Kính
gửi: Sở Tư pháp Bắc Ninh
Thực hiện kết luận của đồng chí
Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về hoàn hiện thể chế, pháp luật
tại Phiên họp chuyên đề của Ban chỉ đạo tại Thông báo số 08-TB/BCĐTW ngày
08/8/2025 về việc “trả lời, công khai ý kiến chính thức về 1.237 nội dung kiến
nghị, phản ánh mà các Bộ, ngành nhất trí là không phải khó khăn, vướng mắc do
quy định pháp luật để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có kiến nghị,
phản ánh được biết”, Bộ Xây dựng có ý kiến đối với các kiến nghị của Sở Tư
pháp Bắc Ninh như sau:
1. Về việc
sử dụng nguồn vốn của nhà nước để phát triển nhà ở Nội dung phản ánh:
“Luật Nhà ở chỉ quy định cho
phép sử dụng vốn của Nhà nước phát triển nhà ở công vụ, nhà ở xã hội, nhà ở cho
lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở phục vụ tái định cư và cải tạo, xây dựng lại
nhà chung cư, nhà ở thuộc tài sản công khác; không có dự án khu đô thị, khu dân
cư nông thôn, nhà ở thương mại. Luật Đầu tư công cho phép sử dụng vốn đầu tư
công (là vốn của Nhà nước) đầu tư khu đô thị, nhà ở thương mại”. (Số thứ tự
số 11 phụ lục V.2.1.C)
Nội dung trả lời:
Điều 5 Luật Đầu
tư công năm 2024[1] quy định có
08 đối tượng đầu tư công, trong đó không có đối tượng là dự án đầu tư xây dựng
khu đô thị, nhà ở thương mại mà chỉ quy định đối tượng đầu tư công là: Đầu
tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, đối tượng đầu tư công
khác theo quy định của pháp luật có liên quan,…
Đối với dự án kết cấu hạ tầng
như dự án xây dựng hạ tầng tạo quỹ đất đấu giá quyền sử dụng đất thì thực hiện
theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đối với đối tượng đầu tư công
theo quy định của pháp luật về nhà ở thì đã được quy định tại khoản
2 Điều 113 Luật Nhà ở năm 2023 và chỉ sử dụng vốn đầu tư công để phát triển
nhà ở công vụ, nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở phục
vụ tái định cư và cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, nhà ở thuộc tài sản công
khác theo quy định của Luật này, không bao gồm dự án đầu tư xây dựng khu đô thị,
nhà ở thương mại.
Do vậy, quy định tại khoản 2 Điều 113 Luật Nhà ở năm 2023 là đồng bộ với quy định của
Luật Đầu tư công năm 2024.
2. Về việc
huy động vốn thông qua việc góp vốn, hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên
doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân
Nội dung phản ánh:
“Điều 43 Nghị
định 95/2024/NĐ-CP quy định điều kiện huy động vốn thông qua việc góp vốn,
hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá
nhân. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là trường hợp dự án có quy mô lớn, được
chia làm nhiều giai đoạn khác nhau thì việc huy động vốn được thực hiện 1 lần
cho cả dự án hay thực hiện theo giai đoạn?” (Số thứ tự số 11 phụ lục
V.2.2.C)
Nội dung trả lời:
Điều 43 Nghị định
số 95/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
của Luật Nhà ở chỉ quy định điều kiện huy động vốn thông qua việc góp vốn, hợp
tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân
và chủ đầu tư dự án được huy động vốn khi đáp ứng các điều kiện này, không quy
định huy động 01 lần hay nhiều lần.
3. Về việc
thẩm định giá bán nhà ở xã hội
Nội dung phản ánh:
“Nghị định số
100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của
Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội; Thông tư 05/2024/TT-BXD
ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Quy định chi tiết một số điều của Luật
Nhà ở chưa quy định về việc thẩm định giá bán nhà ở xã hội đối với trường hợp
quy định tại điểm g khoản 5 Điều 198 Luật Nhà ở năm 2023”.
(Số thứ tự số 11 phụ lục V.2.3.C)
Nội dung trả lời:
Việc xác định giá bán nhà ở xã
hội trong trường hợp chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã dành diện
tích nhà ở xã hội trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê nhưng đến
ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa cho thuê được đã được quy định tại khoản 6 Điều 12 và Điều 8 của Nghị quyết số 201/2025/QH15 ngày
29/5/2025 của Quốc hội thí điểm về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển
nhà ở xã hội.
Theo đó, khoản 1
Điều 8 của Nghị quyết số 201/2025/QH15 không quy định cơ quan quản lý nhà
nước thẩm định giá bán, giá cho thuê, giá cho thuê mua của nhà ở xã hội trước
khi bán, cho thuê, cho thuê mua mà chỉ quy định: “căn cứ phương pháp xác định
giá bán, giá thuê mua nhà ở xã hội và lợi nhuận định mức theo quy định của pháp
luật về nhà ở, chủ đầu tư tự xây dựng, thuê tư vấn có đủ điều kiện năng lực về
hoạt động xây dựng để thẩm tra trước khi chủ đầu tư phê duyệt giá bán, giá thuê
mua nhà ở xã hội”.
4. Về quy định
kỳ thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản
Nội dung phản ánh:
Điều 20 Nghị
định số 96/2024/NĐ-CP quy định liên quan đến Hội đồng thi sát hạch cấp
chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản. Việc tổ chức kỳ thi sát hạch cấp chứng
chỉ môi giới đòi hỏi nguồn lực tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất, đồng thời
không có hướng dẫn cụ thể trong quá trình xây dựng đề thi, đáp án và dự toán
kinh phí tổ chức kỳ thi. Đề nghị Bộ Xây dựng xem xét, nghiên cứu 02 phương án:
Phương án 1: Tổ chức kỳ thi như đối với cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng
cho cá nhân. Phương án 2: Bộ Xây dựng ban hành cụ thể, chi tiết từng nội dung
công việc trong quá trình tổ chức kỳ thi gồm kế hoạch, quy chế, đề thi, đáp án,
dự toán kinh phí tổ chức kỳ thi và mức thu kinh phí dự thi của thí sinh.
Nội dung trả lời:
Việc tổ chức kỳ thi sát hạch và
cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản, biên soạn bộ đề thi, kinh phí tổ
chức kỳ thi,… đã được quy định tại Điều 19 đến Điều 29 Nghị định
số 96/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều
của Luật Kinh doanh bất động sản.
5. Về quy định
dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư công để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô
thị, dân cư
Nội dung phản ánh:
“Điều 30,
31, 113 của Luật Nhà ở năm 2023 không cho phép sử dụng nguồn vốn đầu
tư công để đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật khu đô thị, khu dân cư tạo quỹ đất để
đấu giá quyền sử dụng đất cho người dân tự xây nhà ở. Tuy nhiên, quy định chuyển
tiếp để xử lý đối với các dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư công để đầu tư dự án hạ
tầng kỹ thuật khu đô thị, khu dân cư đã và đang triển khai thực hiện” (số thứ tự
số 9 phụ lục V.2.3.C).
“Điều 198 Luật
Nhà ở năm 2023 không quy định chuyển tiếp đối với các trường hợp sử dụng vốn
đầu tư công xây dựng cơ sở hạ tầng các khu dân cư, khu đô thị đã và đang triển
khai thực hiện (đã lập, phê duyệt chủ trương đầu tư, lập báo cáo nghiên cứu khả
thi hoặc đang thi công). (số thứ tự số 10 phụ lục V.2.3.C).”
Nội dung trả lời:
Điều 113, Điều
115 của Luật Đất đai năm 2024 quy định tổ chức phát triển quỹ đất được Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh giao quản lý, khai thác quỹ đất.
Khoản 1 Điều 30
của Luật Nhà ở năm 2023 quy định các loại dự án đầu tư xây dựng nhà ở,
trong đó không có dự án đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật sử dụng vốn
nhà nước để đấu giá quyền sử dụng đất.
Điểm d khoản 2
Điều 1 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 quy định: Luật này
không điều chỉnh đối với trường hợp tổ chức, cá nhân chuyển nhượng, cho thuê,
cho thuê lại quyền sử dụng đất không thuộc trường hợp chủ đầu tư kinh doanh quyền
sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản.
Khoản 2 và khoản
3 Điều 41 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định tổ chức phát triển quỹ
đất phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất trong trường hợp:
“2. Thực hiện dự án xây dựng
hạ tầng tạo quỹ đất đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng
khu đô thị có công năng phục vụ hỗn hợp, đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ
tầng xã hội với nhà ở theo quy định của pháp luật về xây dựng.
3. Thực hiện dự án xây dựng
hạ tầng tạo quỹ đất đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án khu dân cư
nông thôn; để bố trí tái định cư; dự án bố trí đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu
số để thực hiện chính sách hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số
theo quy định của Luật Đất đai”.
Khoản 1 và khoản
2 Điều 42 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định: dự án tạo quỹ đất là dự
án được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 41 Nghị định
này do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao cho tổ chức phát triển quỹ đất
trực thuộc thực hiện. Việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án tạo quỹ đất được
thực hiện như dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng vốn nhà
nước ngoài đầu tư công hoặc vốn đầu tư công theo quy định của pháp luật về xây
dựng, pháp luật về đầu tư công.
Do đó, dự án xây dựng hạ tầng tạo
quỹ đất đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về
đất đai.
Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng
trả lời về các nội dung kiến nghị, phản ánh của Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh mà
không phải khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật để Sở Tư pháp tỉnh Bắc
Ninh được biết./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng Trần Hồng Minh (để b/c);
- Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh (để b/c);
- Vụ Pháp chế (Bộ Xây dựng);
- Trung tâm Công nghệ thông tin (để đăng tải);
- Cổng pháp luật Quốc gia;
- Lưu: VT, QLN (2b).
|
TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ
THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Tống Thị Hạnh
|
[1] “1. Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội.
2. Đầu tư phục vụ hoạt động
của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội.
3. Đầu tư và hỗ trợ hoạt động
đầu tư cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi xã hội.
4. Đầu tư của Nhà nước tham
gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) theo quy định
của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư, bồi thường, chấm dứt
hợp đồng dự án PPP trước thời hạn được cấp có thẩm quyền quyết định, chi trả phần
giảm doanh thu các dự án PPP thuộc trách nhiệm của Nhà nước, thanh toán theo hợp
đồng dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển
giao (dự án BT) bằng tiền.
5. Đầu tư thực hiện nhiệm vụ
quy hoạch.
6. Cấp bù lãi suất tín dụng
ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ tài
chính nhà nước ngoài ngân sách; hỗ trợ đầu tư cho các đối tượng khác theo quyết
định của Chính phủ hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục thực hiện đầu tư tại khoản này.
7. Bố trí vốn ngân sách địa
phương để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách
xã hội chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chính phủ quy định điều
kiện, tiêu chí, nguyên tắc bố trí vốn để ủy thác thực hiện chính sách tín dụng
ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
quyết định cơ chế, chính sách cụ thể và bố trí vốn ngân sách địa phương để thực
hiện chính sách này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện ủy thác vốn ngân sách địa
phương để thực hiện chính sách ưu đãi theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh.
8. Đối tượng đầu tư công khác theo quy định của
pháp luật có liên quan”.