 giờ
|
|
Ceftazidim
|
Truyền TM
|
> 50
|
1 - 2 g mỗi 8 – 12
giờ
|
|
|
10 - 50
|
1 - 2 g mỗi 12 - 24
giờ
|
|
< 10
|
1 - 2 g mỗi 24 giờ
|
|
Ceftriaxon
|
Truyền TM
|
Không cần hiệu chỉnh liều
cho NB suy thận
|
1 - 2 g mỗi 24 giờ 2
g mỗi 12 giờ (nhiễm khuẩn nặng, viêm màng não mủ)
|
NB suy gan, suy thận
đồng thời: ≤ 2 g mỗi 24 giờ
|
|
Cefepim
|
Truyền TM
|
> 60
|
2 g mỗi 8 giờ
|
|
|
30 - 60
|
2 g mỗi 12 giờ
|
|
11 - 29
|
2 g mỗi 24 giờ
|
|
< 11
|
1 g mỗi 24 giờ
|
|
Nhóm fluoroquinolon
|
|
Ciprofloxacin
|
Truyền TM
|
≥ 30
|
200 - 400 mg mỗi 8 -
12 giờ
|
|
|
5 - 29
|
200 - 400 mg mỗi 18 -
24 giờ
|
|
< 5, không lọc máu
|
Không có thông tin
|
|
Ciprofloxacin (không
phải dạng giải phóng kéo dài)
|
Uống
|
> 50
|
0,25 - 0,75 g mỗi 12
giờ
|
|
|
30 - 50
|
0,25 - 0,5 g mỗi 12
giờ
|
|
5 - 29
|
0,5 - 0,75 g mỗi 24
giờ
|
|
< 5, không lọc máu
|
Không có thông tin
|
|
|
Ciprofloxacin (dạng giải
phóng kéo dài)
|
Uống
|
≥ 30
|
0,5 - 1 g mỗi 24 giờ
|
|
|
< 30
|
0,5 g mỗi 24 giờ
|
|
< 5, không lọc máu
|
Không có thông tin
|
|
Levofloxacin
|
Truyền TM, uống
|
>50
|
0,75 g mỗi 24 giờ
hoặc 0,5 g mỗi 12 giờ
|
|
|
20 - 49
|
0,75 g mỗi 48 giờ
hoặc 0,5g mỗi 24 giờ
|
|
< 20
|
Liều nạp: 0,75 g
Liều duy trì: 0,5 g
mỗi 48 giờ
|
|
Moxifloxacin
|
Truyền TM, uống
|
Không cần hiệu chỉnh liều
cho NB suy thận
|
400 mg mỗi 24 giờ
|
|
|
Nhóm macrolid
|
|
Azithromycin
|
Truyền TM; Uống
|
Không cần hiệu chỉnh liều
cho NB suy thận
|
Liều nạp: 0,5 g (ngày
1) Liều duy trì: 0,25 g hoặc 0,5 g mỗi 24 giờ (từ ngày thứ 2)
|
|
|
Clarithromycin (không
phải dạng giải phóng kéo dài)
|
Uống
|
> 50
|
0,5 g mỗi 12 giờ
|
|
|
10 - 50
|
0,5 g mỗi 12 - 24 giờ
|
|
< 10
|
0,5 g mỗi 24 giờ
|
|
Clarithromycin (dạng
giải phóng kéo dài)
|
Uống
|
≥ 30
|
0,5 g mỗi 12 - 24 giờ
Trường hợp nặng 0,5 g
mỗi 12 giờ
|
|
|
< 30
|
Không nên dùng dạng
giải phóng kéo dài
|
|
|
Nhóm glycopeptid/lipopeptid
|
|
Vancomycin (khuyến cáo
giám sát nồng độ thuốc trong máu - TDM)
|
Truyền TM
|
Liều nạp theo cân
nặng:
|
|
|
|
Cân nặng (kg)
|
Liều nạp (g)
|
|
35
- 40
|
1
|
|
41
- 50
|
1,25
|
|
51
- 60
|
1,5
|
|
61
- 70
|
1,75
|
|
>
70
|
2
|
|
Liều duy trì theo mức
lọc cầu thận:
|
|
> 90
|
1,5 g mỗi 12 giờ
|
|
60 - 90
|
1 g mỗi 12 giờ
|
|
20 - 59
|
1 g mỗi 24 giờ
|
|
< 20
|
1 g mỗi 48 giờ
|
|
Nhóm khác
|
|
Colistin
|
Truyền TM
|
Liều nạp theo cân
nặng:
|
|
|
|
Cân
nặng (kg)
|
Liều
nạp (MUI)
|
|
≤
30
|
4
|
|
>
30 - 40
|
5
|
|
>
40 - 50
|
6
|
|
>
50 - 60
|
7
|
|
>
60 - 70
|
8
|
|
>
70
|
9
|
|
Liều duy trì theo mức
lọc cầu thận:
|
|
≤ 30
|
2 MUI mỗi 12 giờ
|
|
> 30 - 50
|
3 MUI mỗi 12 giờ
|
|
> 50 - 80
|
4 MUI mỗi 12 giờ
|
|
> 80 - 130
|
3 MUI mỗi 8 giờ
|
|
|
> 130
|
4 MUI mỗi 8 giờ
|
|
Linezolid
|
Truyền TM; Uống
|
Không cần hiệu chỉnh liều
cho NB suy thận
|
600 mg mỗi 12 giờ
|
|
|
II. KHÁNG VIRUS
|
|
Oseltamivir
|
Uống
|
> 60
|
Điều trị: 75 mg mỗi
12 giờ x 5 ngày
Dự phòng: 75 mg mỗi
24 giờ
|
|
|
31 - 60
|
Điều trị: 30 mg mỗi
12 giờ x 5 ngày
Dự phòng: 30 mg mỗi
24 giờ
|
|
|
11 - 30
|
Điều trị: 30 mg mỗi
24 giờ x 5 ngày
Dự phòng: 30 mg mỗi
48 giờ
|
|
|
≤ 10, không lọc máu
|
Điều trị, dự phòng:
không nên dùng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
PHỤ LỤC 11. CÁC TƯƠNG TÁC THUỐC CHỐNG CHỈ ĐỊNH
LIÊN QUAN THUỐC ĐIỀU TRỊ COPD
|
STT
|
Thuốc
1
|
Thuốc
2
|
Hậu
quả
|
Cơ
chế
|
Xử
trí
|
|
KHÁNG SINH
|
|
Kháng sinh β-lactam
|
|
1
|
Ceftriaxon
|
Calci glubionat sử
dụng đường tĩnh mạch Calci clorid sử dụng đường tĩnh mạch Calci gluconat sử
dụng đường tĩnh mạch Dung dịch Ringer lactat Dung dịch nuôi dưỡng đường tĩnh
mạch chứa calci
|
Hình thành tủa calci
- ceftriaxon tại mô phổi và thận khi dùng đồng thời đường tĩnh mạch
|
Tạo kết tủa tại phổi
và thận
|
Không trộn lẫn calci
và ceftriaxon trong cùng 1 đường truyền, dùng 2 thuốc theo 2 đường truyền tại
2 vị trí khác nhau hoặc dùng lần lượt từng thuốc, sau mỗi lần truyền tráng rửa
đường truyền bằng dung môi tương hợp.
|
|
Kháng sinh macrolid
|
|
2
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Erythromycin Clarithromycin
|
Domperidon
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của domperidon
|
Tăng nồng độ domperidon
trong huyết thanh, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
3
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Azithromycin Roxithromycin Spiramycin
|
Domperidon
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
4
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Erythromycin Clarithromycin
|
Ivabradin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của ivabradin.
|
Tăng nồng độ ivabradin
trong huyết thanh, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT và chậm nhịp tim
|
Chống chỉ định phối hợp.
Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ
tương tác hơn: Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid: thay erythromycin,
clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
5
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Clarithromycin
|
Ticagrelor
|
Clarithromy cin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của ticagrelor
|
Tăng nồng độ của ticagrelor
trong huyết thanh, tăng nguy cơ xuất huyết
|
Chống chỉ định phối hợp.
Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ
tương tác hơn: Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay
clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
6
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Erythromycin Clarithromycin
|
Dẫn chất statin:
Simvastatin Lovastatin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của dẫn chất statin
|
Tăng nồng độ của dẫn
chất statin trong huyết thanh, tăng nguy cơ bệnh cơ hoặc tiêu cơ vân cấp
|
Chống chỉ định phối hợp.
Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ
tương tác hơn.
- Trong trường hợp
bắt buộc sử dụng dẫn chất statin, thay simvastatin/lovasta tin bằng các dẫn
chất statin khác (lưu ý, khi sử dụng đồng thời với clarithromycin, liều
pravastatin không vượt quá 40 mg/ngày, fluvastatin không vượt quá 20 mg/ngày,
thận trọng khi phối hợp với atorvastatin).
- Trong trường hợp
bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid: thay erythromycin, clarithromycin bằng
azithromycin.
|
|
7
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Erythromycin Clarithromycin
|
Alcaloid nấm cựa gà:
Dihydroergo tamin Ergotamin Egometrin Methylergo metrin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của alcaloid nấm cựa gà
|
Tăng nồng độ của
alcaloid nấm cựa gà trong huyết thanh, tăng nguy cơ độc tính (nôn, buồn nôn,
hoại tử đầu chi, thiếu máu cục bộ do co thắt mạch…)
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
8
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Erythromycin Clarithromycin
|
Fluconazol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định phối
hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các đối tượng
người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong trường hợp cần
thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các yếu tố
nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali máu, hạ
magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định kê đơn.
|
|
9
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Erythromycin Clarithromycin Roxithromycin
|
Colchicin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 và/hoặc ức chế P-gp làm giảm chuyển hóa và thải
trừ colchicin.
|
Tăng nồng độ colchicin
trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng độc tính (tiêu chảy, nôn, đau bụng,
sốt, xuất huyết, giảm cả ba dòng tế bào máu, các dấu hiệu độc tính trên cơ
như đau cơ, mỏi cơ hoặc yếu cơ, nước tiểu sẫm màu, dị cảm, trường hợp nặng có
thể gây suy đa tạng và tử vong).
|
1. Chống chỉ định ở người
bệnh suy gan hoặc suy thận.
2. Ở người bệnh chức
năng gan, thận bình thường: nên tránh phối hợp. Nếu phối hợp: giảm liều
colchicin. Dùng liều tiếp theo của colchicin sau 3 ngày. Theo dõi nguy cơ độc
tính của colchicin.
|
|
10
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Azithromycin Clarithromycin
|
Haloperidol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định phối
hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các đối tượng
người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong trường hợp cần
thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các yếu tố
nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali máu, hạ
magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định kê đơn.
|
|
11
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Azithromycin Clarithromycin Erythromycin
|
Thioridazin
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định phối
hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các đối tượng
người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong trường hợp
cần thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các
yếu tố nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali
máu, hạ magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định
kê đơn.
|
|
12
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Erythromycin Clarithromycin
|
Saquinavir/r itonavir
|
Kháng sinh macrolid
ức chế CYP3A4 và P-gp, làm giảm chuyển hóa và thải trừ saquinavir. Saquinavir
cũng ức chế CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của kháng sinh macrolid
|
Tăng nồng độ kháng
sinh macrolid tăng nồng độ saquinavir, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT và xoắn
đỉnh.
|
1. Chống chỉ định phối
hợp ở người bệnh có QTc > 450 ms và saquinavir ở dạng phối hợp ritonavir.
2. Trong trường hợp
bắt buộc phối hợp, định kỳ đo điện tâm đồ mỗi 3- 4 ngày. Nếu QTc > 480 ms
hoặc tăng > 20 ms so với ban đầu, ngừng 1 trong 2 hoặc cả 2 thuốc.
|
|
13
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Clarithromycin
|
Ranolazin
|
Clarithromy cin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của ranolazin
|
Tăng nồng độ ranolazin
trong huyết thanh, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT
|
Chống chỉ định phối hợp.
Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ
tương tác hơn: Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay
clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
14
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Clarithromycin
|
Tolvaptan
|
Clarithromy cin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của tolvaptan
|
Tăng nồng độ tolvaptan
trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn (tăng nồng độ natri
huyết thanh, đa niệu, khát nước, giảm thể tích tuần hoàn...)
|
Chống chỉ định phối hợp.
Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ
tương tác hơn: Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay
clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
15
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Clarithromycin
|
Thuốc chẹn kênh calci
nhóm dihydropyri din: Felodipin Lercanidipin
|
Clarithromy cin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của felodipin hoặc lercanidipin
|
Tăng nồng độ lercanidipin/felo
dipin, tăng nguy cơ hạ huyết áp nghiêm trọng
|
Chống chỉ định phối hợp.
Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ
tương tác hơn: Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay
clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
16
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Clarithromycin
|
Quetiapin
|
Clarithormy cin ức chế
mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của quetiapin
|
Tăng nồng độ của
quetiapin, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT
|
Chống chỉ định phối hợp.
Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ
tương tác hơn: Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid: thay
erythromycin, clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
17
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: Clarithromycin
|
Everolimus
|
Clarithromy cin ức chế
mạnh CP3A4 làm giảm chuyển hóa của everolimus ở gan, đồng thời, ức chế P-gp làm
giảm thải trừ everolimus khỏi cơ thể.
|
Tăng nồng độ everolimus
trong huyết thanh, tăng tác dụng bất lợi liên quan đến ƯCMD
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
Kháng sinh fluoroquinolon
|
|
18
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon : Ciprofloxacin Levofloxacin Moxifloxacin
|
Domperidon
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
19
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon : Ciprofloxacin Levofloxacin Moxifloxacin
|
Thioridazin
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định phối
hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các đối tượng
người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong trường hợp cần
thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các yếu tố
nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali máu, hạ
magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định kê đơn.
|
|
20
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon : Levofloxacin
|
Haloperidol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định phối
hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các đối tượng
người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong trường hợp cần
thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các yếu tố
nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali máu, hạ
magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định kê đơn.
|
|
21
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon: Moxifloxacin
|
Amiodaron Citalopram
Clorpromazi n Escitalopra m Haloperidol Piperaquin/d ihydroartem isinin
(piperaquin) Sotalol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định phối
hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các đối tượng
người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong trường hợp cần
thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các yếu tố
nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali máu, hạ
magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định kê đơn.
|
|
22
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon : Ciprofloxacin
|
Tizanidin
|
Ciprofloxaci n ức chế
CYP1A2 mạnh làm giảm chuyển hóa của tizanidin
|
Tăng nồng độ của
tizanidin trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng bất lợi (hạ huyết áp, buồn
ngủ, nhịp tim chậm...)
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
23
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon : Ciprofloxacin
|
Duloxetin
|
Ciprofloxaci n ức chế
CYP1A2 mạnh làm giảm chuyển hóa của duloxetin
|
Tăng nồng độ của
duloxetin trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn (buồn ngủ,
hôn mê, hội chứng serotonin, co giật, nôn và nhịp tim nhanh...)
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
24
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon : Ciprofloxacin
|
Agomelatin
|
Ciprofloxaci n ức chế
CYP1A2 mạnh làm giảm chuyển hóa của agomelatin
|
Tăng nồng độ của
agomelatin trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn(đau đầu,
buồn ngủ, mệt mỏi, kích động, lo lắng, căng thẳng, chóng mặt, tím tái...)
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
Linezolid
|
|
25
|
Linezolid
|
Thuốc chống trầm cảm
ba vòng (TCA) Amitriptylin Clomiprami n
|
Hiệp đồng tác dụng serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội chứng
serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp, rung giật
cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân nhiệt, vã mồ
hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng tránh sử
dụng đồng thời linezolid và thuốc chồng trầm cảm ba vòng. Tốt nhất các thuốc này
nên sử dụng cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có
cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn.
2. Trong hợp không thể
trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn cấp bằng
linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy cơ xảy ra
hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử dụng đồng
thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt trong tháng
đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
26
|
Linezolid
|
Thuốc ức chế tái thu
hồi chọn lọc serotonin (SSRI): Paroxetin Fluvoxamin Fluoxetin Sertralin
Citalopram Escitalopra m Venlafaxin Duloxetin.
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng tránh sử dụng
đồng thời linezolid và thuốc ức chế tái thu hồi chọn lọc serotonin. Tốt nhất
các thuốc này nên sử dụng cách nhau 2 tuần (hoặc 5 tuần với fluoxetin). Cân
nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương
tác hơn.
2. Trong hợp không
thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn cấp
bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy cơ
xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử dụng
đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt trong
tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
27
|
Linezolid
|
Dẫn chất triptan:
Sumatriptan
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng tránh sử dụng
đồng thời linezolid và dẫn chất triptan. Tốt nhất các thuốc này nên sử dụng
cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định
và ít có nguy cơ tương tác hơn.
2. Trong hợp không
thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn cấp
bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy cơ
xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử dụng
đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt trong
tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
28
|
Linezolid
|
Dẫn chất opioid:
Pethidin Tramadol Fentanyl Dextrometh orphan Methadon
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng tránh sử dụng
đồng thời linezolid và dẫn chất opioid. Tốt nhất các thuốc này nên sử dụng
cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định
và ít có nguy cơ tương tác hơn. Trong trường hợp bắt buộc sử dụng opioid, có
thể đổi sang các opiod khác không có hoạt tính ức chế thu hồi serotonin
(morphin, codein, oxycodon, buprenorphin)
2. Trong hợp không
thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn cấp
bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy cơ
xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử dụng
đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt trong
tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
29
|
Linezolid
|
Thuốc khác: Trazodon
Bupropion Mirtazapin Methylpheni dat Milnacipran Carbamazep in Doxylamin
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng tránh sử dụng
đồng thời linezolid và các thuốc khác làm tăng nồng độ serotonin. Tốt nhất
các thuốc này nên sử dụng cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm
khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn.
2. Trong hợp không
thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn cấp bằng
linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy cơ xảy ra
hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử dụng đồng
thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt trong tháng
đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
30
|
Linezolid
|
Thuốc chống
Parkinson: Levodopa/c arbidopa Levodopa/c arbidopa/ent acapon
|
Tăng tích lũy
noradrenalin (norepinephr in) và dopamin.
|
Tăng nguy cơ xuất
hiện cơn tăng huyết áp (đau đầu, đánh trống ngực, cứng cổ, tăng huyết áp)
|
Chống chỉ định sử dụng
levodopa/carbidop a đồng thời hoặc trong vòng 14 ngày trước đó có sử dụng
linezolid.
|
|
31
|
Linezolid
|
Methyldopa
|
Chưa rõ.
|
Tăng nguy cơ xuất hiện
cơn tăng huyết áp (đau đầu, đánh trống ngực, cứng cổ)
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
32
|
Linezolid
|
Thuốc cường giao cảm:
Ephedrin (đường uống) Pseudoephe drin (đường uống) Phenylephri n (đường uống)
|
Tăng tích lũy
noradrenalin (norepinephr in).
|
Tăng nguy cơ xuất
hiện cơn tăng huyết áp (đau đầu, đánh trống ngực, cứng cổ, tăng huyết áp)
|
1. Chống chỉ định sử
dụng thuốc cường giao cảm tác động gián tiếp sử dụng đường uống đồng thời
hoặc trong vòng 14 ngày trước đó có sử dụng IMAO.
2. Đối với các thuốc
cường giao cảm sử dụng đường tiêm, cần sử dụng rất thận trọng trên người bệnh
đang dùng linezolid trong điều kiện giám sát huyết áp chặt chẽ.
|
|
33
|
Linezolid
|
Nefopam
|
Nefopam ức chế thu
hồi noradrenalin (norepinephr in).
|
Tăng nguy cơ kích
thích thần kinh trung ương (co giật, ảo giác và kích động)
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
CÁC THUỐC KHÁC
|
|
34
|
Salmeterol
|
Các thuốc ức chế mạnh
CYP3A4 (clarithromy cin, erythromyci n, roxithromyc in, itraconazol,
posaconazol , voriconazol, boceprevir, các thuốc ức chế protetase điều trị HIV*)
|
Các thuốc ức chế mạnh
CYP3A4 ức chế chuyển hóa của salmeterol qua gan
|
Tăng nồng độ salmeterol
trong huyết thanh, tăng nguy cơ phản ứng có hại (bao gồm cả các phản ứng trên
tim mạch như đau thắt ngưc, tăng hoặc hạ huyết áp, nhịp tim nhanh)
|
Chống chỉ định phối
hợp. Cân nhắc thay salmeterol bằng các thuốc chủ vận beta-2 khác không phụ
thuộc vào chuyển hóa qua CYP3A4 như formeterol.
|
|
35
|
Roflumilast
|
Các thuốc cảm ứng
mạnh CYP3A4 (carbamazep in, phenytoin, enzalutamid, phenobarbit al,
rifampicin)
|
Các thuốc cảm ứng
mạnh CYP3A4 cảm ứng chuyển hóa của roflumilast qua gan
|
Giảm nồng độ roflumilast
trong huyết thanh, giảm hiệu quả điều trị
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
PHỤ LỤC 12. CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH ĐO CHỨC
NĂNG HÔ HẤP
Chỉ định
- Chẩn đoán: lượng giá
các triệu chứng, dấu hiệu lâm sàng hay các xét nghiệm cận lâm sàng bất thường:
+ Triệu chứng: khó thở,
khò khè, ho, khạc đờm, đau ngực
+ Dấu hiệu lâm sàng:
giảm thông khí phổi, lồng ngực hình thùng, tím tái, dị dạng lồng ngực, phổi có
ran nổ không giải thích được.
+ Xét nghiệm cận lâm
sàng: giảm oxy máu, tăng CO2 máu, đa hồng cầu, X-quang lồng ngực bất thường
- Đo ảnh hưởng của bệnh
lên chức năng hô hấp
- Khám phát hiện trên
đối tượng có nguy cơ cao: người hút thuốc, người làm việc nơi có chất độc hại,
khám sức khỏe định kỳ
- Lượng giá nguy cơ
trước khi phẫu thuật
- Xác định tiên lượng
(ghép phổi …)
- Lượng giá sức khỏe
trước khi tập luyện phục hồi chức năng
- Lượng giá hiệu quả
của các phương pháp điều trị bệnh:
- Diễn tiến bệnh ảnh
hưởng lên chức năng hô hấp
- Theo dõi thuốc có tác
dụng độc hại với phổi
Chống chỉ định
Không đo CNHH khi có
tràn khí màng phổi. Các chống chỉ định sau đây là chống chỉ định tương đối, tùy
theo thực tế lâm sàng để quyết định.
- Do tăng nhu cầu cơ
tim hay thay đổi huyết áp
+ Nhồi máu cơ tim cấp
trong vòng 1 tuần
+ Tụt huyết áp hệ thống
hay tăng huyết áp nặng
+ Rối loạn nhịp
nhĩ/thất có ý nghĩa
+ Suy tim mất bù không
ổn định trên lâm sàng
+ Tăng áp phổi không
kiểm soát
+ Tâm phế cấp
+ Thuyên tắc phổi không
ổn định trên lâm sàng
+ Tiền căn ngất do thở
ra/ho gắng sức
- Vấn đề về kiểm soát
nhiễm khuẩn
+ Nghi ngờ hoặc có bằng
chứng hoạt động của nhiễm trùng hô hấp hay toàn thân có thể lây lan (gồm lao,
COVID-19…)
+ Các tình trạng tiền
triệu lây nhiễm như ho ra máu, khạc đàm nhiều, tổn thương ở miệng hay chảy máu
miệng
Tiêu chuẩn máy đo
chức năng hô hấp: theo tiêu chuẩn của ATS/ERS
PHỤ LỤC 13. HƯỚNG DẪN ĐO HUYẾT ÁP
Đo huyết áp có thể được
thực hiện bằng kỹ thuật nghe thông thường, khuyến cáo nên dùng các thiết bị đo
huyết áp tự động hoặc bán tự động (không khuyến cáo máy đo thủy ngân). Cần chọn
băng quấn thích hợp và bao quanh cánh tay (băng quấn phải bao phủ 80 - 100% chu
vi cánh tay) với bờ dưới băng quấn nằm trên điểm giữa nếp gấp khuỷu tay khoảng
2 - 3 cm (phù hợp với vị trí giải phẫu). Băng quấn phải được đặt ở vị trí ngang
với tim.

Tư
thế và yêu cầu khi đo huyết áp
Nhiều tổ chức và các
hội khoa học đã cung cấp danh sách, bao gồm các trang thông tin về thiết bị đo
HA đã được phê chuẩn. Tham khảo các thiết bị đo huyết áp tại www.stridebp.org.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American College of
Chest Physicians, American Association of Cardiovascular and Pulmonary
Rehabilitation (2007). Pulmonary rehabilitation: Joint ACCP/AACVPR
evidence-based practice guidelines; Chest;131;4S-42S.
2. American Thoracic
Society, European Respiratory Society ATS/ERS statement (2013): Key concepts
and Advances in Pulmonary Rehabilittion – Am J Respir Crit Care Med Vol188, Iss
8, pp e13 – e64.
3. Bartlett J.G, Sethi S,
Sexton D.J, et al. (2017). Management of infection in exacerbations of chronic
obstructive pulmonary disease. UpToDate
4. Bianchi R, Gigliotti
F, Romagnoli I, Lanini B, Castellani C, Grazzini M, Scano G (2004). Chest wall
kinematics and breathlessness during pursedlip breathing in patients with COPD.
Chest; 35:459–465.
5. Bộ Y tế (2014).
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp.
6. Burge PS, Calverley
PMA, Jones PW, Spencer S, Anderson JA, Maslen TK (2000), "Randomised,
double blind, placebo controlled study of fluticasone propionate in patients
with moderate to severe chronic obstructive pulmonary disease: the ISOLDE trial
", Br Med J, 320, pp. 1297-1303.
7. Burge S; Wendzicha
J.A. (2003). COPD exacerbations: definitions and classifications. Eur Respir J
Suppl, 41 46s-53s.
8. Celli BR, Fabbri LM,
Aaron SD, et al. An Updated Definition and Severity Classification of COPD
Exacerbations: The Rome Proposal. Am J Respir Crit Care Med 2021. Articles in Press.
Published September 27, 2021 as 10.1164/rccm.202108-1819PP
9. Creutzberg EC,
Wouters EF, Mostert R, Weling-Scheepers CA, Schols AM (2003). Efficacy of
nutritional supplementation therapy in depleted patients with chronic
obstructive pulmonary disease. Nutrition; 19:120–127.
10. Crisafulli E, Barbeta
E, Ielpo A, Torres A. Management of severe acute exacerbations of COPD: an
updated narrative review. Multidisciplinary respiratory medicine. 2018;13:36
11. Divo M, Cote C, de
Torres JP, et al (2012), Comorbidities and Risk of Mortality in Patient with
Chronic Obstructive Pulmonary Diseases. Am J respire Crit Care Med Vol 186(2),
pp 155-161, Jul 15.
12. Dowson CA, Cuijer RG,
Mulder RT (2004). Chron Respir Dis; 1:213–220.
13. Echevarria C, Steer
J, Wason J, Bourke S. Oxygen therapy and inpatient mortality in COPD
exacerbation. Emergency medicine journal : EMJ. Mar 2021;38(3):170-177
14. Ferreira IM, Brooks
D, Lacasse Y, Goldstein RS. (2000) – Nutritional support for individuals with
COPD. Chest; 117:672 – 678.
15. Fragoso E; André S,
Boleo-Tomé JP, et al (2016). Understanding COPD: A vision on phenotypes, comorbidities
and treatment approach. Rev Port Pneumol.; 22(2):101---111. S.
16. Global strategy for
the Diagnosis, Management, and Prevention of Chronic Obstructive Pulmonary
Disease https://goldcopd.org/2022-gold-reports-2
17. Guell R, Casan P,
Belda J, Sangenis M, Morante F, Guyatt GH, Sanchis J (2000). Long-term effects of
outpatient rehabilitation of COPD: a randomized trial. Chest;117:976–983.
18. Halil Ibrahim
Yakan, Hakan Gunen, Erkan Pehlivan, Selma Aydogan (2017). The role of
Tuberculosis in COPD. International Journal of COPD 2017:12 323- 329
19. Global strategy for
the Diagnosis, Management, and Prevention of Chronic Obstructive Pulmonary
Disease, updated 2025, https://goldcopd.org/2025-gold- report/
20. Global strategy for
the Diagnosis, Management, and Prevention of Chronic Obstructive Pulmonary
Disease (2026 report), https://goldcopd.org/2026-gold- report-and-pocket-guide/
21. Jones, P, Harding
G, Berry P, et al (2009). Development and first validation of the COPD
assessment test. Eur Respir J, 34(3), 648-54.
22. Klaus F. Rabe,
Bianca Beghé and Leonardo M. Fabbri (2017), Peripheral eosinophil count as a
biomarker for the management of COPD: not there yet, Eur Respir J 2017; 50:
1702165.
23. Magadle R,
McConnell AK, Beckerman M, Weiner P (2007). Inspiratory muscle training in pulmonary
rehabilitation program in COPD patients. Respir Med; 2:1500-5.
24. Markciniuk DD,
Goodridge D, Hernandez P (2007). Managing dyspnea in patients with advanced
COPD: A Canadian Thoracic Society clinical practice guideline. Can Respir J;
18(2): 69-78.
25. Martinez FJ, Rabe
KF, Ferguson GT, et al (2021). Reduced All-Cause Mortality in the ETHOS Trial
of Budesonide/Glycopyrrolate/Formoterol for Chronic Obstructive Pulmonary
Disease. A Randomized, Double-Blind, Multicenter, Parallel-Group Study. Am J
Respir Crit Care Med. 2021 Mar 1;203(5):553-564
26. Martinez-Garcia MA,
Miravitlles M. (2017), Bronchiectasis in COPD patients: more than a
comorbidity? International Journal of COPD: 12 1401–1411.
27. McCathie HC, Spence
SH, Tate RL (2002). Adjustment to chronic obstructive pulmonary disease: the
importance of psychological factors. Eur Respir J; 19:47–53.
28. Mirza S, Benzo R,
(2017), Chronic Obstructive Pulmonary Disease Phenotypes: Implications for
Care, Mayo Clin Proc; 92(7):1104-1112.
29. National Institute
for Health and Care Excellence (NICE) Guideline. Chronic obstructive pulmonary
disease (acute exacerbation): antimicrobial prescribing.
https://www.nice.org.uk/guidance/ng114 (Accessed on June 20, 2021)
30. Ngô Quý Châu và CS
(2002), “Tình hình chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Khoa
Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm 1996 - 2000”, Thông tin Y học lâm sàng,
NXB Y học, tr. 50 - 58.
31. Ngô Quý Châu và CS
(2017). Bản dịch GOLD tiếng việt– Nhà xuất bản Y học.
32. Nguyễn Thị Xuyên,
Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Viết Nhung và cộng sự (2010). Nghiên cứu tình hình dịch tễ
bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam. Tạp chí Y học thực hành
(704). Số 2/2010.
33. O'Brien K, Geddes
EL, Reid WD, Brooks D, Crowe J (2008). Inspiratory muscle training compared
with other rehabilitation interventions in chronic obstructive pulmonary
disease: a systematic review update. J Cardiopulm Rehabil Prev; 28:38-41.
34. Plaza V, Álvarez F,
Calle M, et al (2017) “Consensus on the Asthma–COPD Overlap (ACO) Between the Spanish
COPD Guidelines (GesEPOC) and the Spanish Guidelines on the Management of
Asthma (GEMA)” Arch Bronconeumol. 53(8):443–449.
35. Pleasants RA, Wang
T, Xu X, et al. Nebulized Corticosteroids in the Treatment of COPD
Exacerbations: Systematic Review, Meta-Analysis, and Clinical Perspective.
Respiratory care. Oct 2018;63(10):1302-1310
36. Rabe KF, Martinez
FJ, Ferguson GT, et al (2020). Triple inhaled therapy at two glucocorticoid
doses in moderate-to-very severe COPD. N Engl J Med 2020 Jul 2;383(1):35-48.
37. Rochester, Carolyn
L., et al. "Pulmonary rehabilitation for adults with chronic respiratory
disease: an official American Thoracic Society clinical practice
guideline." American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine
208.4 (2023): e7-e26
38. Sethi S, Murphy TF.
Management of infection in exacerbations of chronic obstructive pulmonary
disease. UpToDate. Accessed on 20 June 2021
39. Stoller J.K, Barnes
P.J, Hollingsworth H (2017). Management of exacerbations of chronic obstructive
pulmonary disease. UpToDate
40. Wedzicha JAEC-C, Miravitlles
M, Hurst JR, et al. Management of COPD exacerbations: a European Respiratory
Society/American Thoracic Society guideline. The European respiratory journal.
Mar 2017;49(3)
41. Weiss S.T, Stoller
J.K, Hollingsworth H (2017). Chronic obstructive pulmonary disease: Prognostic
factors and comorbid conditions. UpToDate
42. WHO (2013). Package
of essential noncommunicable (PEN) disease interventions for primary health
care in low-resource settings.
43. Wilkinson T,
Donaldson G, Hurst J, Seemungal T, Wedzicha J (2004). Early therapy improves
outcomes of exacerbations of chronic obstructive pulmonary disease. Am J Respir
Crit Care Med;169:398–1303.
44. Yingmeng Ni and
Guochao Shi (2017), Phenotypes contribute to treatments, Eur Respir J; 49:
1700054.
45. Carol D, Frary, MS,
RD Rachel K, Johnson. Energy (2008). L.Kathleen Mahan Sylvia Escott – Stump
Edition 12. Krause’s Food & nutrition therapy, 904 – 910.
46. Finnerty JP et al
(2001). The Effectiveness of outpatient pulmonary rehabilitation in chronic
lung disease: A randomized controlled trial. Chest, 119:1705.
47. Slinde F et al
(2006). Energy expenditure in underweight chronic obstructive pulmonary disease
patients before and during a physiotherapy programme. Eur J Clin Nutr, 60:
870.
48. Donna H. Mueller,
PhD, RD, FADA, LDN (2008) (Edition12). Medical Nutrition Therapy for Pulmonary
Disease. Krause’s Food & Nutrition Therapy. 899-918.
49. InBody 770 User’s
Manual Contents. 2015 InBody Co., Ltd. All rights reserved. BM-ENG-C7-C-150520.
Website: http://www.inbody.com.
50. Jose Antonio,
Madaline Kenyon, Anya Ellerbroek et al 2019. Body Composition Assessment: A
Comparison of the Bod Pod, InBody 770, and DXA. 2019, Volume 2(Issue2): 11.
51. Ryan CF et al
(1993): Energy balance in stable malnourished patient with obtructive pulmonary
disease.Chest, 103: 1038.
52. Donna H. Mueller;
PhD, RD, FADA, LDN (2008) (Edition12). Medical Nutrition Therapy for Pulmonary
Disease. Krause’s Food & Nutrition Therapy. 899-918
53. Global strategy for
the Diagnosis, Management, and Prevention of Chronic Obstructive Pulmonary
Disease https:// https://goldcopd.org/2025-gold-report/
54. Mannino, D., Weng,
S., Paczkowski, R et al. (2025). Comparative Effectiveness of Fluticasone
Furoate/Umeclidinium/Vilanterol and Budesonide/Glycopyrrolate/Formoterol
Fumarate among US Patients with Chronic Obstructive Pulmonary Disease. Advances
in Therapy, 42(2), 1131-1146.
55. Feldman, W. B.,
Suissa, S., Kesselheim, et al. (2024). Comparative effectiveness and safety of
single inhaler triple therapies for chronic obstructive pulmonary disease: new
user cohort study. bmj, 387.
56. Rhee, C. K. et
al. Management of COPD With Cardiovascular Risk in Asia: A Review by the
Asian Pacific Society of Respirology COPD Assembly. Respirology 30,
817–830 (2025).
57. De Miguel-Díez, J. et
al. Multidisciplinary Management of Patients With Chronic Obstructive
Pulmonary Disease and Cardiovascular Disease. Archivos de Bronconeumología 60,
226–237 (2024).
58. Nordon, C. et
al. The sustained increase of cardiovascular risk following COPD exacerbations:
meta-analyses of the EXACOS-CV studies. ERJ Open Res 11, 01091–02024
(2025).
59. Miller, J. et
al. Comorbidity, systemic inflammation and outcomes in the ECLIPSE cohort. Respir
Med 107, 1376–1384 (2013).
60. Phạm Huy Tuấn Kiệt,
Vũ Văn Giáp, Nguyễn Thị Thanh Hà. Chi phí trực tiếp cho y tế trong điều trị
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo phân loại GOLD dựa trên phân tích dữ liệu lớn
từ bảo hiểm y tế Việt Nam năm 2020. Tạp chí Y học Việt Nam tập 514 - tháng 5 -
số 2 – 2022.
61. Trần Thị Yến,
Nguyễn Minh Hiệp, Trịnh Minh Tráng. Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Thái
Nguyên. 225(01):161–6.
62. Trần Văn Thi.
Nghiên cứu nồng độ hsCRP, TNF alpha huyết thanh ở người bệnh bệnh mạch vành có
hay không có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế;
2016.
63. Lê Thị Thu Hương.
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên người bệnh suy tim: tần xuất, đặc điểm
cytokine và CRP trong máu, tiên lượng. Luận văn Tiến sĩ Y học; Đại học Y Dược
Hồ Chí Minh; 2018.
64. Kunisaki, K. M. et
al. Exacerbations of Chronic Obstructive Pulmonary Disease and Cardiac
Events. A Post Hoc Cohort Analysis from the SUMMIT Randomized Clinical Trial. Am
J Respir Crit Care Med 198, 51–57 (2018).
65. Nguyễn Đức Hoàng,
Lê Trọng Chiểu, Nguyễn Đức Hưng, và cộng sự. Nghiên cứu tỷ lệ bệnh tim mạch ở
người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Trung ương Huế - Cơ sở 2.
Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung ương Huế. 49:38–42.
66. Nguyễn Ngọc Khánh
Dung, Lâm Văn Nút. Khảo sát bệnh lý tim mạch ở người bệnh đợt cấp bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính điều trị tại trung tâm y tế huyện Xuân Lộc năm 2023. Tạp chí Y
học Việt Nam. 545(3):297–30.
67. Heffernan, M. &
Rutherford, S. The Intersection of Chronic Obstructive Pulmonary Disease and
Cardiovascular Disease: Recent Insights in a Challenging Area. CJC Open 7,
493–507 (2025).
68. Granell, R. et
al. Lung function trajectories from school age to adulthood and their
relationship with markers of cardiovascular disease risk. Thorax 79,
770–777 (2024).
69. Polman, R. et
al. Cardiovascular disease and risk in COPD: a state of the art review. Expert
Rev Cardiovasc Ther 22, 177–191 (2024).
70. Barnes, P. J. Oxidative
Stress in Chronic Obstructive Pulmonary Disease. Antioxidants (Basel) 11,
965 (2022).
71. Xu, J., Zeng, Q.,
Li, S., Su, Q. & Fan, H. Inflammation mechanism and research progress of
COPD. Front Immunol 15, 1404615 (2024).
72. Ragnoli, B., Chiazza,
F., Tarsi, G. & Malerba, M. Biological pathways and mechanisms linking COPD
and cardiovascular disease. Ther Adv Chronic Dis 16, 20406223251314286
(2025).
73. Paulus, W. J. &
Zile, M. R. From Systemic Inflammation to Myocardial Fibrosis: The Heart
Failure With Preserved Ejection Fraction Paradigm Revisited. Circ Res 128,
1451–1467 (2021).
74. Lagan, J. et al.
Mechanisms Underlying the Association of Chronic Obstructive Pulmonary
Disease With Heart Failure. JACC Cardiovasc Imaging 14, 1963–1973
(2021).
75. Theodorakopoulou,
M. P. et al. Endothelial dysfunction in COPD: a systematic review and
meta-analysis of studies using different functional assessment methods. ERJ
Open Res 7, 00983–02020 (2021).
76. Marcuccio, G. et
al. The Potential Role of Nasal Cytology in Respiratory Diseases: Clinical
Research and Future Perspectives. J Clin Med 14, 884 (2025).
77. Alqarni, A. A. et
al. Role of prostanoids, nitric oxide and endothelin pathways in pulmonary
hypertension due to COPD. Front. Med. 10, (2023).
78. Marques, P. et
al. Key role of activated platelets in the enhanced adhesion of circulating
leucocyte-platelet aggregates to the dysfunctional endothelium in early- stage
COPD. Front. Immunol. 15, (2024).
79. van der Molen, M.
C. et al. Reduction of Lung Hyperinflation Improves Cardiac Preload,
Contractility, and Output in Emphysema: A Clinical Trial in Patients Who
Received Endobronchial Valves. Am J Respir Crit Care Med 206,
704–711 (2022).
80. Xu, Y. et al. Hyperinflated
lungs compress the heart during expiration in COPD patients: a new finding on
dynamic-ventilation computed tomography. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis 12,
3123–3131 (2017).
81. Kawut, S. M. et
al. Cor Pulmonale Parvus in Chronic Obstructive Pulmonary Disease and
Emphysema. JACC 64, 2000–2009 (2014).
82. Jozwiak, M. &
Teboul, J.-L. Heart-Lungs interactions: the basics and clinical implications. Ann
Intensive Care 14, 122 (2024).
83. Humbert, M. et
al. 2022 ESC/ERS Guidelines for the diagnosis and treatment of pulmonary
hypertension. Eur Respir J 61, 2200879 (2023).
84. Pirera, E., Di
Raimondo, D., D’Anna, L. & Tuttolomondo, A. Risk trajectory of
cardiovascular events after an exacerbation of chronic obstructive pulmonary
disease: A systematic review and meta-analysis. Eur J Intern Med 135,
74–82 (2025).
85. Simons, S. O. et
al. Temporal Dynamics of Cardiovascular Risk in Patients with Chronic
Obstructive Pulmonary Disease During Stable Disease and Exacerbations: Review
of the Mechanisms and Implications. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis 19,
2259–2271 (2024).
86. Daniels, K. et al.
Risk of Death and Cardiovascular Events Following an Exacerbation of COPD:
The EXACOS-CV US Study. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis 19,
225–241 (2024).
87. Khuyến cáo về dự
phòng bệnh lý tim mạch trong thực hành lâm sàng 2022. Hội Tim Mạch Học Việt
Nam.
88. 34. Vergani, M.,
Cannistraci, R., Perseghin, G. & Ciardullo, S. The Role of Natriuretic
Peptides in the Management of Heart Failure with a Focus on the Patient with
Diabetes. J Clin Med 13, 6225 (2024).
89. Thực hành chẩn đoán
và điều trị bệnh động mạch vành. Bộ Tế 2020.
90. Gale, C. P. et
al. Identification and management of cardiopulmonary risk in patients with
chronic obstructive pulmonary disease: a multidisciplinary consensus and
modified Delphi study. Eur J Prev Cardiol 32, 1445–1460 (2025).
91. All-Cause and
Cardiovascular Mortality With Single Inhaler Triple Therapy Versus Double Therapies
for COPD: A Systematic Review and Metanalysis | Archivos de Bronconeumología.
92. Bhatt, A. S.,
DeVore, A. D., DeWald, T. A., Swedberg, K. & Mentz, R. J. Achieving a Maximally
Tolerated β-Blocker Dose in Heart Failure Patients: Is There Room for Improvement?
Journal of the American College of Cardiology 69, 2542–2550
(2017).
93. Chokesuwattanaskul,
R., Shah, N., Chokesuwattanaskul, S., Liu, Z. & Thakur, R.Low-dose
Amiodarone Is Safe: A Systematic Review and Meta-analysis. J Innov Card
Rhythm Manag 11, 4054–4061 (2020).
94. Yin, D.-G., Qiu, M.
& Duan, X.-Y. Association Between SGLT2is and Cardiovascular and
Respiratory Diseases: A Meta-Analysis of Large Trials. Front Pharmacol 12,
724405 (2021).
95. Mancia, G. et
al. 2023 ESH Guidelines for the management of arterial hypertension The
Task Force for the management of arterial hypertension of the European Society
of Hypertension: Endorsed by the International Society of Hypertension (ISH)
and the European Renal Association (ERA). Journal of Hypertension 41,
1874 (2023).
96. Flare-up checklist -
IPCRG (https://www.ipcrg.org/resources/search-
resources/flare-up-checklist-infographic)
97. Home - Stride BP
(www.stridebp.org)