Kính gửi: Hội
các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam.
Cục Thuế nhận được công văn số 4348/VPCP-KTTH ngày
13/5/2026 của Văn phòng Chính phủ về vướng mắc liên quan đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp theo kiến nghị của Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp
Việt Nam (VACD) tại công văn số 12/2026/CV-VACD ngày 06/4/2026. Về vấn đề này,
Cục Thuế có ý kiến đối với các nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Cục
Thuế như sau:
1. Vướng mắc STT 5 về khoản 2b
Điều 6, khoản 5 Điều 10 Nghị định 132/2020/NĐ-CP
* Tóm tắt kiến nghị: bổ sung tại dự thảo Nghị
định sửa đổi Nghị định 132/2020/NĐ-CP các quy định hướng dẫn chi tiết thực hiện
điều chỉnh loại trừ các yếu tố khác biệt trọng yếu bao gồm nhưng không giới hạn
cho các trường hợp sau:
a) Doanh nghiệp trong giai đoạn đầu hoạt động sản
xuất kinh doanh và chưa đạt 100% công suất thiết kế;
b) Doanh nghiệp trong năm thực hiện tái cấu trúc, đầu
tư mở rộng thị trường, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh;
c) Doanh nghiệp trong năm đối mặt với suy thoái
kinh tế, đứt gãy chuỗi cung ứng, các sự kiện bất khả kháng như thiên tai, hỏa
hoạn, dịch bệnh, các thay đổi và chính sách của cơ quan nhà nước, ...
Theo đó, khác biệt về giữa doanh nghiệp trong điều
kiện sản xuất kinh doanh thông thường và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong
các trường hợp nêu trên cần được xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến mức giá, tỷ
suất lợi nhuận và cho phép thực hiện điều chỉnh khác biệt để phản ánh sự cân bằng
giữa tính tuân thủ và tính khả thi trong thực tiễn, tránh phủ nhận các điều chỉnh
chỉ vì hạn chế dữ liệu khách quan.
Đề nghị ban hành công văn hướng dẫn chi tiết các
trường hợp này để tạo thuận lợi trong việc áp dụng đúng đắn chính sách thuế của
người nộp thuế.
* Đề xuất trả lời:
Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số
255/2026/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với giao dịch liên kết của những
doanh nghiệp có quan hệ liên kết.
Bản chất của giao dịch liên kết là rất đa dạng, việc
đưa ra các tiêu chí định lượng chung cho tất cả các trường hợp sẽ gặp khó khăn.
Quy định tại dự thảo Nghị định đã bám sát hướng dẫn tại các chương trình hành động
của OECD và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể lượng hóa được tất
cả các quy định mang tính định tính, cũng như không thể lượng hóa, quy định chi
tiết đối với yếu tố khác biệt trọng yếu. Việc quy định định lượng có thể thuận
lợi trong trường hợp này nhưng lại gây cứng nhắc trong trường hợp khác, đặc biệt
khi không tìm được đối tượng so sánh phù hợp với con số định lượng đã đặt ra.
Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định các nguyên tắc
phân tích, so sánh và lựa chọn đối tượng so sánh độc lập tại Điều 6, Điều 7, Điều
8, Điều 9 và Điều 10. Đồng thời quy định cụ thể các phương pháp xác định giá
giao dịch liên kết tại Điều 13, Điều 14 và Điều 15 để người nộp thuế căn cứ áp
dụng phù hợp với đặc điểm giao dịch liên kết, dữ liệu thông tin sẵn có và
nguyên tắc giao dịch độc lập.
Theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, doanh
nghiệp có quyền giải trình và cung cấp các tài liệu chứng minh về nguyên nhân lỗ,
về việc thực hiện điều chỉnh loại trừ các yếu tố khác biệt trọng yếu trong cả
các trường hợp (doanh nghiệp mới thành lập, hoặc đang giai đoạn đầu tư, do ảnh
hưởng của các yếu tố bất khả kháng...) đảm bảo nguyên tắc giao dịch độc lập.
2. Vướng mắc STT 6 về khoản 1b
Điều 1 Nghị định 20/2025/NĐ-CP
* Tóm tắt kiến nghị: đề nghị xem xét và sửa
đổi Nghị định số 20/2025/NĐ-CP bỏ cụm từ “bao gồm cả chi nhánh hạch toán độc lập
thực hiện kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp” phù hợp quy định Luật quản lý
thuế cụ thể: “k). Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp (bao gồm cả chi
nhánh hạch toán độc lập thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp)
chịu sự điều hành, kiểm soát, quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp kia;”.
* Đề xuất trả lời:
- Tại khoản 17 Điều 4 Luật Quản lý thuế số
108/2025/QH15 quy định: “17. Các bên có quan hệ liên kết là các bên tham gia
trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn vào doanh nghiệp;
các bên cùng chịu sự điều hành, kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một tổ
chức hoặc cá nhân; các bên cùng có một tổ chức hoặc cá nhân tham gia góp vốn;
các doanh nghiệp được điều hành, kiểm soát bởi các cá nhân là thành viên trong
cùng một gia đình’’.
- Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số
255/2026/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với giao dịch liên kết của những
doanh nghiệp có quan hệ liên kết. Điều 5 Nghị định số 255/2026/NĐ-CP kế thừa
quy định tại Điều 5 của Nghị định 132/2020/NĐ-CP và Nghị định số 20/2025/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung Nghị định số 132/2020/NĐ-CP như sau:
“Điều 5. Các bên có quan hệ liên kết
1. Các bên có quan hệ liên kết (sau đây gọi là
“bên liên kết”) thực hiện theo quy định tại khoản 17 Điều 4 Luật Quản lý thuế số
108/2025/QH15.
2. Các bên có quan hệ liên kết gồm:...
k) Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp
(bao gồm cả chi nhánh hạch toán độc lập thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp) chịu sự điều hành, kiểm soát, quyết định trên thực tế đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia;”.
Theo đó, nội dung tại Điều 5 Nghị định số
255/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khái niệm về các bên có quan hệ liên kết theo
hướng dẫn chiếu quy định tại Khoản 17 Điều 4 Luật Quản lý thuế 108/2025/QH15 và
cơ bản kế thừa quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP (đã được
sửa đổi tại Nghị định số 20/2025/NĐ-CP) quy định cụ thể 12 trường hợp xác định
là các bên có quan hệ liên kết (gồm 04 trường hợp liên kết về vốn, 06 trường hợp
liên kết thông qua sự điều hành, kiểm soát, 02 trường hợp liên kết khác), trong
đó bao gồm cả chi nhánh hạch toán độc lập thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp đã được thực hiện ổn định trong nhiều năm qua.
3. Vướng mắc STT 7 về khoản 2,
3 Điều 13 Nghị định 132/2020/NĐ-CP về phương pháp so sánh giá giao dịch liên kết
với giá giao dịch độc lập và Điều 2.18, 2.19 Phần B Chương II Hướng dẫn của
OECD năm 2022
* Tóm tắt kiến nghị: bổ sung các nội dung
sau tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 132/2020/NĐ-CP:
Bổ sung hướng dẫn cụ thể về điều chỉnh so sánh khi
áp dụng PP1 đối với các giao dịch mua bán hàng hóa có giá sản phẩm được công bố
trên các sàn giao dịch hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế.
Làm rõ về chứng từ bổ trợ giải trình xác định giá
giao dịch liên kết theo phương pháp này có phù hợp với dữ liệu mà người nộp thuế
có thể thu thập được khi tham chiếu tới giá trên sàn giao dịch hàng hóa này.
* Đề xuất trả lời:
Đối với trường hợp áp dụng phương pháp so sánh giá
giao dịch độc lập quy định tại Điều 13 Nghị định số 255/2026/NĐ-CP (kế thừa quy
định tại Điều 13 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP), việc xác định các điều kiện giao
dịch tương đồng phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều này.
Theo đó, việc so sánh được thực hiện trên cơ sở
không có khác biệt trọng yếu về đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng có ảnh hưởng
đến giá giao dịch; trường hợp có khác biệt trọng yếu thì phải thực hiện điều chỉnh
để loại trừ ảnh hưởng của các khác biệt này.
Đặc biệt, các yếu tố về đặc tính sản phẩm và điều
kiện hợp đồng có tác động trọng yếu đến giá sản phẩm (bao gồm: đặc tính, chất
lượng, thương hiệu, nhãn hiệu thương mại của sản phẩm và quy mô, khối lượng
giao dịch; các điều kiện hợp đồng cung cấp, chuyển giao sản phẩm; Khối lượng,
thời hạn chuyển giao, thời hạn thanh toán và các điều kiện khác của hợp đồng;
quyền phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, tài sản có ảnh hưởng đến giá trị
kinh tế và thị trường nơi diễn ra giao dịch và các yếu tố khác tác động đến giá
sản phẩm như điều kiện kinh tế và chức năng hoạt động của người nộp thuế) biến
động liên tục và có sự khác biệt hầu hết đối với các trường hợp.
4. Vướng mắc STT 8 về khoản 2
Điều 1 dự thảo Nghị định quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết
của những doanh nghiệp có quan hệ liên kết
* Tóm tắt kiến nghị: bổ sung hướng dẫn thực
hiện phân tích so sánh cho giao dịch này, khi xem xét đến các yếu tố:
- Việt Nam ngày càng tăng cường hợp tác toàn cầu,
theo đó giao dịch giữa các công ty thành viên trong Tập đoàn đa quốc gia ngày
càng đa dạng.
- Hướng dẫn về xác định giá GDLK của OECD cũng có một
Chương riêng trình bày về thỏa thuận chia sẻ chi phí và hướng dẫn phân tích
đánh giá.
* Đề xuất trả lời:
Việt Nam chính thức tham gia là thành viên thứ 159
của Diễn đàn Toàn cầu về Minh bạch và trao đổi thông tin cho mục đích thuế
(Global Forum on Transparency and Exchange of Information for Tax Purposes) thuộc
OECD vào ngày 26/12/2019. Việc tham gia diễn đàn thể hiện cam kết của Việt Nam
trong việc thực hiện tiêu chuẩn quốc tế về minh bạch thuế và trao đổi thông
tin, chống trốn thuế và xói mòn cơ sở thuế.
Quy định tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP đã bám sát hướng
dẫn tại các chương trình hành động nằm trong khuôn khổ dự án chống xói mòn cơ sở
tính thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) (Chương trình hành động số 8, 9, 10 đưa ra
các khuyến nghị sửa đổi, bổ sung quy định quản lý giá chuyển nhượng hiện hành;
hành động số 4 về các biện pháp hạn chế khấu trừ lãi vay) và đã tổng hợp các
thông lệ quốc tế tốt nhất của các nước trên thế giới khi thiết kế các quy định
tại Nghị định số 132/2020/NĐ-CP nhằm ngăn ngừa việc chuyển lợi nhuận của các tập
đoàn đa quốc gia, phòng chống chuyển giá.
Về quy định liên quan đến giao dịch chia sẻ chi
phí, sử dụng chung nguồn lực giữa các bên có quan hệ liên kết tại khoản 2 Điều
1 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP: Tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP
có quy định về nguyên tắc chi phí dịch vụ giữa các bên liên kết được tính vào
chi phí tính thuế trong kỳ (dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số
132/2020/NĐ-CP vẫn giữ quy định này), trong đó có quy định về nguyên tắc xác định
chi phí dịch vụ được tính vào chi phí tính thuế trong kỳ và không được tính vào
chi phí tính thuế trong kỳ. Các nguyên tắc trên đã bám sát hướng dẫn của OECD về
chương trình hành động trong khuôn khổ dự án chống xói mòn cơ sở tính thuế và
chuyển lợi nhuận.
5. Vướng mắc STT 9 về khoản 3
Điều 14 dự thảo Nghị định quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết
của những doanh nghiệp có quan hệ liên kết
* Tóm tắt kiến nghị: Theo hướng dẫn OECD,
khi áp dụng phương pháp pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận, doanh nghiệp cần lựa chọn
tỷ suất tính mức lợi nhuận (Profit Laval bulicator (PCI)) phù hợp nhất, phản
ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và các yếu tố tạo thành giá trị của giao dịch được
so sánh. Cụ thể, OECD đưa ra nguyên tắc PLI phải phù hợp với chức năng, tài sản
và rủi ro của bên được kiểm tra. Việc chọn PLI cũng phải dựa trên khả năng tìm
kiếm dữ liệu so sánh đáng tin cậy.
Theo đó, đề xuất chỉnh sửa, hoặc bổ sung thêm hướng
dẫn về việc xác định và lựa chọn tỷ suất lợi nhuận phù hợp cho mục đích phân
tích, so sánh. Chẳng hạn như việc lựa chọn PLI cần căn cứ theo mô hình hoạt động
kinh doanh của bên thực hiện chức năng đơn giản hơn, ít chịu rủi ro hơn và dữ
liệu tài chính đáng tin cậy hơn cho mục đích phân tích so sánh hoặc cơ sở xác định
tỷ suất lợi nhuận là số liệu kế toán của đối tượng được kiểm tra về doanh thu,
chi phí hoặc tài sản ít do các bên liên kết kiểm soát, quyết định.
* Đề xuất trả lời:
Trong quá trình xây dựng Nghị định quy định về quản
lý thuế đối với giao dịch liên kết, Bộ Tài chính đã nghiên cứu và tham khảo
kinh nghiệm quốc tế, trao đổi thường xuyên với chuyên gia của OECD để quy định
tại Điều 14 về phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận của người nộp thuế đối với
tỷ suất loại nhuận của các đối tượng so sánh độc lập. Những nguyên tắc quy định
tại Điều 14 Nghị định số 255/2026/NĐ-CP đều là các nguyên tắc cốt lõi trong hướng
dẫn của OECD và kế thừa quy định từ Nghị định 132/2020/NĐ-CP.
Mặt khác, Điều 6 Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định
nguyên tắc phân tích, so sánh và lựa chọn đối tượng so sánh độc lập (Nghị định
số 255/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 132/2020/NĐ-CP, kế thừa quy định tại Nghị
định 132/2020/NĐ-CP). Theo đó, việc phân tích so sánh, tìm kiếm đối tượng so
sánh độc lập và lựa chọn phương pháp xác định giá giao dịch liên kết phải căn cứ
vào đặc điểm của giao dịch liên kết và căn cứ vào thông tin dữ liệu sẵn có, đảm
bảo tương đồng, không có khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến mức giá đồng thời đảm
bảo độ tin cậy của các dữ liệu so sánh.
Việc kê khai, xác định giá giao dịch liên kết đòi hỏi
phải đánh giá theo từng trường hợp cụ thể dựa trên dữ liệu thực tế sẵn có, khó
áp dụng cho mọi trường hợp.
6. Vướng mắc STT 18 về khoản 2
Điều 54 Bộ Luật Lao động năm 2019 về việc tính chi phí trong trường hợp thuê
lao động
* Tóm tắt kiến nghị: sửa đổi Danh mục 20
công việc được thực hiện cho thuê lại lao động tại Phụ lục II Nghị định số
145/2020/NĐ-CP để đảm bảo cơ quan thuế cho phép tính chi phí thuê lại lao động
vào chi được trừ khi tính thuế TNDN trong kỳ.
* Đề xuất trả lời:
- Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP hướng
dẫn thi hành Luật thuế TNDN quy định:
“Điều 9. Các khoản chi được trừ khi xác định thu
nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại
Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu
nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được
trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế
liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;
...
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định
của pháp luật.
...
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng
tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác
từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền
mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia
tăng".
- Tại khoản 23 Điều 10 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP
nêu trên quy định:
“23. Khoản chi không đáp ứng điều kiện chi, nội
dung chi theo quy định của pháp luật chuyên ngành, bao gồm: Khoản chi cho làm
thêm giờ vượt mức thời gian quy định của pháp luật về lao động; khoản chi quảng
cáo trong trường hợp quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bị cấm quảng cáo
hoặc quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký với cơ quan có thẩm
quyền nhưng doanh nghiệp không thực hiện đăng ký quảng cáo theo quy định của
pháp luật; khoản chi phục vụ sản xuất, kinh doanh không đúng hoặc vượt mức chi
theo quy định của pháp luật chuyên ngành ”.
- Tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định
145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Bộ Luật lao động hướng dẫn về điều kiện
lao động và quan hệ lao động về Danh mục 20 công việc được phép thực hiện cho
thuê lại lao động. Đây là các công việc mang tính tạm thời hoặc cần chuyên môn
cụ thể mà doanh nghiệp có thể thuê ngoài. Danh mục bao gồm 20 công việc thuộc
các nhóm hành chính, kỹ thuật, dịch vụ và vận hành, như phiên dịch, thư ký, lễ
tân, hỗ trợ bán hàng, vệ sinh, bảo vệ, lái xe, và các kỹ thuật chuyên sâu về
máy móc, khai thác mỏ... Doanh nghiệp cho thuê lại lao động chỉ được phép thực
hiện đối với các công việc nằm trong danh mục này.
Pháp luật về thuế TNDN quy định, về nguyên tắc doanh
nghiệp có các khoản chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thuế
GTGT, phù hợp với pháp luật chuyên ngành thì được tính vào chi phí được trừ khi
xác định thu nhập chịu thuế TNDN trong kỳ.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp có các khoản chi
thuê lao động thời vụ của các doanh nghiệp cho thuê lại lao động, tuy nhiên điều
kiện lao động và quan hệ lao động không thuộc Danh mục 20 công việc được phép
thực hiện cho thuê lại lao động quy định tại Phụ lục II Nghị định số
145/2020/NĐ-CP thì doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ khi tính
thuế TNDN đối với khoản chi thuê lao động trên.
Liên quan đến vấn đề này, Cục Thuế có công văn số
3705/CT-CS ngày 05/6/2026 trả lời Thuế tỉnh Phú Thọ như sau:
“Về vướng mắc của Thuế tỉnh Phú Thọ liên quan đến
hoạt động cho thuê lại lao động, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội (Bộ Nội vụ)
đã có công văn số 515/CTL&BHXH-CSLĐ ngày 31/3/2026, Bộ Khoa học công nghệ
đã có công văn số 1990/BKHCN-KHTC ngày 02/04/2026 phúc đáp Công văn số
1543/CTCS ngày 17/3/2026 của Cục Thuế.
...
Trường hợp doanh nghiệp có các khoản chi phí mà
khoản chi này vi phạm pháp luật chuyên ngành thì không được trừ khi xác định
thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 23 Điều 10 Nghị
định số 320/2025/NĐ-CP của Chính phủ, việc kê khai khấu trừ thuế giá trị gia
tăng theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP và Điều 14 Luật Thuế
giá trị gia tăng số 48/2024/QH15”.
Do đó, đối với kiến nghị sửa đổi Danh mục 20 công
việc được cho thuê lại lao động tại Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, đề nghị đơn vị
có ý kiến đối với Bộ Nội vụ và Lao động là đơn vị chủ trì, xây dựng Nghị định số
145/2020/NĐ-CP nêu trên để đảm bảo đúng chức năng và nhiệm vụ.
7. Vướng mắc STT 19 về thời điểm
xác định doanh thu tính thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp
nước ngoài tại Luật thuế TNDN số 67/2025/QH15, Nghị định 320/2025/NĐ-CP, Thông
tư 20/2025/TT-BTC
* Tóm tắt kiến nghị: Tại thời điểm ký kết hợp
đồng chuyển nhượng vốn hay thời điểm hợp đồng chuyển nhượng vốn có hiệu lực,
chưa có cơ sở pháp lý để bên bán ghi nhận thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Do đó,
Thông tư 20/2025/TT-BTC xác định ngày hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng vốn
ban đầu là thời điểm phát sinh doanh thu tính thuế TNDN của doanh nghiệp nước
ngoài là thiếu cơ sở pháp lý, không nhất quán với các quy định thuế TNDN.
Do đó, đề xuất hướng dẫn thời điểm xác định thu nhập
chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp nước ngoài để đảm bảo tính pháp lý và khả
thi của quy định.
* Đề xuất trả lời:
- Tại Điều 8 Luật Thuế TNDN quy định:
“Điều 8. Doanh thu
1. Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn
bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu,
phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa
thu được tiền.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.
- Căn cứ nội dung giao tại khoản 2 Điều 8, tại khoản
1 Điều 13 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN
quy định: "Thời điểm xác định thu nhập từ chuyển nhượng vốn là thời điểm
chuyển quyền sở hữu vốn”. Đồng thời, tại điểm c khoản 2 Điều 8 giao “Bộ
trưởng Bộ Tài chính quy định thời điểm xác định doanh thu ngoài các trường hợp
quy định tại điểm a và điểm b khoản này ”.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định
320/2025/NĐ-CP, tại điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư số 20/2026/TT-BTC ngày
12/3/2026 của Bộ Tài chính quy định: “2. Thời điểm xác định doanh thu tính
thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số trường hợp đối với doanh nghiệp nước
ngoài như sau: a) Đối với hoạt động chuyển nhượng vốn, thời điểm xác định doanh
thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng vốn ban
đầu có hiệu lực theo quy định ”.
Theo các quy định nêu trên thì:
Đối với doanh nghiệp nước ngoài: Thời điểm xác định
doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng vốn
là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng vốn bắt đầu có hiệu lực theo quy định.
Việc quy định như nêu trên đảm bảo phù hợp nguyên tắc
xác định số thuế TNDN phải nộp của các đối tượng đối với hoạt động chuyển nhượng
vốn (đối với doanh nghiệp Việt Nam là phương pháp kê khai doanh thu - chi phí,
đối với doanh nghiệp nước ngoài là phương pháp trực tiếp), không phải khi doanh
nghiệp nước ngoài phát sinh thu nhập thì mới thu thuế; đồng thời, việc quy định
như nêu trên phù hợp với quy định của Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 và thẩm
quyền được giao.
8. Vướng mắc STT 20 về phương
pháp tính thuế TNDN đối với doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt
Nam
* Tóm tắt kiến nghị: tại Thông tư
20/2026/TT-BTC đã quy định phương pháp tính thuế đối với các trường hợp doanh
nghiệp nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam mà chưa đề cập doanh nghiệp nước
ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Do vậy, đề xuất Bộ Tài chính, Cục Thuế
hướng dẫn các doanh nghiệp tuân thủ nghĩa vụ thuế đối với các hợp đồng ký với
doanh nghiệp nước ngoài và đang kê khai theo phương pháp khấu trừ thuế.
* Đề xuất trả lời:
Hiện nay, Cục Thuế đang phối hợp với Cục Quản lý,
giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (đơn vị chủ trì soạn thảo Nghị định số
320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 và Thông tư số 20/2026/TT-BTC ngày 12/3/2026)
nghiên cứu, báo cáo và trình cấp có thẩm quyền hoàn thiện quy định về phương
pháp tính thuế đối với doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt
Nam.
Cục Thuế trả lời để Quý đơn vị được biết./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Tài chính (để b/c);
- PCTr. Đặng Ngọc Minh (để b/c);
- PCTr. Lê Long (để b/c);
- Cục: CST, DNTN (BTC);
- Ban: PC, KTr (Cục Thuế);
- Website CT;
- Lưu: VT, CS.
|
TL. CỤC TRƯỞNG
KT. TRƯỞNG BAN BAN CHÍNH SÁCH,
THUẾ QUỐC TẾ
PHÓ TRƯỞNG BAN
Mạnh Thị Tuyết Mai
|