|
BỘ NÔNG
NGHIỆP
VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TỔNG CỤC THỦY
SẢN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 982/QĐ-TCTS-KTTS
|
Hà Nội, ngày 28 tháng
10 năm 2016
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ
VIỆC BAN HÀNH HƯỚNG DẪN TÀU THUYỀN TRÁNH, TRÚ, NEO ĐẬU VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ AO,
ĐẦM, LỒNG BÈ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN KHI CÓ BÃO, ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI
TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỦY SẢN
- Căn cứ Quyết định số 57/2014/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2014 của Thủ
tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng
cục Thủy sản trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- Căn cứ Quyết định số 160/QĐ-TCTS-KN
ngày 28/3/2016 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản về việc kiện
toàn Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn chuyên ngành thủy sản;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khai thác
thủy sản,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này “Hướng dẫn tàu thuyền tránh, trú, neo đậu và giải
pháp bảo vệ ao, đầm, lồng bè nuôi trồng thủy sản khi có bão, áp thấp nhiệt đới”.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh
Văn phòng Tổng cục Thủy sản, Vụ trưởng Vụ Khai thác thủy sản, Thủ trưởng các
đơn vị có liên quan thuộc Tổng cục Thủy sản, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi
hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như
điều 3;
- Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn;
- Ban Chỉ đạo
Phòng chống lụt bão TW;
- TTr,
TCT
Vũ Văn Tám (b/c);
- Thành viên Ban chỉ huy PCTT&TKCN;
- Lưu: VT, KTTS
|
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Nguyễn Ngọc Oai
|
HƯỚNG DẪN
TÀU
THUYỀN TRÁNH, TRÚ, NEO ĐẬU VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ AO, ĐẦM, LÒNG BÈ NUÔI TRỒNG THỦY
SẢN KHÍ CÓ BÃO, ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI
(Kèm
theo Quyết định số 982/QĐ-TCTS-KTTS ngày 28/10/2016 của Tổng cục
trưởng Tổng cục Thủy sản)
I. MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT
VỀ BÃO VÀ ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI
1.1. Khái niệm về bão và áp thấp nhiệt đới
Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) gọi
chung là xoáy thuận nhiệt đới là một vùng gió xoáy có đường kính rộng hàng trăm
ki lô mét, hình thành trên vùng biển nhiệt đới, gió thổi xoáy vào
trung tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ.
- Áp thấp nhiệt đới là xoáy thuận nhiệt
đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 6 đến cấp 7 (vận tốc gió từ 39 đến 61 km/giờ)
và có thể có gió giật. ATNĐ làm biển động, sóng biển cao từ 3 đến 4 mét, gây nguy hiểm đối với
tàu thuyền.
- Bão là xoáy thuận nhiệt đới có gió mạnh
nhất từ cấp 8 (62 đến 74km/giờ) trở lên và có thể có gió giật. Bão từ cấp 10 đến
cấp 11 được gọi là bão mạnh; từ cấp 12 trở lên được gọi là bão rất mạnh. Tùy
theo từng loại bão có mức đội nguy hiểm khác nhau; bão thường, làm biển động rất
mạnh rất nguy hiểm đối với tàu thuyền; bão mạnh, làm biển động dữ dội, làm đắm
tàu thuyền; bão rất mạnh sóng biển cao trung bình đến 14 mét, biển động cực mạnh,
làm đắm tàu thuyền có trọng tải lớn.
1.2. Hoạt động của bão, ATNĐ trong vùng
biển nước ta
Trung bình mùa mưa bão ở Việt Nam từ
tháng 6 đến tháng 11 hàng năm, nhưng có sự khác nhau trong từng khu vực (hình 1).
a) Vùng biển phía Bắc (Vịnh Bắc Bộ): Mùa
bão thường kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9, thời gian bão tập trung vào tháng
7,8,9, bão nhiều nhất là trong tháng 8.
b) Vùng biển miền Trung, từ Quảng Trị (vĩ
độ 17) đến Bình Thuận (vĩ độ 11): Mùa bão thường từ tháng 9 đến tháng 11; tháng
10 thường có bão nhiều nhất.
c) Vùng biển phía nam, từ Bình Thuận kéo
dài đến hết bờ biển Nam Bộ (vĩ độ 11 xuống vĩ độ 8): Bão và áp thấp nhiệt đới
chủ yếu xảy ra trong tháng 10, 11.
(Tuy nhiên ngày nay, do biến đổi khí hậu, quy luật
hình thành và phát triển của bão đôi khi cũng có những sự thay đổi nhất định, cần theo
dõi sát diễn biến của tình hình thời tiết).

Hình 1. Diễn biến thời gian
bão, ATNĐ hoạt động trong vùng biển VN
1.3. Đường đi và tốc độ di chuyển của
bão, ATNĐ
- Đường đi của bão, ATNĐ trong khu vực
biển Đông chủ yếu theo hướng Tây (từ Tây - Bắc đến Tây - Nam); đôi khi cũng xảy
ra trường hợp đường đi của bão rất phức tạp, ngoằn ngoèo hoặc quay sang hướng
Đông - Bắc.
- Tốc độ di chuyển của bão, ATNĐ trung
bình khoảng 15 đến 20 km/giờ và
có thể có tốc độ cao hơn; trước khi đố bộ vào đất liền, tốc độ di chuyển của
bão, ATNĐ có thể tăng thêm vài ki lô mét.
1.4. Mức độ nguy hiểm của các vùng khác
nhau trong khu vực ảnh hưởng của bão
a) Ở các vùng khác nhau của một cơn bão, mức độ
nguy hiểm khác nhau;
vùng ngoài tâm bão trong phạm vi gió mạnh từ cấp 6, cấp 7 trở lên là nguy hiểm đối với tàu thuyền. Càng
gần tâm bão mức độ nguy hiểm
càng tăng.
b) Ở nửa bên phải hướng di chuyển của
bào (nửa phía Bắc của cơn bão), phạm vi gió mạnh rộng hơn, tốc độ gió, cường độ gió và
sóng biển lớn hơn, hướng gió thổi gần như thuận chiều với hướng di chuyển của
bão nên tàu thuyền rất dễ bị cuốn vào vùng tâm bão; vì vậy, nửa bên phải hướng
di chuyển của một cơn bão là nửa nguy hiểm hơn.
c) Ở nửa bên trái (nửa phía Nam của cơn
bão), bán kính gió mạnh hẹp hơn, tốc độ gió, cường độ mưa và sóng biển nhỏ hơn, hướng di
chuyển của bão gần
như ngược với hướng gió thổi nên tàu,
thuyền có thể lợi dụng sức gió để thoát ra khỏi vùng gió mạnh; vì vậy, nửa
bên trái hướng di chuyển của một cơn bão là nửa ít nguy hiểm hơn (sơ đồ 1).

Sơ đồ 1. Hai nửa
của một cơn bão và cách điều khiển tàu thuyền chống đỡ khi phải đối mặt với bão
II. CÁCH ĐIỀU KHIỂN TÀU
THUYỀN ĐI TRÁNH BÃO
2.1. Xác định vị trí tàu thuyền trong
vùng bão
a) Đối với người đi biển có kinh nghiệm và
thông thạo địa bàn có thể dễ dàng xác định vị trí tàu thuyền so với tâm bão bằng cách
quan sát hướng gió và tốc độ
gió, như sau:
- Nếu quan sát thấy gió hướng Đông Nam,
Đông - Đông Bắc hoặc các hướng nằm giữa chúng là dấu hiệu cho thấy tàu, thuyền
đang nằm ở nửa bên phải bão.
- Nếu quan sát thấy gió hướng Tây Bắc, Tây - Nam hoặc các hướng nằm
giữa chúng là dấu hiệu cho thấy tàu, thuyền đang nằm ở nửa
bên trái bão.
- Nếu quan sát thấy hướng gió Tây Bắc gần
như không thay đổi, tốc độ gió tăng dần thì đó là dấu hiệu cho thấy tàu, thuyền
đang nằm trên đường đi tới của bão.
b) Trong trường hợp
không thông thạo địa bàn có thể xác định vị trí tàu thuyền
trong vùng bão như sau:
- Nếu hướng gió đổi chiều từ trái sang phải, tức
là theo hướng thuận chiều kim đông hồ là dấu hiệu tàu thuyền đang nằm ở nửa bên phải hướng di
chuyển của bão tức là ở nửa nguy hiểm hơn.
- Nếu hướng gió đổi chiều từ phải sang
trái, tức là theo hướng ngược chiều kim đồng hồ là dấu hiệu tàu, thuyền đang nằm ở bên
trái hướng di chuyển của bão tức là ở nửa ít nguy hiểm hơn.
- Nếu qua nhiều lần quan sát mà hướng
gió không thay đổi, trong khi tốc độ gió ngày càng tăng, độ bao phủ của mây
ngày càng dày đặc là dấu hiệu tàu, thuyền đang nằm trên đường đi tới của bão (sơ đồ 2).

Sơ đồ 2. Xác định
vị trí tàu thuyền trong vùng bão
2.2. Điều khiển tàu thuyền đi tránh bão
a) Khi có tin bão xa
- Khi nhận được tin bão xa (từ các
phương tiện thông tin đại chúng: Radio, Đài thông tin duyên hải,..) các chủ
tàu, thuyền trưởng tàu cá phải thường xuyên theo dõi vị trí, hướng di chuyển của
bão để chủ động phòng
tránh.
- Kiểm tra lại việc chằng buộc không để
các vật có thể tự do dịch chuyển.
- Hạ thấp trọng tâm tàu bằng cách đưa các vật nặng,
cồng kềnh trên boong tàu xuống dưới hầm tàu.
- Kiểm tra tình trạng hoạt động của máy
chính, máy phụ, hệ thống lái, neo và dây neo tàu, số lượng neo cần thiết và tời
neo.
- Tăng cường các biện pháp làm kín nước,
như: Đóng chặt các nắp hầm, cửa kín nước xuống các khoang cá, cabin, buồng máy; chằng buộc chắc chắn các vật
dụng còn lại trên boong, chằng buộc chắc chắn và phủ bạt các nắp hầm tránh nước
biển lọt vào hầm tàu (hình 2).

Hình 2. Chằng
buộc các vật dụng còn lại trên boong và nắp hầm
- Quét dọn sạch các lỗ thoát nước 2 trên
boong tránh nước làm nghẹt các lỗ thoát nước.
- Chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện chống
thủng, chống chìm; các phương tiện cứu sinh. Chằng buộc dây theo chiều dọc tàu
để đảm bảo an toàn khi đi lại trong điều kiện sóng gió.
- Tất cả các thuyền viên phải mặc áo
phao cứu sinh.
- Sẵn sàng thu lưới khi cần thiết.
- Chủ động đưa tàu thuyền trở về nơi
tránh trú bão an toàn.
b) Khi có tin bão gần hoặc
thấy khả năng có bão
- Thu lưới ngay, trường hợp khẩn cấp có
thể phải cắt bỏ lưới.
- Tìm mọi cách đưa tàu thuyền vào nơi
neo đậu an toàn gần nhất trước khi bão tới.
- Thuyền trưởng phải xác định ngay vị
trí của tàu so với vùng nguy hiểm mà bão có thể gây ra; tùy thuộc vào tình hình
cụ thể, kịp thời cho tàu di chuyển vào bờ hoặc tránh xa vùng bão có khả năng đi
tới.
- Chuẩn bị tốt các dụng cụ đổ dầu giảm
sóng và các dụng cụ chống thủng để sử dụng khi cần.
- Thường xuyên theo dõi hướng di chuyển, tốc độ di chuyển của
bão để quyết định
hướng tàu sẽ chạy thoát ra khỏi vùng nguy hiểm về nơi trú đậu an
toàn gần nhất.
- Ưu tiên nguồn điện cho trang thiết bị
thông tin, liên lạc; buộc chặt và kéo căng ăng ten dây với máy liên lạc tầm xa; cố định ăng
ten cần với máy liên lạc tầm gần.
- Giữ liên lạc thường xuyên với các đài trực canh ven bờ (theo
bảng 1).
Bảng 1. Tần số liên lạc của một số đài trực canh
|
STT
|
Tên cơ quan
chức năng
|
Tần số liên lạc
(KHz)
|
|
Ban ngày (6h
- 18h)
|
Ban đêm (18h
- 6h)
|
|
1
|
Đài thông tin Duyên hải
|
2182; 6215;
7903; 7906; 8291; 12.290
|
2182; 6215;
7903; 7906; 8291; 12.290
|
|
2
|
Bộ đội Biên phòng
|
9030
|
6820
|
|
3
|
Hải Quân
|
7903
|
7903
|
hoặc liên lạc với các Cơ quan phòng chống
lụt bão và tìm kiếm cứu nạn ở Trung ương (theo bảng 2).
Bảng 2. Địa chỉ
liên lạc của các cơ
quan Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn
Trung ương
|
TT
|
Tên cơ quan
|
Điện thoại; Fax
|
Địa chỉ
|
|
1
|
BCH PCLB&GNTT Chuyên ngành Thủy sản
|
04.7719642
04.8353363
|
Số 10 Nguyễn Công Hoan -Ba Đình-Hà Nội
|
|
2
|
Ban chỉ đạo PCLB Trung ương
|
04.7335694
04.7335701
|
Số 2 Ngọc Hà - Ba Đình - Hà
Nội
|
|
3
|
Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn
|
04 7333664 047333845
|
Số 26 Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
|
c) Khi có tin bão khẩn cấp
- Chủ tàu, thuyền trưởng tuyệt đối không
cho tàu ra khơi trong trường hợp có tin bão khẩn cấp hoặc tin bão gần với tốc độ
di chuyển trên 20km/h và những nơi bão sẽ ảnh hưởng trực tiếp.
- Thuyền trưởng phải nắm vững và luôn
theo dõi thông tin về
vị trí tâm bão, hướng đi của bão, khoảng cách giữa tâm bão và tàu, tốc độ di
chuyển.
- Thuyền trưởng phải tìm cách đưa tàu ra
khỏi vùng xoáy của bão và chạy vào nơi trú ẩn gần nhất.
- Thuyền trưởng phải chuẩn bị ứng phó,
phân công và bố trí thuyền viên vào vị trí cụ thể.
- Thuyền trưởng phải kiểm tra, xác định
tất cả các vật nặng, cồng kềnh trên boong tàu đã được đưa xuống dưới hầm tàu.
- Kiểm tra, xác định các vật dụng trên
boong đã được chằng buộc
chắc chắn, các nắp hầm đã được chằng buộc chắc chắn và đã được phủ bạt.
- Chuẩn bị neo và dây neo tàu ở trạng
thái sẵn sàng sử dụng.
- Các phương tiện cứu sinh hiện có ở trên tàu phải ở trạng
thái sẵn sàng sử dụng
- Yêu cầu tất cả thuyền viên trên tàu phải
mặc áo phao cứu
sinh.
III. CÁCH ỨNG PHÓ KHI
TÀU THUYỀN GẶP BÃO
3.1. Điều khiển tàu chạy tránh,
trú
- Trong cabin lái, ngoài thuyền trưởng,
ít nhất luôn luôn phải có từ 01 - 02 người có khả năng lái tàu cùng trực, trong hầm
máy phải có ít nhất 02 người trực liên tục.
- Trong mọi trường hợp, không được lái
hoặc để cho tàu trôi
xuôi theo hướng gió vì bão sẽ cuốn tàu vào gần tâm bão hơn.
- Trường hợp không may tàu mất khả năng điều
động (do máy tàu bị hỏng hoặc do trục gẫy, rơi chân vịt); tại vị trí độ sâu bằng
khoảng ≤ 1/7 chiều dài dây neo thì phải thả neo ngay; trường hợp độ sâu lớn, cố
định lái ở vị trí 0°, thả neo dù để tàu trôi theo nước (hình 3).
|

|
Chú thích:
(1) Phao dây;
(2) Phao dù;
(3) Neo dù;
(4) Dây thu neo.
|
|
Hình 3. Neo dù và sơ
đồ thả neo
|
- Phải liên lạc khẩn cấp với các tàu khác đặc
biệt là tàu cùng tổ, đội đang ở trong khu vực và với đài trực canh ven bờ (bảng
1) để được ứng cứu khẩn cấp.
- Trường hợp không thể đưa kịp tàu về
vùng biển của Việt Nam mà phải vào vùng biển của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ
khác để tránh trú
bão, thì trước khi vào trú bão, thuyền trưởng phải điện báo ngay cho cơ quan chức
năng của Việt Nam biết các thông tin sau:
+ Tên tàu, tên Thuyền trưởng/Chủ tàu;
+ Số hiệu tàu, số người trên tàu;
+ Vị trí tại điểm liên lạc (vĩ độ, kinh độ);
+ Thông tin về tàu (đăng ký, chiều dài tàu, tổng
công suất máy chính).
+ Vị trí (vĩ, kinh độ) vùng biển của nước,
vùng lãnh thổ dự kiến đưa
tàu đến.
+ Sau khi vào nơi trú đậu an toàn, phải
thông báo cho cơ quan chức năng của Việt Nam biết các thông tin như trên.
+ Khi xin vào lánh nạn khẩn cấp tại các
cảng bên phía Trung Quốc: Ban ngày treo cờ chữ U hoặc cờ chữ P, ban đêm dùng đèn báo.
+ Khi vào lánh nạn, thuyền viên trên tàu
phải tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan khác của nước sở tại.
- Trong trường hợp khẩn cấp, sử dụng các
tín hiệu báo hiệu tàu bị nạn cần trợ giúp theo Luật tránh va, như: Dùng vô tuyến
điện báo phát ra tín hiệu moóc sơ SOS; dùng bất kỳ một thiết bị phát tín hiệu
sa mù nào đó để phát ra âm thanh liên tục; vv... Ban ngày treo một tín hiệu gồm một cờ hình
vuông ở bên trên hay bên dưới một quả cầu hoặc một vật có dạng hình cầu hoặc
treo cờ chữ U, ban đêm dùng đèn phát các tín hiệu bất thường, khác các tín hiệu
hàng hải trên tàu để kêu gọi sự chú ý, vv...
3.2. Điều khiển tàu thuyền chống đỡ khi
phải đối mặt với bão
- Khi tàu thuyền nằm ở nửa bão bên phải
hướng di chuyển của bão tức là nửa vòng nguy hiểm nhất, cần nhanh chóng mở hết tốc độ, đưa tàu rời xa tâm bão.
Tốt nhất nên điều khiển tàu chạy ngược gió, sao cho gió thực thổi vào mũi tàu lệch
mạn phải một góc nhọn khoảng 30 - 45 độ (sơ đồ 1) giữ cho tàu chạy theo hướng
đó cho tới khi thấy khí áp tăng, tốc độ gió, độ bao phủ của mây, cường độ mưa
đã giảm thì đó là dấu hiệu cho thấy tàu đã ở tương đối xa tâm bão. Cần tiếp tục
cho tàu chạy ra khỏi vùng nguy hiểm.
- Khi tàu thuyền nằm ở nửa bão bên trái hướng di chuyển
của bão tức là nửa vòng ít nguy hiểm hơn: nhưng không phải không có mối đe dọa
đến sự an toàn của tàu. Do vậy, cần nhanh chóng cho tàu chạy ra xa tâm bão bằng
cách điều khiển tàu chạy xuôi gió sao cho gió thổi vào đuôi tàu lệch mạn phải một
góc khoảng 30 - 45 độ (vị trí 3 - sơ đồ 1). Tiếp tục điều khiển tàu chạy theo
hướng đó cho đến khi tàu đã gần ra khỏi vùng nguy hiểm (vị trí 4 - sơ đồ 1).
- Khi tàu thuyền nằm phía trước trên đường
bão đang đi tới; trường hợp này, phải điều khiển tàu chạy theo hướng sao cho
gió thôi vào đuôi tàu lệch mạn phải và với tốc độ nhanh nhất để đưa tàu sang nửa
bão bên trái (vị trí 5 - sơ đồ 1), sau đó điều khiển tàu thoát khỏi vùng gió bão mạnh
theo các cách đã giới thiệu trên.
3.3. Điều khiển tàu thuyền khi đối mặt với
sóng cao, gió mạnh
a) Khi tàu thuyền nằm
trong vùng gần tâm bão (khu vực có gió xoáy rất mạnh, mưa cường độ lớn, tầm nhìn rất
hạn chế, sóng biển hỗn độn và có sức tàn phá lớn, biển động dữ dội):
- Với tàu có độ cân bằng tốt có thể thả
trôi sao cho mạn phải của tàu quay về hướng gió nhằm tránh bị nước trào lên boong và hạn chế được
sức đập dữ dội của sóng vào
mạn tàu. Đề phòng tàu bị lắc
ngang mạnh có thể cho tàu chạy tiến hoặc lùi kết hợp tay lại giữ cho hướng di
chuyển hợp với hướng sóng một góc thích hợp để hạn chế hiện tượng cộng hưởng, tránh bị
lật tàu.
- Với tàu có độ cân bằng kém thì không
lái tàu đi theo rãnh sóng vì sẽ bị lắc ngang mạnh, dễ bị lật úp hoặc gẫy bánh
lái.
- Trong mọi trường hợp điều tối kỵ là
lái hoặc bỏ mặc cho tàu trôi xuôi theo gió, vì gió bão sẽ cuốn tàu vào gần
tâm bão hơn, nguy hiểm hơn.
- Để giảm sức đập của sóng, có thể thực hiện, một số
biện pháp như: thả dầu nhờn xuống biển (hình 4), vứt các hàng hóa, thiết bị nặng
cồng kềnh trên boong tàu xuống biển.
|

|

|
|
Hình 4a. Khi tàu đang
chạy
|
Hình 4b. Khi tàu thả
neo
|
|

|

|

|
|
Hình 4c. Khi tàu đang
thả trôi
|
|
|
|
|
Hình 4. Cách
treo các thùng dầu để tạo
được một màng dầu bao phủ bề mặt của vùng nước phía trước và xung quanh tàu
Yêu cầu đối với việc thả dầu nhờn:
+ Đảm bảo tốc độ thả nhỏ giọt, khoảng
3kg/giờ, duy trì tối thiểu 200 lít dầu để đảm bảo ép sóng trên diện tích 5.000m2
quanh tàu;
+ Dùng dầu cá ép, dầu thảo mộc (trừ dầu dừa);
trường hợp gặp nguy hiểm mà không có dầu cá ép hoặc dầu thảo mộc, có thể dùng dầu
mỏ (trừ xăng và dầu hỏa).
b) Khi tàu chạy xuôi hướng sóng:
- Nếu thấy có hiện tượng tàu bổ nhào (lái
nâng lên, mũi chúc xuống) gây nên nhũng chấn động mạnh cho toàn con tàu thì
nhanh chóng điều chỉnh hướng đi đối với hướng sóng ở góc mạn phải 150 - 160 độ.
- Nếu xuôi sóng (điểm A - sơ đồ 3) và khoảng
20 - 30 độ;
- Nếu ngược sóng (Điểm B - sơ đồ 3).
c) Khi muốn thay đổi hướng đi của tàu:
- Phải chọn thời điểm sóng nhỏ nhất.
- Nếu góc chuyển hướng quá lớn thì nên chia ra
thành nhiều lần, mỗi lần cho tàu quay một góc khoảng 20 - 30 độ để tàu giữ được
cân bằng hơn trong sóng gió.
- Nấu chuyển hướng ngược sóng phải tăng
tốc độ để tàu lướt nhanh ngang sóng, rút ngắn khoảng thời gian chịu gió ngang.
Nếu chuyển hướng xuôi sóng thì cho tàu chạy với tốc độ trung bình rồi tăng tốc
từ từ.

Sơ đồ 3. Điều khiển tàu, thuyền chống đỡ sóng
IV. CÁCH NEO ĐẬU TÀU
THUYỀN TRÁNH, TRÚ BÃO
4.1. Neo đậu tàu thuyền trong khu neo đậu
tránh tránh trú bão
- Khi tàu thuyền vào khu neo đậu tránh
trú bão, thuyền trưởng phải chấp hành hướng dẫn neo đậu của người có trách nhiệm thuộc
Ban quản lý khu neo đậu hoặc Ban chỉ huy phòng chống lụt bão các cấp.
- Nếu diện tích Khu neo đậu rộng và có
ít tàu đang neo đậu, tốt nhất nên neo tàu một mình riêng biệt, sao cho khi neo
đã bám đáy, tàu có thể quay trở các hướng mà không bị va đập với bất cứ vật gì
và không bị mắc cạn. Thả 01-02 neo trước mũi tàu, chiều dài dây neo bằng 5 - 7
lần độ sâu nơi thả neo, góc mở giữa hai neo khoảng từ 40 ÷ 90° (hình 5).
|

|

|
|
Hình 5. Cách thả 02
neo mũi theo hình chữ V
|
|
Chú thích hình 5a: (1), (3): Vi trí thả neo;
(2), (4): Vị trí và hướng di chuyển của tàu; (5): Vị trí tàu đỗ khi 02 neo đã
bám đáy.
|
Chú thích hình 5b: (1), (4): Vị trí thả neo;
(2), (3), (5): Vị trí và hướng di chuyển của tàu; (6): Vị trí tàu đỗ khi 02
neo đã bám đáy.
|
- Nếu trong Khu neo đậu có các phao bù, cọc neo
buộc tàu:
Buộc chặt dây lái (hoặc dây mũi) vào
phao bù và xông dây ra khoảng 5 - 7m, buộc chặt hai dây mũi (hoặc hai dây lái)
vào cọc neo. Sử dụng các đệm chống va treo ở mạn tàu để tránh sự va đập giữa các tàu (hình 6).

Hình 6. Neo tàu
trong khu neo đậu có các phao bù, cọc neo buộc tàu
- Nếu trong Khu neo đậu không có phao
bù/cọc neo: Neo tàu theo hướng phía lái vào bờ; thả 02 neo phía mũi tàu, di
chuyển tàu cho neo bám đáy, chằng buộc phía lái vào các vật sẵn có trên bờ.
- Nếu trong khu neo đậu có nhiều tàu, tối
đa chỉ được neo 03 tàu liền nhau và giữa các tàu phải có đệm chống va và dây
liên kết (hình 7); khoảng cách giữa các nhóm 03 tàu liền nhau ít nhất từ 15 mét
trở lên (tương đương chiều rộng của 02 thân tàu). Có thể liên kết mỗi nhóm tàu
thành khối bằng cách sử dụng thân cây gỗ có đủ độ bền và chiều dài, chằng buộc
cố định phía mũi và lái.
|

|
|
Hình 7. Cách neo đậu
03 tàu liền nhau
|
- Nếu trong các khu neo đậu đã được thiết
kế vị trí các phao bù mang tính đặc thù thì buộc dây neo mũi, dây neo lái vào các phao bù đảm
bảo tàu neo đậu an toàn (hình 7).

4.2. Neo đậu tàu thuyền ở khu vực vịnh,
đầm, phá ven biển
Chọn những nơi khuất gió nhất và đáy biển là
cát, cát pha sét hoặc sét, neo một mình cách biệt với các tàu khác và cách xa
các vách đá và các chướng ngại vật khác, thả 01 - 02 neo mũi, chiều dài dây neo
bằng 5 - 7 lần độ sâu nơi thả neo, sao cho khi neo đã bám đáy, tàu có thể quay
trở các hướng mà không bị va đập với bất cứ vật gì và không bị mắc cạn; không ảnh
hưởng đến phao tiêu trên luồng lạch, đường phân chia giao thông (hình 9.1; 9.2 và 9.3).
|

|
Hình 9.1. Neo 02 neo mũi trên một dọc
|
|

|
Hình 9.2. Neo 02 neo mũi hình chữ V
|
|

|
Hình 9.3. Neo 02 neo mũi gần khu vực bãi cạn
|
- Đối với tàu thuyền nhỏ, có thể kéo lên
bờ cách càng xa mép nước càng tốt, kê kích, chằng buộc chắc chắn hoặc tháo máy
đưa lên bờ, đánh chìm tàu tại nơi neo đậu.
4.3. Neo đậu tàu thuyền trong sông,
kênh, rạch
- Tốt nhất di chuyển tàu sâu vào trong
sông, kênh, rạch. Chọn vị trí khuất gió, quan sát hướng thả neo cho phù hợp, tốt
nhất là theo hướng dọc sông sao cho khi tàu xoay chuyển các hướng mà không bị
va chạm vào bất cứ chướng ngại vật gì và không bị mắc cạn. Thả 01-02 neo mũi,
chiều dài dây neo bằng 05 - 07 lần
độ sâu nơi thả neo.
- Nếu neo đậu tại các sông vùng miền
Trung, cần phải hết sức lưu ý đến
lũ sau bão, không neo đậu tàu ở giữa dòng sông và không được điều động tàu di
chuyển khi còn có lũ mạnh.
4.4. Cách thả hai neo chữ V để tránh bão
a) Nếu tàu ở nửa vòng
nguy hiểm (gió đổi chiều từ trái qua phải):
Trước hết, điều động tàu đến vị trí (1),
xử lý trớn và thả neo mạn trái trước, sau đó xông dây neo, điều khiển tàu đến vị
trí (2). Cho máy lùi nhẹ, bắt đầu có trớn lùi thả neo thứ hai là neo phải, đồng thời xông dây neo thứ
nhất rồi xông thêm dây neo thứ hai. Tính toán sao cho dây neo thứ nhất (neo
trái) dài hơn dây neo thứ hai (neo phải) khoảng 1,5 ÷ 2 lần.
Khi gió đổi chiều, xông dây neo phải (neo
1) dài hơn dây neo trái (neo 2) (vị trí 4). Cho đến khi bão qua, gió đã nhẹ thì
kéo neo thứ nhất chỉ để lại neo thứ hai (hình 10).
|

|
Chú thích:
- (1), (2): vị trí thả neo;
- (3), (4) vị trí tàu khi 02 neo đã bám đáy
và khi gió đổi chiều
|
|
Hình 10. Cách thả 02 neo kiểu chữ V tránh bão
khi tàu ở nửa vòng nguy hiểm
|
b) Nếu tàu ở bên trái đường di chuyển của bão
(nửa vòng ít nguy hiểm hơn):
Điều động thả neo phải trước, neo trái
sau. Yêu cầu dây neo phải dài hơn dây neo trái khoảng từ 1,2 ÷ 1,5 lần.
Khi gió đổi chiều, xông dây neo trái dài
hơn dây neo phải.
V. GIẢI PHÁP BẢO VỆ AO,
ĐẦM, LỒNG BÈ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN KHI CÓ BÃO, ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI
5.1. Trước khi có bão xảy
ra
a) Đối với ao, đầm nuôi trồng
thủy sản
- Thu hoạch thủy sản nuôi khi đạt kích cỡ
thương phẩm;
- Thường xuyên kiểm tra và gia cố bờ ao
chắc chắn có khả năng chống chịu khi mưa lũ lớn;
- Phát quang những cành, cây xung quanh
bờ, tránh gió bão làm cành,
lá rơi vào ao gây ô nhiễm ao nuôi;
- Đặt ống xả tràn để thoát nước khi mưa lũ kéo dài
và khi mực nước trong ao quá lớn;
- Chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, cơ
sở vật chất, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu (lưới, đăng chắn, dụng cụ cọc tre,
cuốc xẻng, máy phát điện, mô tơ quại nước, vôi, tàu thuyền, phao cứu sinh...) để chủ động gia cố sửa chữa
hệ thống bờ, cống khi có tình huống xấu xảy ra;
- Đặt lưới chắn xung quanh bờ (độ cao
40-50 cm, ghim sâu 20-30cm dưới mặt đất) nhằm giảm thất thoát gây thiệt hại sản xuất khi
mưa lũ kéo dài.
- Nạo vét, khơi thông cống, rãnh, kênh
mương đảm bảo thoát nước tốt khi xảy ra mưa lũ.
- Sơ tán người lao động về nơi trú ẩn an
toàn, đảm bảo không có thiệt hại về người khi xảy ra thiên tai.
b) Đối với lồng, bè nuôi trồng
thủy sản
- Thu hoạch thủy sản nuôi khi đạt kích cỡ
thương phẩm;
- Kiểm tra, gia cố lại hệ thống dây neo,
phao lồng và di chuyển
vào khu vực kín gió, có dòng chảy nhẹ để tránh gió bão gây hư hỏng lồng;
- Trường hợp không di chuyển được lồng, cần hạ lồng xuống thấp để giảm bớt sóng, gió;
- Che chắn mặt lồng/bè bằng lưới có kích
thước mắt lưới phù hợp sao cho không để thủy sản nuôi lọt ra ngoài khi có thiên tai;
- Thường xuyên vệ sinh lồng sạch sẽ, thông
thoáng để thoát nước và treo túi vôi (3-5 kg) trước dòng chảy để phòng bệnh cho
thủy sản;
- Bố trí neo đậu tuân thủ nghiêm các yêu cầu về phòng chống lụt
bão của cơ quan quản lý địa phương.
- Sơ tán người lao động về nơi trú ẩn an
toàn, đảm bảo không có thiệt hại về người khi xảy ra thiên tai.
c) Đối với nuôi
ngao/nghêu bãi triều ven
biển
- Khẩn trương thu hoạch nhuyễn thể đã đạt kích cỡ thương phẩm;
- Gia cố chắc chắn lưới, đăng chắn tránh
để ngao/nghêu thất thoát;
- Gia cố các chòi canh, đảm bảo an toàn
cho người lao động ở trên chòi.
- Tuân thủ nghiêm yêu cầu về bờ (vào
trong đất liền) khi có lệnh của ban chỉ huy phòng chống lụt bão địa phương.
5.2. Biện pháp khắc phục hậu quả sau bão
a) Đối với ao, đầm nuôi trồng
thủy sản
- Xả bớt nước trên tầng mặt để giảm bớt lượng
nước mưa trong ao; đồng thời tiến
hành chạy máy quạt nước, sục khí nhằm hạn chế sự phân tầng nước đối với những ao
nuôi thâm canh và bán thâm canh.
- Khi mưa lớn kéo dài, nước ao nuôi bị đục,
pH bị giảm đột ngột. Nên rải
vôi xung quanh bờ ao (khoảng 10 kg/100m2), kết hợp bón vôi cho ao, đầm
nuôi để ổn định pH nước
và làm giảm độ đục của nước ao:
+ Đối với ao nuôi thủy sản nước ngọt: lượng
vôi bón 0,7-1kg/100m3
nước;
+ Đối với ao nuôi thủy sản nước mặn lợ:
lượng vôi bón 2-3kg/100m3 nước;
- Bổ sung vitamin C, chế phẩm sinh học vào
thức ăn để tăng sức đề kháng cho thủy sản nuôi.
- Tăng cường chăm sóc, quản lý ao nuôi,
kiểm tra thường xuyên các yếu tố môi trường ao nuôi, sức khỏe thủy sản nuôi để
có biện pháp xử lý kịp thời.
b) Đối với lồng, bè nuôi trồng
thủy sản
- Kiểm tra các yếu tố môi trường nước
nơi đặt lồng, bè nuôi, đảm bảo các yếu tố môi trường nằm trong ngưỡng cho phép.
Di chuyển lồng, bè về lại vùng nuôi (áp dụng với trường hợp trước bão phải di
chuyển lồng, bè để tránh bão);
- Kiểm tra, vệ sinh hệ thống dây neo,
phao lồng, lưới để đảm bảo an toàn cho hoạt động sản xuất trở lại bình thường;
- Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi
trường và sức khỏe của thủy sản nuôi để có biện pháp xử lý kịp thời.
c) Đối với nuôi ngao/nghêu
bãi triều ven biển
- Khi nước thủy triều xuống, tiến hành
kiểm tra, tu sửa đăng, chắn.
- Sau mưa bão, ngao thường tập trung vào
các góc đăng, chắn, cần tiến hành san đều ra toàn bãi.