|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
2147/QĐ-BYT
|
Hà
Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU
TRỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG Ở NGƯỜI LỚN”
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa
bệnh năm 2023;
Căn cứ Nghị định số
42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục
Quản lý khám, chữa bệnh.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo
Quyết định này tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi
mắc phải cộng đồng ở người lớn”.
Điều 2. Tài liệu chuyên
môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn”
được áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước.
Điều 3. Quyết định này có
hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành và thay thế Quyết định số 4815/QĐ-BYT ngày 20
tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn
“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn”.
Điều 4. Các ông, bà:
Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng và Vụ trưởng các Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế, Giám đốc
Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Giám đốc các Bệnh viện trực
thuộc Bộ Y tế, Thủ trưởng Y tế các ngành chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Các Thứ trưởng;
- Hội Hô hấp Việt Nam;
- Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế; Website Cục KCB;
- Lưu: VT, KCB.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Trần Văn Thuấn
|
HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG Ở NGƯỜI LỚN
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 2147/QĐ-BYT ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Bộ trưởng
Bộ Y tế)
CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
GS.TS. Trần Văn Thuấn - Thứ trưởng
Bộ Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia
TS. Hà Anh Đức - Phó Chủ tịch Hội
đồng Y khoa Quốc gia, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (QLKCB), Bộ Y tế.
CHỦ BIÊN
GS.TS. Ngô Quý Châu - Chủ tịch Hội
Hô Hấp Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Viết Nhung - Phó
Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam
TS. Nguyễn Trọng Khoa - Phó Cục
trưởng Cục QLKCB, Bộ Y tế.
THAM GIA BIÊN SOẠN VÀ THẨM ĐỊNH
PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh - Phó
Trưởng khoa Dược, Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm theo dõi phản ứng có
hại của thuốc - Trường Đại học Dược Hà Nội
PGS.TS. Lê Khắc Bảo - Phó Giám đốc
Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
TS. Đào Ngọc Bằng - Chủ nhiệm Khoa
Bệnh phổi, Bệnh viện Quân y 103
GS.TS. Ngô Quý Châu - Chủ tịch Hội
Hô Hấp Việt Nam
TS. Phạm Minh Châu - Khoa Vi Sinh
- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
PGS.TS. Lê Tiến Dũng - Phó Chủ
tịch Hội Hô hấp TP. Hồ Chí Minh
TS. Nguyễn Quang Đợi - Phó Trưởng
khoa Hô Hấp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
ThS. Hoàng Anh Đức - Viện Hô hấp
Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Vũ Văn Giáp - Phó Giám đốc
Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Chu Thị Hạnh - Phó Chủ
tịch Hội Hô Hấp Việt Nam, Trưởng khoa Hô Hấp Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
PGS.TS. Lê Hoàn - Trưởng khoa Hô
hấp, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
PGS.TS. Nguyễn Thanh Hồi - Trưởng
khoa Y, Trường Đại học Phenikaa
TS. Lê Quốc Hùng - Trưởng khoa
Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy
TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền - Phó
Viện trưởng Viện Hô Hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Lê Thị Thu Hương - Trưởng khoa
Nội Hô hấp, Bệnh viện Nhân dân Gia Định
BSCKII. Trần Thị Thanh Nga - Giám
đốc Trung tâm Xét nghiệm, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh
PGS.TS. Trần Văn Ngọc - Phó Chủ
tịch Hội Phổi Việt Nam
TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc - Giám
đốc Trung tâm Điều trị bệnh phổi hiếm và các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, Bệnh viện
Phổi Trung ương
ThS. Trương Lê Vân Ngọc - Trưởng
phòng Nghiệp vụ Cục QLKCB, Bộ Y tế
PGS.TS. Phạm Hồng Nhung - Phó
Trưởng khoa Vi sinh, Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Nguyễn Viết Nhung - Phó
chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam
TS. Đoàn Thị Phương Lan - Phó Viện
trưởng Viện Hô hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Lê Thị Tuyết Lan - Phó Chủ
tịch Hội Hô hấp Việt Nam
TS. Trương Thái Phương - Phó Viện
trưởng Viện Xét nghiệm, Bệnh viện Bạch Mai
PGS.TS. Phan Thu Phương - Viện
trưởng Viện Hô hấp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Trương Thiên Phú - Trưởng khoa
Vi sinh, Bệnh viện Chợ Rẫy
TS. Phạm Thị Lệ Quyên - Phó Trưởng
khoa Hô Hấp Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
TS. Nguyễn Văn Thành - Phó Chủ
tịch Hội Phổi Việt Nam
TS. Vũ Văn Thành - Trưởng khoa
Bệnh phổi mạn tính, Bệnh viện Phổi Trung ương
PGS.TS. Nguyễn Văn Thọ - Trưởng Bộ
môn Lao & Bệnh Phổi, Trường Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
TS. Nguyễn Thanh Thủy - Bộ môn Nội
Đại học Y Hà Nội
TS. Phan Thanh Thủy - Viện Hô hấp
Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
BSCKII. Đặng Vũ Thông - Trưởng
khoa Nội Phổi, Bệnh viện Chợ Rẫy
PGS.TS. Nguyễn Đình Tiến - Nguyên
Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
TS. Đoàn Thu Trà - Quyền Viện
trưởng Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Vũ Thị Thu Trang - Bộ môn Nội
Đại học Y Hà Nội
TS. Phạm Hùng Vân - Chủ tịch Hội
Vi sinh lâm sàng thành phố Hồ Chí Minh
PGS.TS. Lê Thượng Vũ - Trưởng khoa
Hô hấp, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
THƯ KÝ
ThS. Đặng Thành Đô - Viện Hô hấp
Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
ThS. Hoàng Anh Đức - Viện Hô hấp
Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
TS. Phan Thanh Thủy - Viện Hô hấp
Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
ThS. Trương Lê Vân Ngọc - Trưởng
phòng Nghiệp vụ Cục QLKCB, Bộ Y tế
DS. Đỗ Thị Ngát - Chuyên viên
phòng Nghiệp vụ, Cục QLKCB, Bộ Y tế
CN. Đỗ Thị Thư - Cục QLKCB, Bộ Y
tế.
LỜI NÓI ĐẦU
Viêm phổi mắc phải cộng đồng
(VPMPCĐ) là bệnh lý hô hấp thường gặp, nằm trong nhóm nguyên nhân hàng đầu gây
bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới. Bệnh cảnh lâm sàng VPMPCĐ ở nhiều mức
độ khác nhau, từ những ca bệnh nhẹ có thể điều trị ngoại trú đến các ca bệnh
nặng với suy hô hấp, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, gây tử vong.
VPMPCĐ có nhiều triệu chứng lâm
sàng tương đồng với các bệnh lý hô hấp khác nên bệnh cần được chẩn đoán phân
biệt với nhiều bệnh lý hô hấp khác nhau. Việc chẩn đoán sớm và chính xác giúp
tăng hiệu quả điều trị cho người bệnh. Mặc dù ngày nay đã có nhiều tiến bộ
trong chẩn đoán và điều trị VPMPCĐ, nhưng tỷ lệ tử vong còn cao.
“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn” (Bản cập nhật năm 2026) được xây dựng
với sự tâm huyết và nỗ lực của các chuyên gia hàng đầu có kinh nghiệm về quản
lý, lâm sàng, giảng dạy của cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
Về nguyên tắc áp dụng: Các thuốc,
vắc xin, sinh phẩm được đề cập trong Hướng dẫn này phải là thuốc được phép lưu
hành tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về Dược. Việc chỉ định, kê đơn,
sử dụng thuốc phải phù hợp với chỉ định, liều dùng, đường dùng, chống chỉ định
và các nội dung khác được Bộ Y tế phê duyệt.
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh trân
trọng cảm ơn sự đóng góp công sức và trí tuệ của lãnh đạo các bệnh viện, các
giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa đã tham gia góp ý cho tài
liệu này. Trong quá trình biên tập, in ấn tài liệu khó có thể tránh được các
sai sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ quý độc giả và đồng nghiệp
để tài liệu ngày một hoàn thiện hơn. Mọi ý kiến góp ý xin gửi về Cục Quản lý
Khám, chữa bệnh - Bộ Y tế, 138A Giảng Võ, phường Giảng Võ, Hà Nội.
Trân trọng cảm ơn!
MỤC
LỤC
LỜI NÓI ĐẦU DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VIÊM PHỔI MẮC
PHẢI CỘNG ĐỒNG
1.1. Định nghĩa
1.2. Dịch tễ học VPMPCĐ
1.3. Nguyên nhân và các yếu tố
nguy cơ
1.3.1. Nguyên nhân thường gặp
1.3.2. Nguyên nhân ít gặp
1.3.3. Yếu tố nguy cơ và yếu tố
thuận lợi của VPMPCĐ
1.4. Cơ chế bệnh sinh
1.4.1. Đường lây nhiễm
1.4.2. Quá trình gây bệnh
CHƯƠNG 2. CÁC CĂN NGUYÊN GÂY BỆNH
VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VI SINH
2.1. Đặc điểm của các căn nguyên
gây VPMPCĐ
2.1.1. Căn nguyên vi khuẩn
2.1.2. Căn nguyên virus
2.1.3. Căn nguyên nấm
2.1.4. Tình hình kháng thuốc của
một số vi khuẩn gây VPMPCĐ
2.1.5. Căn nguyên gây VPMPCĐ ở
Việt Nam
2.2. Các phương pháp chẩn đoán vi
sinh VPMPCĐ
2.2.1. Chọn lựa xét nghiệm dựa
trên đặc điểm người bệnh
2.2.2. Các kỹ thuật xét nghiệm
CHƯƠNG 3. CHẨN ĐOÁN VIÊM PHỔI MẮC
PHẢI CỘNG ĐỒNG
3.1. Chẩn đoán xác định viêm phổi
3.1.1. Lâm sàng
3.1.2. Xét nghiệm máu
3.1.3. X-quang ngực
3.1.4. Chụp cắt lớp vi tính ngực
3.1.5. Siêu âm lồng ngực
3.1.6. Nội soi phế quản
3.2. Chẩn đoán mức độ nặng VPMPCĐ
3.2.1. Thang điểm CURB-65 của BTS
3.2.2. Chỉ số tiên lượng nặng viêm
phổi PSI (Pneumonia Severity Index)
3.2.3. Tiêu chuẩn nhập khoa Điều
trị tích cực của ATS
3.3. Chẩn đoán căn nguyên gây viêm
phổi
3.3.1. Chẩn đoán xác định tác nhân
gây viêm phổi dựa trên kết quả vi sinh
3.3.2. Chẩn đoán tác nhân gây bệnh
dựa trên kinh nghiệm
3.4. Chẩn đoán phân biệt
3.4.1. Lao phổi
3.4.2. Tắc động mạch phổi
3.4.3. Ung thư phổi
3.4.4. Giãn phế quản bội nhiễm
3.4.5. Viêm phổi với cơ chế tự
miễn do dùng thuốc
3.4.6. Phù phổi bán cấp không điển
hình
3.4.7. Viêm phổi do hít
3.4.8. Hội chứng Loeffler phổi
3.5. Chẩn đoán biến chứng
3.5.1. Biến chứng tại phổi
3.5.2. Biến chứng trong lồng ngực
3.5.3. Biến chứng xa
3.6. Đặc điểm lâm sàng của một số
nguyên nhân thường gặp gây VPMPCĐ
3.6.1. Viêm phổi do S. aureus
3.6.2. Viêm phổi do Klebsiella
pneumoniae
3.6.3. Viêm phổi do Pseudomonas
aeruginosa
3.6.4. Viêm phổi do Burkholderia
pseudomallei
3.6.5. Viêm phổi ở người suy giảm
miễn dịch
CHƯƠNG 4. DƯỢC LÝ LÂM SÀNG SỬ DỤNG
KHÁNG SINH HỢP LÝ TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
4.1. Lựa chọn kháng sinh dựa trên
phổ kháng khuẩn
4.2. Lựa chọn và tối ưu hóa chế độ
liều dựa trên đặc điểm dược động học/dược lực học và chức năng thận của người
bệnh
4.3. Lựa chọn kháng sinh dựa trên
khả năng xâm nhập vào cơ quan đích
4.4. Cân nhắc về tương tác thuốc
khi lựa chọn kháng sinh
4.5. Nguyên tắc chuyển đổi kháng
sinh đường tĩnh mạch sang đường uống
CHƯƠNG 5. ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI MẮC
PHẢI CỘNG ĐỒNG
5.1. Mục tiêu điều trị
5.2. Nguyên tắc điều trị kháng
sinh
5.3. Điều trị ban đầu theo kinh
nghiệm
5.3.1. Người bệnh VPMPCĐ mức độ
nhẹ, điều trị ngoại trú
5.3.2. Người bệnh VPMPCĐ nhập viện
5.4. Điều trị khi có kết quả vi
sinh
5.4.1. Vi khuẩn có kết quả kháng
sinh đồ
5.5. Xử trí khi người bệnh không
đáp ứng với điều trị
5.5.1. Thất bại điều trị
5.5.2. Cách xử trí khi có thất bại
điều trị
5.6. Điều trị viêm phổi mắc phải
cộng đồng sau xuất viện
5.6.1. Điều trị và theo dõi sau
xuất viện
5.6.2. Điều trị tiếp theo sau xuất
viện
5.6.3. Theo dõi sau xuất viện
CHƯƠNG 6. PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI MẮC
PHẢI CỘNG ĐỒNG
6.1. Các biện pháp dự phòng chung
6.2. Tiêm phòng vắc xin
6.3. Cai thuốc lá
PHỤ LỤC 1. Liều thường dùng và
hiệu chỉnh liều kháng sinh ở người bệnh suy thận.
PHỤ LỤC 2. Nồng độ kháng sinh
trong huyết thanh và trong ELF của một số kháng sinh
PHỤ LỤC 3. Danh mục tương tác
thuốc chống chỉ định với các kháng sinh
TÓM TẮT CÁC ĐIỂM CẬP NHẬT CHÍNH
TRONG HƯỚNG DẪN VPMPCĐ 2026
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tóm tắt các xét nghiệm
vi sinh trên người bệnh VPMPCĐ
Bảng 2.2. Tóm tắt về tác nhân
VPMPCĐ và các phương pháp chẩn đoán vi sinh [66]
Bảng 3.1. Chỉ số tiên lượng nặng
viêm phổi mắc phải cộng đồng (PSI)
Bảng 3.2. Yếu tố nguy cơ nhiễm các
tác nhân viêm phổi
Bảng 4.1. Phân tầng nguy cơ mắc vi
khuẩn kháng thuốc theo thang điểm PES
Bảng 4.2. Phân loại nhóm kháng
sinh theo đặc điểm PK/PD và đề xuất chiến lược tối ưu liều
Bảng 4.3. Hướng dẫn chuyển đổi
đường tĩnh mạch/đường uống với một số nhóm kháng sinh
Bảng 4.4. Hướng dẫn chuyển đổi
đường tĩnh mạch/đường uống với một số kháng sinh
Bảng 5.1. Những điểm cần nhớ điều
trị VPMPCĐ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
|
AFB
|
Acid-Fast Bacilli (Trực khuẩn
kháng cồn, kháng toan)
|
|
ARDS
|
Acute Respiratory Distress
Syndrome (Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển)
|
|
ATS
|
American Thoracic Society (Hội
lồng ngực Hoa Kỳ)
|
|
AUC
|
Area Under The Curve (Diện tích
dưới đường cong)
|
|
BUN
|
Blood Urea Nitrogen (Nồng độ Ure
trong máu)
|
|
CA-MRSA
|
Community-Associated
Methicillin-Resistant Staphylococcus Aureus (Tụ cầu vàng kháng Methicillin
nhiễm từ cộng đồng)
|
|
COPD
|
Chronic Obstructive Pulmonary
Disease (Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính)
|
|
ELF
|
Epithelial Lining Fluid (Dịch
lót biểu mô phế nang)
|
|
ERS
|
European Respiratory Society
(Hội hô hấp Châu Âu)
|
|
FQ
|
Fluoroquinolone
|
|
ICU
|
Intensive Care Unit (Đơn vị hồi
sức tích cực)
|
|
MAO
|
Monoaminoxidase
|
|
MIC
|
Minimum Inhibitory Concentration
(Nồng độ ức chế vi khuẩn tối thiểu)
|
|
MRSA
|
Methicillin Resistant
Staphylococcus Aureus (Tụ cầu vàng kháng Methicillin)
|
|
MTB
|
Mycobacterium tuberculosis (trực
khuẩn lao)
|
|
PCR
|
Polymerase Chain Reaction (Phản
ứng khuếch đại chuỗi)
|
|
PD
|
Pharmacodynamic (Dược lực học)
|
|
PK
|
Pharmacokinetic (Dược động học)
|
|
PNC G
|
Penicillin G
|
|
PSI
|
Pneumonia Severity Index (Chỉ số
tiên lượng mức độ nặng viêm phổi)
|
|
PVL
|
Panton-Valentine leukocidin
|
|
TM
|
Tĩnh mạch
|
|
TTM
|
Truyền tĩnh mạch
|
|
U/TTM
|
Uống/Truyền tĩnh mạch
|
|
VK
|
Vi khuẩn
|
|
VPMPCĐ
|
Viêm phổi mắc phải cộng đồng
|
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG
1.1. Định
nghĩa
Viêm phổi mắc phải cộng đồng
(VPMPCĐ) được định nghĩa là tình trạng nhiễm trùng phổi cấp tính xảy ra ở người
đang sống trong cộng đồng [1]. Biểu hiện của viêm phổi từ nhẹ với các triệu
chứng sốt, ho khạc đờm đến rất nặng như suy hô hấp cấp tiến triển, nhiễm khuẩn
huyết [2, 3].
Đây là bệnh lý thường gặp trong
thực hành lâm sàng. Trong hướng dẫn này chúng tôi chỉ đề cập tới viêm phổi mắc
phải cộng đồng ở người lớn.
1.2. Dịch tễ
học VPMPCĐ
VPMPCĐ là một bệnh phổ biến ảnh
hưởng đến khoảng 450 triệu người mỗi năm và xảy ra trên toàn thế giới. Đây là
một trong những nguyên nhân chính gây ra 4 triệu ca tử vong hàng năm (7% tổng
số tử vong trên thế giới) [4]. Tỷ lệ tử vong cao nhất ở trẻ dưới 5 tuổi và
người lớn trên 75 tuổi. Theo WHO (2015) viêm phổi là căn nguyên gây tử vong
đứng hàng thứ 3 sau đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Tỷ lệ mắc VPMPCĐ ở các nước
đang phát triển cao hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển [5].
Năm 2005, viêm phổi và cúm kết hợp
là nguyên nhân gây tử vong phổ biến thứ 8 ở Hoa Kỳ và là nguyên nhân gây tử
vong phổ biến thứ bảy ở Canada [5]. Tỷ lệ tử vong do VPMPCĐ cao nhất trong nhóm
cần nhập viện. Tỷ lệ tử vong có thể thay đổi tùy theo vị trí địa lý (Hoa
Kỳ/Canada 7,3%; Châu Âu 9,1%; Châu Mỹ Latinh 13,3%). Nhìn chung, tỷ lệ tử vong
do mọi nguyên nhân ở người bệnh VPMPCĐ khoảng 28% trong vòng một năm [6].
Ở Việt Nam, VPMPCĐ là một bệnh lý
nhiễm khuẩn thường gặp nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn trên thực hành lâm sàng,
chiếm 12% các bệnh phổi. Tại Trung tâm Hô Hấp, Bệnh viện Bạch Mai theo thống kê
từ 1996-2000: viêm phổi chiếm 9,57%, đứng hàng thứ tư sau: bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính, lao, ung thư phổi [7]. Năm 2014, tỷ lệ mắc viêm phổi ở nước ta là
561/100.000 người dân, đứng hàng thứ hai sau tăng huyết áp, tỷ lệ tử vong do
viêm phổi là 1,32/100.000 người dân, đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây tử
vong [8].
1.3. Nguyên
nhân và các yếu tố nguy cơ
1.3.1. Nguyên nhân thường gặp
Vi khuẩn Gram dương: Streptococcus
pneumoniae, methicillin susceptible Staphylococcus aureus, Streptococcus
pyogenes, và các Streptococci khác. Vi khuẩn Gram âm: Haemophilus
influenzae, Moraxella catarrhalis, Enterobacterales (ví dụ Klebsiella
pneumoniae). Vi khuẩn không điển hình: Legionella pneumophila,
Mycoplasma pneumoniae, Chlamydophila pneumoniae. Các virus hô hấp:
Influenza virus, SARS-CoV-2, respiratory syncytial virus, parainfluenza virus,
human meta pneumovirus, rhinoviruses, common human coronaviruses [1].
1.3.2. Nguyên nhân ít gặp
Vi khuẩn Gram dương: S. aureus kháng
methicillin, Nocardia species, Rhodococcus equi. Vi khuẩn Gram
âm: Enterobacterales, bao gồm vi khuẩn tiết beta-lactamases phổ rộng
hoặc Enterobacterales kháng carbapenem; các vi khuẩn không lên men (ví
dụ Pseudomonas hoặc Acinetobacter); Francisella tularensis.
Vi khuẩn không điển hình: Chlamydia psittaci, Coxiella burnetii.
Virus: Cytomegalovirus, Herpes simplex virus, Varicella zoster virus, MERS-CoV.
Nấm: Pneumocystis jirovecii, Aspergillus spp.Mucorales, Histoplasma
spp., Cryptococcusspp., Blastomyces spp.,
Coccidioides spp.. Ký sinh trùng: Strongyloides stercoralis, Toxoplasma
gondii [1].
1.3.3. Yếu tố nguy cơ và yếu tố
thuận lợi của VPMPCĐ
Các yếu tố nguy cơ:
Các yếu tố nguy cơ dẫn đến VPMPCĐ
bao gồm những yếu tố sau:[2, 9]
- Tuổi cao: nguy cơ mắc VPMPCĐ
tăng theo tuổi. Tỷ lệ nhập viện hàng năm do VPMPCĐ ở người ≥ 65 tuổi khoảng
2000/100.000 tại Hoa Kỳ, cao hơn khoảng 3 lần so với dân số chung và khoảng 2%
người cao tuổi sẽ phải nhập viện vì VPMPCĐ hàng năm.
- Bệnh mắc kèm mạn tính như bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen phế quản, xơ hóa kén, giãn phế quản, suy
tim, tắc nghẽn phế quản (do hẹp phế quản, u hoặc dị vật), ung thư phổi, tiền sử
viêm phổi, hội chứng bất động nhung mao và hội chứng Kartagener. Bệnh mắc kèm
góp phần làm tăng tỷ lệ mắc và nhập viện do VPMPCĐ, cao nhất là COPD với tỷ lệ
5.832/100.000/năm ở Hoa Kỳ. Các bệnh mắc kèm khác liên quan đến tăng tỷ lệ mắc
VPMPCĐ bao gồm đột quỵ, đái tháo đường, suy dinh dưỡng và tình trạng suy giảm
miễn dịch (HIV, ghép tạng hoặc ghép tế bào gốc, sử dụng các thuốc ức chế miễn
dịch, các rối loạn chuyển hóa (suy dinh dưỡng, tăng ure máu, nhiễm toan…).
- Nhiễm trùng đường hô hấp do
virus
- Giảm khả năng bảo vệ đường thở,
dẫn đến tăng nguy cơ viêm phổi hít (hít phải dịch dạ dày hoặc các chất tiết
đường hô hấp trên): đột quỵ, co giật, hôn mê, gây mê, sử dụng ma túy hoặc rượu,
hoặc khó nuốt do tổn thương thực quản hoặc rối loạn nhu động thực quản.
Các yếu tố thuận lợi:
- Các yếu tố lối sống và môi
trường: hút thuốc, lạm dụng rượu, sử dụng chất gây nghiện (opioid), hít phải
chất độc, điều kiện sống đông đúc (ví dụ: nhà tù, nơi tạm trú cho người vô gia
cư), thu nhập thấp và tiếp xúc với các chất độc hại từ môi trường (ví dụ: dung
môi, sơn hoặc xăng).
- Sự kết hợp nhiều yếu tố nguy cơ,
chẳng hạn hút thuốc, COPD và suy tim sung huyết góp phần làm tăng nguy cơ
VPMPCĐ.
1.4. Cơ chế
bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của viêm phổi mắc
phải cộng đồng khá phức tạp và liên quan đến sự tương tác giữa tác nhân gây
bệnh, khả năng bảo vệ của cơ thể và các yếu tố từ môi trường. Viêm phổi mắc
phải cộng đồng thường xuất hiện khi có sự kết hợp của ba yếu tố chính: sự suy
giảm khả năng đề kháng của vật chủ, sự hiện diện của vi sinh vật có độc lực cao
và/hoặc sự xâm nhập của một lượng lớn tác nhân gây bệnh. Những yếu tố này kích
hoạt phản ứng viêm tại phế nang, làm tích tụ dịch viêm và tế bào viêm trong nhu
mô phổi, từ đó gây tổn thương mô phổi và làm giảm hiệu quả trao đổi khí của hệ
hô hấp.
1.4.1. Đường lây nhiễm
Các tác nhân gây viêm phổi có thể
xâm nhập vào phổi theo những đường sau đây:
- Đường hô hấp: Hít phải vi khuẩn
ở môi trường bên ngoài. Hít phải vi khuẩn từ ổ nhiễm khuẩn của đường hô hấp
trên. Đây là con đường lây nhiễm phổ biến nhất.
- Đường máu: thường gặp sau nhiễm
khuẩn huyết do S. aureus, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, viêm tĩnh mạch
nhiễm khuẩn...
- Nhiễm khuẩn theo đường kế cận
phổi: màng ngoài tim, trung thất… tuy nhiên hiếm gặp.
- Đường bạch huyết: một số vi
khuẩn (P. aeruginosa, Klebsiella pneumoniae, S. aureus) có thể tới phổi
theo đường bạch huyết, chúng thường gây viêm phổi hoại tử và áp xe phổi, với
nhiều ổ nhỏ đường kính dưới 2 cm.
1.4.2. Quá trình gây bệnh
Khi các vi sinh vật xâm nhập vào
phổi, đại thực bào phế nang và sự có mặt của vi hệ khu trú trong đường hô hấp
có vai trò ngăn chặn sự nhân lên của vi sinh vật gây bệnh. Khi cơ chế này không
thể ngăn chặn được, đại thực bào phế nang tiết ra các chất hóa học trung gian
gây viêm, khởi động phản ứng viêm tại chỗ, dẫn đến sự lấp đầy các phế nang bởi
các tế bào viêm, dịch rỉ viêm, hình thành tổn thương cơ bản về viêm phổi “đông
đặc phế nang”. Tổn thương tại một thùy phổi có thể lan ra nhiều thuỳ khi vi
khuẩn theo dịch viêm lan đến thuỳ phổi khác theo đường phế quản. Viêm có thể
lan trực tiếp đến màng phổi, màng tim gây mủ màng phổi, màng ngoài tim.
Mức độ nặng của viêm phổi phụ
thuộc vào mầm bệnh và các yếu tố liên quan đến cơ địa người bệnh.
|
Những điểm cần nhớ:
- Viêm phổi mắc phải cộng đồng
là tình trạng nhiễm trùng của nhu mô phổi xảy ra trong cộng đồng bên ngoài
bệnh viện. Biểu hiện của viêm phổi từ nhẹ với các triệu chứng sốt, ho khạc
đờm đến rất nặng như suy hô hấp cấp tiến triển, nhiễm khuẩn huyết.
- Căn nguyên gây bệnh thường do
vi khuẩn (Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Staphylococcus
aureus, Moraxella catarrhalis, Legionella pneumophila, Chlamydia pneumoniae,
Mycoplasma pneumoniae, trực khuẩn Gram âm (P. aeruginosae, E. coli…)),
virus và một số tác nhân khác, nhưng không do trực khuẩn lao.
- Các yếu tố nguy cơ, yếu tố
thuận lợi: tuổi cao, suy giảm miễn dịch, nghiện rượu bia, hút thuốc, bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính…
- Tác nhân gây viêm phổi qua các
đường: hô hấp, máu, bạch huyết, kế cận phổi.
- Cơ chế bệnh sinh bao gồm sự
suy giảm khả năng đề kháng của vật chủ, tiếp xúc với vi sinh vật có độc lực
mạnh hoặc tiếp xúc với một lượng lớn vi sinh vật gây bệnh.
|
CHƯƠNG 2. CÁC CĂN NGUYÊN GÂY BỆNH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VI
SINH
2.1. Đặc điểm
của các căn nguyên gây VPMPCĐ
Các nghiên cứu tổng quan gần đây
về tác nhân gây VPMPCĐ cho thấy Streptococcus pneumoniae vẫn được coi là
căn nguyên VPMPCĐ thường gặp nhất, tiếp đến là Haemophilus influenzae, Staphylococcus
aureus, Moraxella catarrhalis, Pseudomonas aeruginosa và các Enterobacterales
[10]. Các tác nhân vi khuẩn không điển hình như Mycoplasma pneumoniae,
Chlamydophila pneumoniae và Legionella pneumophila chiếm khoảng
3-11% tổng số các tác nhân gây bệnh [11]. Influenza A virus, Influenza B virus,
RSV, Adenovirus và các Coronavirus bao gồm cả SARS-CoV-2 là các căn nguyên
virus hàng đầu gây VPMPCĐ [12]. Do các dữ liệu về căn nguyên gây VPMPCĐ trước
kia chỉ dựa vào nuôi cấy kinh điển có hoặc không kết hợp với phương pháp huyết
thanh học nên còn những điểm hạn chế trong việc phát hiện được các tác nhân gây
bệnh. Các nghiên cứu trong hơn một thập kỷ qua ứng dụng nhiều tiến bộ của kỹ
thuật sinh học phân tử, đặc biệt là các xét nghiệm đa tác nhân với độ nhạy, độ
đặc hiệu cao, cùng với việc sử dụng vắc xin phòng S. pneumoniae rộng rãi
đã làm thay đổi sự hiểu biết về các căn nguyên gây VPMPCĐ [5, 13]. Do vậy, khi
nói về căn nguyên gây viêm phổi cần đề cập đến kỹ thuật sử dụng cho chẩn đoán.
2.1.1. Căn nguyên vi khuẩn
Nhiều nghiên cứu về các người bệnh
VPMPCĐ cho thấy hầu hết căn nguyên phát hiện được là vi khuẩn.
- S. pneumoniae chiếm 75%
trong số các tác nhân gây VPMPCĐ ở thời kỳ tiền kháng sinh [14, 15]. Gần đây
chỉ còn chiếm khoảng 5-15% căn nguyên phát hiện được ở Hoa Kỳ [16, 17], nhưng
có thể cao hơn ở một số nước khác [18]. Thực tế, tỷ lệ VPMPCĐ do S.
pneumoniae được cho là cao hơn các số liệu có từ nghiên cứu vì người ta cho
rằng có nhiều ca VPMPCĐ do S. pneumoniae có kết quả nuôi cấy âm tính. Lý
do mà S. pneumoniae vẫn được cho là tác nhân gây VPMPCĐ thường gặp vì ở
những người bệnh VPMPCĐ có cấy máu dương tính thì đến 58-81% phân lập được S.
pneumoniae [19, 20]. Theo ước tính trong nghiên cứu phân tích gộp thì cứ
mỗi ca viêm phổi có nhiễm trùng huyết do S. pneumoniae sẽ có ít nhất
thêm ba ca viêm phổi do S. pneumoniae mà không kèm theo có nhiễm trùng
huyết [21].
- H. influenzae là một tác
nhân quan trọng gây viêm phổi ở người già và ở những người bệnh có bệnh lý nền
ở phổi như bệnh lý xơ nang phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- M. pneumoniae là căn
nguyên gây viêm phổi không điển hình phổ biến nhất, chiếm khoảng 15% các ca
viêm phổi được điều trị tại các cơ sở cấp cứu nhưng chẩn đoán chủ yếu dựa trên
phương pháp huyết thanh học. Tuy nhiên, các nghiên cứu về huyết thanh học có
thể ước tính tỷ lệ mắc cao hơn so với thực tế. Tỷ lệ nhiễm M. pneumoniae cao
nhất ở trẻ em lứa tuổi đến trường, ở nhóm tân binh và sinh viên [22].
- Tỷ lệ VPMPCĐ do C. pneumoniae
khác nhau ở các nghiên cứu khác nhau, từ 0-20% [23-25]. Phương pháp chẩn
đoán huyết thanh học không phân biệt được tình trạng đã nhiễm hay đang nhiễm C.
pneumoniae. Các nghiên cứu gần đây sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử phát
hiện được C. pneumoniae dưới 1% các ca VPMPCĐ [8, 10]. Không như các
nhiễm trùng hô hấp khác có đỉnh mắc vào các tháng mùa đông, nhiễm trùng C.
pneumoniae không khác biệt theo mùa.
- Legionella chiếm khoảng
1-10% các căn nguyên gây VPMPCĐ. Nhiễm trùng Legionella thường xảy ra do
tiếp xúc với các dụng cụ chứa các giọt nhỏ mang vi khuẩn như vòi hoa sen, máy
phun sương, tháp giải nhiệt của hệ thống điều hoà, vùng xoáy nước, vòi phun
[26].
- Trực khuẩn Gram âm, đặc biệt là K.
pneumoniae, E. coli, Enterobacter spp., Serratia spp., Proteus spp.,
P. aeruginosa và Acinetobacter spp. là các căn nguyên gây VPMPCĐ
hiếm gặp ngoại trừ ở nhóm người bệnh viêm phổi nặng cần nhập viện điều trị tại
khoa Điều trị tích cực (ICU). K. pneumoniae chiếm khoảng 6% căn nguyên
VPMPCĐ tại các nước châu Á nhưng hiếm gặp hơn ở các khu vực khác [27]. Chỉ nên
nghĩ đến căn nguyên K. pneumoniae ở người bệnh VPMPCĐ có kèm các bệnh lý
nền như COPD, đái tháo đường và nghiện rượu [28]. Yếu tố nguy cơ VPMPCĐ do P.
aeruginosa bao gồm tình trạng giãn phế quản và sử dụng kháng sinh nhiều lần
hoặc sử dụng corticosteroid kéo dài ở những người bệnh có cấu trúc phổi bất
thường khác như COPD, xơ phổi, tình trạng suy giảm miễn dịch như giảm bạch cầu,
nhiễm trùng HIV, ghép tạng và cấy ghép tế bào gốc [17, 29].
- M. catarrhalis gây viêm
đường hô hấp dưới ở những người bệnh COPD và ở những người bệnh suy giảm miễn
dịch. Nhiều người bệnh nhiễm M. catarrhalis bị suy dinh dưỡng. M.
catarrhalis thường gặp là đồng tác nhân gây viêm phổi [30].
- S. aureus chiếm khoảng 3%
trong số các căn nguyên gây VPMPCĐ ở người bệnh nội trú với tỷ lệ mắc khác nhau
ở các quốc gia và các lục địa khác nhau [31]. Trong đó, MRSA chiếm đến 51%.
VPMPCĐ do S. aureus thường gặp ở người già, những người bệnh sau nhiễm
cúm và thường có biểu hiện viêm phổi hoại tử nặng. Một số nghiên cứu cho thấy
xu hướng dẫn đến viêm phổi hoại tử do S. aureus có thể liên quan đến độc
tố PVL (Panton Valentine leukocidin) là một độc tố gây phá huỷ tế bào bạch cầu
và hoại tử mô. Sự có mặt của gen mã hoá cho độc tố PVL là một đặc điểm đặc
trưng của các chủng MRSA mắc phải tại cộng đồng [32, 33].
- Các vi khuẩn khác:
+ S. pyogenes có thể gây
viêm phổi kịch phát hoá mủ sớm ở người bệnh trẻ, miễn dịch bình thường [34].
+ Vi khuẩn kỵ khí gây viêm phổi có
thể do hít phải và thường liên quan đến các nhiễm trùng hoại tử đa căn nguyên.
Nên nghĩ đến các căn nguyên kỵ khí khi thấy đờm có mùi thối hoặc dịch mủ thối,
nhiễm trùng có liên quan đến hít phải hoặc nhiễm trùng hoại tử. Hầu hết các
nhiễm trùng đều do đa căn nguyên trong đó chủ yếu là các vi khuẩn kỵ khí như Bacteroides
melaninogenicus, Fusobacterium spp., Peptostreptococcus spp.)
và/hoặc Streptococcus ở miệng (Streptococcus milleri) [35].
+ Neisseria meningitidis là
căn nguyên gây VPMPCĐ không phổ biến. Viêm phổi do N. meningitidis không
có đặc điểm lâm sàng khác biệt nhưng cần được báo cáo và dự phòng nhiễm trùng
huyết hoặc viêm màng não.
+ Burkholderia pseudomallei là
một căn nguyên VPMPCĐ quan trọng ở các nước thuộc vùng dịch tễ như Đông Nam Á
và Bắc Úc. Rất khó có thể phân biệt được VPMPCĐ do B. pseudomallei với
VPMPCĐ do các tác nhân khác về triệu chứng lâm sàng và hình ảnh chụp phổi. Tỷ
lệ tử vong rất cao (46,7%) nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Vi
khuẩn có mặt phổ biến trong đất và nước bề mặt ở các vùng dịch tễ lưu hành cho
nên các nước trong khu vực dịch tễ cần đặc biệt lưu ý đến căn nguyên B.
pseudomallei [36].
2.1.2. Căn nguyên virus
Tỷ lệ các căn nguyên virus được
báo cáo ở các nghiên cứu khác nhau rất khác nhau, phụ thuộc vào kỹ thuật chẩn
đoán được sử dụng. Các nghiên cứu sử dụng kỹ thuật PCR, đặc biệt là multiplex
PCR có thể đưa ra tỷ lệ virus gây VPMPCĐ cao hơn so với thực tế vì các virus hô
hấp có thể có mặt ở đường hô hấp trên nhưng không gây bệnh. Tăm bông ngoáy dịch
tỵ hầu của người khoẻ mạnh cho kết quả 20-30% dương tính với các virus đường hô
hấp khi sử dụng kỹ thuật PCR [37].
Influenza virus, RSV,
Parainfluenza virus và Adenovirus vẫn là các căn nguyên virus phổ biến nhất gây
VPMPCĐ ở người lớn. Các virus khác có thể gặp như Rhinovirus, Coronavirus và
Metapneumovirus người (HMPV). VPMPCĐ do virus có đồng nhiễm vi khuẩn chiếm khoảng
20-40% và thường nặng hơn, phải nằm viện lâu hơn những ca bệnh chỉ do vi khuẩn
[40, 41].
- Influenza A virus và Influenza B
virus có thể gây viêm phổi cấp tính và gây dịch trên toàn thế giới, chủ yếu
trong mùa đông. Các virus cúm gia cầm như H5N1 và H7N9 Avian Influenza là các
tác nhân mới nổi gây bệnh cho người. Các virus cúm thường gây nhiễm trùng đường
hô hấp trên nhưng có thể gây viêm phổi tiên phát và có thể đưa đến viêm phổi
thứ phát do vi khuẩn. Viêm phổi tiên phát do virus cúm là tình trạng virus cúm
trực tiếp gây nhiễm trùng và tổn thương nhu mô phổi, dẫn đến bệnh cảnh lâm sàng
nặng. Thể bệnh này thường gặp ở những người bệnh có bệnh lý nền mạn tính như
hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), bệnh tim bẩm sinh, bệnh mạch
vành, đái tháo đường hoặc các tình trạng suy giảm miễn dịch. Ở các trường hợp
nhiễm virus cúm nặng, tổn thương biểu mô đường hô hấp và suy giảm cơ chế bảo vệ
tại phổi tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và gây bội nhiễm vi
khuẩn. Các tác nhân vi khuẩn thường gặp trong bội nhiễm sau cúm bao gồm Streptococcus
pneumoniae, Staphylococcus aureus và Streptococcus pyogenes.
- Parainfluenza virus là tác nhân
quan trọng ở người bệnh suy giảm miễn dịch, có thể gây ra các nhiễm trùng đường
hô hấp dưới nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng.
- RSV có thể gây ra các bệnh lý
đường hô hấp cấp tính mọi lứa tuổi nhưng đặc biệt gây VPMPCĐ nặng ở người già
và những người suy giảm miễn dịch (người cấy ghép tủy…)
- HMPV (Human Metapneumovirus) có
thể gây nhiễm trùng hô hấp trên và hô hấp dưới ở mọi lứa tuổi nhưng biểu hiện
triệu chứng lâm sàng thường gặp ở trẻ em hoặc người già. Đây là một căn nguyên
mới nổi gây VPMPCĐ ở người lớn.
- MERS-CoV là một Coronavirus mới
nổi gây nhiễm trùng hô hấp nặng ở Saudi Arabia năm 2012. Hầu hết các MERS-CoV
có đặc tính lây truyền trực tiếp từ người sang người rất hạn chế nhưng cũng có
hiện tượng siêu lây truyền được ghi nhận trong vụ dịch MERS ở Hàn Quốc năm
2015. Tháng 12 năm 2019, Coronavirus mới có tên gọi SARS-CoV-2 lần đầu tiên
xuất hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc. Với khả năng lây nhiễm cao, thời gian ủ bệnh
kéo dài, SARS-CoV-2 đã gây đại dịch trên toàn thế giới, gây ảnh hưởng nặng nề
về y tế và kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới [42]. (Tham khảo chi
tiết tại “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2
(COVID-19)” của Bộ Y tế).
- Rhinovirus là một trong số các
tác nhân phổ biến gây nhiễm trùng hô hấp (35-50%). Ngày càng có nhiều bằng
chứng nghiên cứu cho thấy vai trò gây VPMPCĐ của virus này [39, 43].
- Các virus khác cũng có thể gặp
như các Coronavirus khác (HcoV - Human Coronavirus), Hantavirus,
Varicella-zoster virus.
2.1.3. Căn nguyên nấm
Nấm rất hiếm khi gây VPMPCĐ ở
những người có hệ miễn dịch bình thường nhưng có một số loài nấm như Histoplasma
capsulatum, Coccidioides spp., Blastomyces dermatitidis có
thể gây viêm phổi cho cả người bệnh suy giảm miễn dịch và cả người có hệ miễn
dịch bình thường sống hoặc đến các khu vực dịch tễ của các loài nấm đó [44].
(Tham khảo tài liệu “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm nấm xâm lấn của Bộ Y
tế”).
2.1.4. Tình hình kháng thuốc
của một số vi khuẩn gây VPMPCĐ
Trong các tác nhân gây VPMPCĐ, có khoảng
6% là các vi khuẩn đa kháng thuốc. Vi khuẩn đa kháng thuốc thường gặp nhất là S.
aureus và P. aeruginosa.
Nghiên cứu gần đây của châu Âu cho
thấy có đến 3,3 - 7,6% căn nguyên đa kháng phân lập được từ các ca VPMPCĐ,
trong đó phổ biến nhất là MRSA. Vì khuyến cáo hiện nay điều trị VPMPCĐ theo
kinh nghiệm là sử dụng ß-lactam cùng nhóm thuốc macrolid- hoặc quinolon nhưng
với MRSA thì không phù hợp nên các chẩn đoán vi sinh về căn nguyên gây bệnh là
rất quan trọng cho việc chọn lựa kháng sinh phù hợp [45].
P. aeruginosa không phải căn nguyên gây VPMPCĐ thường gặp nhưng ở những người bệnh
VPMPCĐ phải điều trị tại các khoa hồi sức tích cực P. aeruginosa chiếm
1,8 - 8,3% và tỷ lệ gây tử vong lên đến 50 - 100%. Sử dụng kháng sinh từ trước
được cho là yếu tố nguy cơ đưa đến VPMPCĐ do P. aeruginosa đa kháng
thuốc [46].
Khi vắc xin phòng S. pneumoniae
được đưa vào sử dụng dẫn đến sự lưu hành của các serotype thay đổi. Các
serotype có vắc xin dự phòng giảm đi nhưng các serotype trước kia hiếm gặp lại
trở nên phổ biến. Cùng với sự thay đổi này là sự gia tăng đề kháng của S.
pneumoniae với một số nhóm kháng sinh như cephalosporin, macrolid và
fluoroquinolon trên toàn thế giới trong hai thập kỷ gần đây [5]. Tỷ lệ kháng
macrolid khoảng 20 - 40% nhưng sự đề kháng này ít gây ảnh hưởng đến kết quả điều
trị vì macrolid đơn trị liệu thường không được khuyến cáo [13]. Tỷ lệ S.
pneumoniae đề kháng fluoroquinolon được báo cáo ở châu Âu (5,2%) cao hơn ở
Hoa Kỳ (1,2%) và ở châu Á (2,4%). Đề kháng fluoroquinolon hiếm gặp ở các chủng
gây bệnh cho trẻ em nhưng cao hơn ở người lớn, đặc biệt cao ở người trên 64
tuổi có kèm các bệnh lý phổi tắc nghẽn [5]. Trong nghiên cứu đa trung tâm SOAR
cho thấy S. pneumoniae còn nhạy cảm cao (>70%) với penicillin tiêm
[47-50]. Hiện nay, 20-30% các chủng S. pneumoniae đa kháng thuốc, đặc
biệt tăng nhanh ở các serotype không có vắc xin. Trong số các serotype đa
kháng, hay gặp nhất là serotype 19A và mới nổi lên một số serotype khác nữa là
6B, 6C, 14, 15B/C, 19F và 23A [51, 52].
2.1.5. Căn nguyên gây VPMPCĐ ở
Việt Nam
Nghiên cứu tại bệnh viện Khánh Hoà
trên 154 người bệnh VPMPCĐ phải nhập viện bằng phương pháp nuôi cấy cho thấy
các căn nguyên vi khuẩn thường gặp nhất là H. influenzae, S. pneumoniae, M.
catarrhalis, P. aeruginosa, S. aureus và K. pneumoniae. Bằng phương
pháp PCR cho kết quả không như nuôi cấy, trong đó chủ yếu phát hiện được H.
influenzae và S. pneumoniae. Các căn nguyên virus phát hiện được bao
gồm influenza A virus, Influenza B virus, Rhinovirus, Adenovirus và RSV [53].
Nghiên cứu tiến hành ở 142 người
bệnh VPMPCĐ được điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bệnh viện Đa
khoa Đống Đa và Bệnh viện Đa khoa Đức Giang lại cho thấy M. pneumoniae (16,2%),
K. pneumoniae (14,8%), C. pneumoniae (10,6%) và S. pneumoniae (9.9%)
là các căn nguyên chiếm tỷ lệ cao nhất [54].
Một nghiên cứu đa trung tâm thu
thập từ 11 bệnh viện lớn trên phạm vi toàn quốc tiến hành thu thập 289 chủng S.
pneumoniae và 195 chủng H. influenzae trong vòng 3 năm từ 2009 đến
2011, trong đó khoảng 60% chủng được thu thập từ người bệnh nhi. Các chủng S.
pneumoniae còn nhạy cảm cao với penicillin tiêm (86,9%) nhưng đã đề kháng
cao với nhóm macrolid (>90%) và trên 95% các chủng H. influenzae còn
nhạy cảm với amoxicillin/acid clavulanic khi sử dụng tiêu chuẩn phiên giải CLSI
của Hoa Kỳ nhưng nếu sử dụng tiêu chuẩn phiên giải EUCAST của châu Âu thì tỷ lệ
nhạy cảm với kháng sinh tương ứng của các chủng vi khuẩn này thấp hơn [50].
Hiện nay, thử nghiệm kháng sinh đồ của H. influenzae với
amoxicillin/acid clavulanic phải thực hiện bằng kỹ thuật xác định MIC chứ không
được thử nghiệm bằng phương pháp khoanh giấy khuếch tán nữa nên các kết quả về
tỷ lệ nhạy/kháng từ các nghiên cứu trước cần được xem xét kỹ lưỡng. Trong báo
cáo mới nhất của Bộ Y tế thuộc chương trình giám sát kháng kháng sinh quốc gia,
các chủng S. pneumoniae phân lập từ bệnh phẩm hô hấp còn nhạy cảm cao
với penicillin và ceftriaxon (>92%) [55].
Các nghiên cứu được thực hiện chủ
yếu dựa trên bằng chứng nuôi cấy nên chỉ phát hiện được các tác nhân có thể
nuôi cấy được. Có một nghiên cứu gần đây sử dụng kỹ thuật nuôi cấy và real-time
PCR phát hiện tác nhân gây VPMPCĐ ở những người bệnh điều trị ngoại trú tại 4
bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy H. influenzae (63,1%)
và S. pneumoniae (25,5%) vẫn là những căn nguyên hàng đầu phân lập được
nhưng với thử nghiệm real-time PCR lại phát hiện được S. pneumoniae chiếm
tỷ lệ cao nhất (71,3%) và 21,7% là các tác nhân virus như Rhinovirus, Influenza
virus và Parainfluenza virus. Những trường hợp VPMPCĐ trong nghiên cứu này cho
thấy một tỷ lệ rất lớn các trường hợp nhiễm đa tác nhân (76,4%) [56].
Các nghiên cứu về căn nguyên
VPMPCĐ cũng như mức độ nhạy cảm với kháng sinh được công bố hầu như là các
nghiên cứu thu thập từ các người bệnh VPMPCĐ nhưng được đến khám và điều trị
tại các bệnh viện trung ương hoặc tuyến tỉnh lớn và số lượng chủng thu thập
được trong các nghiên cứu không đủ lớn để đại diện cho quần thể căn nguyên gây
VPMPCĐ nên thực sự chưa hẳn đã phản ánh đúng về thực trạng của căn nguyên gây
VPMPCĐ. Hơn nữa, các kết quả về mức độ nhạy cảm với kháng sinh phụ thuộc nhiều
vào phương pháp làm kháng sinh đồ cũng như tiêu chuẩn lựa chọn để phiên giải
kết quả nên cũng có sự khác biệt không nhỏ giữa các nghiên cứu. Do vậy, rất cần
có các nghiên cứu được thiết kế chặt chẽ cũng như thống nhất về phương pháp để
có được hình ảnh căn nguyên VPMPCĐ chính xác hơn.
2.2. Các
phương pháp chẩn đoán vi sinh VPMPCĐ
Mặc dù có sự đồng thuận cao về lý
thuyết là điều trị sẽ tốt nhất khi xác định được căn nguyên gây bệnh nhưng về
thực hành còn nhiều tranh cãi về giá trị của các xét nghiệm chẩn đoán căn
nguyên VPMPCĐ do độ nhạy của các xét nghiệm, tỷ lệ lợi ích/chi phí xét nghiệm
thấp [58]. Vì vậy, trong khuyến cáo của Hội Truyền nhiễm và Hội Lồng ngực Mỹ
thống nhất không xét nghiệm vi sinh thường quy cho chẩn đoán VPMPCĐ người bệnh điều
trị ngoại trú. Với những người bệnh VPMPCĐ phải nhập viện và những người bệnh
ngoại trú mà kết quả chẩn đoán có thay đổi phác đồ điều trị thì cần làm các xét
nghiệm vi sinh chẩn đoán [29, 59].
2.2.1. Chọn lựa xét nghiệm dựa
trên đặc điểm người bệnh
- Với những người bệnh VPMPCĐ được
phân loại là (i) người bệnh có VPMPCĐ nặng, đặc biệt là khi người bệnh có đặt
nội khí quản; hoặc (ii) người bệnh được điều trị theo kinh nghiệm theo hướng
MRSA hoặc P. aeruginosa; hoặc (iii) người bệnh trước đó đã nhiễm trùng
MRSA hoặc P. aeruginosa, đặc biệt là những trường hợp đã nhiễm trùng hô
hấp với các căn nguyên này trước đó; hoặc (iv) người bệnh đã nằm viện và dùng
kháng sinh đường tiêm có thể trong giai đoạn nằm viện hoặc không trong vòng 90
ngày gần đây nên lấy đờm nhuộm Gram và cấy, cấy máu trước khi bắt đầu liệu pháp
điều trị kháng sinh.
- Trong những trường hợp người
bệnh VPMPCĐ có yếu tố dịch tễ nghi ngờ nhiễm trùng Legionella như liên
quan đến vụ dịch Legionella hoặc mới đi du lịch hoặc ở những người bệnh
VPMPCĐ nặng nên làm thử nghiệm tìm kháng nguyên Legionella trong nước
tiểu và cấy hoặc làm xét nghiệm sinh học phân tử tìm Legionella từ các
bệnh phẩm dịch tiết đường hô hấp.
- Ở những cộng đồng có Influenza
virus, SARS-CoV-2 và RSV lưu hành, nên thực hiện xét nghiệm phát hiện các virus
này cho cả người bệnh ngoại trú và người bệnh nội trú vì kết quả xét nghiệm có
ý nghĩa cho việc lựa chọn phác đồ điều trị tối ưu. Xét nghiệm sinh học phân tử
có giá trị chẩn đoán tốt hơn các xét nghiệm test nhanh phát hiện kháng nguyên
virus.
2.2.2. Các kỹ thuật xét nghiệm
a. Cấy máu
Cấy máu được khuyến cáo cho các
người bệnh VPMPCĐ phải nhập viện điều trị. Mặc dù tỷ lệ cấy máu dương tính khá
thấp ở những người bệnh VPMPCĐ phải nhập viện (4,7 - 16%) nhưng kết quả cấy máu
có thể hỗ trợ trực tiếp cho việc chẩn đoán và điều trị người bệnh cũng như góp phần
cung cấp thêm dữ liệu quan trọng cho các chương trình về sức khỏe cộng đồng như
xu hướng đề kháng kháng sinh, hiệu quả của vắc xin…
Cấy máu lý tưởng nhất là lấy được
máu trước khi người bệnh dùng kháng sinh. Nếu người bệnh đã dùng kháng sinh,
nên lấy ngay trước khi dùng liều kháng sinh tiếp theo. Thời điểm tốt nhất để
lấy máu là khi người bệnh có cơn gai rét hoặc ở đỉnh sốt. Mỗi lần cấy máu, tối
thiểu cần cấy 2 vị trí và cấy vào 2 chai (một chai hiếu khí, một chai kỵ khí),
mỗi chai cấy 8-10 ml máu với người lớn, thể tích máu lấy ở trẻ em tuỳ theo cân
nặng [60]. Có thể cấy máu nhiều lần tùy theo diễn biến lâm sàng của người bệnh.
b. Nhuộm Gram và nuôi cấy
đờm/dịch tiết đường hô hấp
Bệnh phẩm đờm có thể chỉ định
nhuộm Gram và nuôi cấy nhưng tỷ lệ phát hiện được căn nguyên gây bệnh (10-86%)
rất khác nhau ở các nghiên cứu khác nhau [50]. Phải lấy được tối thiểu 1-2 ml
đờm có nhầy - mủ hoặc nhầy máu, nên lấy đờm trước khi điều trị kháng sinh hoặc
trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện, tốt nhất là lấy vào buổi sáng sớm. Bệnh
phẩm đờm đạt chất lượng cho nuôi cấy khi không hoặc ít tạp nhiễm vi hệ họng
miệng (đánh giá chất lượng bệnh phẩm đờm dựa trên tiêu chuẩn đờm soi có ít hơn
10 tế bào biểu mô/1 vi trường hoặc có nhiều hơn 25 tế bào bạch cầu đa nhân/1 vi
trường). Tỷ lệ cấy phát hiện được tác nhân gây bệnh ở những bệnh phẩm đờm đạt
tiêu chuẩn có thể đến 73% nhưng chỉ được 36% ở những mẫu đờm chất lượng thấp.
Các bệnh phẩm sau khi lấy phải được vận chuyển đến phòng xét nghiệm càng sớm
càng tốt, không muộn hơn 2 tiếng [60]. Độ nhạy của nhuộm Gram khác nhau tuỳ
thuộc căn nguyên vi khuẩn và các nghiên cứu (15-100%). Kết quả nuôi cấy đờm
được phiên giải dựa trên mức độ vi khuẩn mọc (ít, trung bình, nhiều, rất nhiều
tương ứng với giá trị cấy bán định lượng 1+, 2+, 3+ và 4+), sự phù hợp với lâm
sàng và mối liên quan với kết quả nhuộm Gram. Những vi khuẩn được coi là căn
nguyên gây bệnh thường có mặt ở mức trung bình hoặc nhiều trên đĩa nuôi cấy và
trên tiêu bản nhuộm Gram. Tuy nhiên, Legionella spp., B. anthracis,
B. pseudomallei, M. pneumoniae, C. pneumoniae và C. psittaci cho dù
số lượng bao nhiêu cũng là căn nguyên gây bệnh vì không bao giờ có sự cư trú
trên đường hô hấp của các căn nguyên này [50]. Những người bệnh nội trú có đặt
ống nội khí quản thì sử dụng bệnh phẩm dịch hút khí quản hoặc dịch rửa phế quản
phế nang sẽ có giá trị chẩn đoán tốt hơn bệnh phẩm đờm.
c. Xét nghiệm kháng nguyên
trong nước tiểu
Xét nghiệm kháng nguyên trong nước
tiểu có thể là phương pháp chẩn đoán bổ sung hoặc thay thế để phát hiện S.
pneumoniae và Legionella pneumophila. So với nuôi cấy, xét nghiệm
kháng nguyên nhạy và đặc hiệu hơn, có thể áp dụng cho những người bệnh không
thể ho khạc đờm được, cho kết quả nhanh và không bị ảnh hưởng khi đã điều trị
kháng sinh. Xét nghiệm này chủ yếu phát hiện nhiễm L. pneumophila nhóm
huyết thanh 1 (chiếm khoảng 90% các trường hợp nhiễm), trong khi người bệnh
nhiễm L. pneumophila các nhóm huyết thanh khác hoặc các loài Legionella
khác không phải L. pneumophila thường không được chẩn đoán. Xét
nghiệm kháng nguyên trong nước tiểu có độ đặc hiệu gần 99%, độ nhạy khoảng
80-90% đối với L. pneumophila nhóm huyết thanh 1. Tuy nhiên, đối với các
trường hợp bệnh do các nhóm huyết thanh khác của L. pneumophila gây ra,
độ nhạy dao động từ 14% đến 69%, do đó kết quả xét nghiệm âm tính không loại
trừ khả năng nhiễm bệnh [95]. Xét nghiệm kháng nguyên phát hiện L.
pneumophila trong nước tiểu được khuyến cáo cho các người bệnh VPMPCĐ nặng
hay các người bệnh VPMPCĐ không nặng nhưng có yếu tố dịch tễ nhiễm Legionella
pneumophila rõ ràng [61]. Hiện nay, Hội truyền nhiễm Pháp, Hội Truyền nhiễm
và Hội Lồng ngực Hoa Kỳ cũng khuyến cáo sử dụng xét nghiệm phát hiện kháng
nguyên trong nước tiểu chẩn đoán S. pneumoniae và Legionella
pneumophila ở những người bệnh VPMPCĐ mức độ nặng [62] [96].
d. Xét nghiệm sinh học phân tử
Xét nghiệm sinh học phân tử nhanh,
nhạy hơn nuôi cấy, đặc biệt là ở những người bệnh đã điều trị kháng sinh nhưng
lại hạn chế rất nhiều khi áp dụng bệnh phẩm không vô trùng như bệnh phẩm đường
hô hấp vì loại bệnh phẩm này thường bị tạp nhiễm các vi khuẩn vi hệ đường hô
hấp trên. Mặc dù có thể cung cấp cả các thông tin về gen kháng thuốc nhưng các
thông tin này cũng không đầy đủ hết, nhất là ở các vi khuẩn Gram âm [58]. PCR
phát hiện đơn tác nhân hoặc PCR phát hiện đồng thời nhiều căn nguyên gây VPMPCĐ
bao gồm cả virus và vi khuẩn đã được sử dụng rộng rãi. Các xét nghiệm đa tác
nhân giúp tăng khả năng phát hiện các vi sinh vật có ở trong mẫu bệnh phẩm dịch
tiết hô hấp nhưng giá trị dự báo của xét nghiệm này cũng còn nhiều tranh cãi.
Ví dụ như khi phát hiện được sự có mặt của virus cũng chưa thể loại trừ tác
nhân vi khuẩn vì khả năng đồng nhiễm vi khuẩn và virus chiếm 5 - 10% các tác
nhân gây VPMPCĐ. Một số các xét nghiệm PCR hiện nay cũng có thể cung cấp giá
trị định lượng các vi khuẩn hay virus từ bệnh phẩm đường hô hấp để hỗ trợ cho
việc phiên giải kết quả các vi sinh vật phát hiện được bằng xét nghiệm PCR có
phải là căn nguyên gây bệnh thực sự hay không. Cho đến hiện nay, một vấn đề rất
lớn vẫn chưa giải quyết được đó là sự không tương đồng khi kết quả PCR phát
hiện được vi khuẩn nhưng lại không thấy vi khuẩn mọc khi nuôi cấy vì PCR dương
tính có thể là dương tính thật, có thể là phát hiện được vi khuẩn đã chết, vi
khuẩn khó nuôi cấy, vi khuẩn cư trú hoặc những con vi khuẩn khiếm khuyết chuyển
hóa [63]. Do vậy, nhận định kết quả của xét nghiệm sinh học phân tử cần kết hợp
với đánh giá lâm sàng. Tuy nhiên, với việc triển khai xét nghiệm PCR đa tác
nhân, có kết quả sớm giúp cho việc lên thang và xuống thang kháng sinh sớm và
hiệu quả hơn.
e. Huyết thanh học
Các xét nghiệm huyết thanh học
được sử dụng cho chẩn đoán M. pneumoniae dựa trên sự gia tăng (thường là
gấp bốn lần) hiệu giá kháng thể IgG giữa các mẫu huyết thanh ở giai đoạn cấp
tính và giai đoạn hồi phục. Nói chung xét nghiệm này ít được sử dụng, đặc biệt
đối với M. pneumoniae vì các vấn đề về độ chính xác và thời gian cần
thiết cho lặp lại mẫu huyết thanh thứ 2. Với kháng thể IgM thì nếu chỉ xét
nghiệm 1 mẫu huyết thanh, tỷ lệ dương tính giả có thể là 10,1%, tỷ lệ âm tính
giả là 32,5% khi người bệnh được xét nghiệm tại thời điểm nhập viện [64]. Để có
được giá trị chính xác hơn, xét nghiệm 2 mẫu huyết thanh phát hiện IgM cũng
được khuyến cáo thực hiện. Đáp ứng điều trị ở người bệnh có IgM dương tính ngay
khi nhập viện kém hơn ở những người bệnh có IgM âm tính [65]
Mỗi phương pháp xét nghiệm đều có
ưu, nhược điểm riêng. Kết hợp nhiều phương pháp chẩn đoán sẽ giúp định danh
được tác nhân gây bệnh nhanh hơn, chính xác hơn và hỗ trợ hiệu quả hơn cho điều
trị VPMPCĐ. Sự phát triển và ứng dụng ngày càng nhiều phương pháp sinh học phân
tử trong chẩn đoán VPMPCĐ trở thành xu thế mới và đã giúp cải thiện chẩn đoán
tác nhân gây bệnh rất nhiều. Tuy nhiên, khái niệm phổi hoàn toàn vô trùng đã
thay đổi kể từ khi có những hiểu biết mới về vi hệ trong phổi. Vi hệ phổi có
chứa cả nhiều vi khuẩn được coi là gây VPMPCĐ phổ biến như S. pneumoniae và
Mycoplasma spp. [13] và VPMPCĐ có thể xảy ra khi mất cân bằng vi hệ của
phổi là những thách thức rất lớn cho thực hành chẩn đoán vi sinh và điều trị
VPMPCĐ.
g. Xét nghiệm kháng sinh đồ
Khi đã nuôi cấy và xác định được
tác nhân vi khuẩn gây VPMPCĐ, kháng sinh đồ là xét nghiệm cần thiết để xác định
mức độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt cho những trường
hợp VPMPCĐ nặng phải nhập viện hoặc ở những người bệnh phải nằm tại khoa hồi
sức tích cực. Tại các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng, hiện nay, có thể thực
hiện phương pháp kháng sinh đồ khoanh giấy khuếch tán và kháng sinh đồ pha
loãng (xác định được MIC). Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ được phiên giải ra
các phân loại nhạy cảm (S), đề kháng (R) hay đề kháng trung gian (I). Xác định
được MIC đặc biệt có giá trị trong những trường hợp cần hiệu chỉnh liều cho
người bệnh hay là cá thể hoá điều trị và những trường hợp kháng sinh có liều
độc và liều điều trị gần nhau. Có những vấn đề liên quan đến kháng sinh đồ mà các
bác sĩ lâm sàng cũng cần biết đó là kết quả kháng sinh đồ bị ảnh hưởng bởi rất
nhiều yếu tố như sự chính xác của kết quả định danh vi khuẩn, chất lượng của
xét nghiệm kháng sinh đồ và tiêu chuẩn lựa chọn để phiên giải kết quả. Hiện
nay, có hai tài liệu hướng dẫn phiên giải kháng sinh đồ phổ biến trên thế giới
là tài liệu phiên giải của Hoa Kỳ (CLSI- Clinical Laboratory Standard
Institute) và của châu Âu (EUCAST-European Committee on Antimicrobial
Susceptibility Testing) được cập nhật hàng năm. Hai hệ thống hướng dẫn phiên
giải kết quả kháng sinh đồ không hoàn toàn trùng khít nhau, vẫn có những khác
biệt do tiêu chuẩn phiên giải của mỗi hệ thống được xây dựng dựa trên các
nghiên cứu thực nghiệm. Mỗi hệ thống phiên giải đều có ưu, nhược điểm riêng.
Các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng ở Việt Nam hiện nay hầu hết đều lựa chọn
hướng dẫn CLSI để phiên giải kết quả. Do vậy, khi tham khảo các nghiên cứu khác
nhau về mức độ nhạy cảm với kháng sinh, các bác sĩ lâm sàng cũng nên biết kỹ
thuật kháng sinh đồ nào được thực hiện và tiêu chuẩn phiên giải nào được sử
dụng để có được nhận định chính xác về các kết quả nghiên cứu.
Bảng
2.1. Tóm tắt các xét nghiệm vi sinh trên người bệnh VPMPCĐ
|
Xét nghiệm
|
Bệnh phẩm
|
Chỉ định
|
|
Nhuộm Gram, nuôi cấy tìm vi
khuẩn
|
Đờm/dịch phế quản
|
Người bệnh viêm phổi điều trị
nội trú Người bệnh có nguy cơ cao nhiễm vi khuẩn đa kháng hoặc các tác nhân
không thường gặp.
|
|
AFB, PCR (Gene Xpert, Hain
test…), nuôi cấy tìm vi khuẩn lao
|
Đờm/dịch phế quản
|
Để loại trừ lao phổi
|
|
Soi tìm nấm, nuôi cấy nấm
|
Đờm/dịch phế quản
|
Người bệnh suy giảm miễn dịch,
nghi ngờ nhiễm nấm
|
|
Cấy máu
|
Máu
|
Người bệnh viêm phổi nặng, nghi
ngờ nhiễm khuẩn huyết
|
|
Test nhanh phát hiện kháng
nguyên virus cúm, SAR-COV2, RSV
|
Dịch tỵ hầu
|
Người bệnh nghi ngờ viêm phổi do
virus hoặc có yếu tố dịch tễ
|
|
Sinh học phân tử (PCR)
|
Đờm/dịch phế quản/dịch tỵ hầu
|
Người bệnh viêm phổi nặng không
đáp ứng với điều trị ban đầu
Người bệnh nghi ngờ nhiễm các
tác nhân như nấm, M. pneumoniae, C. pneumoniae, Legionella spp., virus
đường hô hấp
|
|
Huyết thanh chẩn đoán
|
Máu
|
Người bệnh nghi ngờ nhiễm các
tác nhân như nấm, M. pneumoniae, C. pneumoniae, Legionella spp.,
|
|
Cấy dịch màng phổi
|
Dịch màng phổi
|
Người bệnh viêm phổi có tràn
dịch màng phổi
|
|
Kháng nguyên chẩn đoán Legionella
pneumophila, S. pneumoniae
|
Nước tiểu
|
Người bệnh viêm phổi nặng hoặc
nghi ngờ nhiễm Legionella pneumophila hoặc có yếu tố dịch tễ
|
Bảng
2.2. Tóm tắt về tác nhân VPMPCĐ và các phương pháp chẩn đoán vi sinh [66]
|
Tác nhân
|
Phương pháp chẩn đoán
|
Bệnh phẩm tối ưu
|
Điều kiện vận chuyển và bảo quản tối ưu
|
|
S. pneumoniae
|
Nhuộm Gram, nuôi cấy
|
Đờm, dịch hút phế quản
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 2
giờ hoặc 4oC tối đa được 24 giờ
|
|
Phát hiện kháng nguyên trong
nước tiểu
|
Nước tiểu
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 24
giờ hoặc 2 - 8oC tối đa được 14 ngày
|
|
S. aureus
H. influenzae
Enterobacterales
P. aeruginosae
|
Nhuộm Gram, nuôi cấy
|
Đờm, dịch hút phế quản
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 2
giờ hoặc 4oC tối đa được 24 giờ
|
|
Legionella spp.
|
Phát hiện kháng nguyên trong
nước tiểu
|
Nước tiểu
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 24
giờ hoặc 2 - 8oC tối đa được 14 ngày
|
|
Nuôi cấy trên môi trường chọn
lọc
|
Đờm, dịch hút phế quản
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 2
giờ hoặc 4oC tối đa được 24 giờ
|
|
Sinh học phân tử (PCR)
|
Đờm, dịch hút phế quản
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 2
giờ hoặc 4oC tối đa được 24 giờ
|
|
M. pneumoniae
|
Sinh học phân tử (PCR)
|
Tăm bông ngoáy họng, tăm bông
thấm dịch tỵ hầu, dịch hút phế quản, dịch rửa phế quản phế nang
|
Môi trường vận chuyển ở 4oC
tối đa được 48 giờ, hoặc -70oC được trên 48 giờ
|
|
Phát hiện IgM, IgG
|
Huyết thanh
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 24
giờ hoặc 4oC tối đa được trên 24 giờ
|
|
C. pneumoniae
|
Sinh học phân tử (PCR)
|
Tăm bông thấm dịch tỵ hầu, dịch
súc họng, đờm, dịch hút phế quản
|
Môi trường vận chuyển ở 4oC
tối đa được 48 giờ, hoặc -70oC được trên 48 giờ
|
|
Phát hiện hiệu giá IgM, động lực
kháng thể IgG (hai mẫu huyết thanh lấy cách nhau 2-3 tuần)
|
Huyết thanh
|
Nhiệt độ phòng, tối đa được 24
giờ hoặc 4oC tối đa được trên 24 giờ
|
|
Influenza virus A, B
RSV
SARS-CoV-2
|
Test nhanh phát hiện kháng
nguyên
Sinh học phân tử (PCR)
|
Dịch ngoáy mũi, tăm bông ngoáy
họng, tăm bông thấm dịch tỵ hầu, dịch hút tỵ hầu dịch hút phế quản, dịch rửa
phế quản-phế nang.
Bảo quản, vận chuyển trong môi
trường vận chuyển virus ở nhiệt độ phòng, tối đa được dưới 2 giờ, 2-8oC
tối đa được 5 ngày, hoặc ở -70 oC được trên 5 ngày.
|
|
Parainfluenza virus
Adenovirus
Human metapneumovirus
Coronavirus khác
Rhinovirus
Entero virus
|
Sinh học phân tử (PCR)
|
|
Những điểm cần nhớ
- Vi khuẩn gây viêm phổi thường
gặp là: Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Staphylococcus
aureus, Enterobacterales, Pseudomonas aeruginosa, Mycoplasma
pneumoniae, Legionella spp., Chlamydophila và Moraxella
catarrhalis.
- Virus gây viêm phổi thường gặp
là Influenza A virus, Influenza B virus, RSV, Adenovirus và các Coronavirus.
- Không khuyến cáo xét nghiệm vi
sinh cho người bệnh VPMPCĐ ngoại trú.
- Người bệnh VPMPCĐ nội trú,
những người bệnh ngoại trú mà kết quả xét nghiệm vi sinh có thể thay đổi phác
đồ điều trị cần lấy đờm tốt nhất vào buổi sáng sớm để nhuộm Gram và cấy. Bệnh
phẩm đờm: lấy tối thiểu 1-2ml có nhầy - mủ hoặc nhầy máu, sau khi lấy cần vận
chuyển đến phòng xét nghiệm trong vòng 2 tiếng. Kết quả nuôi cấy đờm được
phiên giải dựa trên mức độ vi khuẩn mọc (1+, 2+, 3+, 4+), sự phù hợp lâm sàng
và mối liên quan với nhuộm Gram.
- Cấy máu có thể hữu ích đặc
biệt ở người bệnh viêm phổi nặng, người bệnh nguy cơ cao viêm phổi do MRSA
hoặc P. aeruginosa. Cấy máu tốt nhất trước khi dùng kháng sinh, khi có
người bệnh có cơn gai rét hoặc sốt ≥38,5oC. Mỗi lần cấy máu, cần cấy tối
thiểu 2 vị trí và cấy vào 2 chai (một chai hiếu khí, một chai kị khí), mỗi
chai cấy 8-10 ml.
- Các tác nhân virus và vi khuẩn
không điển hình có thể được chẩn đoán bằng nuôi cấy, test nhanh phát hiện
kháng nguyên, phát hiện kháng thể đặc hiệu hoặc bằng kỹ thuật sinh học phân
tử (PCR).
- Kháng sinh đồ cho biết chủng
vi khuẩn nhạy cảm (S), đề kháng (R) hay đề kháng trung gian (I) với một kháng
sinh nào đó. Xác định nồng độ ức chế tối thiểu của kháng sinh (MIC), có thể
giúp hiệu chỉnh liều kháng sinh.
|
CHƯƠNG 3. CHẨN ĐOÁN VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG
3.1. Chẩn
đoán xác định viêm phổi
3.1.1. Lâm sàng
- Triệu chứng cơ năng:
+ Khởi phát cấp tính trong vài
ngày.
+ Triệu chứng điển hình: sốt cao,
rét run, ho khạc đờm mủ, đau ngực kiểu màng phổi (nếu có tổn thương cạnh màng
phổi-parapleural pneumonia). Trên người bệnh cao tuổi, người bệnh suy giảm miễn
dịch, các biểu hiện ban đầu của viêm phổi có thể không rầm rộ.
- Triệu chứng thực thể:
+ Hội chứng nhiễm trùng: sốt, môi
khô, lưỡi bẩn... Trên người bệnh cao tuổi, người bệnh suy giảm miễn dịch các
biểu hiện ban đầu của viêm phổi có thể không rầm rộ.
+ Hội chứng đông đặc (rung thanh
tăng, gõ đục, rì rào phế nang giảm), có thể có nghe thấy ran nổ nếu ở một vùng
hoặc nhiều vị trí nếu tổn thương nhiều ở phổi.
+ Viêm phổi do tác nhân vi khuẩn
điển hình: phần lớn người bệnh sốt cao >39°C, rét run kèm theo người bệnh
xuất hiện ho khan lúc đầu sau ho khạc đờm mủ, có thể khạc đờm màu rỉ sắt và đau
ngực vùng tổn thương. Tuy nhiên người lớn tuổi có thể không có sốt; người bệnh
có thể có biểu hiện tím tái, khó thở, nhịp thở nhanh >30 lần/phút...
+ Viêm phổi do tác nhân vi khuẩn
không điển hình: phần lớn xảy ra trên người lớn tuổi và trẻ em với các triệu
chứng âm thầm hơn bao gồm: sốt nhẹ, đau đầu, ho khan, cảm giác mệt mỏi như triệu
chứng nhiễm virus. Khám không rõ hội chứng đông đặc, thấy rải rác ran nổ. Tuy
nhiên các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu cho thể bệnh.
3.1.2. Xét nghiệm máu
- Công thức máu có tăng số lượng
bạch cầu (> 10 Giga/lít), tăng ưu thế tế bào đa nhân trung tính. Hoặc số
lượng bạch cầu giảm (< 4,4 Giga/lít).
- Tốc độ máu lắng tăng
- CRP tăng
- Procalcitonin:
+ Định lượng procalcitonin máu nên
được chỉ định ở người bệnh nghi ngờ nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới nhập viện
+ Định lượng procalcitonin nên
được thực hiện trong 24h đầu nhập viện, vào ngày thứ 3 và vào ngày thứ 5 - 7 điều
trị kháng sinh. Tần suất định lượng procalcitonin thay đổi phụ thuộc vào đánh
giá lâm sàng trên người bệnh cụ thể.
+ Xem xét ngừng hoặc xuống thang
kháng sinh khi ngưỡng procalcitonin máu dưới 0.25 mg/dl hoặc giá trị nồng độ
procalcitonin máu giảm 80% so với ban đầu và cần đánh giá phối hợp với đáp ứng
lâm sàng.
3.1.3. X-quang ngực
- X-quang ngực là cận lâm sàng
quan trọng trong bệnh viêm phổi. Hình ảnh tổn thương trên X-quang ngực của VPMPCĐ:
+ Tổn thương phế nang: hình mờ
tương đối đồng nhất chiếm một thùy hoặc phân thùy phổi và có hình ảnh phế quản
hơi. Các trường hợp ít điển hình hơn cho thấy các hình mờ này không chiếm một
thùy hoặc phân thùy hoặc có thể kèm theo xẹp phổi do dịch tiết gây tắc nghẽn
các phế quản.
+ Tổn thương phế quản phổi: mờ rải
rác, không đồng nhất, những tổn thương mờ này có thể chồng lên nhau tạo thành
những hình mờ đậm hơn.
+ Tổn thương dạng mô kẽ: hình ảnh
mờ dạng lưới hoặc lưới nốt khắp cả hai bên phổi, đôi khi tiến triển thành những
hình mờ rải rác thường xuất hiện ở thùy dưới.
+ Thâm nhiễm dạng nốt: hình mờ
tròn giới hạn rõ với đường kính lớn hơn 1 cm trên phim X-quang ngực.
+ Trong thực hành lâm sàng có
những trường hợp viêm phổi không phát hiện được tổn thương trên X-quang ngực,
chẩn đoán viêm phổi được đặt ra nếu người bệnh có những triệu chứng lâm sàng
phù hợp và có thể tiến hành chụp X-quang lại sau 24 - 48 giờ.
- Hình ảnh trên X-quang ngực cũng
có hạn chế trong chẩn đoán viêm phổi:
+ Chẩn đoán dưới mức viêm phổi hay
thậm chí âm tính giả trong những trường hợp: (1) Béo phì, khí phế thũng, bất
thường cấu trúc phổi làm che mờ tổn thương viêm phổi; (2) Viêm phổi giai đoạn
quá sớm; (3) Mất nước nặng, giảm bạch cầu hạt nặng làm tổn thương viêm không
thể hiện rõ; (4) Nhiễm P. jirovecii trên người bệnh suy giảm miễn dịch
vì tổn thương chủ yếu mô kẽ phổi nên có thể không thể hiện rõ trên X-quang
ngực.
+ Chẩn đoán quá mức viêm phổi hay
thậm chí là dương tính giả trong những trường hợp: (1) Phù phổi trong suy tim ứ
huyết, hẹp hai lá; (2) Nhồi máu phổi; (3) Hội chứng suy hô hấp cấp tính ARDS;
(4) Chảy máu phế nang; (5) Ung thư phế quản hoặc ung thư di căn phổi; (6) Xẹp
phổi; (7) Viêm phổi sau xạ trị; (8) Viêm nhu mô phổi không do nhiễm trùng (viêm
mạch máu phổi, viêm phế nang do dị ứng, viêm mô kẽ phổi do miễn dịch bao gồm
phản ứng thuốc); (9) Tăng tế bào ái toan ở phổi; (10) Viêm tiểu phế quản tắc
nghẽn.
3.1.4. Chụp cắt lớp vi tính
ngực
- Chụp cắt lớp vi tính ngực được
chỉ định ở người bệnh VPMPCĐ trong những trường hợp sau:
+ Viêm phổi nặng và diễn biến phức
tạp.
+ Viêm phổi ở người bệnh suy giảm
miễn dịch.
+ Viêm phổi tái phát hoặc không điều
trị dứt điểm được.
+ Người bệnh nghi ngờ mắc viêm
phổi trên lâm sàng nhưng hình ảnh X quang ngực không rõ tổn thương.
+ Nghi ngờ các bệnh lý khác: u
phổi, lao phổi, dị vật đường thở, …
- Các dạng tổn thương của VPMPCĐ
trên phim chụp cắt lớp vi tính
+ Tổn thương phế nang: các đám mờ
đồng nhất ở nhiều phân thùy hoặc toàn bộ thùy phổi, có dấu hiệu phế quản hơi
(dạng viêm phổi thùy). Có thể gặp hình ảnh xẹp các phân thùy và hạ phân thùy do
tắc nghẽn đường dẫn khí có kích thước nhỏ.
+ Tổn thương phế quản phổi: nhiều
đám mờ thâm nhiễm và rải rác ở các phân thùy phổi, phân bố không đồng nhất xen
lẫn nhau giữa phần phổi lành và vùng phổi tổn thương (dạng phế quản phế viêm).
+ Tổn thương mô kẽ: Tổn thương dày
thành phế quản, tổn thương mô kẽ dạng nốt không đều hoặc dạng lưới.
- Một số hình ảnh đặc biệt tổn
thương trên phim chụp cắt lớp vi tính ngực gợi ý theo căn nguyên vi sinh
+ Viêm phổi do S. pneumoniae:
tổn thương là các vùng đông đặc đồng nhất, có hình phế quản hơi, giới hạn ở một
thùy phổi, có thể kèm theo tràn dịch và tràn mủ màng phổi.
+ Viêm phổi do S. aureus gây
các tổn thương dạng viêm phế quản phổi với hình ảnh nhiều đám mờ đông đặc phổi.
Tổn thương thường gặp dạng hang, có thể kèm theo tràn dịch và tràn mủ màng
phổi.
+ Viêm phổi do Klebsiella:
thường gặp ở thùy trên, có hình ảnh đông đặc phổi, có hình ảnh phế quản hơi,
tổn thương thường gây xuất tiết nhiều đẩy lồi rãnh liên thùy về phía phổi lành,
thường tạo hang, có kèm theo tràn dịch và tràn mủ màng phổi nhiều hơn so với S.
pneumoniae.
+ Viêm phổi do Legionella:
các tổn thương đông đặc lan tỏa, ở một thùy hoặc nhiều thùy phổi thường kèm
tràn dịch màng phổi ít, hiếm khi gặp tổn thương dạng áp xe.
+ Viêm phổi do Haemophilus
influenzae: tổn thương dưới dạng viêm phế quản phổi rải rác nhiều phân thùy
phổi hai bên.
+ Viêm phổi do virus: Ở người lớn,
tổn thương dạng đám mờ phế nang ở thùy dưới hai bên hay dạng kính mờ. Ở trẻ em
gặp dạng nốt lưới lan tỏa. Một số trường hợp tổn thương phổi tiến triển rất
nhanh gây suy hô hấp cấp.
+ Viêm phổi do virus SARS CoV 2:
tổn thương xuất hiện hai bên phổi, thường gặp nhiều ổ, phân bố nhiều ở ngoại
vi, dưới màng phổi và đáy phổi (tập trung nhiều ở các phân thùy sau). Tổn
thương dạng kính mờ tăng dần, tiến triển thành đám mờ kèm theo dày vách liên
tiểu thùy, vách trong tiểu thùy và dày dạng lưới. Chụp cắt lớp vi tính ngực có
thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng và theo dõi tiến triển của người bệnh mắc
VPMPCĐ do virus SARS-CoV-2.
3.1.5. Siêu âm lồng ngực
Ngày nay, siêu âm lồng ngực là xét
nghiệm cận lâm sàng được chỉ định trong chẩn đoán viêm phổi vì tính chính xác
trong chẩn đoán, thuận tiện và chi phí thấp.
Trên siêu âm, đường B (B line) là
vệt sáng dạng đuôi sao chổi mà bản chất được cho là các thay đổi cấu trúc phổi
giữa khí và dịch của khoảng kẽ tạo nên. Bình thường đường B có thể thấy ở phổi
khỏe mạnh nhưng đường B tăng lên về số lượng và mật độ hoặc khi các đường B kết
nối lại sẽ được xem là bệnh lý. Hình ảnh này tương quan với tổn thương dạng
phù, dày lên của vách liên tiểu thùy phổi.
Biểu hiện của viêm phổi trên siêu
âm lồng ngực là các hình ảnh tổn thương dạng đông đặc có di động theo nhịp thở,
có thể thấy hình ảnh khí trong phế quản và hình ảnh tràn dịch màng phổi. Siêu
âm lồng ngực còn có vai trò trong theo dõi đáp ứng điều trị, như bệnh thuyên
giảm nếu những hình ảnh đông đặc nhỏ hơn và giảm dần sự hiện diện và số lượng
của dịch màng phổi trong quá trình điều trị.
3.1.6. Nội soi phế quản
Nội soi phế quản ống mềm là một kỹ
thuật quan trọng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý đường hô hấp dưới cho
phép lấy bệnh phẩm trực tiếp từ phế quản/phế nang giúp tăng độ chính xác trong
chẩn đoán căn nguyên gây bệnh. Nhưng nội soi phế quản không phải là thăm dò
thường quy trong chẩn đoán VPMPCĐ. NSPQ được chỉ định trong VPMPCĐ khi:
- Viêm phổi nặng cần xác định căn
nguyên vi sinh mà xét nghiệm đờm không xác định được.
- Nghi ngờ nhiễm nấm hoặc vi khuẩn
kháng thuốc
- Người bệnh VPMPCĐ suy giảm miễn
dịch có nguy cơ cao mắc các nhiễm trùng cơ hội
- Viêm phổi có biến chứng nặng như
tràn dịch màng phổi, áp xe phổi
- Cần chẩn đoán phân biệt với
những bệnh lý khác: lao phổi, u phổi, dị vật đường thở,…
3.2. Chẩn
đoán mức độ nặng VPMPCĐ
- Mức độ nặng của viêm phổi có ý
nghĩa quyết định:
+ Nơi điều trị: Ngoại trú; khoa
Nội hoặc khoa Hô hấp; Khoa Điều trị tích cực
+ Chọn phác đồ điều trị kháng sinh
theo kinh nghiệm.
3.2.1. Thang điểm CURB-65 của
BTS
- Các chỉ số trong thang điểm (mỗi
chỉ số tính 1 điểm nếu có):
+ Confusion - Thay đổi tri
giác mới xuất hiện
+ Uremia - Ure máu > 7
mmol/L
+ Respiratory rate - Tần số
thở ≥ 30 lần/phút
+ Blood pressure - Huyết áp
tâm thu < 90 và/hoặc huyết áp tâm trương ≤ 60 mmHg
+ Age - Tuổi ≥ 65
- Ý nghĩa lâm sàng thang điểm CURB
- 65:
+ Tiên lượng tử vong trong 30 ngày
cho người bệnh có điểm số CURB-65 lần lượt là: nhóm 1 (0 - 1 điểm): 1,5%; nhóm
2 (2 điểm): 9,2%; nhóm 3 (3 - 5 điểm): 22%.
+ Điều trị ngoại trú được chỉ định
cho nhóm 1; điều trị nội trú ngắn hạn hoặc điều trị ngoại trú có kiểm soát được
chỉ định cho nhóm 2; điều trị nội trú được chỉ định cho nhóm 3 trong đó điều
trị tại khoa ICU được chỉ định cho nhóm 3 nhưng có điểm CURB-65 từ 4 - 5.
+ Thang điểm CURB-65 đơn giản, dễ
nhớ, chỉ có một thông số cận lâm sàng là Ure vì thế rất tiện dụng để sử dụng
trong chẩn đoán mức độ nặng VPMPCĐ tại lần khám đầu tiên tại phòng khám ngoại
trú. Tuy nhiên, việc quyết định cho người bệnh nhập viện hay điều trị ngoại trú
cần sự đánh giá linh hoạt, kết hợp các đặc điểm của từng người bệnh và các yếu
tố tiên lượng.
+ Một phiên bản đơn giản hơn của
thang điểm CURB-65 là CRB-65 không cần xét nghiệm ure máu đã được đề xuất, tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho thực hành ngoài bệnh viện. Với thang điểm này nếu có 1-2
yếu tố thì cần cân nhắc nhập viện.
3.2.2. Chỉ số tiên lượng nặng
viêm phổi PSI (Pneumonia Severity Index)
- Các yếu tố nguy cơ được dùng để
đánh giá mức độ nặng (Bảng 3.1) gồm:
+ (1) Tuổi;
+ (2) Đặc điểm dân số học (giới
tính, nơi ở);
+ (3) Bệnh đồng mắc (ung thư, bệnh
gan, suy tim ứ huyết, bệnh mạch máu não, bệnh thận);
+ (4) Đặc điểm khám lâm sàng (tri
giác, tần số thở, huyết áp, thân nhiệt, mạch);
+ (5) Kết quả xét nghiệm (pH máu,
BUN, natri máu, đường máu, Hct, PaO2, tràn dịch màng phổi trên X-quang hay siêu
âm).
Bảng
3.1. Chỉ số tiên lượng nặng viêm phổi mắc phải cộng đồng (PSI)
|
Tiêu chí
|
Điểm
|
|
Đặc điểm dân số học
|
|
Nam
|
Tuổi (tính bằng năm)
|
|
Nữ
|
Tuổi (tính bằng năm) - 10
|
|
Sống ở nhà dưỡng lão/điều dưỡng
|
+
10
|
|
Bệnh đồng mắc
|
|
Bệnh ung thư
|
+
30
|
|
Bệnh gan
|
+
20
|
|
Suy tim ứ huyết
|
+
10
|
|
Bệnh mạch máu não
|
+
10
|
|
Bệnh thận
|
+
10
|
|
Triệu chứng thực thể
|
|
Thay đổi tri giác
|
+
20
|
|
Tần số thở ≥ 30 lần/phút
|
+
20
|
|
Huyết áp tâm thu < 90 mmHg
|
+
20
|
|
Thân nhiệt < 35oC
hoặc ≥ 40oC
|
+
15
|
|
Mạch ≥ 125 lần/phút
|
+
10
|
|
Kết quả xét nghiệm
|
|
pH < 7,35
|
+
30
|
|
BUN ≥30 mg/dl (11 mmol/L)
|
+
20
|
|
Hematocrit < 30%
|
+
10
|
|
Na+ máu < 130 mmol/L
|
+
20
|
|
Đường máu ≥ 250 mg/dl (14
mmol/L)
|
+
10
|
|
PaO2< 60 mmHg hoặc
SpO2< 90%
|
+
10
|
|
Tràn dịch màng phổi
|
+
10
|
Ý nghĩa lâm sàng thang điểm PSI:
|
PSI
|
FINE
|
Tiên lượng tử vong 30 ngày
|
Điều trị
|
|
≤70
|
I-II
|
<1%
|
Ngoại
trú
|
|
71-90
|
III
|
2,8%
|
Nội
trú ngắn hạn
|
|
91-130
|
IV
|
8,2-9,3%
|
Nội
trú
|
|
>130
|
V
|
27-31,3%
|
ICU
|
Tiêu chuẩn PSI nhìn chung phức
tạp, cần nhiều thông số cận lâm sàng, điểm tổng cộng đòi hỏi phải tính toán vì
thế trên thực hành lâm sàng không được ứng dụng nhiều bằng thang điểm CURB-65.
3.2.3. Tiêu chuẩn nhập khoa Điều
trị tích cực của ATS
Các tiêu chí dùng trong đánh giá
nhập khoa Điều trị tích cực của VPMPCĐ gồm 2 tiêu chuẩn chính và 9 tiêu chuẩn
phụ:
|
|
Nội dung
|
|
Tiêu chuẩn chính
|
1. Suy hô hấp cần phải thông khí
cơ học
2. Sốc nhiễm khuẩn cần phải dùng
thuốc vận mạch
|
|
Tiêu chuẩn phụ
|
1. Tần số thở ≥30 lần/phút
2. PaO2/ FiO2
≤250
3. tổn thương nhiều thùy phổi
trên phim X-quang
4. Lú lẫn, mất định hướng
5. Ure máu (BUN ≥20 mg/dL)
6. Bạch cầu máu < 4000/ mm3
7. Giảm tiểu cầu (<100.000/
mm3)
8. Hạ thân nhiệt (<36oC)
9. Hạ huyết áp cần phải bù dịch
tích cực.
|
Ý nghĩa lâm sàng thang điểm ATS:
Chỉ định nhập khoa Điều trị tích cực cho người bệnh có ≥ 3 tiêu chuẩn phụ hay ≥
1 tiêu chuẩn chính.
*Ngoài các thang điểm nêu trên
việc phân tầng người bệnh điều trị ngoại trú hay nội trú cần phải linh hoạt dựa
vào thực tế của người bệnh. Ví dụ như: tổn thương phổi nhiều thuỳ, có tràn dịch
màng phổi kèm theo, người bệnh không sử dụng được thuốc đuờng uống hoặc không
tự chăm sóc hoặc không có người chăm sóc ở nhà…
3.3. Chẩn
đoán căn nguyên gây viêm phổi
3.3.1. Chẩn đoán xác định tác
nhân gây viêm phổi dựa trên kết quả vi sinh
- Tính tin cậy của kết quả vi sinh
thay đổi tùy theo loại bệnh phẩm và phương pháp cấy.
- Chẩn đoán xác định tác nhân “chắc
chắn” khi:
+ Cấy máu dương tính;
+ Cấy dịch, mủ của phế quản/màng
phổi, bệnh phẩm chọc hút xuyên thành ngực dương tính;
+ Hiện diện P. jirovecii trong
đờm, hay dịch rửa phế quản phế nang lấy qua nội soi phế quản;
+ Phân lập được Legionella
pneumophila trong bệnh phẩm đường hô hấp;
+ Hiệu giá kháng thể kháng M.
pneumoniae, C. pneumoniae, L. pneumophila trong máu tăng gấp ≥ 4 lần qua
hai lần xét nghiệm;
+ Kháng nguyên của S.
pneumoniae (nước tiểu, máu), L. pneumophila (nước tiểu) dương tính.
- Chẩn đoán tác nhân có “khả
năng” khi:
+ Vi khuẩn phân lập được khi cấy
đờm là vi khuẩn gây bệnh thường gặp + phát triển mạnh + kết quả nhuộm soi đờm
phù hợp;
+ Vi khuẩn phân lập được khi cấy
đờm không phải là loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp + phát triển yếu + kết quả
nhuộm soi đờm phù hợp.
3.3.2. Chẩn đoán tác nhân gây
bệnh dựa trên kinh nghiệm
Việc chẩn đoán căn nguyên có ý
nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn phác đồ điều trị cho người bệnh. Tuy
nhiên, khi xét nghiệm vi sinh không được thực hiện vì không cần thiết/không khả
thi hoặc khi xét nghiệm vi sinh đã được thực hiện nhưng kết quả chưa có hoặc âm
tính lúc đó chẩn đoán tác nhân gây bệnh phải dựa vào kinh nghiệm của bác sĩ lâm
sàng.
Chẩn đoán tác nhân vi khuẩn gây
viêm phổi theo kinh nghiệm căn cứ vào: (1) mức độ nặng viêm phổi: điều trị
ngoại trú, điều trị nội trú tại khoa nội/hô hấp/truyền nhiễm, điều trị nội trú
tại khoa Điều trị tích cực; (2) cơ địa người bệnh bao gồm tuổi, thói quen sinh
hoạt, bệnh đồng mắc (tại phổi và toàn thân).
|
VPMPCĐ mức độ nhẹ, điều trị
ngoại trú
|
|
Streptococcus pneumoniae
Haemophilus influenzae
Moraxella catarrhalis
Mycoplasma pneumoniae
Chlamydia pneumoniae (một mình hay nhiễm trùng kết hợp)
Virus hô hấp: Influenza
virus, Parainfluenza virus, Respiratory syncytial virus (RSV), Enterovirus,
Rhinovirus, Adenovirus, Coronavirus, SARS-CoV2, Bocavirus
|
|
VPMPCĐ mức độ trung bình,
nặng điều trị nội trú tại khoa nội/hô hấp/truyền nhiễm
|
|
Streptococcus pneumoniae
Mycoplasma pneumoniae
Chlamydia pneumoniae
Haemophilus influenzae
Nhiễm trùng phối hợp
Vi khuẩn gram âm đường ruột
Vi khuẩn kỵ khí (viêm phổi hít)
Legionella spp.
Bordetella pertussis
Virus hô hấp: Influenza virus,
Parainfluenza virus, Respiratory syncytial virus (RSV), Enterovirus,
Rhinovirus, Adenovirus, Coronavirus, SARS-CoV2, Metapneumovirus, Human
metapneumovirus (HMPV), Cytomegalovirus (CMV), Epstein-Barr virus, Bocavirus
|
|
VPMPCĐ mức độ nặng, điều trị
tại ICU
|
|
Streptococcus pneumoniae
Vi khuẩn Gram âm đường ruột
Staphylococcus aureus
Legionella spp.
Mycoplasma pneumoniae
Pseudomonas aeruginosa
Virus hô hấp: Influenza
virus, Parainfluenza virus, Respiratory syncytial virus (RSV), Adenovirus,
Coronavirus, SARS-CoV2, Metapneumovirus, Human metapneumovirus (HMPV)
|
Trong số các căn nguyên virus tiềm
ẩn, cúm là quan trọng nhất, mặc dù virus hợp bào hô hấp, adenovirus, á cúm và
virus corona cũng có vai trò. Mặc dù virus cúm chắc chắn có khả năng tự gây ra
bệnh viêm phổi và gây bệnh nặng, nhưng nó thường được coi là bệnh nhiễm trùng
tiên phát, sau đó bị nhiễm trùng thứ cấp bởi một loại vi khuẩn như S. aureus
hoặc Streptococcus pneumoniae.
Khi đánh giá trên từng trường hợp
cụ thể, cân nhắc toàn bộ các yếu tố vừa kể trên có thể giúp chẩn đoán tác nhân
vi khuẩn. Tập hợp các yếu tố giúp tiên đoán một tác nhân vi khuẩn nào đó được
gọi là các yếu tố nguy cơ để nhiễm vi khuẩn đó. (Bảng 2.2)
Bảng
3.2. Yếu tố nguy cơ nhiễm các tác nhân viêm phổi
|
Tác nhân
|
Yếu tố nguy cơ
|
|
Streptococcus pneumoniae
|
Tuổi - Giới: giới nam; tuổi <
2 hoặc > 65
Thói quen sinh hoạt: nghiện
rượu, hút thuốc lá
Bệnh đồng mắc: bệnh gan mạn,
bệnh thận mạn, suy tim ứ huyết, suy dinh dưỡng, bệnh tâm thần, bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính, suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, ghép tạng
|
|
Haemophilus influenzae
|
Bệnh phổi mạn tính
Bệnh ác tính
Nhiễm HIV
Nghiện rượu
Hút thuốc lá
|
|
Staphylococcus aureus
|
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,
ung thư phổi, bệnh xơ nang
Bệnh nội khoa mạn tính: đái tháo
đường, suy thận
Nhiễm virus: Influenza,
sởi
Tiêm chích, thuyên tắc huyết
khối nhiễm trùng trong viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
|
|
Methicillin-Resistant
Staphylococcus aureus (MRSA)
|
Tiền sử nhiễm MRSA
Nằm viện và dùng kháng sinh tĩnh
mạch trong vòng 90 ngày
|
|
Klebsiella pneumoniae
|
Điều trị tại khoa điều trị tích
cực, đặt nội khí quản
Nguy cơ hít sặc dịch từ đường
tiêu hóa: tai biến mạch não, động kinh, gây mê
Nghiện rượu
Bệnh phổi mạn tính, đái tháo
đường
Sử dụng kháng sinh trước đó
|
|
Pseudomonas aeruginosa
|
Bệnh phổi cấu trúc như bệnh xơ
nang, giãn phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng (FEV1<
30%)
Tiền sử nhiễm Pseudomonas
aeruginosa
Nằm viện và sử dụng kháng sinh
tĩnh mạch trong vòng 90 ngày
|
|
Acinetobacter baumannii
|
Nghiện rượu, tuổi già, bệnh nội
khoa nặng
|
|
Vi khuẩn kỵ khí
|
Bệnh phổi: ung thư phổi, giãn
phế quản, nhồi máu phổi, viêm phổi hít. Nhiễm khuẩn kỵ khí vùng hầu họng
|
3.4. Chẩn
đoán phân biệt
3.4.1. Lao phổi
- Tiền sử tiếp xúc với người mắc
lao.
- Ho khạc đờm kéo dài, có thể ho
máu, sốt nhẹ về chiều, gầy sút cân.
- X-quang ngực có tổn thương nghi
lao (nốt, thâm nhiễm, hang xơ). Có khi tổn thương trên X quang ngực không điển
hình, nhất là ở người suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS, dùng corticoid kéo
dài.....).
- Chẩn đoán xác định: Tìm thấy
trực khuẩn kháng cồn - toan (AFB) trong đờm hoặc dịch phế quản qua nhuộm soi
trực tiếp, genExpert MTB dương tính, nuôi cấy MGIT dương tính MTB.
3.4.2. Tắc động mạch phổi
- Có yếu tố nguy cơ: người bệnh
sau đẻ, sau phẫu thuật ở vùng tiểu khung, sau chấn thương, gãy xương, bất động
lâu ngày, viêm tắc tĩnh mạch chi dưới, dùng thuốc tránh thai.
- Đau ngực dữ dội, ho ra máu, khó
thở, có thể có dấu hiệu sốc.
- Điện tâm đồ có thể thấy dấu hiệu
tâm phế cấp: S sâu ở D1, Q sâu ở D3, trục phải, block nhánh phải.
- Khí máu có thể thấy tăng thông
khí: PaO2 giảm và PaCO2 giảm.
- D-dimer máu tăng cao.
- Chụp cắt lớp vi tính có tiêm
thuốc cản quang tĩnh mạch có thể phát hiện vị trí động mạch phổi bị tắc.
3.4.3. Ung thư phổi
- Thường gặp ở người > 50 tuổi,
có tiền sử nghiện thuốc lá, gia đình có người mắc ung thư.
- Ho khạc đờm lẫn máu, sút cân.
- X-quang phổi có hình mờ.
- Chụp cắt lớp vi tính ngực, soi
phế quản và sinh thiết giúp chẩn đoán xác định.
- Nên chú ý những trường hợp nghi
ngờ hoặc sau khi điều trị hết tình trạng nhiễm trùng mà tổn thương phổi không
cải thiện sau 1 tháng hoặc viêm phổi tái phát ở cùng một vị trí.
3.4.4. Giãn phế quản bội nhiễm
- Người bệnh có tiền sử ho khạc đờm
mủ kéo dài, sốt.
- Khám phổi: Có ran ẩm, ran nổ cố
định.
- Cần chụp phim cắt lớp vi tính
lồng ngực lớp mỏng 1mm độ phân giải cao để chẩn đoán.
3.4.5. Viêm phổi với cơ chế tự
miễn do dùng thuốc
- Hỏi kỹ tiền sử dùng thuốc, đặc
biệt chú ý tới các thuốc hay gây viêm phổi như amiodaron...
- Các triệu chứng sẽ giảm hoặc mất
đi khi ngừng thuốc sớm.
3.4.6. Phù phổi bán cấp không
điển hình
- Điều trị thuốc lợi tiểu
- Chụp lại phim X quang phổi đánh
giá tổn thương.
3.4.7. Viêm phổi do hít
Hay gặp: viêm phổi do sặc dầu
- Gặp ở những người dùng thuốc nhỏ
mũi có tinh dầu, giọt dầu lọt vào phổi. Người hít phải xăng, dầu hỏa, dầu
mazut.
- Sau khi bị sặc, người bệnh sốt
rất cao 39 - 40⁰C kéo dài 1 - 2 tuần lễ, đau ngực dữ dội, ho sặc sụa. Sau vài
ngày ho khạc đờm có máu và mủ.
- Khám: hội chứng đông đặc phổi.
- X-quang phổi: có hình mờ đều
thuỳ dưới hoặc một bên phổi, có khi cả hai bên.
3.4.8. Hội chứng Loeffler phổi
- Là tổn thương dạng thâm nhiễm
phổi thay đổi nhanh.
- Triệu chứng cơ năng có thể thấy:
khó thở, ho, khò khè, sốt.
- Triệu chứng thực thể có thể
thấy: hội chứng đông đặc, tiếng cọ màng phổi.
- Tăng bạch cầu ái toan trong máu
và trong đờm.
- Nguyên nhân: do ký sinh trùng
trong chu kỳ phát triển đi qua phổi gây viêm phổi hoặc tiếp xúc với những chất
gây dị ứng.
- Xquang ngực: có nhiều dải mờ đa
dạng và biến mất sau một tuần lễ.
3.5. Chẩn
đoán biến chứng
Viêm phổi có thể gây các biến
chứng tại phổi, trong lồng ngực và biến chứng xa: suy hô hấp, nhiễm khuẩn
huyết, sốc nhiễm trùng, áp xe phổi, tràn mủ màng phổi, tràn khí màng phổi, viêm
màng ngoài tim, viêm nội tâm mạc,…
3.5.1. Biến chứng tại phổi
- Bệnh có thể lan rộng ra hai hoặc
nhiều thùy phổi, người bệnh khó thở nhiều hơn, tím môi; mạch nhanh, người bệnh
có thể tử vong trong tình trạng suy hô hấp, sốc nhiễm trùng.
- Xẹp một thuỳ phổi: tắc phế quản
do đờm.
- Áp xe phổi: rất thường gặp, có
thể do dùng kháng sinh không hiệu quả, người bệnh sốt dai dẳng, khạc nhiều đờm
có mủ. X quang ngực có 1 hoặc nhiều hình hang với mức nước, mức hơi.
3.5.2. Biến chứng trong lồng
ngực
- Tràn khí màng phổi, trung thất:
thường do nguyên nhân S. aureus.
- Tràn dịch màng phổi: viêm phổi
dưới màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Dịch thường màu vàng chanh nhạt, hết
nhanh dưới điều trị, thường do S. pneumoniae.
- Tràn mủ màng phổi: người bệnh
sốt dai dẳng, dịch màng phổi là mủ, thường xảy ra trong trường hợp viêm phổi
màng phổi, hoặc do chọc dò màng phổi gây bội nhiễm.
- Viêm màng ngoài tim: triệu chứng
đau vùng trước tim, nghe có tiếng cọ màng tim, thường là viêm màng tim có mủ.
3.5.3. Biến chứng xa
- Viêm nội tâm mạc cấp tính do S.
pneumoniae: biến chứng này hiếm gặp, người bệnh có cơn sốt rét run, lách
to.
- Viêm khớp do S. pneumoniae:
gặp ở người trẻ tuổi, thường chỉ bị một khớp sưng, đỏ, nóng, đau.
- Viêm màng não do S.
pneumoniae: là biến chứng hiếm gặp, dịch não tuỷ chứa nhiều S.
pneumoniae, glucose giảm, có ít bạch cầu đa nhân.
- Viêm phúc mạc: thường gặp ở trẻ
em. Sốc nhiễm trùng, mê sảng ở người nghiện rượu....
- Nhiễm khuẩn huyết: vi khuẩn vào
máu, có thể gây ra các ổ áp xe nhỏ ở các cơ quan khác.
- Sốc nhiễm trùng: trường hợp
nặng, thường xảy ra ở những người bệnh có cơ địa đặc biệt như đái tháo đường,
suy thận, suy tim… tình trạng sốc kéo dài có thể gây hội chứng suy đa phủ tạng.
3.6. Đặc điểm
lâm sàng của một số nguyên nhân thường gặp gây VPMPCĐ
3.6.1. Viêm phổi do S.
aureus
- Tiền sử: nhiễm trùng ngoài da,
đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, nhiễm virus cúm…
- Lâm sàng: Khởi đầu đột ngột, sốt
cao, rét run, mạch nhanh, khó thở, đau ngực, toàn thân suy sụp nhanh. Ho khạc
đờm nhầy mủ vàng. Khám phổi có ran ẩm, ran nổ rải rác, gõ đục.
- X-quang ngực: tổn thương phổi
lan tỏa và biến đổi nhanh, vùng tổn thương có nhiều ổ áp xe nhỏ.
- Chẩn đoán xác định nhờ cấy đờm,
cấy máu tìm thấy S. aureus.
3.6.2. Viêm phổi do Klebsiella
pneumoniae
- Bệnh xảy ra ở người già yếu,
nghiện rượu.
- Lâm sàng: Toàn thân mệt lả, có
thể kèm theo nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn. Sốt nhẹ, ho khạc đờm vàng hoặc
xanh hoặc đờm mủ.
- X-quang phổi: tổn thương lan
rộng nhiều thuỳ, có nhiều ổ áp xe nhỏ, rồi tạo nên ổ áp xe lớn, viền mỏng, có
mức nước. Thường có tràn mủ màng phổi kèm theo.
3.6.3. Viêm phổi do Pseudomonas
aeruginosa
- Viêm phổi do vi khuẩn này gặp 6
- 11% ở cộng đồng. Tỷ lệ tử vong cao: 31 - 90%.
- Pseudomonas có ngoại độc
tố A là loại độc tố mạnh.
- Chẩn đoán dựa vào tình trạng
người bệnh nhiễm độc: vẻ mặt lo âu, lú lẫn, sốt cao, rét run, mạch chậm. Ho
khạc đờm xanh hoặc vàng. Bạch cầu tăng cao. Rất hay gặp viêm phổi có tràn dịch
màng phổi.
- X-quang ngực: Tổn thương thâm
nhiễm lan tỏa hai bên phổi, thường kèm theo tràn dịch màng phổi và có nhiều ổ
áp xe nhỏ ở phổi.
- Cấy đờm, dịch phế quản, cấy máu
ra Pseudomonas aeruginosa
3.6.4. Viêm phổi do Burkholderia
pseudomallei
- B. pseudomallei sống
trong đất và nước bề mặt ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á và Bắc Australia.
Bệnh thường gặp vào mùa mưa. Tại Việt Nam, bệnh gặp tỷ lệ cao từ tháng 9 đến
tháng 11.
- Phương thức lây truyền chủ yếu
qua da khi tiếp xúc với đất hoặc nước bị nhiễm B. pseudomallei ở các
nước vùng nhiệt đới.
- Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất
của melioidosis (bệnh do B. pseudomallei) là đái tháo đường, nghiện
rượu, bệnh thận mạn tính và bệnh phổi mạn tính.
- Biểu hiện lâm sàng bao gồm các
thể cấp tính, bán cấp và mạn tính. Biểu hiện cấp tính bao gồm sốt cao, ho, khạc
đờm mủ, đau ngực kiểu màng phổi, ớn lạnh, sốt rét, suy hô hấp tiến triển nhanh,
có thể kèm theo nhiễm khuẩn huyết, ở các trường hợp nặng có thể xuất hiện sốc
nhiễm khuẩn, suy đa tạng và tử vong. Thể diễn biến bán cấp hoặc mạn tính thường
gặp ở những người bệnh không nằm trong vùng dịch tễ, melioidosis xuất hiện sau
khi người bệnh đã rời khỏi khu vực bệnh lưu hành, các triệu chứng có thể gặp
như ho, khạc đờm mủ, ho máu, sút cân và ra mồ hôi ban đêm, những đặc điểm này
dễ nhầm với lao phổi. Melioidosis mạn tính tiến triển thường chậm, các triệu
chứng có thể kéo dài từ 1 đến nhiều tháng.
- Xquang ngực: tổn thương rất đa
dạng, tổn thương phổi cấp tính có thể gặp: đông đặc một hoặc nhiều thùy, thâm
nhiễm rải rác, kính mờ, áp xe phổi, tràn dịch màng phổi, hạch trung thất, tổn
thương hoại tử dạng hang, các tổn thương có thể tiến triển rất nhanh. Trường
hợp melioidosis mạn tính có thể gặp các tổn thương dạng hang, đông đặc hoặc
thâm nhiễm thùy trên, các dải xơ, các nốt thâm nhiễm nhỏ giống tổn thương do
lao, có hạch trung thất nhưng hiếm khi canxi hóa và tràn dịch màng phổi đơn
thuần.
- Cấy đờm, dịch phế quản, cấy máu
ra B. pseudomallei
3.6.5. Viêm phổi ở người suy
giảm miễn dịch
- Người thiếu gamma globulin máu
dễ bị viêm phổi do S. pneumoniae, Haemophilus influenzae.
- Khi giảm bạch cầu trung tính
máu, thường bị viêm phổi do P. aeruginosa và S. aureus.
- Khi suy giảm miễn dịch qua trung
gian tế bào mà số lượng CD4 < 200/mL hay bị viêm phổi do P. jirovecii.
- Người nhiễm HIV hay bị viêm phổi
do P. jirovecii, do S. pneumoniae và H. influenzae.
- Viêm phổi do CMV ở người sử dụng
thuốc ức chế miễn dịch.
|
Những điểm cần nhớ:
1. Viêm phổi mắc phải ở cộng
đồng với các biểu hiện triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng đa dạng, các
triệu chứng biểu hiện từ mức độ nhẹ đến nặng, tùy thuộc vào căn nguyên vi
sinh, cơ địa của người bệnh...
2. Thực hành lâm sàng cần áp
dụng linh hoạt các thang điểm đánh giá mức độ nặng, các yếu tố nguy cơ của
người bệnh để phân loại mức độ nặng và đánh giá tiên lượng người bệnh VPMPCĐ.
3. Đánh giá mức độ nặng của bệnh
có vai trò quan trọng để quyết định nơi điều trị của người bệnh (ngoại trú,
nhập viện khoa nội, khoa điều trị tích cực) và phác đồ kháng sinh ban đầu điều
trị theo kinh nghiệm.
4. Các kỹ thuật chẩn đoán hình
ảnh như chụp X quang ngực, Chụp cắt lớp vi tính ngực và siêu âm lồng ngực là
các xét nghiệm cận lâm sàng được chỉ định trong chẩn đoán xác định, đánh mức
độ nặng, xác định biến chứng, định hướng căn nguyên vi sinh và theo dõi đáp
ứng điều trị của VPMPCĐ.
5. Chẩn đoán định hướng các tác
nhân vi sinh gây VPMPCĐ theo kinh nghiệm dựa vào kết quả nghiên cứu dịch tễ
về chủng loại vi khuẩn thường gây VPMPCĐ tại địa phương, bệnh cảnh lâm sàng,
mức độ nặng của bệnh và cơ địa của người bệnh.
6. Xét nghiệm tìm căn nguyên vi
sinh được chỉ định với các trường hợp người bệnh VPMPCĐ cần nhập viện điều
trị tại khoa nội hoặc khoa điều trị tích cực hoặc trong một số tình huống đặc
biệt (bảng ở trên).
|
CHƯƠNG 4. DƯỢC LÝ LÂM SÀNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH HỢP LÝ TRONG ĐIỀU TRỊ
VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG
4.1. Lựa
chọn kháng sinh dựa trên phổ kháng khuẩn
Lựa chọn kháng sinh theo kinh
nghiệm dựa trên tác nhân gây bệnh kết hợp với phổ kháng khuẩn của kháng sinh và
khả năng xâm nhập cơ quan đích (dịch lót biểu mô phế nang và đại thực bào phế
nang). Do các tác nhân vi khuẩn gây ra VPMPCĐ thường đồng mắc với virus và hiện
không có các test chẩn đoán nhanh và chính xác bệnh có nguyên nhân đơn độc do
virus hay không, nên bắt đầu phác đồ kháng sinh theo kinh nghiệm sớm ngay khi
nghi ngờ tác nhân vi khuẩn hoặc vi khuẩn đồng mắc với virus.
Ở những người bệnh VPMPCĐ mức độ
nhẹ điều trị ngoại trú, các vi khuẩn gây bệnh VPMPCĐ thường gặp bao gồm Streptococcus
pneumoniae, Haemophilus influenzae, Moraxella catarrhalis và
các vi khuẩn nội bào, trong đó, thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniae.
Tương ứng, ba nhóm kháng sinh phổ biến trong điều trị VPMPCĐ bao gồm: β-lactam,
macrolide và fluoroquinolon (FQ). Tình trạng gia tăng đề kháng làm hoạt tính
của β-lactam bị suy giảm nhưng đây vẫn là nhóm kháng sinh thể hiện hoạt tính
mạnh với S. pneumoniae và phần lớn các phác đồ VPMPCĐ theo kinh nghiệm
đều bao phủ vi khuẩn này. Khi nghi ngờ căn nguyên gây bệnh là các vi khuẩn nội
bào bao gồm Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae và Legionella
spp., có thể sử dụng kháng sinh macrolid (ví dụ: azithromycin, clarithromycin)
hoặc doxycyclin đơn độc có hoạt tính mạnh trên các vi khuẩn không điển hình.
Kháng sinh penicilin phổ hẹp trên S.
pneumoniae hoặc vi khuẩn nội bào không phù hợp ở những người bệnh có bệnh
lý đồng mắc (bệnh lý tim, phổi, gan, thận mạn tính, đái tháo đường, nghiện
rượu, bệnh lý ác tính) hoặc có các yếu tố nguy cơ kháng thuốc. Ở những đối
tượng này, H. influenzae và M. catarrhalis (thường sinh enzym
β-lactamase), trực khuẩn Gram âm và S. aureus là các nguyên nhân thường
gặp gây ra VPMPCĐ, vì vậy, phác đồ điều trị VPMPCĐ theo kinh nghiệm cần có phổ
kháng khuẩn rộng hơn. Theo đó, kháng sinh amoxicilin/acid clavulanic hoặc kháng
sinh cephalosporin thế hệ 3 đường uống có phổ trên phế cầu (cefpodoxim,
cefdinir, cefditoren) thường được khuyến cáo kết hợp với kháng sinh macrolid
hoặc doxycyclin để bao phủ các tác nhân gây bệnh không điển hình.
Kháng sinh FQ hô hấp
(levofloxacin, moxifloxacin) có phổ kháng khuẩn rộng bao phủ được cả S.
pneumoniae và vi khuẩn không điển hình, tuy nhiên cần dự trữ nhóm kháng
sinh này, không nên lựa chọn ban đầu cho các người bệnh ngoại trú không có bệnh
nền mắc kèm, không có các yếu tố nguy cơ nhiễm S. pneumoniae kháng thuốc
hoặc không có tiền sử sử dụng kháng sinh trong thời gian gần đây để giảm nguy
cơ kháng thuốc.
Ở những người bệnh VPMPCĐ mức độ
trung bình cần điều trị nội trú nhưng chưa cần nằm ICU, phác đồ kháng sinh cần
bao phủ rộng hơn các tác nhân gây bệnh, với nguy cơ cao kháng thuốc với các tác
nhân gây bệnh thông thường, phác đồ kháng sinh thường khuyến cáo bao gồm kháng
sinh beta-lactam +/- chất ức chế beta-lactamase (ampicillin/ sulbactam,
amoxicillin/acid clavulanic, cefotaxim, ceftriaxon, ceftarolin) kết hợp với
kháng sinh macrolid hoặc fluoroquinolon.
Ở những người bệnh VPMPCĐ mức độ
nặng cần điều trị tại ICU, nên cân nhắc sử dụng các phác đồ kết hợp kháng sinh
β-lactam với macrolid hoặc fluoroquinolon truyền tĩnh mạch. Việc cân nhắc phối
hợp macrolid hay fluoroquinolon nên dựa trên đánh giá cân bằng nguy cơ/lợi ích,
chi phí, tương tác thuốc và nguy cơ đề kháng. Khuyến cáo của Hiệp hội Vi sinh
lâm sàng và Bệnh truyền nhiễm Châu Âu (ESCMID) năm 2023, ưu tiên phác đồ phối
hợp kháng sinh β-lactam với macrolid (trong 3 - 5 ngày), hơn là fluoroquinolon
[81]. Bằng chứng từ một số nghiên cứu gần đây cho thấy, phác đồ phối hợp với
macrolid giúp tăng đáp ứng lâm sàng sớm và giảm tỷ lệ tử vong so với phối hợp
fluoroquinolon [92], [93]. Ngoài vai trò bao phủ tác nhân gây bệnh là vi khuẩn
không điển hình, lợi ích này của macrolid có thể liên quan đến tác dụng điều
biến miễn dịch của thuốc [92].
Trên người bệnh viêm phổi nặng cần
điều trị tại ICU, ngoài các tác nhân gây bệnh thường gặp, có thể cần cân nhắc
đến vai trò của vi khuẩn đa kháng thuốc như S. aureus kháng methicilin
(MRSA) và P. aeruginosa. Thang điểm PES phân tầng nguy cơ mắc các vi
khuẩn đa kháng thuốc thường gặp nhất trong VPMPCĐ (bao gồm P. aeruginosa,
MRSA và Enterobacteriaceae sinh ESBL) được áp dụng phổ biến trên thế
giới [94].
Bảng
4.1. Phân tầng nguy cơ mắc vi khuẩn kháng thuốc theo thang điểm PES
|
Tiêu chí
|
Điểm
|
|
Tuổi (năm)
|
|
|
<40
|
0
|
|
40 - 65
|
1
|
|
>65
|
2
|
|
Nam giới
|
1
|
|
Sử dụng kháng sinh gần đây
|
2
|
|
Bệnh phổi mạn tính (COPD hoặc
giãn phế quản)
|
2
|
|
Suy thận mạn
|
3
|
|
Ở phòng cấp cứu
|
|
|
Giảm nhận thức
|
2
|
|
Sốt
|
-1
|
Kết luận: Nguy cơ thấp: ≤1; Nguy cơ trung bình: 2-4; Nguy cơ cao: ≥5.
Dựa trên thang điểm này, phác đồ điều
trị kinh nghiệm có thể cân nhắc bổ sung kháng sinh có phổ tác dụng trên MRSA
(vancomycin, teicoplanin hoặc linezolid), kháng sinh β-lactam có hoạt tính trên
P. aeruginosa (ceftazidim, cefepim, piperacilin/tazobactam, imipenem,
doripenem hoặc meropenem) phối hợp với các kháng sinh nhóm khác có hoạt tính
trên vi khuẩn này (ciprofloxacin, levofloxacin, tobramycin hoặc amikacin). Các
vi khuẩn đa kháng thuộc họ Enterobacteriaceae như K. pneumoniae cũng
có thể là căn nguyên trong một số ít ca VPMPCĐ, phác đồ hướng đến vi khuẩn Gram
âm đường ruột (ertapenem, imipenem hoặc meropenem) hoặc trực khuẩn mủ xanh P.
aeruginosa (carbapenem nhóm 2, aminoglycosid) thường cũng bao phủ được các
tác nhân này [67].
Ceftarolin là một kháng sinh
cephalosporin mới có phổ kháng khuẩn bao phủ các tác nhân gây VPMPCĐ thường gặp
bao gồm các cầu khuẩn Gram dương hiếu khí (Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus
aureus) và họ trực khuẩn Gram âm Enterobacteriaceae không sinh
β-lactamase. Thuốc có hoạt lực mạnh chống lại các chủng Streptococcus
pneumoniae kháng penicillin và MRSA. Vì vậy, kháng sinh này có thể sử dụng
trong các trường hợp VPMPCĐ do các chủng S. pneumoniae đề kháng ở mức độ
cao với penicillin hoặc là lựa chọn thay thế cho vancomycin hay linezolid để điều
trị viêm phổi do MRSA tuy nhiên còn cần thêm các dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên có đối chứng.
4.2. Lựa
chọn và tối ưu hóa chế độ liều dựa trên đặc điểm dược động học/dược lực học và
chức năng thận của người bệnh
Tối ưu hóa chế độ liều kháng sinh
dựa trên đặc điểm dược động học/dược lực học (PK/PD) góp phần tăng hiệu quả điều
trị và giảm nguy cơ kháng thuốc. Dựa vào các đặc điểm PK/PD, các kháng sinh điều
trị VPMPCĐ được chia làm ba nhóm: phụ thuộc thời gian, phụ thuộc nồng độ và phụ
thuộc vào tổng lượng thuốc vào cơ thể [68-70].
Bảng
4.2. Phân loại nhóm kháng sinh theo đặc điểm PK/PD và đề xuất chiến lược tối ưu
liều
|
Nhóm kháng sinh phân loại
theo đặc điểm PK/PD
|
Thông số PK/PD đặc trưng
|
Nhóm kháng sinh hoặc thuốc cụ
thể
|
Chiến lược tối ưu hóa sử dụng
|
|
Phụ thuộc thời gian
|
Tỷ lệ % giữa thời gian kháng
sinh có nồng độ trong máu vượt quá giá trị MIC so với khoảng thời gian đưa
liều (%T>MIC)
|
β-lactam
Linezolid
|
Tăng liều
Tăng tần suất đưa thuốc trong
ngày
Cân nhắc truyền kéo dài hoặc
truyền liên tục trong trường hợp nhiễm khuẩn nặng hoặc trên người bệnh nặng
|
|
Phụ thuộc nồng độ
|
Tỷ lệ giữa nồng độ tối đa của
thuốc trong máu so với giá trị MIC (Cmax/MIC).
|
Aminoglycosid
|
Sử dụng liều tối đa có hiệu quả
kết hợp với giãn cách khoảng đưa liều để giảm thiểu độc tính
|
|
Phụ thuộc vào tổng lượng
thuốc vào cơ thể
|
Tỷ lệ giữa tổng lượng thuốc
trong cơ thể (tính bằng AUC) so với giá trị MIC (AUC/MIC)
|
Fluoroquinolon
Macrolid
Vancomycin
|
Tăng tổng liều trong 24 giờ
|
Chế độ liều kháng sinh cần hiệu
chỉnh dựa trên chức năng thận của người bệnh. Việc hiệu chỉnh liều đặc biệt
quan trọng với các kháng sinh có khoảng điều trị hẹp, những người bệnh đang sử
dụng đồng thời các thuốc khác cũng có độc tính trên thận hoặc đang có các bệnh
lý thận hoặc bệnh nền tăng nguy cơ độc tính trên thận. Thông tin chi tiết về
liều dùng và hiệu chỉnh liều ở người bệnh suy thận của các kháng sinh sử dụng
trong điều trị VPMPCĐ được trình bày trong Phụ lục 1 [71-73].
Khả năng xâm
nhập của kháng sinh vào cơ quan đích cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn
kháng sinh mặc dù thông số này không dễ dàng xác định trên người bệnh. Khả năng
này phụ thuộc vào đặc điểm của kháng sinh (ví dụ: tính thân lipid, kích thước
phân tử thuốc) và đặc điểm của mô đích (như hệ tưới máu tại mô đích, có hoặc
không có tình trạng viêm, áp xe) [70]. Trong VPMPCĐ, cơ quan đích kháng sinh
cần xâm nhập là dịch lót biểu mô phế nang (với vi khuẩn ngoại bào) và đại thực
bào phế nang (với vi khuẩn nội bào). Chi tiết tỷ lệ nồng độ kháng sinh trong
dịch lót biểu mô phế nang so với nồng độ trong huyết thanh được trình bày trong
Phụ lục 2 [68].
Hai nhóm
kháng sinh được kê đơn phổ biến trong điều trị VPMPCĐ là macrolid và FQ đều
tiềm tàng nguy cơ tương tác với nhiều nhóm thuốc khác, thông qua cơ chế tương
tác dược động học (ức chế hệ enzyme CYP450 chuyển hoá thuốc) và dược lực học
(kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ). Linezolid là một chất ức chế yếu
monoaminoxidase (MAO) cũng có khả năng cao tương tác khi kết hợp với các thuốc
tác động trên hệ serotonergic, dẫn đến nguy cơ xảy ra hội chứng serotonin (tăng
thân nhiệt, tăng phản xạ, có thể dẫn đến hôn mê).
Chi tiết các
tương tác thuốc ở mức độ chống chỉ định liên quan đến kháng sinh điều trị
VPMPCĐ, kèm theo hậu quả và cách xử trí của các cặp tương tác này được trình
bày trong Phụ lục 3 [73, 74].
Người bệnh
VPMPCĐ điều trị nội trú có thể chuyển đổi kháng sinh đường tĩnh mạch sang các
kháng sinh đường uống tương đương sau khi có cải thiện về mặt lâm sàng hoặc cắt
sốt. Chuyển đổi đường tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO) giúp gồm giảm chi phí
điều trị, giảm thời gian nằm viện, giảm các tai biến liên quan đến việc sử dụng
thuốc qua đường tĩnh mạch và dễ sử dụng hơn cho người bệnh. Các điều kiện lâm
sàng của người bệnh cho phép chuyển đổi từ đường tĩnh mạch sang đường uống bao
gồm [75].
●
Nhiệt độ ≤ 37,8ºC
● Nhịp tim ≤
100 lần/phút
● Nhịp thở ≤
24 lần/phút
● Huyết áp tâm
thu ≥ 90 mmHg
● Bão hòa oxy
máu động mạch (SaO2) ≥ 90% hoặc PO2 ≥ 60 mmHg ở điều kiện
khí phòng
● Có khả năng
ăn uống
● Sức khỏe tâm
thần bình thường
Tùy theo đặc
điểm dược động học, các kháng sinh chuyển đổi đường tĩnh mạch sang đường uống
có thể được chia thành 04 nhóm tương ứng với các nguyên tắc chuyển đổi riêng (Bảng
4.3).
Bảng 4.3.
Hướng dẫn chuyển đổi đường tĩnh mạch/đường uống với một số nhóm kháng sinh
|
Nhóm
|
Định nghĩa
|
Kháng sinh
|
|
Nhóm 1
|
Kháng sinh có sinh
khả dụng đường uống cao (>90%), hấp thu tốt và dung nạp tốt ở liều tương
tự liều đường tiêm
|
Co-trimoxazol
Levofloxacin
Linezolid
Moxifloxacin
|
|
Nhóm 2
|
Kháng sinh có sinh
khả dụng đường uống thấp hơn (70-80%) nhưng có thể bù trừ bằng tăng liều của
kháng sinh uống
|
Ciprofloxacin
|
|
Nhóm 3
|
Kháng sinh có sinh
khả dụng đường uống cao (>90%) nhưng có liều tối đa đường uống thấp hơn so
với liều đường tiêm (do dung nạp tiêu hóa kém)
|
Amoxicillin
Cephalexin
Clindamycin
|
|
Nhóm 4
|
Kháng sinh có sinh
khả dụng đường uống thấp hơn và liều tối đa thấp hơn đường tiêm
|
Cefuroxim
|
Đối với
kháng sinh thuộc nhóm 1, 2: có thể sử dụng đường uống với các nhiễm khuẩn không
đe dọa tính mạng, người bệnh có huyết động ổn định và không có vấn đề về hấp
thu, mặt khác có thể sử dụng trong chuyển tiếp đường tĩnh mạch/đường uống nếu
đáp ứng điều kiện lâm sàng.
Đối với
kháng sinh thuộc nhóm 3, 4, có thể chuyển tiếp đường tĩnh mạch/đường uống theo
nguyên tắc: nhiễm khuẩn cơ bản đã được giải quyết bằng kháng sinh đường tĩnh
mạch ban đầu, do đó nồng độ kháng sinh trong huyết thanh khi dùng đường uống dù
thấp hơn so với khi dùng đường tĩnh mạch nhưng cũng có thể tiếp tục duy trì
hiệu quả của liệu pháp kháng sinh [76].
Hướng dẫn
chi tiết về liều dùng của kháng sinh khi chuyển đổi đường tĩnh mạch/đường uống
được trình bày trong (Bảng 4.4).
Bảng 4.4.
Hướng dẫn chuyển đổi đường tĩnh mạch/đường uống với một số kháng sinh
|
Kháng sinh tĩnh mạch
|
Kháng sinh đường uống
|
|
Penicilin G 2 MIU
(hoặc 1,2 g) mỗi 6 giờ
|
Amoxicilin 1 g mỗi 8
giờ
|
|
Amoxicilin/acid
clavulanic 1000 mg/200 mg mỗi 8 giờ
|
Amoxicilin/acid
clavulanic 875 mg/125 mg mỗi 8-12 giờ
|
|
Ampicillin 1-2 g mỗi
6 giờ
Ampicillin/sulbactam (liều
theo ampicillin)
|
Amoxicillin 1000 mg
mỗi 8 giờ
Hoặc amoxicillin/acid
clavulanic 875 mg/125 mg mỗi 8-12 giờ
|
|
Cloxacillin 1 g mỗi 6
giờ
|
Cloxacillin 500 mg
mỗi 6 giờ
|
|
Cefazolin 2 g mỗi 8
giờ
|
Cefalexin 500 mg mỗi
6 giờ
|
|
Cefotaxim 1-2 g mỗi 8
giờ
|
Amoxicilin 1000 mg
mỗi 8 giờ
Hoặc amoxicillin/acid
clavulanic 875 mg/125 mg mỗi 8-12 giờ
Hoặc cephalosporin
thế hệ 3 đường uống (cefpodoxim 200 mg mỗi 12 giờ hoặc cefditoren 400 mg mỗi
12 giờ)
|
|
Ceftriaxon 1-2g mỗi
24 giờ
|
Amoxicilin 1000 mg
mỗi 8 giờ
Hoặc amoxicillin/acid
clavulanic 875 mg/125 mg mỗi 8-12 giờ
Hoặc cephalosporin
thế hệ 3 đường uống (cefpodoxim 200 mg mỗi 12 giờ hoặc cefditoren 400 mg mỗi
12 giờ)
|
|
Ceftazidim hoặc
cefepim (2g mỗi 8 giờ)
|
Ciprofloxacin (750 mg
mỗi 12 giờ) hoặc levofloxacin (500 mg mỗi 12 giờ hoặc 750mg mỗi 24 giờ)
|
|
Azithromycin 500mg
mỗi 24 giờ
|
Azithromycin 500mg
mỗi 24 giờ
|
|
Clarithromycin 500 mg
mỗi 12 giờ
|
Clarithromycin 500 mg
mỗi 12 giờ hoặc 500 mg mỗi 24 giờ (dạng giải phóng kéo dài)
|
|
Gentamicin 5 mg/kg
mỗi 24 giờ
|
Ciprofloxacin 500 mg
mỗi 12 giờ (750 mg mỗi 12 giờ cho P. aeruginosa)
|
|
Tobramycin 5 mg/kg
mỗi 2 4 giờ
|
Ciprofloxacin 750 mg
mỗi 12 giờ (cho P. aeruginosa)
|
|
Ciprofloxacin 400mg
mỗi 12 giờ
|
Ciprofloxacin 500mg
mỗi 12 giờ
|
|
Levofloxacin 500 mỗi
12 giờ hoặc 750mg mỗi 24 giờ
|
Levofloxacin 500 mỗi
12 giờ hoặc 750mg mỗi 24 giờ
|
|
Moxifloxacin 400mg
mỗi 24 giờ
|
Moxifloxacin 400mg
mỗi 24 giờ
|
|
Vancomycin (liều theo
khuyến cáo)
|
Linezolid 600mg mỗi
12 giờ
|
|
Linezolid 600mg mỗi
12 giờ
|
Linezolid 600mg mỗi
12 giờ
|
|
Clindamycin 600mg mỗi
8 giờ
|
Clindamycin 300 - 450
mg mỗi 6 giờ
|
|
Metronidazol 500 mg
mỗi 8 giờ
|
Metronidazol 500 mg
mỗi 8 giờ
|
|
Sulfamethoxazol/trimethoprim
5-20 mg/kg/ngày (chia liều mỗi 6-12 giờ) (liều tính theo trimethoprim)
|
Sulfamethoxazol/trimethoprim
5-20 mg/kg/ngày (chia liều mỗi 6-12 giờ) (liều tính theo trimethoprim)
|
|
Những điểm cần nhớ:
- Lựa chọn kháng sinh
theo kinh nghiệm dựa trên tác nhân nghi ngờ gây bệnh kết hợp với phổ kháng
khuẩn của kháng sinh, khả năng xâm nhập của thuốc vào cơ quan đích (dịch lót
biểu mô phế nang hoặc đại thực bào phế nang) và đặc điểm của người bệnh (nguy
cơ nhiễm vi khuẩn kháng thuốc hoặc đối tượng người bệnh đặc biệt…)
- Tối ưu hóa chế độ
liều kháng sinh dựa trên đặc điểm dược động học/dược lực học (PK/PD). Các
kháng sinh được chia làm 3 nhóm: phụ thuộc thời gian (β-lactam, linezolid),
phụ thuộc nồng đồ (aminoglycosid) và phụ thuộc tổng lượng thuốc vào cơ thể
(fluoroquinolon, macrolid, vancomycin). Chế độ liều cần hiệu chỉnh dựa trên
chức năng thận của người bệnh.
- Lưu ý các tương tác
thuốc của kháng sinh với các thuốc khác khi dùng, đặc biệt là fluoroquinolon,
macrolid và linezolid.
- Chuyển đổi kháng
sinh đường tĩnh mạch sang đường uống khi có cải thiện về mặt lâm sàng hoặc
cắt sốt.
|
CHƯƠNG
5. ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG
Đạt hiệu quả
lâm sàng tối ưu:
-
Khỏi
bệnh, tránh biến chứng, giảm tỷ lệ nhập viện và thời gian nằm viện
-
Giảm
tỷ lệ tử vong
-
Tránh
kháng thuốc
- Cải thiện
chất lượng cuộc sống
Nhiều hướng
dẫn điều trị VPMPCĐ trên thế giới phân tầng người bệnh dựa vào yếu tố nguy cơ
mắc vi khuẩn kháng thuốc, bệnh đồng mắc, khả năng vi khuẩn gây bệnh và mức độ
nặng của bệnh [65].
Tuân thủ các
nguyên tắc điều trị kháng sinh giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu
nguy cơ biến chứng [65, 77]:
-
Cần
điều trị kháng sinh sớm trong 4 giờ đầu nhập viện dựa theo kinh nghiệm, khi có
kết quả nuôi cấy và kháng sinh đồ cần điều chỉnh theo kháng sinh đồ và đáp ứng
lâm sàng của người bệnh. Tránh dùng kháng sinh phổ rộng nếu không cần thiết.
-
Sử
dụng kháng sinh theo dược động học và dược lực học, hiệu chỉnh liều theo mức
lọc cầu thận.
-
Lấy
bệnh phẩm (nhuộm Gram và cấy đờm, cấy máu) trước khi điều trị kháng sinh ở
người bệnh nhập viện.
-
Nên
chọn thuốc diệt khuẩn, đặc biệt đối với người bệnh có bệnh lý đồng mắc nặng
và/hoặc suy giảm miễn dịch [78].
-
Người
bệnh nhập viện nên bắt đầu với kháng sinh đường truyền tĩnh mạch, đủ liều. Sau
vài ngày có thể chuyển sang uống nếu có đáp ứng lâm sàng.
- Thời gian điều
trị tùy theo bệnh cảnh lâm sàng và X-quang ngực, thường 3-5 ngày sau khi hết
sốt đối với S. pneumoniae. Thời gian điều trị kháng sinh trung bình từ 7
- 10 ngày đối với VPMPCĐ không biến chứng. Nếu do Legionella, Chlamydia thời
gian tối thiểu 2-3 tuần. Người bệnh sử dụng thuốc ức chế miễn dịch và điều trị
lâu dài corticoid: > 14 ngày.
-
Đánh
giá điều trị sau 48-72 giờ, nếu tình trạng lâm sàng không cải thiện hoặc xấu
hơn cần thay đổi phác đồ.
-
Chuyển
sang đường uống khi người bệnh cải thiện ho, khó thở, hết sốt 2 lần cách 8 giờ
và người bệnh uống được.
-
Xuất
viện: khi ổn định lâm sàng và chuyển sang kháng sinh uống cho đủ liệu trình.
Khi lựa chọn
kháng sinh theo kinh nghiệm, nên cân nhắc phổ vi khuẩn và mức độ kháng thuốc
theo dịch tễ tại bệnh viện và khu vực, dựa trên kháng sinh đồ hiện có, để tăng
hiệu quả điều trị ban đầu và hạn chế kháng thuốc.
Điều trị kháng sinh ban đầu theo kinh nghiệm
nên hướng đến những tác nhân thường gặp ngoài cộng đồng như S. pneumoniae,
H. influenzae và M. catarrhalis. Kháng sinh có hiệu quả là betalactam/ức
chế beta-lactamase +/- macrolid hay quinolone hô hấp (levofloxacin,
moxifloxacin) [65, 77].
Trước khi lựa chọn phác đồ điều trị cần
đánh giá và phân loại người bệnh theo các mức độ nặng và nhóm nguy cơ. (Xem chi
tiết trong Chương 3: Chẩn đoán viêm phổi mắc phải cộng đồng).
5.3.1. Người
bệnh VPMPCĐ mức độ nhẹ, điều trị ngoại trú
Nguyên nhân thường gặp: S. pneumoniae,
M. pneumoniae, C. pneumoniae (một mình hay nhiễm trùng kết hợp), H.
influenzae, virus hô hấp [65, 77, 79].
●
Người
bệnh < 65 tuổi, không có bệnh đi kèm, không dùng kháng sinh trong 3 tháng
trước hay không có các yếu tố nguy cơ mắc mầm bệnh kháng kháng sinh: ampicillin
hay amoxicillin hướng đến S. pneumoniae hoặc macrolid thế hệ mới
(clarithromycin, azithromycin) khi chưa loại trừ M. pneumoniae. Tuy
nhiên, không khuyến cáo macrolid đơn trị thường quy tại khu vực có tỷ lệ S.
pneumoniae kháng macrolid cao hoặc khi không có dữ liệu kháng thuốc địa phương.
Có thể dùng:
Amoxicillin 1g x 3 lần/ngày hoặc doxycyclin 100mg x 2 lần/ngày hoặc macrolid:
azithromycin (uống) 500mg ngày đầu, sau đó 250mg ở những ngày tiếp theo (hoặc
500 mg/ngày trong 3 ngày) hoặc clarithromycin (uống) 500mg 2 lần/ngày hoặc
clarithromycin phóng thích chậm 1g 1 lần/ngày.
Nếu nhiều
khả năng H. influenzae nên dùng beta lactam + ức chế beta-lactamase
đường uống (amoxicillin/acid clavulanic) vì gần 50% H. influenzae tiết
beta-lactamase tại Việt Nam. Nhóm người bệnh này hạn chế dùng quinolon hô hấp
ngoại trừ người bệnh dị ứng với beta lactam hay macrolid.
●
Người
bệnh > 65 tuổi, có bệnh đồng mắc (bệnh tim, phổi, bệnh gan, bệnh thận mạn
tính, đái tháo đường, nghiện rượu, ung thư), suy giảm miễn dịch, đã dùng kháng
sinh 3 tháng trước hoặc nguy cơ S. pneumoniae kháng thuốc hoặc trong
vùng dịch tễ S. pneumoniae kháng macrolid cao (MIC ≥ 16µg/mL) [78].
Những nguyên nhân thường gặp trong nhóm
người bệnh này ngoài những vi khuẩn thông thường như trên, cần lưu ý đến PRSP,
H. influenzae và M. catarrhalis (thường sinh men beta-lactamase), S. aureus,
vi khuẩn gram âm đường ruột, vi khuẩn không điển hình, virus hô hấp.
Kháng sinh
chọn lựa gồm [55, 65, 77]:
-
Phối
hợp beta lactam/ức chế beta-lactamase (amoxicillin/acid clavulanic) hoặc
cephalosporin phổ rộng (cefpodoxim, cefdinir, cefditoren) + macrolid thế hệ
mới/doxycyclin; hoặc
-
Quinolone
hô hấp (levofloxacin, moxifloxacin) đơn trị liệu.
Bổ sung
thuốc kháng virus, như oseltamivir cho người bệnh VPMPCĐ có kết quả xét nghiệm
dương tính với cúm, không phụ thuộc vào thời gian bệnh trước khi chẩn đoán.
Những người bệnh này nếu toàn trạng suy kiệt, X quang ngực có những tổn thương
nặng (thâm nhiễm > 1 thuỳ, tổn thương hoại tử, tràn dịch màng phổi, tổn thương
tiến triển trong 48-72 giờ) thì nên cho người bệnh nhập viện điều trị nội trú
với kháng sinh đường tĩnh mạch, mặc dù thang điểm PSI hay CURB-65 chưa đủ tiêu
chuẩn nhập viện.
5.3.2. Người
bệnh VPMPCĐ nhập viện
Những người
bệnh nặng cần làm ngay xét nghiệm đờm (nhuộm gram, cấy) trước khi điều trị
kháng sinh. Cần làm thêm xét nghiệm nhanh như multiplex PCR để phát hiện vi
khuẩn, nấm, virus nhằm hướng dẫn điều trị kháng sinh.
Người bệnh
nặng cần làm PCT (khi nhập viện, sau 48-72 giờ và sau 5-7 ngày) để giúp giảm
thời gian điều trị và xuống thang kháng sinh. CRP thay thế PCT ở những nơi
không có xét nghiệm này.
Người bệnh
giảm oxy máu cần thở HFNC hay NIV nếu có điều kiện thay vì oxy tiêu chuẩn nhằm
tránh đặt nội khí quản và giảm tử vong.
Kháng virus
kết hợp (oseltamivir) nếu test nhanh (+).
Nhóm người
bệnh nhập viện được chia làm 2 nhóm, nằm tại khoa nội/hô hấp/truyền nhiễm và
ICU.
5.3.2.1. Nhóm
người bệnh VPMPCĐ trung bình - nặng nằm tại khoa nội/khoa hô hấp/truyền nhiễm
Những tác
nhân thường gặp: S. pneumoniae (PRSP), H. influenzae, M. pneumoniae, C.
pneumoniae, nhiễm trùng kết hợp, Gram âm đường ruột, vi khuẩn yếm khí do
hít, virus, Legionella. Điều trị phối hợp beta lactam +/- ức chế
beta-lactamase (amoxicillin/acid clavulanic; ampicillin, amoxicillin/sulbactam),
kháng sinh cephalosporin (cefotaxim, ceftriaxon, ceftarolin nếu nghi ngờ PRSP
hoặc MRSA) ± macrolid (azithromycin, clarithromycin) hoặc quinolon hô hấp
đơn trị (levofloxacin, moxifloxacin). Cần xét nghiệm chẩn đoán lao cho những
trường hợp nghi ngờ.
Trường hợp
người bệnh nặng, quinolone hô hấp không dùng đơn trị mà kết hợp betalactam như
trên.
Nên lưu ý
tác nhân vi khuẩn gram âm đường ruột, P. aeruginosa nếu có yếu tố nguy
cơ nhiễm tác nhân này và điều trị nên bao phủ luôn tác nhân không điển hình.
Nên dùng kháng sinh đường truyền tĩnh mạch beta lactam/ức chế beta-lactamase
piperacillin/tazobactam, ceftazidim, cefepim kết hợp macrolid hay quinolon.
5.3.2.2. Nhóm người bệnh VPMPCĐ
nặng nhập ICU, nguy cơ vi khuẩn đa kháng
Những
trường hợp rất nặng, cần nằm ở trung tâm hô hấp, các khoa hô hấp có nguồn lực
về cấp cứu, ICU, người bệnh có nguy cơ tử vong cao như có suy hô hấp cần thở
máy hay sốc nhiễm khuẩn.
Sử dụng thêm
corticoid khi có dấu hiệu viêm phổi nặng (khuyến cáo nên sử dụng sớm trong 24h
đầu khi khởi phát các dấu hiệu nặng) hoặc khi có sốc, nên xét nghiệm cúm và
Covid trước khi quyết định điều trị. Liều khởi đầu: hydrocortisone
hemisucccinate 200mg/ngày hoặc methylprednisolone 0.5mg/kg mỗi 12 giờ, đánh giá
sau 4 ngày để quyết định giảm liều với tổng thời gian điều trị từ 8-14 ngày
[96].
Vi khuẩn gây bệnh cần hết sức lưu ý nguy
cơ nhiễm S. aureus và P. aeruginosa.
Kháng sinh
cần sử dụng là carbapenem thế hệ 1 (không bao phủ Pseudomonas) hay thế
hệ 2 kết hợp fluoroquinolon hay macrolid +/- thuốc bao phủ S. aureus nếu
chưa loại trừ (vancomycin, teicoplanin, linezolid). Ưu tiên kết hợp beta lactam
phổ rộng (cephalosporin thế hệ 3, 4, 5 như ceftriaxon, ceftazidim, cefepim,
ceftarolin) với macrolid.
Khi nghi ngờ P. aeruginosa, nên
phối hợp beta lactam +/- ức chế beta-lactamase chống Pseudomonas kết hợp
quinolon chống Pseudomonas hay aminoglycosid (Bảng 5.1) [1,7].
Bảng 5.1.
Những điểm cần nhớ điều trị VPMPCĐ
|
Người bệnh VPMPCĐ mức
độ nhẹ ngoại trú:
- Amoxicillin
đơn thuần hay kết hợp với ức chế beta-lactamase (nếu nghi ngờ H.
influenzae, M. catarrhalis): amoxicillin/acid clavulanic. Nếu nhiều khả
năng VK không điển hình thì chọn azithromycin hay clarithromycin.
- Quinolone
hô hấp (levofloxacin, moxifloxacin) nếu dị ứng với betalactam.
- Nếu nghi
ngờ S. pneumoniae kháng thuốc: amoxicillin liều cao hoặc quinolon hô
hấp.
- BN lớn
tuổi có bệnh đồng mắc, suy giảm miễn dịch: kết hợp betalactam/ức chế beta-
lactamase hoặc cephalosporin phổ rộng (cefpodoxim, cefdinir, cefditoren...)
và macrolid; hoặc quinolon hô hấp đơn trị.
|
|
Người bệnh VPMPCĐ
trung bình, nặng nội trú, không nằm ICU
- Beta
lactam +/- ức chế beta-lactamase (amoxicillin/acid clavulanic; ampicillin,
amoxicillin/sulbactam), kháng sinh cephalosporin (cefotaxim, ceftriaxon,
ceftarolin), ertapenem + macrolid/quinolon truyền tĩnh mạch (TTM). Lưu ý ưu
tiên truyền kháng sinh tĩnh mạch, tránh không tiêm kháng sinh tĩnh mạch để
giảm nguy cơ tai biến khi tiêm truyền. Những người bệnh có nguy cơ nhiễm P.
aeruginosa cần chọn những beta lactam chống Pseudomonas.
- Quinolone
hô hấp (moxifloxacin, levofloxacin) +/- beta lactam như trên.
|
|
Người bệnh VPMPCĐ mức
độ nặng, nằm ICU
Beta Lactam phổ rộng
+/- ức chế beta-lactamase, ertapenem, ceftazidim, ceftriaxon, cefepim,
ceftarolin … kết hợp macrolid hay quinolone TTM.
Nếu có nguy cơ nhiễm
Pseudomonas:
- Một beta
lactam chống Pseudomonas [piperacillin/tazobactam, ceftazidim,
cefepim, imipenem, meropenem, doripenem] + ciprofloxacin hoặc levofloxacin.
- Betalactam
kể trên + 1 kháng sinh aminoglycosid và azithromycin/clarithromycin.
Nếu có nguy cơ nhiễm
S. aureus kháng methicillin cộng đồng (CA-MRSA):
- Thêm
vancomycin, teicoplanin hay linezolid
|
5.4. Điều trị khi có kết quả vi sinh
5.4.1.
Vi
khuẩn có kết quả kháng sinh đồ
Dựa vào
kháng sinh đồ. Nếu người bệnh có đáp ứng điều trị tốt thì không cần thay đổi
kháng sinh đang sử dụng mặc dù kháng sinh đồ cho kết quả kháng sinh đang dùng
bị đề kháng. Dựa vào kháng sinh đồ có thể xuống thang kháng sinh nếu có thể
được.
5.4.1.1. Streptococcus
pneumoniae
-
Điều
trị cho đến khi người bệnh không còn sốt 3-5 ngày (tối thiểu 5 ngày).
-
Do
có sự gia tăng tỷ lệ đề kháng nên kháng sinh macrolid cần được thử nghiệm kháng
sinh đồ trước khi sử dụng điều trị.
|
Đặc điểm nhạy cảm
kháng sinh
|
Lựa chọn
đầu tay
|
Lựa chọn
khác
|
|
Nhạy cảm Penicillin
(MIC ≤ 2µg/ml)
|
Có thể lựa chọn kháng
sinh tĩnh mạch hoặc uống
▪ Kháng sinh
tĩnh mạch
Penicillin G 2MIU
truyền tĩnh mạch (TTM) mỗi 4h
Hoặc ceftriaxon
1-2g TTM mỗi 24h
Hoặc cefotaxim
2g TTM mỗi 8h
▪ Kháng sinh
uống
Amoxicillin 1g uống 3
lần/ngày
Hoặc doxycyclin
100mg uống 2 lần/ngày.
|
Nếu dị ứng
Beta-lactam
Moxifloxacin 400mg
U/TTM mỗi 24h Hoặc levofloxacin 750mg U/TTM mỗi 24h.
Hoặc linezolid
600mg uống/TTM mỗi 12h
Hoặc clindamycin
600mg TTM mỗi 8h.
|
|
Trung gian hoặc đề kháng
với Penicillin (MIC > 4µg/ml)
|
Vancomycin 15-20mg/kg
TTM 8-12h (đặc biệt là trong các trường hợp MIC Penicillin ≥ 8 µg/ml).
Hoặc ceftarolin
600mg TTM mỗi 12h
|
|
5.4.1.2. Haemophilus
influenzae và Moraxella catarrhalis
-
Thời
gian điều trị: 5-7 ngày
-
Người
bệnh có thể chuyển sang điều trị thuốc uống khi lâm sàng cải thiện và người
bệnh có thể uống được.
|
Đặc điểm nhạy cảm
kháng sinh
|
Lựa chọn
đầu tay
|
Lựa chọn
khác
|
|
Nhạy cảm với
Ampicillin, Amoxicillin (beta- lactamase âm tính)
|
Ampicillin 2g truyền
tĩnh mạch (TTM) mỗi 6h
Hoặc amoxicillin
1g uống mỗi 8h.
|
Cotrimoxazol
(TMP-SMX) 5-10mg/kg (liều dựa trên trimethoprim, TMP) TTM/uống mỗi 12h
Hoặc doxycyclin
100mg uống 2 lần/ngày
Hoặc azithromycin
500mg x 1 lần vào ngày 1, sau đó 250mg lần/ngày x 4 ngày (hoặc 500 mg/ngày
trong 3 ngày)
Hoặc ciprofloxacin
400mg TM mỗi 12h (hoặc 500mg uống 2 lần/ngày)
Hoặc levofloxacin
750mg uống/TM mỗi 24h
|
|
Kháng Ampicillin,
Amoxicillin (beta- lactamase dương tính)
|
Ceftriaxon 1g TTM mỗi
12h
Hoặc amoxicillin/acid
clavulanic 875/125 mg uống 2 lần/ngày.
|
5.4.1.3. Klebsiella
pneumoniae
Những trường
hợp trung bình - nặng cần điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch.
|
Đặc điểm nhạy cảm
kháng sinh
|
Lựa chọn
đầu tay
|
Lựa chọn
khác
|
|
Nhạy cảm với 1 trong
các nhóm KS:
Cephalosporin thế hệ 3(ESBL
âm tính)
Beta-lactam phối hợp
với ức chế beta- lactamase Quinolon
|
Ceftriaxon 1g TTM mỗi
12h
Hoặc Piperacillin/tazobactam
3,375g - 4,5 g liều tải TTM trong 30 phút, lặp lại mỗi 6h
Hoặc ciprofloxacin
400mg TTM mỗi 12h
Hoặc levofloxacin
750mg TTM mỗi 24h (hoặc 500 mg TTM mỗi 12 h)
|
TMP-SMX TTM
10mg/kg/ngày (tính theo TMP) chia 2-3 lần.
Hoặc Amoxicillin/acid
clavulanic 1,2-2,4g TM mỗi 8h
Hoặc gentamicin
hoặc tobramycin 7mg/kg mỗi 24h, amikacin liều 15-20 mg/kg (điều chỉnh liều
theo chức năng thận, nếu có điều kiện chỉnh liều theo định lượng nồng độ
thuốc trong máu).
|
|
Kháng sinh đường
uống:
Ciprofloxacin 500mg
uống mỗi 12h
Hoặc levofloxacin
750mg uống mỗi 24h (hoặc 500 mg uống mỗi 12 h)
|
|
Đề kháng với các nhóm
KS:
Cephalosporin thế hệ 3
(ESBL âm hoặc dương)
Beta-lactam phối hợp
với ức chế beta- lactamase Quinolon
VÀ nhạy cảm
với carbapenem
|
Vi khuẩn ESBL (-):
Cefepim 1-2g TTM mỗi
8h
Vi khuẩn ESBL (+):
Ertapenem 1g TTM mỗi
24h Hoặc imipenem 0,5g TTM mỗi 6h
Hoặc Meropenem
1g TTM mỗi 8h
Lưu ý: Các chủng
vi khuẩn sinh men ESBL có thể nhạy cảm piperacillin/tazobactam in vitro nhưng
không đáp ứng điều trị, do đó không khuyến cáo sử dụng.
|
|
5.4.1.4. Pseudomonas
aeruginosa
Lựa chọn
kháng sinh điều trị thay đổi theo kết quả nhạy cảm kháng sinh, độ nặng của bệnh
và tình trạng miễn dịch của người bệnh [59, 65, 77, 80]:
-
Đơn
trị liệu: đối với người bệnh có huyết động hoặc nồng độ oxy máu
thích hợp.
-
Phối
hợp kháng sinh: khi người bệnh có hạ huyết áp, khó duy trì
nồng độ oxy máu thích hợp; kết quả cấy ra Pseudomonas nhưng không có kết
quả kháng sinh đồ; và kháng sinh đồ tích lũy cho thấy tỷ lệ vi khuẩn đa kháng
thuốc ≥ 10-15%.
|
Đặc điểm nhạy cảm
kháng sinh
|
Lựa chọn
đầu tay
|
Lựa chọn
khác
|
|
Nhạy cảm với nhiều
nhóm kháng sinh
|
Đơn trị liệu với một
trong các kháng sinh:
Piperacillin/tazobactam
4,5g TTM liều tải, sau đó 4h: 4,5g TTM mỗi 6h
Hoặc ceftazidim
2g TTM mỗi 8h
Hoặc cefepim 2g
TTM mỗi 12h
Hoặc meropenem
1- 2 g TTM mỗi 8h.
|
Levofloxacin 750mg
truyền TM mỗi 24h (hoặc 500 mg TTM mỗi 12 h)
Hoặc ciprofloxacin
400mg truyền TM mỗi 8h
Hoặc imipenem/cilastatin
1g truyền TTM mỗi 8h
Đối với người bệnh dị
ứng beta- lactam nặng qua trung gian IgE aztreonam 2g TTM mỗi 6h.
|
|
Kháng với
ceftazidime, cefepime
(có thể do men
beta-lactamase)
|
Meropenem 1-2 g TTM
mỗi 8h
Hoặc ceftazidim/avibactam
2,5g TTM mỗi 8h
|
Ceftolozan/tazobactam
3g TTM (trong 1h) mỗi 8h. Hoặc imipenem/cilastatin/relebactam
1,25 g TTM mỗi 6h.
|
Lưu ý:
-
Pseudomonas
aeruginosa có thể phát sinh đề kháng kháng sinh trong quá trình điều
trị, cần cấy kiểm tra sau khi dùng kháng sinh 72 giờ [80].
-
Đối
với các trường hợp viêm phổi do Pseudomonas trên người bệnh xơ nang
(cystic fibrosis), FDA chấp nhận phun khí dung dự phòng với:
+ Colistin
50-75mg (1,5-2,25 MUI), 2 lần/ngày
+ Tobramycin
300mg, 2 lần/ngày
+ Aztreonam
75mg, 3 lần/ngày
5.4.1.5. Staphylococcus
aureus [59, 65, 77]
- Thời gian điều trị: 7-14 ngày,
nếu người bệnh có nhiễm khuẩn huyết có thể điều trị kéo dài đến 4 tuần.
|
Đặc điểm nhạy cảm
kháng sinh
|
Lựa chọn
đầu tay
|
Lựa chọn
khác
|
|
MSSA
|
Theo kháng sinh đồ
Hoặc oxacillin
2g TTM mỗi 4h.
Ceftarolin: 600mg mỗi
12 giờ TTM
|
Cefazolin 2g TTM mỗi
8h
Dị ứng với
Beta-lactam:
Vancomycin 15-20mg/kg
TTM mỗi 8-12h để đạt AUC24 mục tiêu 400- 600 µg/ml x h (hiệu chỉnh liều theo
mức lọc cầu thận, tốt nhất thông qua định lượng nồng độ thuốc trong máu nếu
có điều kiện triển khai)
Hoặc linezolid
600mg uống/TM mỗi 12h.
|
|
MRSA
|
Vancomycin 15-20mg/kg
TTM mỗi 8-12h để đạt AUC24 mục tiêu 400-600 µg/ml x h
Hoặc Teicoplanin
6 mg/kg (hoặc 800 mg) mỗi 12 h, dùng 3 liều cho liều tải, sau đó liều duy trì
6 mg/kg (hoặc 800 mg) mỗi 24 h TTM.
Hoặc linezolid
600mg uống/TTM mỗi 12h.
|
Ceftarolin 600mg TM
mỗi 8h (không được chấp nhận bởi FDA)
|
5.4.1.6. Melioidosis
-
Giai
đoạn tấn công: 2 tuần. Nếu viêm nhiều thuỳ phổi thì kháng sinh tĩnh mạch
kéo dài đến 3 tuần. Hoặc nếu đi kèm các tổn thương khác giai đoạn tấn công có
thể kéo dài:
+ Có nhiễm
khuẩn huyết và viêm phổi 1 thuỳ: 3 tuần
+ Có nhiễm
khuẩn huyết và viêm phổi nhiều thuỳ: 4 tuần
+ Có kèm
viêm mủ khớp, áp xe sâu: 4 tuần
+ Có kèm
viêm xương: 6 tuần
- Giai
đoạn duy trì: 3 tháng. Nếu đi kèm viêm xương giai đoạn duy trì có thể kéo
dài 6 tuần
|
Giai đoạn điều
trị tấn công
|
Giai đoạn điều
trị duy trì
|
|
Ceftazidim 2g TTM mỗi
6h
Hoặc meropenem
1-2g TTM trong 3h, lặp lại mỗi 8h.
|
TMP-SMX 6-8mg/kg uống
(theo liều TMP) 2 lần/ngày
Hoặc doxycyclin
100mg uống 2 lần/ngày
Đối với phụ nữ có
thai:
Amoxicillin/acid
clavulanic 20mg/5mg/ kg uống 3 lần/ngày.
|
5.4.1.7. Viêm phổi không
điển hình (Chlamydia pneumoniae, Legionella pneumophila, Mycoplasma pneumoniae)
|
|
Lựa chọn đầu tay
|
Lựa chọn khác
|
|
Chlamydia pneumoniae
|
Doxycyclin 100mg
U/TTM 2 lần/ngày x 14 ngày
Hoặc azithromycin
500mg U/TTM vào ngày 1, sau đó 250mg U mỗi ngày x 4 ngày (hoặc 500 mg/ngày x
3 ngày)
Hoặc clarithromycin
500mg U 2 lần/ngày x 10 ngày.
|
Levofloxacin 750mg
U/TTM mỗi 24h x 5-7 ngày
|
|
Legionella
pneumophila
|
Levofloxacin 750mg
U/TTM mỗi 24h
Hoặc moxifloxacin
400mg U/TTM mỗi 24h
Hoặc azithromycin
500mg U/TTM mỗi 24h.
|
Doxycyclin 100mg U/TTM
2 lần/ngày.
|
|
Lưu ý: thời gian điều
trị 7-10 ngày đối với người bệnh có hệ miễn dịch bình thường; và kéo dài hơn
(14-21 ngày) trên người bệnh nhiễm trùng nặng hoặc cơ địa suy giảm miễn dịch.
|
|
Mycoplasma pneumoniae
|
Doxycycline 100mg
U/TTM 2 lần/ngày x 7-10 ngày
Hoặc Minocycline
200mg U/TTM x 1 liều, sau đó 100mg U/TTM 2 lần/ngày.
|
Azithromycin 500mg
U/TTM vào ngày 1, sau đó 250mg U mỗi ngày x 4 ngày, thời gian điều trị có thể
kéo dài 7-14 ngày nếu điều trị đích theo hướng Mycoplasma
Hoặc clarithromycin
500mg 2 lần/ngày x 10 ngày.
Hoặc levofloxacin
750mg U/TTM x 5 ngày.
|
5.4.1.8. Viêm phổi do virus cúm
Liệu pháp
kháng virus nên được sử dụng cho những người bệnh có nguy cơ cao, bệnh cảnh
nghiêm trọng, và cho tất cả người bệnh nằm viện vì cúm.
-
Người
bệnh ngoại trú: liệu pháp kháng virus có hiệu quả khi được sử dụng trong vòng
48h sau khi xuất hiện triệu chứng.
▪
Oseltamivir:
Người trưởng thành (75mg uống 2 lần/ngày x 5 ngày)
▪
Zanamivir:
phun khí dung
-
Người
bệnh bị cúm nặng cần phải điều trị nội trú [59, 65]:
+ Liệu pháp
kháng virus vẫn có hiệu quả ngay cả khi bắt đầu điều trị ở ngày thứ 5 sau khi
xuất hiện triệu chứng (mặc dù hiệu quả có thể tốt hơn khi người bệnh được điều
trị sớm).
+ Ở những
người bệnh có cơ địa suy giảm miễn dịch và bệnh cảnh nghiêm trọng thì virus có
thể tái bản dài hơn do đó:
○
Liệu pháp oseltamivir nên được sử dụng (bất kể thời gian kéo dài của triệu
chứng cúm)
○ Xem xét kéo
dài thời gian sử dụng oseltamivir (có thể lên đến 10 ngày)
+ Tránh sử
dụng corticosteroid trừ khi người bệnh có những chỉ định cho các bệnh lý khác
kèm theo.
+ Nếu người
bệnh không thể uống: peramivir 600mg TM một lần (nếu CrCL >60ml/phút).
Nếu xét
nghiệm có Covid dương tính, điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế đã ban hành.
5.5.1.
Thất
bại điều trị
a. Khái
niệm
Thất bại điều
trị được định nghĩa là tình trạng lâm sàng không đáp ứng đầy đủ với liệu pháp
kháng sinh điều trị.
Thất bại điều
trị trong bệnh viêm phổi mắc phải tại cộng đồng chiếm khoảng 10% đến 15% và có
thể làm gia tăng tỷ lệ tử vong lên gấp 5 lần.
b. Phân
loại
Thất bại điều
trị sớm: được định nghĩa là tình trạng lâm sàng xấu đi
trong vòng 72 giờ đầu sau điều trị kháng sinh do một hoặc nhiều nguyên nhân
sau: huyết động không ổn định; xuất hiện mới hoặc gia tăng mức suy giảm chức
năng hô hấp cần thở máy, tổn thương phổi tiến triển hoặc xuất hiện các tổn
thương mới trên X quang.
Thất bại điều
trị muộn: được định nghĩa là sốt dai dẳng hoặc tái phát và các
triệu chứng hoặc huyết động không ổn định, sự phát triển hoặc suy giảm chức
năng hô hấp (PaO2 <8 kPa (60mmHg) hoặc độ bão hòa SpO2
< 90% với FiO2 21%), tổn thương phổi tiến triển hoặc xuất hiện
các tổn thương mới trên X quang sau 72 giờ đầu điều trị bằng kháng sinh.
c. Phương
pháp đánh giá nguyên nhân thất bại điều trị
Đánh giá chủ
yếu dựa trên đáp ứng lâm sàng sau khi khởi đầu điều trị để phát hiện kịp thời
thất bại điều trị sớm do các bất thường trong xét nghiệm cận lâm sàng có thể
tồn tại lâu hơn, ví dụ như hình ảnh thâm nhiễm phổi có thể tồn tại đến 6 tuần.
Ngoài ra cần
xem xét thêm về yếu tố cơ địa của người bệnh (tuổi già, bệnh lý đồng mắc … có
thể làm kéo dài thời gian cải thiện dấu hiệu lâm sàng) và nguyên nhân gây bệnh
(bệnh không do nhiễm trùng, đánh giá sai tác nhân vi sinh vật gây bệnh…) [59,
65, 81].
5.5.2. Cách
xử trí khi có thất bại điều trị
5.5.2.1. Đánh
giá tình trạng người bệnh
Sử dụng các
thang điểm như CURB-65, PSI và tiêu chuẩn nhập ICU để xác định mức độ nghiêm
trọng của VPMPCĐ từ đó đưa ra quyết định mức độ chăm sóc thích hợp như (tiếp
tục điều trị ngoại trú, nhập viện, nhập khoa hồi sức tích cực) cho người bệnh.
5.5.2.2. Xác định nguyên nhân
gây thất bại điều trị
a. Xem lại
chẩn đoán:
- Tác nhân
gây bệnh là vi sinh vật:
+ Do vi
khuẩn:
●
Dự
đoán loại vi khuẩn không đúng
●
Vi
khuẩn kháng thuốc
●
Do
đồng nhiễm với tác nhân gây bệnh khác
●
Dùng
thuốc kháng sinh không phù hợp (liều dùng, đường dùng, tương tác với thuốc khác
làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc, người bệnh không tuân thủ đúng chỉ định…)
+ Do vi sinh
vật không phải vi khuẩn:
●
Do
lao, nấm hay ký sinh trùng
- Tác nhân
gây bệnh không do vi sinh vật:
+ Do ung
thư, bệnh lý dị ứng miễn dịch, nhiễm độc cấp, nhồi máu cơ tim, phù phổi do suy
tim cấp, thuyên tắc phổi, viêm phổi hít, viêm phế quản…
b.
Khảo
sát các bệnh đồng mắc đi kèm làm kéo dài đáp ứng điều trị (đái tháo
đường, suy thận mạn, suy giảm miễn dịch, lao ngoài phổi, dị ứng thuốc đang
dùng…)
c.
Khảo
sát các biến chứng của bệnh mới xuất hiện: tràn dịch màng phổi, mủ
màng phổi, nhiễm khuẩn thứ phát, áp xe phổi...
d. Xét
nghiệm:
Tùy theo
nguyên nhân nghi ngờ sau khi khảo sát nguyên nhân gây thất bại điều trị để
quyết định thực hiện các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân
biệt, ví dụ [4]:
-
Huyết
học: công thức máu, số lượng và thành phần bạch cầu máu…
-
Vi
sinh: soi tươi và cấy tìm vi khuẩn, nấm hay vi khuẩn lao… các loại bệnh phẩm
như: đờm, máu, dịch màng phổi, mủ màng phổi…
-
Sinh
học phân tử: xét nghiệm PCR tìm vi khuẩn, virus, nấm...
-
Sinh
hóa: CRP, PCT, huyết thanh chẩn đoán vi khuẩn không điển hình, tầm soát các dấu
ấn ung thư…
-
Chẩn
đoán hình ảnh: X Quang ngực, CT scan ngực… khảo sát tổn thương phổi.
-
Nội
soi phế quản: rửa phế quản phế nang, tế bào, sinh thiết nhu mô phổi.
5.5.2.3. Điều
trị
Tùy theo
việc xác định nguyên nhân thất bại để đưa ra kế hoạch điều trị thích hợp. Trong
phần này, chúng tôi chỉ đưa ra khuyến nghị cho các trường hợp người bệnh được
xác định VPMPCĐ do vi khuẩn nhưng điều trị thất bại.
Liệu pháp kháng sinh
Trước khi
quyết định thay đổi kháng sinh cần đánh giá lại nguy cơ nhiễm khuẩn của mỗi
người bệnh nhằm mục tiêu dự đoán chính xác loại vi khuẩn gây bệnh từ đó đưa ra
quyết định chọn lựa kháng sinh hợp lý dựa trên cơ sở tình trạng kháng thuốc
kháng sinh của vi khuẩn và bệnh cảnh lâm sàng thực tế của mỗi người bệnh.

Sơ đồ xử trí
khi người bệnh không đáp ứng điều trị
5.6. Điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng sau
xuất viện
5.6.1.
Điều
trị và theo dõi sau xuất viện
Người bệnh
VPMPCĐ trước khi xuất viện cần được đánh giá toàn diện về lâm sàng, sự ổn định
của các bệnh đồng mắc, khả năng uống thuốc và chăm sóc tại nhà để có phác đồ
nối tiếp thích hợp, phòng nguy cơ tái nhập viện do VPMPCĐ.
5.6.2. Điều
trị tiếp theo sau xuất viện
-
Thời
gian điều trị VPMPCĐ nên cá thể hóa dựa trên đáp ứng lâm sàng, chỉ số
procalcitonin động học (xem chỉ định xét nghiệm PCT), căn nguyên vi sinh, có
hay không có biến chứng của VPMPCĐ và cơ địa của người bệnh cũng như các bệnh
đồng mắc. Đối với những người bệnh VPMPCĐ có đáp ứng lâm sàng tốt trong vòng 2
đến 3 ngày đầu điều trị, thời gian điều trị bằng kháng sinh thường là 5 đến 7
ngày.
-
Thời
gian điều trị cần kéo dài hơn ngay cả khi người bệnh ổn định về lâm sàng và có
nồng độ procalcitonin thấp. Những trường hợp này bao gồm người bệnh đáp ứng lâm
sàng chậm hơn, nhiễm S. aureus, vi khuẩn gram âm, Burkholderia
pseudomallei hoặc các mầm bệnh ít phổ biến khác; hoặc khi phác đồ kháng
sinh ban đầu không có tác dụng chống lại mầm bệnh được xác định sau đó, có biến
chứng của VPMPCĐ như viêm phổi hoại tử, viêm phổi màng phổi, mủ màng phổi hoặc
có các nhiễm trùng khác ngoài phổi, cơ địa suy giảm miễn dịch, có bệnh lý phổi
đồng mắc.
+ Những
người bệnh cải thiện lâm sàng chậm cần kéo dài thời gian dùng kháng sinh và cần
tìm nguyên nhân của việc đáp ứng chậm này.
+ Người bệnh
suy giảm miễn dịch cần được xem xét kỹ về lâm sàng, đặc điểm tổn thương trên
chẩn đoán hình ảnh, các xét nghiệm vi sinh để đánh giá nguy cơ nhiễm vi khuẩn
kháng thuốc và các căn nguyên vi sinh vật đặc biệt để quyết định lựa chọn phác
đồ điều trị nối tiếp thích hợp sau khi xuất viện. Thời gian điều trị có thể kéo
dài đến 10-14 ngày nếu tình trạng miễn dịch bị suy giảm đáng kể.
+ VPMPCĐ kèm
viêm màng phổi kế cận cần tiếp tục điều trị kháng sinh và theo dõi sát đáp ứng
lâm sàng và tình trạng dịch màng phổi với X Quang ngực thường quy và siêu âm
màng phổi để kịp thời phát hiện biến chứng viêm mủ màng phổi hoặc gia tăng
lượng dịch màng phổi.
+ Thời gian điều
trị với một số căn nguyên vi khuẩn đặc biệt [82, 83]:
VPMPCĐ do S.
aureus: liệu trình điều trị từ 7-21 ngày tùy mức độ
nghiêm trọng. Nếu có nhiễm khuẩn huyết thời gian dùng kháng sinh có thể trên 4
tuần. Liệu pháp ngắn hạn có thể là 14 ngày nếu đáp ứng các tiêu chí: 1) cấy máu
sau 2-4 ngày âm tính và người bệnh hết sốt trong 72 giờ; 2) không có viêm nội
tâm mạc (được đánh giá với siêu âm tim qua thực quản); 3) không có các thiết bị
cấy ghép trên cơ thể; 4) không có ổ nhiễm trùng di bệnh khác. Không nên dừng
kháng sinh sớm ở bệnh có nhiều bệnh lý đồng mắc như đái tháo đường, bệnh gan
hoặc thận tiến triển, suy giảm miễn dịch [82, 84].
VPMPCĐ do Pseudomonas
aeruginosa: Thời gian điều trị kháng sinh tối ưu đối với VPMPCĐ do P.
aeruginosa là không chắc chắn. Liệu trình điều trị nên cá thể hóa thời gian
dựa trên các bệnh đi kèm và tình trạng của người bệnh, đáp ứng ban đầu với điều
trị và tính nhạy cảm của chủng phân lập lây nhiễm. Những người bệnh không có
bệnh đi kèm đáng kể, giảm sốt và cải thiện lâm sàng trong tuần đầu điều trị và
những người bị nhiễm chủng P. aeruginosa nhạy cảm, có thể được điều trị
bằng phác đồ ngắn từ 7 đến 10 ngày. Thời gian điều trị dài hơn (từ 10 đến 21
ngày) có thể được chỉ định cho những người bệnh có các tình trạng tiềm ẩn
nghiêm trọng, nhiễm trùng máu đồng thời, đáp ứng kém hoặc chậm với điều trị,
và/hoặc nhạy cảm một phần hoặc đa kháng thuốc.
VPMPCĐ do Burkholderia
pseudomallei: thời gian dùng kháng sinh sau xuất viện từ 3-6
tháng tùy thuộc việc có viêm tủy xương, biến chứng thần kinh hay không. Kháng
sinh có thể lựa chọn là trimethoprim-sulfamethoxazol hoặc doxycyclin.
- Lựa chọn
kháng sinh đường uống sau khi xuất viện dựa trên đáp ứng lâm sàng, căn nguyên
vi sinh vật, bệnh phổi cấu trúc của người bệnh và các bệnh đồng mắc khác nếu có
(tham khảo Bảng hướng dẫn chuyển đổi đường TTM/uống với một số kháng sinh).
5.6.3. Theo
dõi sau xuất viện
Những người
bệnh đã xuất viện do VPMPCĐ nên tái khám thường trong vòng một tuần. Tái khám
tiếp theo là cần thiết để đánh giá lâm sàng và khả năng thuyên giảm của các tổn
thương phổi và loại trừ các căn nguyên khác trong trường hợp tổn thương phổi
không thoái triển, đặc biệt là ung thư phổi ở những người bệnh có nguy cơ (lớn
tuổi, tiền sử hút thuốc, …) [59, 65].
CHƯƠNG
6. PHÒNG BỆNH VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG
-
Điều
trị triệt để các ổ nhiễm khuẩn vùng tai mũi họng, răng miệng.
-
Quản
lý triệt để các bệnh lý nền của người bệnh: đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính, bệnh gan thận mạn tính.
-
Loại
bỏ các kích thích có hại sức khỏe: thuốc lá, thuốc lào, rượu bia.
-
Giữ
ấm cổ ngực trong mùa lạnh
-
Hình
thành miễn dịch chủ động bằng cách tiêm chủng vacxin chống virus, vi khuẩn.
6.2. Tiêm phòng vắc xin: thực hiện theo hướng
dẫn của Bộ Y tế.
6.3. Cai thuốc lá: Thực hiện theo hướng dẫn
hiện hành.
|
Những điểm cần nhớ:
Dự phòng VPMPCĐ cần:
- Điều trị triệt để
các ổ nhiễm khuẩn vùng tai mũi họng, răng miệng, quản lý triệt để các bệnh lý
nền của người bệnh.
- Giữ ấm cổ ngực
trong mùa lạnh, loại bỏ kích thích có hại: rượu bia, thuốc lá
- Tiêm phòng theo
hướng dẫn của Bộ Y tế
- Tư vấn cai thuốc lá.
|
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1.
File
TM, Ramirez JA. Community-Acquired Pneumonia. O’Malley PG, editor. N Engl J
Med. 2023 Aug 17;389(7):632-41. doi:10.1056/NEJMcp2303286
2.
Oliveira
E Silva PG, Cerqueira Batista Filho LA, Pérez Flores I, Vilins E Silva V,
Toledo Maciel A, Seraphim Medeiros L. Community-acquired pneumonia:
Epidemiology, diagnosis, prognostic severity scales, and new therapeutic
options. Medwave. 2023 Dec 13;23(11):e2719-e2719.
doi:10.5867/medwave.2023.11.2719
3.
Martin-Loeches
I, Torres A, Nagavci B, Aliberti S, Antonelli M, Bassetti M, et al.
ERS/ESICM/ESCMID/ALAT guidelines for the management of severe community-
acquired pneumonia. Eur Respir J. 2023 Apr;61(4):2200735.
doi:10.1183/13993003.00735-2022
4.
Manikam
L, Lakhanpaul M. Epidemiology of community acquired pneumonia. Paediatrics and
Child Health. 2012 Jul;22(7):299-306. doi:10.1016/j.paed.2012.05.002
5.
Cillóniz
C, Cardozo C, García-Vidal C. Epidemiology, pathophysiology, and microbiology
of community-acquired pneumonia. Ann Res Hosp. 2018 Jan 9;2:1-1.
doi:10.21037/arh.2017.12.03
6.
Arnold
FW, Wiemken TL, Peyrani P, Ramirez JA, Brock GN. Mortality differences among
hospitalized patients with community-acquired pneumonia in three world regions:
Results from the Community-Acquired Pneumonia Organization (CAPO) International
Cohort Study. Respiratory Medicine. 2013 Jul;107(7):1101-11.
doi:10.1016/j.rmed.2013.04.003
7.
Trần
Văn Chung, Đỗ Mạnh Hiểu, Hoàng Thu Thủy. Tình hình bệnh tật tại khoa Hô hấp
bệnh viện Bạch Mai 1996-2001. Báo cáo hội nghị khoa học tuổi trẻ. Trường Đại
học Y Hà Nội. 2001.
8.
Bộ
Y tế. Niên giám thống kê y tế 2014. Nhà xuất bản Y học; 2015.
9.
Calabretta
D, Martìn-Loeches I, Torres A. New Guidelines for Severe Community- acquired
Pneumonia. Semin Respir Crit Care Med. 2024 Apr;45(02):274-86.
doi:10.1055/s-0043-1777797
10.
Candel
FJ, Salavert M, Basaras M, Borges M, Cantón R, Cercenado E, et al. Ten Issues
for Updating in Community-Acquired Pneumonia: An Expert Review. JCM. 2023 Oct
30;12(21):6864. doi:10.3390/jcm12216864
11.
Shoar
S, Musher DM. Etiology of community-acquired pneumonia in adults: a systematic
review. Pneumonia. 2020 Dec;12(1):11. doi:10.1186/s41479-020-00074-3
12.
UpToDate
Inc. Epidemiology, pathogenesis, and microbiology of community- acquired pneumonia
in adults. 2019.
13.
Wunderink
RG, Waterer G. Advances in the causes and management of community acquired
pneumonia in adults. BMJ. 2017 Jul 10;j2471. doi:10.1136/bmj.j2471
14.
Musher
DM, Thorner AR. Community-Acquired Pneumonia. N Engl J Med. 2014 Oct
23;371(17):1619-28. doi:10.1056/NEJMra1312885
15.
Steel
HC, Cockeran R, Anderson R, Feldman C. Overview of Community-Acquired Pneumonia
and the Role of Inflammatory Mechanisms in the Immunopathogenesis of Severe
Pneumococcal Disease. Mediators of Inflammation. 2013;2013:1-18.
doi:10.1155/2013/490346
16.
Jain
S, Self WH, Wunderink RG, Fakhran S, Balk R, Bramley AM, et al.
Community-Acquired Pneumonia Requiring Hospitalization among U.S. Adults. N
Engl J Med. 2015 Jul 30;373(5):415-27. doi:10.1056/NEJMoa1500245
17.
Restrepo
MI, Mortensen EM, Velez JA, Frei C, Anzueto A. A Comparative Study of
Community-Acquired Pneumonia Patients Admitted to the Ward and the ICU. Chest.
2008 Mar;133(3):610-7. doi:10.1378/chest.07-1456
18.
Gadsby
NJ, Russell CD, McHugh MP, Mark H, Conway Morris A, Laurenson IF, et al.
Comprehensive Molecular Testing for Respiratory Pathogens in Community-
Acquired Pneumonia. Clin Infect Dis. 2016 Apr 1;62(7):817-23.
doi:10.1093/cid/civ1214
19. Haas AR,
Marik PE. COMMUNITY-ACQUIRED PNEUMONIA. In: Pharmacology and Therapeutics
[Internet]. Elsevier; 2009 [cited 2026 Mar 5]. p. 1081- 7. Available from:
https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/B9781416032915500822
doi:10.1016/B978-1-4160-3291-5.50082-2
20.
Holter
JC, Müller F, Bjørang O, Samdal HH, Marthinsen JB, Jenum PA, et al. Etiology of
community-acquired pneumonia and diagnostic yields of microbiological methods:
a 3-year prospective study in Norway. BMC Infect Dis. 2015 Dec;15(1):64.
doi:10.1186/s12879-015-0803-5
21.
Said
MA, Johnson HL, Nonyane BAS, Deloria-Knoll M, O′Brien KL, for the AGEDD Adult
Pneumococcal Burden Study Team. Estimating the Burden of Pneumococcal Pneumonia
among Adults: A Systematic Review and Meta-Analysis of Diagnostic Techniques.
Hill PC, editor. PLoS ONE. 2013 Apr 2;8(4):e60273.
doi:10.1371/journal.pone.0060273
22.
Marrie
TJ, Poulin-Costello M, Beecroft MD, Herman-Gnjidic Z. Etiology of
community-acquired pneumonia treated in an ambulatory setting. Respiratory
Medicine. 2005 Jan;99(1):60-5. doi:10.1016/j.rmed.2004.05.010
23. Johansson
N, Kalin M, Tiveljung-Lindell A, Giske CG, Hedlund J. Etiology of Community-Acquired
Pneumonia: Increased Microbiological Yield with New Diagnostic Methods. CLIN
INFECT DIS. 2010 Jan 15;50(2):202-9. doi:10.1086/648678
24.
Cilloniz
C, Ewig S, Polverino E, Marcos MA, Esquinas C, Gabarrus A, et al. Microbial
aetiology of community-acquired pneumonia and its relation to severity. Thorax.
2011 Apr 1;66(4):340-6. doi:10.1136/thx.2010.143982
25.
Shibli
F, Chazan B, Nitzan O, Flatau E, Edelstein H, Blondheim O, et al. Etiology of
community-acquired pneumonia in hospitalized patients in northern Israel. Isr
Med Assoc J. 2010 Aug;12(8):477-82. PubMed PMID: 21337816.
26.
on
behalf of the GLIMP Study Group, Gramegna A, Sotgiu G, Di Pasquale M, Radovanovic
D, Terraneo S, et al. Atypical pathogens in hospitalized patients with
community-acquired pneumonia: a worldwide perspective. BMC Infect Dis. 2018
Dec;18(1):677. doi:10.1186/s12879-018-3565-z
27.
Eshwara
VK, Mukhopadhyay C, Rello J. Community-acquired bacterial pneumonia in adults:
An update. Indian Journal of Medical Research. 2020 Apr;151(4):287-302.
doi:10.4103/ijmr.IJMR_1678_19
28.
Paganin
F, Lilienthal F, Bourdin A, Lugagne N, Tixier F, Génin R, et al. Severe
community-acquired pneumonia: assessment of microbial aetiology as mortality
factor. Eur Respir J. 2004 Nov;24(5):779-85. doi:10.1183/09031936.04.00119503
29.
Mandell
LA, Wunderink RG, Anzueto A, Bartlett JG, Campbell GD, Dean NC, et al.
Infectious Diseases Society of America/American Thoracic Society consensus
guidelines on the management of community-acquired pneumonia in adults. Clin
Infect Dis. 2007 Mar 1;44 Suppl 2(Suppl 2):S27-72. doi:10.1086/511159 PubMed
PMID: 17278083; PubMed Central PMCID: PMC7107997.
30.
Verduin
CM, Hol C, Fleer A, Van Dijk H, Van Belkum A. Moraxella catarrhalis :
from Emerging to Established Pathogen. Clin Microbiol Rev. 2002 Jan;15(1):125-44.
doi:10.1128/CMR.15.1.125-144.2002
31.
Aliberti
S, Reyes LF, Faverio P, Sotgiu G, Dore S, Rodriguez AH, et al. Global initiative
for meticillin-resistant Staphylococcus aureus pneumonia (GLIMP): an
international, observational cohort study. The Lancet Infectious Diseases. 2016
Dec;16(12):1364-76. doi:10.1016/S1473-3099(16)30267-5
32.
Francis
JS, Doherty MC, Lopatin U, Johnston CP, Sinha G, Ross T, et al. Severe
Community-Onset Pneumonia in Healthy Adults Caused by Methicillin-Resistant
Staphylococcus aureus Carrying the Panton-Valentine Leukocidin Genes. Clinical
Infectious Diseases. 2005 Jan 1;40(1):100-7. doi:10.1086/427148
33. Vayalumkal
JV, Whittingham H, Vanderkooi O, Stewart TE, Low DE, Mulvey M, et al.
Necrotizing pneumonia and septic shock: suspecting CA-MRSA in patients presenting
to Canadian emergency departments. CJEM. 2007 Jul;9(4):300-3.
doi:10.1017/s1481803500015219 PubMed PMID: 17626697.
34.
Muller
MP, Low DE, Green KA, Simor AE, Loeb M, Gregson D, et al. Clinical and
epidemiologic features of group a streptococcal pneumonia in Ontario, Canada.
Arch Intern Med. 2003 Feb 24;163(4):467-72. doi:10.1001/archinte.163.4.467
PubMed PMID: 12588207.
35.
Bartlett
JG. Anaerobic bacterial infection of the lung. Anaerobe. 2012 Apr;18(2):235-9.
doi:10.1016/j.anaerobe.2011.12.004
36.
Kung
CT, Li CJ, Hung SC, Ko SF, Chen MC, Lee CH, et al. Acute melioid
community-acquired pneumonia. International Journal of Infectious Diseases.
2011 Sep;15(9):e627-30. doi:10.1016/j.ijid.2011.04.015
37.
Jartti
T, Jartti L, Peltola V, Waris M, Ruuskanen O. Identification of Respiratory
Viruses in Asymptomatic Subjects: Asymptomatic Respiratory Viral Infections.
Pediatric Infectious Disease Journal. 2008 Dec;27(12):1103-7.
doi:10.1097/INF.0b013e31817e695d
38.
Templeton
KE, Scheltinga SA, Van Den Eeden WCJFM, Graffelman WA, Van Den Broek PJ, Claas
ECJ. Improved Diagnosis of the Etiology of Community-Acquired Pneumonia with
Real-Time Polymerase Chain Reaction. Clinical Infectious Diseases. 2005 Aug
1;41(3):345-51. doi:10.1086/431588
39.
Self
WH, Williams DJ, Zhu Y, Ampofo K, Pavia AT, Chappell JD, et al. Respiratory
Viral Detection in Children and Adults: Comparing Asymptomatic Controls and
Patients With Community-Acquired Pneumonia. J Infect Dis. 2016 Feb
15;213(4):584-91. doi:10.1093/infdis/jiv323
40.
Falsey
AR, Becker KL, Swinburne AJ, Nylen ES, Formica MA, Hennessey PA, et al.
Bacterial Complications of Respiratory Tract Viral Illness: A Comprehensive
Evaluation. Journal of Infectious Diseases. 2013 Aug 1;208(3):432-41.
doi:10.1093/infdis/jit190
41.
Johansson
N, Kalin M, Hedlund J. Clinical impact of combined viral and bacterial
infection in patients with community-acquired pneumonia. Scandinavian Journal
of Infectious Diseases. 2011 Aug;43(8):609-15. doi:10.3109/00365548.2011.570785
42.
Wang
L, Wang Y, Ye D, Liu Q. Review of the 2019 novel coronavirus (SARS-CoV- 2)
based on current evidence. Int J Antimicrob Agents. 2020 Jun;55(6):105948.
doi:10.1016/j.ijantimicag.2020.105948 PubMed PMID: 32201353; PubMed Central
PMCID: PMC7156162.
43.
Hayden
FG. Editorial Response: Rhinovirus Pneumonia: A Clinical Entity? CLIN INFECT
DIS. 1999 Sep;29(3):533-5. doi:10.1086/598628
44.
Hage
CA, Knox KS, Wheat LJ. Endemic mycoses: Overlooked causes of community acquired
pneumonia. Respiratory Medicine. 2012 Jun;106(6):769-76.
doi:10.1016/j.rmed.2012.02.004
45.
Cilloniz
C, Martin-Loeches I, Garcia-Vidal C, San Jose A, Torres A. Microbial Etiology
of Pneumonia: Epidemiology, Diagnosis and Resistance Patterns. IJMS. 2016 Dec
16;17(12):2120. doi:10.3390/ijms17122120
46.
Cillóniz
C, Dominedò C, Torres A. Multidrug Resistant Gram-Negative Bacteria in
Community-Acquired Pneumonia. Crit Care. 2019 Mar 9;23(1):79.
doi:10.1186/s13054-019-2371-3
47.
Hu
F, Zhu D, Wang F, Morrissey I, Wang J, Torumkuney D. Results from the Survey of
Antibiotic Resistance (SOAR) 2009-11 and 2013-14 in China. J Antimicrob
Chemother. 2016 May;71(suppl 1):i33-43. doi:10.1093/jac/dkw065
48.
Torumkuney
D, Chaiwarith R, Reechaipichitkul W, Malatham K, Chareonphaibul V, Rodrigues C,
et al. Results from the Survey of Antibiotic Resistance (SOAR) 2012- 14 in
Thailand, India, South Korea and Singapore. J Antimicrob Chemother. 2016
May;71(suppl 1):i3-19. doi:10.1093/jac/dkw073
49.
Kacou-Ndouba
A, Revathi G, Mwathi P, Seck A, Diop A, Kabedi-Bajani MJ, et al. Results from
the Survey of Antibiotic Resistance (SOAR) 2011-14 in the Democratic Republic
of Congo, Ivory Coast, Republic of Senegal and Kenya. J Antimicrob Chemother.
2016 May;71(suppl 1):i21-31. doi:10.1093/jac/dkw070
50.
Van
PH, Binh PT, Minh NHL, Morrissey I, Torumkuney D. Results from the Survey of
Antibiotic Resistance (SOAR) 2009-11 in Vietnam. J Antimicrob Chemother. 2016
May;71(suppl 1):i93-102. doi:10.1093/jac/dkw069
51.
Lee
JK, Yun KW, Choi EH, Kim SJ, Lee SY, Lee HJ. Changes in the Serotype
Distribution among Antibiotic Resistant Carriage Streptococcus pneumoniae Isolates
in Children after the Introduction of the Extended-Valency Pneumococcal
Conjugate Vaccine. J Korean Med Sci. 2017;32(9):1431.
doi:10.3346/jkms.2017.32.9.1431
52.
Golden
AR, Rosenthal M, Fultz B, Nichol KA, Adam HJ, Gilmour MW, et al.
Characterization of MDR and XDR Streptococcus pneumoniae in Canada, 2007-13.
Journal of Antimicrobial Chemotherapy. 2015 Aug 1;70(8):2199-202.
doi:10.1093/jac/dkv107
53.
Takahashi
K, Suzuki M, Minh LN, Anh NH, Huong LTM, Son TVV, et al. The incidence and
aetiology of hospitalised community-acquired pneumonia among Vietnamese adults:
a prospective surveillance in Central Vietnam. BMC Infect Dis. 2013
Dec;13(1):296. doi:10.1186/1471-2334-13-296
54.
Tạ
Thị Diệu N, Nguyễn Văn K, Nguyễn Vũ T. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng và căn nguyên của viêm phổi mắc phải tại cộng đồng [Luận án Tiến sĩ Y
học]. 2016.
55.
Bộ
Y tế. Báo cáo giám sát kháng kháng sinh tại Việt Nam năm 2020. 2023.
56.
Phạm
Hùng V. Tác nhân gây nhiễm trùng hô hấp dưới cộng đồng cấp tính không nhập viện
- Kết quả bước đầu từ nghiên cứu EACRI. Hội Hô hấp Thành phố Hồ Chí Minh.
57.
Huong
PLT, Hien PT, Lan NTP, Binh TQ, Tuan DM, Anh DD. First report on prevalence and
risk factors of severe atypical pneumonia in Vietnamese children aged 1-15
years. BMC Public Health. 2014 Dec;14(1):1304. doi:10.1186/1471-2458-14-1304
58.
CIBER
de Enfermedades Respiratorias, CIBERES, Barcelona, Spain, Tejada S, Vall
d’Hebron Institut of Research (VHIR), Barcelona, Spain, Romero A, CIBER de
Enfermedades Respiratorias, CIBERES, Barcelona, Spain, Vall d’Hebron Institut
of Research (VHIR), Barcelona, Spain, et al. Community-Acquired Pneumonia in
Adults: What’s New Focusing on Epidemiology, Microorganisms and Diagnosis?
Erciyes Med J. 2018 Dec 17;40(4):177-82. doi:10.5152/etd.2018.18128
59.
Metlay
JP, Waterer GW, Long AC, Anzueto A, Brozek J, Crothers K, et al. Diagnosis and
Treatment of Adults with Community-acquired Pneumonia. An Official Clinical
Practice Guideline of the American Thoracic Society and Infectious Diseases
Society of America. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine.
2019 Oct 1;200(7):e45-67. doi:10.1164/rccm.201908-1581ST
60.
Amy
L. Leber. Clinical Microbiology Procedures Handbook, 4th Edition. American
Society for Microbiology (ASM Press); 2016.
61.
Haubitz
S, Hitz F, Graedel L, Batschwaroff M, Wiemken TL, Peyrani P, et al. Ruling Out
Legionella in Community-acquired Pneumonia. The American Journal of Medicine.
2014 Oct;127(10):1010.e11-1010.e19. doi:10.1016/j.amjmed.2014.03.042
62.
Miller
JM, Binnicker MJ, Campbell S, Carroll KC, Chapin KC, Gonzalez MD, et al. Guide
to Utilization of the Microbiology Laboratory for Diagnosis of Infectious
Diseases: 2024 Update by the Infectious Diseases Society of America (IDSA) and
the American Society for Microbiology (ASM). Clinical Infectious Diseases. 2024
Mar 5;ciae104. doi:10.1093/cid/ciae104
63.
Gadsby
NJ, Musher DM. The Microbial Etiology of Community-Acquired Pneumonia in
Adults: from Classical Bacteriology to Host Transcriptional Signatures. Clin
Microbiol Rev. 2022 Dec 21;35(4):e00015-22. doi:10.1128/cmr.00015-22
64.
Lee
WJ, Huang EY, Tsai CM, Kuo KC, Huang YC, Hsieh KS, et al. Role of Serum
Mycoplasma pneumoniae IgA, IgM, and IgG in the Diagnosis of Mycoplasma
pneumoniae-Related Pneumonia in School-Age Children and Adolescents. Rosenberg
HF, editor. Clin Vaccine Immunol. 2017 Jan;24(1). doi:10.1128/CVI.00471-16
65.
Choo
S, Kim SH, Lee E. Clinical significance of Mycoplasma pneumoniae specific IgM
titer in children hospitalized with Mycoplasma pneumoniae pneumonia. BMC Infect
Dis. 2022 Dec;22(1):470. doi:10.1186/s12879-022-07456-6
66.
Miller
JM, Binnicker MJ, Campbell S, Carroll KC, Chapin KC, Gilligan PH, et al. A
Guide to Utilization of the Microbiology Laboratory for Diagnosis of Infectious
Diseases: 2018 Update by the Infectious Diseases Society of America and the
American Society for Microbiology. Clin Infect Dis. 2018 Aug 31;67(6):e1-94.
doi:10.1093/cid/ciy381 PubMed PMID: 29955859; PubMed Central PMCID: PMC7108105.
67.
Metlay
JP, Waterer GW, Long AC, Anzueto A, Brozek J, Crothers K, et al. Diagnosis and
Treatment of Adults with Community-acquired Pneumonia. An Official Clinical
Practice Guideline of the American Thoracic Society and Infectious Diseases
Society of America. Am J Respir Crit Care Med. 2019 Oct 1;200(7):e45-67.
doi:10.1164/rccm.201908-1581ST PubMed PMID: 31573350; PubMed Central PMCID:
PMC6812437.
68.
Jamal
JA, Abdul-Aziz MH, Lipman J, Roberts JA. Defining Antibiotic Dosing in Lung
Infections. Clinical Pulmonary Medicine. 2013 May;20(3):121-8.
doi:10.1097/CPM.0b013e31828fc646
69.
Shah
S, Barton G, Fischer A. Pharmacokinetic considerations and dosing strategies of
antibiotics in the critically ill patient. Journal of the Intensive Care
Society. 2015 May;16(2):147-53. doi:10.1177/1751143714564816
70.
Burke
A Cunha. Antibiotic essentials 2017. Jaypee Medical Publishers; 2017.
71.
Gilbert
DN, Eliopoulos GM, Chambers HF, Saag MS, Pavia AT, editors. Sanford guide to
antimicrobial therapy 2017. 47th edition. Sperryville, VA, USA: Antimicrobial
Therapy, Inc; 2017. 256 p.
72.
Ashley
C, Dunleavy A. The Renal Drug Handbook: The Ultimate Prescribing Guide for
Renal Practitioners [Internet]. 5th ed. Ashley C, Dunleavy A, Cunningham J,
editors. CRC Press; 2018 [cited 2026 Mar 5]. Available from:
https://www.taylorfrancis.com/books/9780429863646 doi:10.1201/9780429460418
73.
Datapharm
[Internet]. 2024. Available from: https://www.medicines.org.uk/emc
74.
IBM
Corporation [Internet]. Available from: https://www.micromedexsolutions.com/
75.
Mandell
LA, Wunderink RG, Anzueto A, Bartlett JG, Campbell GD, Dean NC, et al.
Infectious Diseases Society of America/American Thoracic Society Consensus
Guidelines on the Management of Community-Acquired Pneumonia in Adults.
Clinical Infectious Diseases. 2007 Mar 1;44(Supplement_2):S27-72.
doi:10.1086/511159
76.
Béïque
L, Zvonar R. Addressing Concerns about Changing the Route of Antimicrobial
Administration from Intravenous to Oral in Adult Inpatients. CJHP. 2015 Aug
25;68(4). doi:10.4212/cjhp.v68i4.1472
77.
Nguyễn
Tri T, Lê Quốc H. Hướng dẫn sử dụng kháng sinh. Nhà xuất bản Y học; 2020.
78.
Ramirez
JA, Musher DM, Evans SE, Dela Cruz C, Crothers KA, Hage CA, et al. Treatment of
Community-Acquired Pneumonia in Immunocompromised Adults. Chest. 2020
Nov;158(5):1896-911. doi:10.1016/j.chest.2020.05.598
79.
Lee
MS, Oh JY, Kang CI, Kim ES, Park S, Rhee CK, et al. Guideline for Antibiotic
Use in Adults with Community-acquired Pneumonia. Infect Chemother.
2018;50(2):160. doi:10.3947/ic.2018.50.2.160
80.
Zakhour
J, Sharara SL, Hindy JR, Haddad SF, Kanj SS. Antimicrobial Treatment of
Pseudomonas aeruginosa Severe Sepsis. Antibiotics. 2022 Oct 18;11(10):1432.
doi:10.3390/antibiotics11101432
81.
Martin-Loeches
I, Torres A, Nagavci B, Aliberti S, Antonelli M, Bassetti M, et al.
ERS/ESICM/ESCMID/ALAT guidelines for the management of severe community-
acquired pneumonia. Intensive Care Med. 2023 Jun;49(6):615-32.
doi:10.1007/s00134- 023-07033-8
82.
Grant
J, Saux NL, members of the Antimicrobial Stewardship and Resistance Committee
(ASRC) of the Association of Medical Microbiology and Infectious Disease (AMMI)
Canada. Duration of antibiotic therapy for common infections. J Assoc Med
Microbiol Infect Dis Can. 2021 Sep;6(3):181-97. doi:10.3138/jammi-2021-04-29
PubMed PMID: 36337760; PubMed Central PMCID: PMC9615468.
83.
Furukawa
Y, Luo Y, Funada S, Onishi A, Ostinelli E, Hamza T, et al. Optimal duration of
antibiotic treatment for community-acquired pneumonia in adults: a systematic
review and duration-effect meta-analysis. BMJ Open. 2023 Mar;13(3):e061023.
doi:10.1136/bmjopen-2022-061023
84.
Auwaerter,
P.M.D. Staphylococcus aureus. 2022.
85. Grohskopf
LA, Blanton LH, Ferdinands JM, Chung JR, Broder KR, Talbot HK, et al.
Prevention and Control of Seasonal Influenza with Vaccines: Recommendations of
the Advisory Committee on Immunization Practices - United States, 2022-23 Influenza
Season. MMWR Recomm Rep. 2022 Aug 26;71(1):1-28. doi:10.15585/mmwr.rr7101a1
86.
Kobayashi
M, Pilishvili T, Farrar JL, Leidner AJ, Gierke R, Prasad N, et al. Pneumococcal
Vaccine for Adults Aged ≥19 Years: Recommendations of the Advisory Committee on
Immunization Practices, United States, 2023. MMWR Recomm Rep. 2023 Sep
8;72(3):1-39. doi:10.15585/mmwr.rr7203a1
87.
Gatwood
J, Shuvo S, Hohmeier KC, Hagemann T, Chiu CY, Tong R, et al. Pneumococcal
vaccination in older adults: An initial analysis of social determinants of
health and vaccine uptake. Vaccine. 2020 Jul;38(35):5607-17.
doi:10.1016/j.vaccine.2020.06.077
88.
National
Foundation for Infectious Diseases (NFID). Respiratory Syncytial Virus (RSV).
2023.
89.
Lu
L, Robertson G, Ashworth J, Pham Hong A, Shi T, Ivens A, et al. Epidemiology
and Phylogenetic Analysis of Viral Respiratory Infections in Vietnam. Front
Microbiol. 2020 May 15;11:833. doi:10.3389/fmicb.2020.00833
90.
Melgar
M, Britton A, Roper LE, Talbot HK, Long SS, Kotton CN, et al. Use of
Respiratory Syncytial Virus Vaccines in Older Adults: Recommendations of the
Advisory Committee on Immunization Practices — United States, 2023. American
Journal of Transplantation. 2023 Oct;23(10):1631-40. doi:10.1016/j.ajt.2023.09.003
91.
2008
PHS Guideline Update Panel, Liaisons, and Staff. Treating tobacco use and
dependence: 2008 update U.S. Public Health Service Clinical Practice Guideline
executive summary. Respir Care. 2008 Sep;53(9):1217-22. PubMed PMID: 18807274.
92.
Giamarellos-Bourboulis
EJ, Siampanos A, Bolanou A, Doulou S, Kakavoulis N, Tsiakos K, et al.
Clarithromycin for early anti-inflammatory responses in community- acquired
pneumonia in Greece (ACCESS): a randomised, double-blind, placebo- controlled
trial. The Lancet Respiratory Medicine. 2024 Apr;12(4):294-304.
doi:10.1016/S2213-2600(23)00412-5
93.
Antonakos
N, Giamarellos-Bourboulis EJ, Niederman MS. The role of macrolides in severe
community-acquired pneumonia and the potential impact of macrolide- resistant Mycoplamsa
pneumoniae. Current Opinion in Infectious Diseases. 2025 Apr;38(2):190-7.
doi:10.1097/QCO.0000000000001087
94.
Prina
E, Ranzani OT, Polverino E, Cillóniz C, Ferrer M, Fernandez L, et al. Risk
Factors Associated with Potentially Antibiotic-Resistant Pathogens in
Community- Acquired Pneumonia. Annals of the American Thoracic Society. 2015
Feb 1;12(2):153- 60. doi:10.1513/AnnalsATS.201407-305OC
95.
Leber
AL. Clinical Microbiology Procedures Handbook, Multi-Volume. 5th ed. Newark:
ASM Press; 2023. 1 p. (ASM Bks).
96.
Dinh
A, Barbier F, Bedos JP, Blot M, Cattoir V, Claessens YE, et al. Update of
guidelines for management of Community Acquired pneumonia in adults by the
French Infectious Disease Society (SPILF) and the French-Speaking Society of
Respiratory Diseases (SPLF). Respiratory Medicine and Research. 2025
May;87:101161. doi:10.1016/j.resmer.2025.101161
97.
Britton
A, Roper LE, Kotton CN, Hutton DW, Fleming-Dutra KE, Godfrey M, et al. Use of
Respiratory Syncytial Virus Vaccines in Adults Aged ≥60 Years: Updated
Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices — United
States, 2024. MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 2024 Aug 15;73(32):696-702.
doi:10.15585/mmwr.mm7332e1
98.
Redondo
E, Rivero-Calle I, Mascarós E, Ocađa D, Jimeno I, Gil Á, et al. Respiratory
Syncytial Virus Vaccination Recommendations for Adults Aged 60 Years and Older:
The NeumoExperts Prevention Group Position Paper. Archivos de Bronconeumología.
2024 Mar;60(3):161-70. doi:10.1016/j.arbres.2024.01.004
99.
Giannelos
N, Curran D, Nguyen C, Kagia C, Vroom N, Vroling H. The Incidence of Herpes
Zoster Complications: A Systematic Literature Review. Infect Dis Ther. 2024
Jul;13(7):1461-86. doi:10.1007/s40121-024-01002-4
100.
Dooling
KL, Guo A, Patel M, Lee GM, Moore K, Belongia EA, et al. Recommendations of the
Advisory Committee on Immunization Practices for Use of Herpes Zoster Vaccines.
MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 2018 Jan 26;67(3):103-8. doi:10.15585/mmwr.mm6703a5
101.
Anderson
TC, Masters NB, Guo A, Shepersky L, Leidner AJ, Lee GM, et al. Use of
Recombinant Zoster Vaccine in Immunocompromised Adults Aged ≥19 Years:
Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices - United
States, 2022. MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 2022 Jan 21;71(3):80-4.
doi:10.15585/mmwr.mm7103a2
PHỤ LỤC 1. Liều thường dùng và hiệu chỉnh liều kháng sinh ở
người bệnh suy thận
|
TT
|
Tên thuốc
|
Đường dùng
|
Liều
thường dùng
|
Liều theo
độ thanh thải creatinin (Clcr) (ml/ph)
|
|
>50-90
|
10-50
|
<10
|
|
β- lactam
|
|
1
|
Penicilin G
|
Tĩnh mạch
|
2 MIU (hoặc 1,2 g)
mỗi 4h
|
2 MIU mỗi 4h
|
2 MIU mỗi 8h
|
2 MIU mỗi 12h
|
|
2
|
Ampicilin
|
Tĩnh mạch
|
2 g mỗi 6h
|
2 g mỗi 6h
|
30-50: 2 g mỗi 6-8h;
10-30: 2 g mỗi 8-12h
|
2 g mỗi 12h
|
|
3
|
Amoxicillin
|
Uống
|
1 g mỗi 8h
|
500 mg mỗi 8h
|
500 mg mỗi 12 h
|
500 mg mỗi 24 h
|
|
4
|
Amoxicillin/acid
clavulanic
(tính theo liều
amoxicilin)
|
Uống
|
875 mg mỗi 12h
|
875mg mỗi 12h
|
30-50: 875 mg mỗi 12h
10-30: 500 mg mỗi 12h
|
500 mg mỗi 24h
|
|
Tĩnh mạch
|
1g mỗi 8h
|
1g mỗi 8h
|
30-50: 1 g mỗi 8h
10-30: 1 g x 1 lần,
sau đó, 500 mg mỗi 12h
|
1 g x 1 lần, sau đó,
500 mg mỗi 24h
|
|
5
|
Ampicillin/ sulbactam
|
Tĩnh mạch
|
1,5-3 g mỗi 6h
|
1,5-3 g mỗi 6h
|
1,5-3 g mỗi 8- 12h
|
1,5-3 g mỗi 24h
|
|
6
|
Oxacilin
|
Tĩnh mạch
|
2 g mỗi 4h
|
Cân nhắc giảm liều ở
người bệnh suy thận nặng
|
|
7
|
Cefazolin
|
Tĩnh mạch
|
2 g mỗi 8h
|
2 g mỗi 8h
|
2 g mỗi 12h
|
2 g mỗi 24-48h
|
|
8
|
Cefalexin
|
Uống
|
500 mg mỗi 6h
|
500 mg mỗi 6h
|
500 mg mỗi 12h
|
250 mg mỗi 12h
|
|
9
|
Cefuroxim
|
Uống
|
500 mg mỗi 12h
|
500 mg mỗi 12h
|
500 mg mỗi 12h
|
250 mg mỗi 24h
|
|
10
|
Cefprozil
|
Uống
|
500 mg mỗi 12h
|
500 mg mỗi 12h
|
500 mg mỗi 24h
|
250 mg mỗi 12h
|
|
11
|
Cefpodoxim
|
Uống
|
200 mg mỗi 12h
|
200 mg mỗi 12h
|
200 mg mỗi 12h
|
200 mg mỗi 24h
|
|
12
|
Cefdinir
|
Uống
|
300 mg mỗi 12h
|
300 mg mỗi 12h
|
300 mg mỗi 12h
|
300 mg mỗi 24h
|
|
13
|
Cefditoren
|
Uống
|
400 mg mỗi 12h
|
400 mg mỗi 12 h
|
200 mg mỗi 12h
|
200 mg mỗi 24h
|
|
14
|
Cefotaxim
|
Tĩnh mạch
|
1-2 g mỗi 8h
|
1-2 g mỗi 8-12h
|
1-2 g mỗi 12-24h
|
1-2 g mỗi 24h
|
|
15
|
Ceftriaxon
|
Tĩnh mạch
|
1-2 g mỗi 24h
|
Không cần hiệu chỉnh
liều
|
|
16
|
Ceftazidim
|
Tĩnh mạch
|
2 g mỗi 8h
|
2 g mỗi 8-12h
|
2 g mỗi 12-24h
|
2 g mỗi 24-48h
|
|
17
|
Cefoperazon
|
Tĩnh mạch
|
2g mỗi 12h
|
Không cần hiệu chỉnh
liều
|
|
18
|
Cefoperazon/sulbac
tam
|
Tĩnh mạch
|
1-2g cefoperazon mỗi
12h, có thể tăng lên 2-4g mỗi 12h
|
1-2g cefoperazon mỗi
12h, có thể tăng lên 2-4g mỗi 12h
|
30-50: 1-2g cefoperazon
mỗi 12h, có thể tăng lên 2-4g mỗi 12h
15-30: tối đa 1g
sulbactam mỗi 12h
|
<15: tối đa 500 mg
sulbactam mỗi 12h
|
|
19
|
Cefepim
|
Tĩnh mạch
|
2 g mỗi 8h
|
>60 ml/ph: 2 g mỗi
8-12h
|
30-60 ml/ph: 2 g mỗi
12h
|
11-29 ml/ph: 2 g mỗi
24h
<10 ml/ph: 1 g mỗi
24h
|
|
20
|
Ceftarolin
|
Tĩnh mạch
|
600 mg mỗi 12h
|
600 mg mỗi 12h
|
30-50: 400 mg mỗi
12h;
15-30: 300 mg mỗi 12h
|
<15: 200 mg mỗi
12h
|
|
21
|
Piperacillin/
tazobactam
|
Tĩnh mạch
|
4,5 g mỗi 6h
|
>40 ml/ph: 4,5 g
mỗi 6h
|
20-40 ml/ph: 3,375 g
mỗi 6h
|
<20 ml/ph 2,25 g
/6h
|
|
22
|
Imipenem
|
Tĩnh mạch
|
500 mg mỗi 6h (trường
họp nặng cân nhắc 1 g mỗi 8 h, tối đa 1 g mỗi 6 h)
|
250-500 mg mỗi 6-8h
|
250 mg mỗi 8- 12h
|
125-250 mg mỗi 12h
|
|
23
|
Meropenem
|
Tĩnh mạch
|
1 g mỗi 8h (trường
hợp nặng, nhiễm Pseudomonas aeruginosae giảm nhạy cảm, cân nhắc 2 g
mỗi 8 h)
|
1 g mỗi 8h
|
25-50 ml/ph: 1 g mỗi
12h 10-25 ml/ph: 500 mg mỗi 12h
|
<10 ml/ph: 500 mg
mỗi 24h
|
|
24
|
Ertapenem
|
Tĩnh mạch
|
1 g mỗi 24h
|
1 g mỗi 24h
|
< 30 ml/ph: 500 mg
mỗi 24h
|
500 mg mỗi 24h
|
|
Aminoglycosid (theo dõi
chức năng thận thường xuyên, cân nhắc hiệu chỉnh liều thông qua định lượng
nồng độ thuốc trong máu nếu điều kiện cho phép)
|
|
25
|
Amikacin
|
Tĩnh mạch
|
15-20 mg/kg mỗi 24h
|
60-80 ml/ph: 12 mg/kg
mỗi 24h
40-60 ml/ph: 7,5
mg/kg mỗi 24h
|
30-40 ml/ph: 4 mg/kg
mỗi 24h
20-30 ml/ph: 7,5
mg/kg mỗi 48h
|
10-20 ml/ph: 4 mg/kg
mỗi 48h
0-10 ml/ph 3 mg/kg
mỗi 72 giờ (sau lọc máu)
|
|
26
|
Gentamicin
|
Tĩnh mạch
|
5-7 mg/kg mỗi 24h
|
60-80 ml/ph: 4 mg/kg
mỗi 24h
40-60 ml/ph: 3,5
mg/kg mỗi 24h
|
30-40 ml/ph: 2,5
mg/kg mỗi 24h
20-30 ml/ph: 4 mg/kg
mỗi 48h
|
10-20 ml/ph: 3 mg/kg
mỗi 48h
0-10 ml/ph: 2 mg/kg
mỗi 72 giờ (sau lọc máu)
|
|
27
|
Tobramycin
|
Tĩnh mạch
|
5-7 mg/kg mỗi 24h
|
60-80 ml/ph: 4 mg/kg
mỗi 24h
40-60 ml/ph: 3,5
mg/kg mỗi 24h
|
30-40 ml/ph: 2,5
mg/kg mỗi 24h
20-30 ml/ph: 4 mg/kg
mỗi 48h
|
10-20 ml/ph: 3 mg/kg
mỗi 48h
0-10 ml/ph: 2 mg/kg
mỗi 72 giờ (sau lọc máu)
|
|
Fluoroquinolon
|
|
28
|
Ciprofloxacin
|
Tĩnh mạch
|
400 mg mỗi 8-12h
|
400 mg mỗi 8- 12h
|
30-50 ml/ph 400 mg
mỗi 12h
<30 ml/ph: 400mg
mỗi 24h
|
400 mg mỗi 24h
|
|
Uống
|
500-750 mg/12h
|
500-750 mg/12h
|
250-500 mg/12h
|
250-500 mg/24h
|
|
29
|
Moxiflloxacin
|
Uống, Tĩnh mạch
|
400 mg mỗi 24h
|
400 mg mỗi 24h
|
400 mg mỗi 24h
|
400 mg mỗi 24h
|
|
30
|
Levofloxacin
|
Uống, Tĩnh mạch
|
750 mg mỗi 24h hoặc
500 mg mỗi 12h
|
>50 ml/ph: 750 mg
mỗi 24h hoặc liều đầu 500 mg, các liều sau 250 mg mỗi 12h
|
20-49 ml/ph: 750 mg
mỗi 48h hoặc liều đầu 500 mg, các liều sau 125 mg mỗi 12h
|
<20 ml/ph: 750 mg
x 1 liều sau đó 500mg mỗi 48h hoặc liều đầu 500 mg, các liều sau 250
mg mỗi 12h
|
|
Macrolid
|
|
31
|
Erythromycin
|
Uống
|
500 mg mỗi 6h, tối đa
4g/ngày
|
Không cần hiệu chỉnh
liều cho người bệnh suy thận
|
|
32
|
Clarithromycin
|
Uống, Tĩnh mạch
|
500 mg mỗi 12h
|
500 mg mỗi 12h
|
500 mg mỗi 12- 24h
|
500 mg mỗi 24h
|
|
33
|
Azithromycin
|
Uống, Tĩnh mạch
|
250-500 mg mỗi 24h
|
Không cần hiệu chỉnh
liều cho người bệnh suy thận
|
|
Các nhóm khác (với
vancomycin: theo dõi chức năng thận thường xuyên, cân nhắc hiệu chỉnh liều
thông qua định lượng nồng độ thuốc trong máu nếu điều kiện cho phép)
|
|
34
|
Vancomycin
|
Tĩnh mạch
|
15-30 mg/kg mỗi 12h
(không quá 2 g/lần)
(cân nhắc liều nạp
25-30mg/kg trong trường hợp nặng)
|
15-30 mg/kg mỗi 12h
|
15 mg/kg mỗi 24-96h
|
7,5 mg/kg mỗi 48- 72h
|
|
35
|
Teicoplanin
|
Tĩnh mạch
|
Liều tải: 12 mg/kg
mỗi 12h x 3 liều
Liều duy trì:12 mg/kg
mỗi 24h
|
Liều duy trì: 12
mg/kg mỗi 24h
|
Liều duy trì: 12
mg/kg mỗi 48h
|
Liều duy trì: 12
mg/kg mỗi 72h
|
|
36
|
Linezolid
|
Uống, Tĩnh mạch
|
600 mg mỗi 12h
|
Không cần hiệu chỉnh
liều cho người bệnh suy thận
|
|
37
|
Doxycyclin
|
Uống
|
100 mg mỗi 12h
|
Không cần hiệu chỉnh
liều cho người bệnh suy thận
|
|
38
|
Metronidazol
|
Tĩnh mạch
|
500 mg mỗi 8h
|
500 mg mỗi 8h
|
500 mg mỗi 8h
|
500 mg mỗi 24h
|
|
Uống
|
500 mg mỗi 8h
|
500 mg mỗi 8h
|
500 mg mỗi 8h
|
250 mg mỗi 12h
|
|
39
|
Clindamycin
|
Tĩnh mạch
|
600 mg mỗi 8h
|
Không cần hiệu chỉnh
liều cho người bệnh suy thận
|
|
Uống
|
300-450 mg mỗi 6h
|
Không cần hiệu chỉnh
liều cho người bệnh suy thận
|
|
40
|
Sulfamethoxazol/tri
methoprim (liều tính theo trimethoprim)
|
Uống, Tĩnh mạch
|
5-20 mg/kg/ngày (chia
liều mỗi 6- 12h)
|
5-20 mg/kg/ngày (chia
liều mỗi 6- 12h)
|
30-50: 5-20 mg/kg/ngày
(chia liều mỗi 6-12h)
10-29: 5-10 mg/kg/ngày
(chia liều mỗi 12h)
|
Không khuyến cáo
(nhưng nếu sử dụng, 5-10 mg/kg mỗi 24h)
|
PHỤ LỤC 2. Nồng độ kháng sinh trong huyết thanh và trong
ELF của một số kháng sinh
|
STT
|
Kháng sinh
|
Chế độ liều
|
Tỷ lệ nồng độ thuốc
trong ELF: nồng độ trong huyết thanh
|
Khả năng đạt đích
dược lực học trong ELF
|
|
1
|
Piperacilin/
tazobactam
|
4,5g mỗi 8h
|
0,57
|
Thấp
|
|
4,5g (liều tải);
13,5g/ngày (truyền
liên tục)
|
0,46
|
Trung bình (MIC <
8 mg/L)
|
|
4,5g (liều tải)
18g/ngày (truyền liên
tục)
|
0,43
|
Trung bình (MIC <
16 mg/L)
|
|
2
|
Ceftazidim
|
2g (liều tải)
4g/ngày (truyền liên
tục)
|
0,218
|
Thấp (MIC > 2
mg/L)
|
|
3
|
Cefepim
|
2g (liều tải)
4g/ngày (truyền liên
tục)
|
1,048
|
Thấp (MIC > 4
mg/L)
|
|
4
|
Ertapenem
|
1 g/ngày
|
0,30
|
Trung bình (với các
vi khuẩn nhạy cảm)
|
|
5
|
Meropenem
|
0,5g mỗi 8h x 4 liều
|
0,49-0,80
|
Thấp
|
|
1g mỗi 8h x 4 liều
|
0,32-0,53
|
Thấp
|
|
2g mỗi 8h x 4 liều
|
1 giờ: 0,1
3 giờ: 0,2
|
Thấp
|
|
6
|
Azithromycin
|
500 mg (liều đầu),
250 mg x 4 liều (uống)
|
4 giờ: 6,4
8 giờ: 13,2
12 giờ: 12,6
24 giờ: 31,3
|
Trung bình (MIC <
1 mg/L)
|
|
500 mg/ngày x 5 liều
|
4 giờ: 4,6
12 giờ: 5,1
24 giờ: 20,4
|
Cao
|
|
7
|
Levofloxacin
|
750 mg/ngày x 5 liều
(truyền tĩnh mạch)
|
4 giờ: 0,9
12 giờ: 0,5
|
Trung bình (MIC ≤ 1
mg/L)
|
|
500 mg liều đơn
(uống)
|
1 giờ: 0,8 ± 0,4
4 giờ: 0,6 ± 0,5
8 giờ: 0,7 ± 0,3
12 giờ: 0,5 ± 0,6
24 giờ: 1,0 ± 0,9
|
Thấp
|
|
500 mg/ngày x 2 ngày
(truyền tĩnh mạch)
|
1 giờ: 1,3 ± 3,1
24 giờ: 1,2 ± 3,6
|
Trung bình (MIC ≤ 1
mg/L)
|
|
500 mg mỗi 12h x 2
ngày (truyền tĩnh mạch)
|
1 giờ: 1,3 ± 4,6
12 giờ: 1,1 ± 4,0
|
Cao (MIC > 1 mg/L)
|
|
8
|
Vancomycin
|
15 mg/kg (tối thiểu 5
ngày) (truyền tĩnh mạch)
|
0,2
|
Thấp
|
|
30 mg/kg/ngày (truyền
tĩnh mạch)
|
0,0
|
Thấp
|
|
1g mỗi 12h x 9 liều
(truyền tĩnh mạch)
|
0,7 ± 0,7
|
Thấp (MIC > 1
mg/L)
|
|
9
|
Tobramycin
|
7-10 mg/kg/ngày x 2
liều
|
0,1 ± 0,0
|
Thấp
|
|
10
|
Gentamicin
|
240 mg/ngày x 1 liều
|
1 giờ: 0,3 ± 0,1
2 giờ: 0,9 ± 0,1
4 giờ: 1,1 ± 0,3
6 giờ: 0,7 ± 0,2
|
Thấp
|
|
11
|
Linezolid
|
600 mỗi 12h x 2 ngày
(truyền tĩnh mạch)
|
1 giờ: 1,1 ± 0,3
12 giờ: 1,0 ± 0,3
|
Trung bình (MIC <
4 mg/L)
|
|
600 mg (liều tải),
1200 mg/ngày (truyền liên tục) x 2 ngày
|
1,0 (0,8 - 1,1)
|
Trung bình (MIC <
4 mg/L)
|
PHỤ LỤC 3. Danh mục tương tác thuốc chống chỉ định với các
kháng sinh
|
STT
|
Thuốc 1
|
Thuốc 2
|
Hậu quả
|
Cơ chế
|
Xử trí
|
|
Kháng sinh β-lactam
|
|
1
|
Ceftriaxon
|
Calci glubionat sử
dụng đường tĩnh mạch Calci clorid sử dụng đường tĩnh mạch
Calci gluconat sử
dụng đường tĩnh mạch
Dung dịch Ringer
lactat
Dung dịch nuôi dưỡng
đường tĩnh mạch chứa calci
|
Hình thành tủa calci
- ceftriaxon tại mô phổi và thận khi dùng đồng thời đường tĩnh mạch ở trẻ sơ
sinh
|
Tạo kết tủa tại phổi và
thận, có thể dẫn đến tử vong ở trẻ sơ sinh
|
1. Chống chỉ định sử
dụng đồng thời ở trẻ sơ sinh (< 28 ngày tuổi).
2. Ở các đối tượng
khác, không trộn lẫn calci và ceftriaxon trong cùng 1 đường truyền, dùng 2
thuốc theo 2 đường truyền tại 2 vị trí khác nhau hoặc dùng lần lượt từng
thuốc sau đó khi tráng rửa đường truyền bằng dung môi tương hợp.
|
|
Kháng sinh macrolid
|
|
2
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
erythromycin
clarithromycin
|
Domperidon
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của domperidon
|
Tăng nồng độ
domperidon trong huyết thanh, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
3
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
erythromycin
clarithromycin
|
Ivabradin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của ivabradin.
|
Tăng nồng độ
ivabradin trong huyết thanh, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT và chậm nhịp tim
|
Chống chỉ định phối
hợp.
Cân nhắc thay đổi
sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn:
Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid: thay erythromycin,
clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
4
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: clarithromycin
|
Ticagrelor
|
Clarithromycin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của ticagrelor
|
Tăng nồng độ của
ticagrelor trong huyết thanh, tăng nguy cơ xuất huyết
|
Chống chỉ định phối
hợp.
Cân nhắc thay đổi
sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn:
Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay clarithromycin
bằng azithromycin.
|
|
5
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
erythromycin
clarithromycin
|
Dẫn chất statin:
simvastatin
lovastatin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của dẫn chất statin
|
Tăng nồng độ của dẫn
chất statin trong huyết thanh, tăng nguy cơ bệnh cơ hoặc tiêu cơ vân cấp
|
Chống chỉ định phối
hợp.
Cân nhắc thay đổi
sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn.
- Trong trường hợp
bắt buộc sử dụng dẫn chất statin, thay simvastatin/lovastati n bằng các dẫn
chất statin khác (lưu ý, khi sử dụng đồng thời với clarithromycin, liều pravastatin
không vượt quá 40 mg/ngày, fluvastatin không vượt quá 20 mg/ngày, thận trọng
khi phối hợp với atorvastatin).
- Trong trường hợp
bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid: thay erythromycin, clarithromycin bằng
azithromycin.
|
|
6
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
erythromycin
clarithromycin
|
Alcaloid nấm cựa gà:
dihydroergotamin
Ergotamin
Egometrin
Methylergometrin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của alcaloid nấm cựa gà
|
Tăng nồng độ của
alcaloid nấm cựa gà trong huyết thanh, tăng nguy cơ độc tính (nôn, buồn nôn,
hoại tử đầu chi, thiếu máu cục bộ do co thắt mạch…)
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
7
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
erythromycin
clarithromycin
|
Fluconazol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định
phối hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các đối tượng
người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong trường hợp
cần thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các
yếu tố nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali
máu, hạ magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định
kê đơn.
|
|
8
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
erythromycin
clarithromycin
roxithromycin
|
Colchicin
|
Kháng sinh nhóm
macrolid ức chế mạnh CYP3A4 và/hoặc ức chế P-gp làm giảm chuyển hóa và thải trừ
colchicin.
|
Tăng nồng độ
colchicin trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng độc tính (tiêu chảy, nôn,
đau bụng, sốt, xuất huyết, giảm cả ba dòng tế bào máu, các dấu hiệu độc tính
trên cơ như đau cơ, mỏi cơ hoặc yếu cơ, nước tiểu sẫm màu, dị cảm, trường hợp
nặng có thể gây suy đa tạng và tử vong).
|
1. Chống chỉ
định ở người bệnh suy gan hoặc suy thận.
2. Ở người
bệnh chức năng gan, thận bình thường: nên tránh phối hợp. Nếu phối hợp: giảm
liều colchicin. Dùng liều tiếp theo của colchicin sau 3 ngày. Theo dõi nguy
cơ độc tính của colchicin.
|
|
9
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
azithromycin
roxithromycin
spiramycin
|
Domperidon
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
10
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
azithromycin
clarithromycin
|
Haloperidol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ
định phối hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc
phải.
2. Trên các
đối tượng người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này.
Trong trường hợp cần
thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng giá các yếu tố
nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải (hạ kali máu, hạ
magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi quyết định kê đơn.
|
|
11
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
azithromycin
clarithromycin
erythromycin
|
Thioridazin
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ
định phối hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc
phải.
2. Trên các
đối tượng người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong
trường hợp cần thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng
giá các yếu tố nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải
(hạ kali máu, hạ magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi
quyết định kê đơn.
|
|
12
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
erythromycin
clarithromycin
|
Saquinavir/rit onavir
|
Kháng sinh macrolid
ức chế CYP3A4 và P-gp, làm giảm chuyển hóa và thải trừ saquinavir.
Saquinavir cũng ức
chế CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của kháng sinh macrolid
|
Tăng nồng độ kháng
sinh macrolid tăng nồng độ saquinavir, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT và xoắn
đỉnh.
|
1. Chống chỉ định
phối hợp ở người bệnh có QTc > 450 ms và saquinavir ở dạng phối hợp
ritonavir.
2. Trong trường hợp
bắt buộc phối hợp, định kỳ đo điện tâm đồ mỗi 3-4 ngày. Nếu QTc > 480 ms
hoặc tăng > 20 ms so với ban đầu, ngừng 1 trong 2 hoặc cả 2 thuốc.
|
|
13
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
clarithromycin
|
Ranolazin
|
Clarithromycin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của ranolazin
|
Tăng nồng độ
ranolazin trong huyết thanh, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT
|
Chống chỉ định phối
hợp.
Cân nhắc thay đổi
sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn:
Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay clarithromycin
bằng azithromycin.
|
|
14
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
clarithromycin
|
Tolvaptan
|
Clarithromycin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của tolvaptan
|
Tăng nồng độ
tolvaptan trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn (tăng nồng
độ natri huyết thanh, đa niệu, khát nước, giảm thể tích tuần hoàn...)
|
Chống chỉ định phối
hợp.
Cân nhắc thay đổi
sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn:
Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay clarithromycin
bằng azithromycin.
|
|
15
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
clarithromycin
|
Thuốc chẹn kênh calci
nhóm dihydropyridin:
Felodipin
Lercanidipin
|
Clarithromycin ức chế
CYP3A4 mạnh làm giảm chuyển hóa của felodipin hoặc lercanidipin
|
Tăng nồng độ
lercanidipin/fe lodipin, tăng nguy cơ hạ huyết áp nghiêm trọng
|
Chống chỉ định phối
hợp.
Cân nhắc thay đổi sang
các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn: Trong
trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid, thay clarithromycin bằng
azithromycin.
|
|
16
|
Kháng sinh nhóm
macrolid:
clarithromycin
|
Quetiapin
|
Clarithormycin ức chế
mạnh CYP3A4 làm giảm chuyển hóa của quetiapin
|
Tăng nồng độ của
quetiapin, tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT
|
Chống chỉ định phối
hợp.
Cân nhắc thay đổi
sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn:
Trong trường hợp bắt buộc sử dụng kháng sinh macrolid: thay erythromycin,
clarithromycin bằng azithromycin.
|
|
17
|
Kháng sinh nhóm
macrolid: clarithromycin
|
Everolimus
|
Clarithromycin ức chế
mạnh CP3A4 làm giảm chuyển hóa của everolimus ở gan, đồng thời, ức chế P-gp
làm giảm thải trừ everolimus khỏi cơ thể.
|
Tăng nồng độ
everolimus trong huyết thanh, tăng tác dụng bất lợi liên quan đến ức chế miễn
dịch
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
Kháng sinh
fluoroquinolon
|
|
18
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon:
Ciprofloxacin
Levofloxacin
Moxifloxacin
|
Domperidon
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
19
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon:
Ciprofloxacin
Levofloxacin
Moxifloxacin
|
Thioridazin
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ
định phối hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc
phải.
2. Trên các
đối tượng người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong
trường hợp cần thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng
giá các yếu tố nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải
(hạ kali máu, hạ magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi
quyết định kê đơn.
|
|
20
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon: Levofloxacin
|
Haloperidol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ định
phối hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc phải.
2. Trên các
đối tượng người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong
trường hợp cần thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng
giá các yếu tố nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải
(hạ kali máu, hạ magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi
quyết định kê đơn.
|
|
21
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon: Moxifloxacin
|
Amiodaron
Citalopram
Clorpromazin
Escitalopram
Haloperidol
Piperaquin/dihydroartemisinin
(piperaquin)
Sotalol
|
Hiệp đồng tăng tác
dụng
|
Tăng nguy cơ kéo dài khoảng
QT, xoắn đỉnh
|
1. Chống chỉ
định phối hợp ở các người bệnh có hội chứng QT kéo dài do di truyền hoặc mắc
phải.
2. Trên các
đối tượng người bệnh khác, tốt nhất nên tránh phối hợp các thuốc này. Trong
trường hợp cần thiết phối hợp, cần đánh giá cẩn thận nguy cơ/lợi ích và lượng
giá các yếu tố nguy cơ trên từng người bệnh, đặc biệt là rối loạn điện giải
(hạ kali máu, hạ magie máu, hạ calci máu), nhịp tim chậm, nữ giới trước khi
quyết định kê đơn.
|
|
22
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon: Ciprofloxacin
|
Tizanidin
|
Ciprofloxacin ức chế CYP1A2
mạnh làm giảm chuyển hóa của tizanidin
|
Tăng nồng độ của
tizanidin trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng bất lợi (hạ huyết áp, buồn
ngủ, nhịp tim chậm...)
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
23
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon: Ciprofloxacin
|
Duloxetin
|
Ciprofloxacin ức chế CYP1A2
mạnh làm giảm chuyển hóa của duloxetin
|
Tăng nồng độ của
duloxetin trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn (buồn ngủ,
hôn mê, hội chứng serotonin, co giật, nôn và nhịp tim nhanh...)
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
24
|
Kháng sinh nhóm
fluoroquinolon: Ciprofloxacin
|
Agomelatin
|
Ciprofloxacin ức chế CYP1A2
mạnh làm giảm chuyển hóa của agomelatin
|
Tăng nồng độ của
agomelatin trong huyết thanh, tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn(đau
đầu, buồn ngủ, mệt mỏi, kích động, lo lắng, căng thẳng, chóng mặt, tím
tái...)
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
|
Linezolid
|
|
25
|
Linezolid
|
Thuốc chống trầm cảm
ba vòng (TCA) Amitriptylin Clomipramin
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng tránh sử
dụng đồng thời linezolid và thuốc chồng trầm cảm ba vòng. Tốt nhất các thuốc
này nên sử dụng cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác
có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn.
2. Trong hợp không
thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn cấp
bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy cơ
xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử dụng
đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt trong
tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
26
|
Linezolid
|
Thuốc ức chế tái thu hồi
chọn lọc serotonin (SSRI):
Paroxetin
Fluvoxamin
Fluoxetin
Sertralin
Citalopram
Escitalopram
Venlafaxin
Duloxetin
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng
tránh sử dụng đồng thời linezolid và thuốc ức chế tái thu hồi chọn lọc
serotonin. Tốt nhất các thuốc này nên sử dụng cách nhau 2 tuần (hoặc 5 tuần
với fluoxetin). Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định
và ít có nguy cơ tương tác hơn.
2. Trong hợp
không thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn
cấp bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy
cơ xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử
dụng đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt
trong tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
27
|
Linezolid
|
Dẫn chất triptan:
Sumatriptan
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng
tránh sử dụng đồng thời linezolid và dẫn chất triptan. Tốt nhất các thuốc này
nên sử dụng cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có
cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn.
2. Trong hợp
không thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn
cấp bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy
cơ xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử
dụng đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt
trong tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
28
|
Linezolid
|
Dẫn chất opioid:
Pethidin
Tramadol
Fentanyl
Dextromethorphan
Methadon
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng
tránh sử dụng đồng thời linezolid và dẫn chất opioid. Tốt nhất các thuốc này
nên sử dụng cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay đổi sang các thuốc nhóm khác có
cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn. Trong trường hợp bắt buộc sử
dụng opioid, có thể đổi sang các opiod khác không có hoạt tính ức chế thu hồi
serotonin (morphin, codein, oxycodon, buprenorphin)
2. Trong hợp
không thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn
cấp bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy
cơ xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử
dụng đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt
trong tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
29
|
Linezolid
|
Thuốc khác:
Trazodon
Bupropion
Mirtazapin
Methylphenidat
Milnacipran
Carbamazepin
Doxylamin
|
Hiệp đồng tác dụng
serotonin.
|
Tăng nguy cơ hội
chứng serotonin (sốt cao, rối loạn nhận thức, tăng phản xạ, mất phối hợp,
rung giật cơ, cứng cơ, co giật, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng thân
nhiệt, vã mồ hôi, ảo giác, kích động hoặc bồn chồn…)
|
1. Cố gắng
tránh sử dụng đồng thời linezolid và các thuốc khác làm tăng nồng độ
serotonin. Tốt nhất các thuốc này nên sử dụng cách nhau 2 tuần. Cân nhắc thay
đổi sang các thuốc nhóm khác có cùng chỉ định và ít có nguy cơ tương tác hơn.
2. Trong hợp
không thể trì hoãn điều trị được 2 tuần, bắt buộc sử dụng dài ngày hoặc khẩn
cấp bằng linezolid và không có thuốc khác thay thế, cân bằng lợi ích và nguy
cơ xảy ra hội chứng serotonin. Nếu lợi ích vượt trội nguy cơ, vẫn có thể sử
dụng đồng thời nhưng cần giám sát chặt chẽ chặt chẽ người bệnh, đặc biệt
trong tháng đầu tiên sử dụng đồng thời 2 thuốc.
|
|
30
|
Linezolid
|
Thuốc chống
Parkinson:
Levodopa/carbidopa
Levodopa/carbidopa/entacapon
|
Tăng tích lũy
noradrenalin (norepinephrin) và dopamin.
|
Tăng nguy cơ xuất
hiện cơn tăng huyết áp (đau đầu, đánh trống ngực, cứng cổ, tăng huyết áp)
|
Chống chỉ định sử
dụng levodopa/carbidopa đồng thời hoặc trong vòng 14 ngày trước đó có sử dụng
linezolid.
|
|
31
|
Linezolid
|
Methyldopa
|
Chưa rõ.
|
Tăng nguy cơ xuất
hiện cơn tăng huyết áp (đau đầu, đánh trống ngực, cứng cổ)
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
32
|
Linezolid
|
Thuốc cường giao cảm:
Ephedrin (đường uống)
Pseudoephedrin (đường
uống)
henylephrin (đường
uống)
|
Tăng tích lũy
noradrenalin (norepinephrin)
|
Tăng nguy cơ xuất
hiện cơn tăng huyết áp (đau đầu, đánh trống ngực, cứng cổ, tăng huyết áp)
|
1. Chống chỉ
định sử dụng thuốc cường giao cảm tác động gián tiếp sử dụng đường uống đồng
thời hoặc trong vòng 14 ngày trước đó có sử dụng IMAO.
2. Đối với
các thuốc cường giao cảm sử dụng đường tiêm, cần sử dụng rất thận trọng trên
người bệnh đang dùng linezolid trong điều kiện giám sát huyết áp chặt chẽ.
|
|
33
|
Linezolid
|
Nefopam
|
Nefopam ức chế thu hồi
noradrenalin (norepinephrin)
|
Tăng nguy cơ kích
thích thần kinh trung ương (co giật, ảo giác và kích động)
|
Chống chỉ định phối
hợp.
|
|
Kháng sinh cyclin
|
|
34
|
Kháng sinh
tetracyclin:
Tetracyclin
Doxycyclin
Minocyclin
Tigecyclin
|
Dẫn chất retinoid:
Acitretin
Tretinoin
Isotretinoin
|
Hiệp đồng tăng độc
tính
|
Tăng nguy cơ tăng áp
nội sọ lành tính (phù gai thị, đau đầu, buồn nôn và nôn, và rối loạn thị
giác)
|
Chống chỉ định phối
hợp
|
Hướng dẫn VPMPCĐ năm
2026 được biên soạn trên cơ sở cập nhật các bằng chứng mới của y văn quốc tế
kết hợp với thực tiễn điều trị tại Việt Nam. So với hướng dẫn trước đây, tài
liệu này có nhiều điều chỉnh quan trọng nhằm tăng cường độ chính xác trong chẩn
đoán, chuẩn hóa sử dụng kháng sinh, mở rộng chiến lược điều trị và nâng cao
hiệu quả phòng bệnh.
1. Cập nhật
về căn nguyên vi sinh và xét nghiệm (Chương 2)
Trong phiên
bản 2026, khuyến cáo xét nghiệm kháng nguyên nước tiểu phát hiện Streptococcus
pneumoniae và Legionella pneumophila nhóm huyết thanh 1 được nhấn
mạnh rõ ràng hơn, đặc biệt ở các người bệnh VPMPCĐ nặng. So với bản hướng dẫn
trước, mức độ khuyến cáo nay được tăng cường nhờ bằng chứng mạnh hơn về giá trị
chẩn đoán nhanh và khả năng hỗ trợ lựa chọn sớm kháng sinh phù hợp.
2. Cập nhật
về chẩn đoán (Chương 3)
Phần chẩn
đoán của tài liệu 2026 được mở rộng nhờ việc đưa vào căn nguyên Burkholderia
pseudomallei với quy trình xét nghiệm chi tiết bằng cấy đờm, dịch phế quản
và cấy máu nhằm hỗ trợ phát hiện sớm. Việc bổ sung này lập luận dựa trên sự gia
tăng ghi nhận các trường hợp bệnh trong khu vực và đặc điểm diễn biến nặng nếu
chẩn đoán chậm. Phiên bản hướng dẫn trước đây chưa có nội dung hướng dẫn xét
nghiệm rõ ràng đối với nguyên nhân này.
3. Cập nhật
về dược lý lâm sàng và sử dụng kháng sinh hợp lý (Chương 4)
Hướng dẫn
2026 nhấn mạnh vai trò phối hợp của macrolid cùng beta-lactam ở người bệnh
VPMPCĐ mức độ trung bình đến nặng, ghi nhận thêm các lợi ích về điều hòa miễn
dịch bên cạnh tác dụng kháng khuẩn. Đồng thời, thang điểm PES được bổ sung vào phần
phân tầng nguy cơ, qua đó hỗ trợ bác sĩ nhận diện sớm các trường hợp dễ nhiễm
vi khuẩn kháng thuốc trong khoa ICU.
4. Cập nhật
về điều trị (Chương 5)
4.1.
Điều
trị theo mức độ nặng
Phiên bản
2026 mở rộng phạm vi điều trị đối với các người bệnh nặng và rất nặng, cho phép
chăm sóc tại khoa Hô hấp hoặc Trung tâm Hô hấp trong trường hợp cơ sở có đầy đủ
năng lực hồi sức cấp cứu. Đây là điều chỉnh phù hợp với thực tế Việt Nam, đặc
biệt trong bối cảnh hạn chế giường ICU. Trong khi đó, phiên bản hướng dẫn trước
chủ yếu khuyến cáo điều trị nhóm người bệnh này tại khoa Hồi sức tích cực.
4.2. Cập
nhật về sử dụng corticoid
Một điểm nổi
bật của hướng dẫn 2026 là phần cập nhật chi tiết hơn về chỉ định corticoid
trong VPMPCĐ nặng. Nội dung này được xây dựng dựa trên tài liệu cập nhật theo
hướng dẫn SPILF-SPLF, với sự đồng thuận từ các hội chuyên ngành lớn của Pháp
gồm SRLF (Hồi sức), SFM (Vi sinh), SFR (Chẩn đoán hình ảnh) và SFMU (Cấp cứu).
So với bản hướng dẫn trước vốn chỉ đề cập ngắn gọn việc cân nhắc corticoid
trong sốc nhiễm khuẩn, phiên bản 2026 trình bày cụ thể các chỉ định, liều
lượng, thời gian điều trị cũng như chống chỉ định, giúp thực hành lâm sàng
thống nhất và an toàn hơn.
4.3.
Điều
trị Chlamydia pneumoniae
Hướng dẫn
mới bổ sung clarithromycin liều 500 mg hai lần mỗi ngày trong 10 ngày như lựa
chọn điều trị đầu tay cho Chlamydia pneumoniae.
Kết luận
Hướng dẫn
VPMPCĐ 2026 mang tính cập nhật sâu rộng so với phiên bản hướng dẫn trước, phản
ánh những thay đổi của mô hình căn nguyên, chiến lược điều trị và nhu cầu thực
tiễn tại Việt Nam. Việc bổ sung thông tin về vi sinh, điều chỉnh phác đồ kháng
sinh, cập nhật chỉ định corticoid theo hướng dẫn quốc tế và mở rộng chiến lược
dự phòng bằng vắc xin giúp nâng cao hiệu quả quản lý bệnh, đảm bảo thực hành
lâm sàng chuẩn hóa và phù hợp với bối cảnh hiện nay.