|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1064/QĐ-UBND
|
Phú Thọ, ngày 06
tháng 4 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH ĐỀ ÁN “ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH NGÔN NGỮ THỨ HAI VÀ TĂNG
CƯỜNG DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ GIAI ĐOẠN 2026-2035, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2045 TRONG
CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ”
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Nghị quyết số
29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế”;
Căn cứ Kết luận số 91-KL/TW
ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Nghị quyết số 71-NQ/TW
ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Căn cứ Quyết định số
2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đưa tiếng
Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến
năm 2045”; Quyết định số 2732/QĐ-TTg ngày 16/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Đề án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025-2035, định
hướng đến năm 2045; Nghị định số 222/2025/NĐ-CP ngày 08/8/2025 của Chính phủ
quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục;
Căn cứ Kết luận số 18-KL/TU ngày
05/8/2025 của Thường trực Tỉnh ủy về định hướng phát triển giáo dục trong thời
kỳ mới; Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 25/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ về phát triển giáo dục, đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2045;
Theo đề nghị của Sở Giáo dục
và Đào tạo tại Tờ trình số 45/TTr-SGD&ĐT ngày 27/3/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án “Đưa tiếng Anh
thành ngôn ngữ thứ hai và tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2026-2035,
định hướng đến năm 2045 trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”.
Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3.
Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các Sở,
Trưởng các Ban, ngành, đoàn thể; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã, phường; Thủ
trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (thay b/c);
- TT: Tỉnh ủy;
- TT HĐND tỉnh;
- Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;
- Sở GD&ĐT;
- Chánh, Phó Chánh VPUBND tỉnh;
- Lưu: VT, VX9, VX10.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Khắc Hiếu
|
|
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
ĐỀ ÁN
“ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH NGÔN NGỮ THỨ HAI VÀ TĂNG CƯỜNG DẠY VÀ HỌC NGOẠI
NGỮ GIAI ĐOẠN 2026-2035, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2045 TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ”
Phú Thọ, tháng 4 năm 2026
|
MỤC
LỤC
|
Mục
|
Nội dung
|
Trang
|
|
|
Phần thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
|
|
|
I
|
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
|
|
|
II
|
CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
|
|
|
|
Phần thứ hai
THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2021-2025
|
|
|
I
|
THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG
ANH
|
|
|
II
|
HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ,
TIẾNG ANH NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
|
|
|
III
|
ĐÁNH GIÁ CHUNG
|
|
|
IV
|
NGUYÊN NHÂN
|
|
|
|
Phần thứ ba
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
|
|
|
I
|
QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRIỂN
KHAI
|
|
|
II
|
MỤC TIÊU
|
|
|
III
|
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
|
|
|
|
Phần thứ tư
LỘ TRÌNH - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
|
|
|
I
|
LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
|
|
|
II
|
KINH PHÍ THỰC HIỆN
|
|
|
III
|
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
|
|
|
|
PHỤ LỤC
|
|
ĐỀ ÁN
“ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH NGÔN NGỮ THỨ HAI VÀ TĂNG CƯỜNG DẠY VÀ HỌC
NGOẠI NGỮ GIAI ĐOẠN 2026-2035, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2045 TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ”
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1064/QĐ-UBND ngày 06/4/2026 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Phú Thọ)
Phần thứ
nhất
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ
XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. SỰ CẦN
THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đã trở thành công cụ quan
trọng để tiếp cận tri thức, khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực và năng lực cạnh tranh của địa phương. Việc phát triển năng lực ngoại
ngữ cho học sinh, sinh viên không chỉ là yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo mà còn là điều kiện quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội, thu hút đầu tư, phát triển du lịch và hội nhập quốc tế của tỉnh
Phú Thọ.
Thực hiện chủ trương của Đảng
và Chính phủ về tăng cường dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc
dân, đặc biệt là định hướng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường
học, công tác dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thời gian qua đã đạt
được nhiều kết quả tích cực. Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng, quy mô người
học ngày càng tăng; chất lượng dạy và học ngoại ngữ từng bước được cải thiện; một
số mô hình dạy học ngoại ngữ, hoạt động trải nghiệm, giao lưu quốc tế bước đầu
được triển khai tại các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới,
công tác dạy và học ngoại ngữ của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế như: đội ngũ giáo
viên còn thiếu và chưa đồng đều về năng lực; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
học chưa đáp ứng yêu cầu; môi trường sử dụng tiếng Anh trong nhà trường còn hạn
chế; chất lượng học sinh giữa các vùng còn chênh lệch; việc ứng dụng công nghệ
và xây dựng hệ sinh thái học tập ngoại ngữ chưa đồng bộ.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng
và triển khai Đề án phát triển dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là đưa tiếng Anh
trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ là hết sức
cần thiết, nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng dạy và học ngoại ngữ,
góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh trong giai đoạn mới.
II. CĂN CỨ
XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Cơ sở
chính trị
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”;
- Kết luận số 91-KL/TW ngày
12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về đổi mới căn bản toàn diện
giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”;
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
- Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày
24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới;
- Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày
22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
- Kết luận số 18-KL/TU ngày 05/8/2025
của Thường trực Tỉnh ủy về định hướng phát triển giáo dục trong thời kỳ mới.
- Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày
25/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về phát triển giáo dục, đào tạo
tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Cơ sở
pháp lý
- Luật Giáo dục số 43/2019/QH14
ngày 14/06/2019; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số
123/2025/QH15 ngày 10/12/2025;
- Nghị quyết số 51/NQ-CP ngày
18/3/2025 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực
hiện Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực
hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BCH Trung ương Đảng khóa XI “Về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế”;
- Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày
15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển
giáo dục và đào tạo;
- Nghị định số 222/2025/NĐ-CP
ngày 08/8/2025 của Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài
trong các cơ sở giáo dục;
- Quyết định số 1705/QĐ-TTg
ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển giáo
dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Quyết định số 2371/QĐ-TTg
ngày 27/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn
ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045”; Quyết
định số 2732/QĐ-TTg ngày 16/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề
án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025-2035, định hướng đến năm
2045;
- Các Thông tư của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo: số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình
giáo dục phổ thông; số 50/2020/TT-BGDĐT ngày 31/12/2020 ban hành Chương trình
làm quen với tiếng Anh dành cho trẻ em mẫu giáo; số 12/2022/TT-BGDĐT ngày 26/7/2022
ban hành Chương trình Giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông; số
37/2021/TT-BGDĐT ngày 30/12/2021 ban hành Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp
tiểu học; số 38/2021/TT-BGDĐT ngày 30/12/2021 ban hành Danh mục thiết bị dạy học
tối thiểu cấp trung học cơ sở; số 39/2021/TT-BGDĐT ngày 30/12/2021 ban hành
Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp trung học phổ thông;…
- Đề án “Phát triển giáo dục và
đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Phần thứ
hai
THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC
NGOẠI NGỮ TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN
2021-2025
I. THỰC
TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH
1. Quy
mô, mạng lưới trường lớp dạy và học ngoại ngữ, tiếng Anh
Tỉnh Phú Thọ hiện có mạng lưới
cơ sở giáo dục được quy hoạch tương đối đồng bộ, bảo đảm đầy đủ các cấp học,
trình độ đào tạo từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp,
giáo dục thường xuyên và giáo dục đại học. Đây là điều kiện quan trọng để triển
khai các chủ trương, chính sách phát triển giáo dục, trong đó có việc tăng cường
dạy và học ngoại ngữ, đưa tiếng Anh từng bước trở thành ngôn ngữ thứ hai trong
trường học.
Toàn tỉnh hiện có 1.965 cơ sở
giáo dục, gồm: 708 trường mầm non; 441 trường tiểu học; 612 trường trung học cơ
sở; 137 trường trung học phổ thông; 33 trung tâm giáo dục thường xuyên và giáo
dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên; 30 trường cao đẳng, trung cấp; 04 trường
đại học và 01 phân hiệu đại học.
Mạng lưới cơ sở giáo dục tạo nền
tảng quan trọng để tổ chức dạy và học ngoại ngữ trên phạm vi toàn tỉnh. Những
năm qua, công tác dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đã có bước chuyển
biến tích cực. Quy mô người học tiếp tục được mở rộng; nhận thức của xã hội, của
phụ huynh và người học về vai trò của tiếng Anh trong học tập, việc làm và hội
nhập quốc tế ngày càng được nâng lên. Một số cơ sở giáo dục đã quan tâm đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; chủ động tổ chức các hoạt động giao lưu,
trải nghiệm, câu lạc bộ tiếng Anh, bước đầu hình thành môi trường học tập ngoại
ngữ trong nhà trường.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai
cho thấy việc phát triển dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn
chế. Mặt bằng chất lượng giữa các vùng còn chênh lệch khá rõ, đặc biệt giữa khu
vực đô thị, đồng bằng với miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đội ngũ
giáo viên tiếng Anh còn thiếu về số lượng, chưa đồng đều về năng lực chuyên môn
và phương pháp giảng dạy. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và môi trường sử
dụng tiếng Anh trong nhà trường còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ
sinh thái học tập ngoại ngữ theo định hướng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ
hai trong giáo dục. Cụ thể:
a) Giáo dục mầm non
Toàn tỉnh hiện có 708 trường mầm
non, trong đó 376 trường tổ chức cho trẻ làm quen với tiếng Anh, đạt 53,1%. Việc
triển khai có sự khác biệt khá rõ giữa các vùng: vùng thuận lợi: 233/290 trường,
đạt 80,3%; vùng khó khăn: 120/311 trường, đạt 38,6%; vùng đặc biệt khó khăn:
23/107 trường, đạt 21,5%.
Kết quả trên cho thấy hoạt động
làm quen với tiếng Anh tại bậc mầm non đã được triển khai và từng bước mở rộng,
đặc biệt tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi. Nhiều cơ sở
giáo dục (CSGD) đã chủ động tổ chức các hoạt động làm quen với tiếng Anh thông
qua các hình thức học tập, trải nghiệm phù hợp với lứa tuổi, góp phần bước đầu hình
thành sự hứng thú và nền tảng tiếp cận ngoại ngữ cho trẻ.
Tuy nhiên, việc triển khai còn
chưa đồng đều giữa các vùng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội và
nguồn lực của địa phương. Hiện nay chưa có vị trí việc làm giáo viên tiếng Anh
trong cơ cấu biên chế giáo dục mầm non, việc tổ chức dạy học chủ yếu thông qua
hình thức hợp đồng hoặc liên kết với các trung tâm ngoại ngữ nên thiếu tính ổn
định và bền vững.
Nguồn kinh phí thực hiện phần lớn
dựa vào xã hội hóa và đóng góp của cha mẹ trẻ, dẫn đến sự chênh lệch đáng kể
trong điều kiện tổ chức giữa các khu vực. Công tác quản lý, kiểm tra hoạt động
liên kết còn gặp khó khăn do đội ngũ cán bộ quản lý mầm non chưa được đào tạo
chuyên sâu về ngoại ngữ; nhận thức của một bộ phận phụ huynh về vai trò của việc
làm quen với tiếng Anh ở lứa tuổi mầm non còn chưa đầy đủ, đặc biệt tại các địa
bàn khó khăn.
b) Giáo dục tiểu học
Toàn tỉnh có 665/665 cơ sở giáo
dục có cấp tiểu học tổ chức dạy học môn tiếng Anh, đạt 100%. Số học sinh học tiếng
Anh bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 5 là 200.566/200.566 học sinh, đạt 100%. Đối với
lớp 1 và lớp 2, việc tổ chức dạy học tiếng Anh tự chọn theo Chương trình giáo dục
phổ thông 2018 được triển khai tại nhiều trường: Lớp 1: 40.593/65.311 học sinh,
đạt 62,1% Lớp 2: 40.289/62.601 học sinh, đạt 64,3%. Tổng số học sinh tiểu học
được học tiếng Anh đạt 281.448/328.478 học sinh, chiếm 85,7%.
Nhìn chung, việc triển khai dạy
học tiếng Anh ở cấp tiểu học đã đạt được những kết quả tích cực, bảo đảm thực
hiện đúng quy định của chương trình giáo dục phổ thông. Nhiều nhà trường đã
quan tâm tổ chức các hoạt động trải nghiệm, giao lưu, câu lạc bộ tiếng Anh, tạo
môi trường rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Học sinh tiểu học nhìn
chung có thái độ tích cực và hứng thú với việc học tiếng Anh. Tuy nhiên, việc dạy
học tiếng Anh tự chọn ở lớp 1, lớp 2 chưa được triển khai đồng đều giữa các địa
phương, chủ yếu tập trung tại khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi;
khả năng tiếp cận ngoại ngữ sớm của học sinh giữa các vùng vẫn còn khoảng cách.
c) Giáo dục trung học
Công tác dạy và học ngoại ngữ ở
cấp trung học được triển khai đồng bộ theo Chương trình giáo dục phổ thông.
Toàn tỉnh có: 631/631 trường có cấp THCS, đạt 100%, tổ chức dạy học tiếng Anh;
137/137 trường THPT, đạt 100%, triển khai dạy học tiếng Anh. Số học sinh học tiếng
Anh: THCS: 291.649/291.649 học sinh, đạt 100%; THPT: 123.335/123.878 học sinh,
đạt 99,56%. Một số CSGD đã chủ động đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin, tổ chức câu lạc bộ tiếng Anh và các hoạt động giao
lưu, trải nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
Tuy nhiên, chất lượng dạy và học
tiếng Anh giữa các CSGD và giữa các vùng còn chênh lệch. Năng lực giao tiếp tiếng
Anh của học sinh nhìn chung còn hạn chế, đặc biệt ở các kỹ năng nghe và nói;
nhiều học sinh thiếu tự tin khi sử dụng tiếng Anh trong các tình huống thực tiễn.
Ở một số CSGD, phương pháp dạy học vẫn còn thiên về truyền thụ kiến thức ngữ
pháp, phục vụ thi cử, chưa thực sự chú trọng phát triển năng lực sử dụng ngôn
ngữ một cách toàn diện.
Việc dạy và học các ngoại ngữ
khác ngoài tiếng Anh còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung tại các trường THPT
chuyên. Tổng số học sinh học các ngoại ngữ khác là 543/123.878 học sinh, chiếm
0,44%, trong đó: Tiếng Nga: 103 học sinh (0,08%); Tiếng Pháp: 300 học sinh
(0,24%); Tiếng Trung: 105 học sinh (0,08%); Tiếng Nhật: 35 học sinh (0,03%). Điều
này cho thấy cơ cấu ngoại ngữ trong giáo dục phổ thông của tỉnh còn chưa đồng đều,
chưa tương xứng với yêu cầu đa dạng hóa ngoại ngữ phục vụ hội nhập và phát triển
nguồn nhân lực.
d) Giáo dục thường xuyên
Toàn tỉnh hiện có 33 trung tâm
giáo dục thường xuyên (GDTX), giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên
(GDNN - GDTX), trong đó 07 trung tâm tổ chức giảng dạy tiếng Anh (là môn học tự
chọn), chiếm 21,2%. Số học viên học tiếng Anh là 1.693/31.544, đạt 5%. Tỷ lệ
này cho thấy việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống GDTX chưa được quan tâm
đúng mức, quy mô người học còn rất hạn chế. Đây là khoảng trống cần được quan
tâm trong bối cảnh yêu cầu nâng cao năng lực ngoại ngữ của lực lượng lao động
ngày càng trở nên cấp thiết.
đ) Giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục đại học
Trên địa bàn tỉnh hiện có 30
trường cao đẳng, trung cấp với 35.601 học sinh, sinh viên; 04 trường đại
học và 01 phân hiệu đại học với 27.954 sinh viên. 100% học sinh, sinh viên được
học tiếng Anh theo quy định trong chương trình đào tạo, trong đó Trường Đại học
Hùng Vương có trên 1.700 sinh viên đại học Ngôn ngữ Trung Quốc. Trong giáo dục
nghề nghiệp, tiếng Anh là môn học bắt buộc thuộc khối kiến thức chung, chuẩn đầu
ra đối với trình độ trung cấp là A1; Trình độ cao đẳng là A2. Trong giáo dục đại
học, chuẩn đầu ra tiếng Anh đối với sinh viên không chuyên ngoại ngữ tối thiểu
đạt bậc 3 (B1) theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam; đối với
trình độ sau đại học là bậc 4 (B2) hoặc tương đương.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy
năng lực sử dụng tiếng Anh của một bộ phận sinh viên sau khi tốt nghiệp vẫn còn
hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế,
đặc biệt trong các ngành nghề có yếu tố công nghệ và hợp tác quốc tế.
2. Đội
ngũ giáo viên ngoại ngữ và tiếng Anh
Đội ngũ giáo viên ngoại ngữ trên
địa bàn tỉnh đã từng bước được quan tâm phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu triển
khai chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, so với yêu cầu nâng cao chất
lượng dạy và học ngoại ngữ trong giai đoạn mới, đội ngũ giáo viên vẫn còn nhiều
hạn chế cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng chuyên môn. Đó là:
- Số lượng giáo viên tiếng Anh
còn thiếu so với nhu cầu thực tế, đặc biệt ở cấp tiểu học và trung học cơ sở
khi triển khai dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ
thông 2018.
- Việc phân bổ giáo viên giữa
các địa bàn chưa hợp lý, còn mất cân đối giữa khu vực trung tâm với vùng nông
thôn, miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Tình trạng giáo
viên phải dạy liên trường hoặc kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ vẫn còn xảy ra tại một
số CSGD, ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức dạy học và công tác bồi dưỡng chuyên
môn.
- Năng lực chuyên môn và năng lực
ngoại ngữ của một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học. Khả năng ứng dụng
công nghệ số, thiết kế học liệu số, tổ chức các hoạt động dạy học phát triển
năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh còn hạn chế. Nguồn giáo viên có khả năng dạy
học các môn học khác bằng tiếng Anh theo mô hình tích hợp nội dung và ngôn ngữ
(CLIL) hoặc dạy học song ngữ còn rất ít, chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng mô hình
giáo dục song ngữ và nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ trong nhà trường.
- Đối với khu vực miền núi, vùng
khó khăn, giáo viên còn ít cơ hội tham gia các chương trình bồi dưỡng chuyên
môn, giao lưu học thuật và thực hành tiếng Anh trong môi trường thực tế. Ngoài
ra, bậc học mầm non và hệ thống GDNN- GDTX chưa có giáo viên ngoại ngữ trong
biên chế, khó khăn cho việc tổ chức triển khai các chương trình giáo dục ngoại
ngữ theo định hướng lâu dài.
a) Giáo dục mầm non
- Toàn tỉnh hiện có 13.370 giáo
viên mầm non. Trong đó, 5.938 giáo viên (34,5%) có trình độ tiếng Anh theo Khung
năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, chủ yếu ở bậc 1 (1.968 giáo viên)
và bậc 2 (3.324 giáo viên). Số giáo viên đạt trình độ từ bậc 3 trở lên còn thấp
(646 giáo viên, chiếm khoảng 4,8%), gồm 574 giáo viên đạt bậc 3 và 72 giáo viên
đạt bậc 4.
Trong tổng số giáo viên có
trình độ tiếng Anh, 72 giáo viên bậc 4 có khả năng tham gia tổ chức hoạt động
làm quen với tiếng Anh hoặc dạy song ngữ cho trẻ, tuy nhiên chủ yếu tập trung ở
khu vực thuận lợi (50 giáo viên), trong khi khu vực khó khăn chỉ có 22 giáo
viên. Hiện nay, giáo viên dạy tiếng Anh tại bậc mầm non chủ yếu là giáo viên hợp
đồng tại các cơ sở giáo dục tư thục (15 người); hệ thống trường mầm non công lập
chưa có giáo viên ngoại ngữ trong biên chế.
b) Giáo dục tiểu học
Toàn tỉnh hiện có 1.229 giáo
viên dạy tiếng Anh cấp tiểu học, cơ bản đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định.
Trong đó, 1.216 giáo viên có trình độ đại học trở lên (98,9%), 13 giáo viên
có trình độ cao đẳng (1,1%).
Tuy nhiên, so với nhu cầu triển
khai dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1, toàn tỉnh còn thiếu khoảng 317 giáo viên.
Số giáo viên có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế còn hạn chế (101 giáo viên, chiếm
8,2%), cho thấy dư địa lớn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ theo chuẩn quốc
tế.
c) Giáo dục trung học
Tổng số giáo viên dạy tiếng Anh
cấp trung học hiện có 2.343 giáo viên, gồm 1.678 giáo viên THCS và 665 giáo viên
THPT. Ngoài ra, cấp THPT có 16 giáo viên dạy các ngoại ngữ khác (03 giáo viên
tiếng Nga, 03 giáo viên tiếng Trung, 10 giáo viên tiếng Pháp). Đội ngũ giáo
viên đạt chuẩn trình độ đào tạo theo cấp học đạt 100%; số giáo viên có trình độ
trên chuẩn là 147 người (6,26%). Tuy nhiên, số giáo viên có chứng chỉ ngoại ngữ
quốc tế còn thấp (235 giáo viên, chiếm khoảng 10%). Hiện nay, số giáo viên tiếng
Anh còn thiếu khoảng 287 người, gồm 170 giáo viên cấp THCS và 117 giáo viên cấp
THPT, ảnh hưởng đến việc tổ chức dạy học và triển khai các chương trình nâng
cao chất lượng ngoại ngữ trong nhà trường.
d) Giáo dục thường xuyên
Các trung tâm GDTX và trung tâm
GDNN- GDTX trên địa bàn tỉnh hiện có 644 giáo viên, trong đó 29 giáo viên tham
gia giảng dạy tiếng Anh. Số giáo viên có trình độ tiếng Anh từ Bậc 4 trở lên
theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam là 15 người (chiếm khoảng
2,3%), gồm 13 giáo viên đạt Bậc 4 và 02 giáo viên đạt Bậc 5. Về trình độ đào tạo,
đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh chủ yếu có trình độ cử nhân (28 người), có 01
thạc sĩ.
đ) Giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục đại học
Tổng số giáo viên, giảng viên
giảng dạy tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) và giáo dục đại học
(GDĐH) là 280 người, 100% đạt chuẩn trình độ đào tạo. Trong đó, khoảng
55% đạt trình độ Bậc 5 hoặc Bậc 6 (tương đương C1, C2) theo Khung năng lực ngoại
ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam; khoảng 20% có chứng chỉ quốc tế IELTS từ 6.5 đến
8.0 hoặc tương đương. Nhìn chung, đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ tại
các cơ sở GDNN và GDĐH cơ bản đáp ứng yêu cầu đào tạo, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục
nâng cao năng lực giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh và năng lực hội nhập quốc
tế.
3. Chất
lượng học sinh và kết quả học tập
- Chất lượng học tập môn tiếng
Anh của học sinh trên địa bàn tỉnh có sự chuyển biến tích cực trong những năm gần
đây, đặc biệt tại khu vực đô thị và các cơ sở giáo dục có điều kiện thuận lợi.
Nhiều học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi, cuộc thi các cấp, góp phần
khẳng định vị thế và chất lượng giáo dục ngoại ngữ của tỉnh. Tuy nhiên, sự
chênh lệch về chất lượng học sinh giữa các vùng miền vẫn còn khá rõ rệt, nhất
là giữa khu vực đô thị với nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mặt bằng năng lực sử dụng tiếng Anh của học sinh chưa đồng đều, ảnh hưởng đến mục
tiêu nâng cao chất lượng chung và xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh trong
nhà trường.
- Việc học ngoại ngữ của học
sinh hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ yêu cầu kiểm tra, đánh giá và thi cử, chưa
hình thành thói quen sử dụng tiếng Anh thường xuyên trong học tập, sinh hoạt và
giao tiếp hằng ngày. Tiếng Anh chưa thực sự trở thành công cụ giao tiếp phổ biến
trong nhà trường theo định hướng xây dựng hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh.
- Hoạt động dạy học một số môn
khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh mới chỉ được triển khai thí điểm ở phạm vi hạn
chế. Nguyên nhân chủ yếu do năng lực tiếng Anh của giáo viên các môn khoa học tự
nhiên còn hạn chế, đồng thời chưa có chương trình, sách giáo khoa và học liệu
chính thức bằng tiếng Anh, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện và nhân rộng mô
hình.
Kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung
học phổ thông năm học 2024- 2025, điểm trung bình môn tiếng Anh của tỉnh đạt
5,42, cao hơn 0,04 điểm so với mức trung bình toàn quốc (5,38). Trong kỳ thi học
sinh giỏi quốc gia năm học 2025- 2026, tỉnh Phú Thọ có 47/54 học sinh đạt giải
(87%), trong đó: Tiếng Anh: 05 giải Nhì, 07 giải Ba, 11 giải Khuyến khích; Tiếng
Nga: 01 giải Nhì, 02 giải Khuyến khích; Tiếng Pháp: 02 giải Nhất, 07 giải Nhì,
05 giải Ba, 02 giải Khuyến khích; Tiếng Trung: 01 giải Nhì, 01 giải Ba, 03 giải
Khuyến khích. Tuy nhiên, số lượng và chất lượng giải chưa cao, chưa bền vững.
4. Chương
trình, phương pháp và môi trường học tập
- Chương trình môn Tiếng Anh tại
các cấp học trên địa bàn tỉnh được triển khai thống nhất theo quy định của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, bảo đảm nội dung, thời lượng và yêu cầu cần đạt theo
Chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện,
phương pháp dạy học tại một số cơ sở giáo dục vẫn còn thiên về truyền thụ kiến
thức, phục vụ kiểm tra và thi cử; chưa chú trọng đúng mức đến việc tạo môi trường
thực hành và phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ trong thực tiễn.
- Công tác kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn tiếng Anh ở nhiều đơn vị còn nặng về đánh giá kiến thức ngữ pháp
và từ vựng; việc đánh giá năng lực giao tiếp theo định hướng phát triển phẩm chất,
năng lực người học và tiệm cận chuẩn quốc tế (CEFR) chưa được triển khai đồng bộ.
Việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra, đánh giá còn hạn
chế, chưa phát huy hiệu quả trong nâng cao chất lượng và tính khách quan của hoạt
động đánh giá.
- Môi trường sử dụng tiếng Anh
trong và ngoài lớp học chưa phong phú và thiếu tính thường xuyên; cơ hội giao
tiếp và thực hành ngôn ngữ của học sinh còn hạn chế. Các hoạt động giao lưu quốc
tế, trao đổi văn hóa, trải nghiệm học tập bằng tiếng Anh chưa được tổ chức nhiều
và chưa có chiều sâu.
- Hoạt động ngoại khóa, câu lạc
bộ tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục chưa được triển khai phổ biến; mô hình “trường
học sử dụng tiếng Anh”, “môi trường song ngữ” mới chỉ dừng ở phạm vi
thí điểm tại một số đơn vị, chưa được nhân rộng trên toàn địa bàn tỉnh. Vì vậy,
hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh trong nhà trường chưa hình thành rõ nét và bền vững.
5. Cơ sở vật
chất và ứng dụng công nghệ
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị
và hạ tầng công nghệ phục vụ dạy và học tiếng Anh trên địa bàn tỉnh trong những
năm qua đã từng bước được quan tâm đầu tư, góp phần hỗ trợ triển khai chương
trình giáo dục phổ thông và nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ. Tuy nhiên,
so với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và mục tiêu nâng
cao năng lực sử dụng ngoại ngữ cho học sinh, hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng
số vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cụ
thể:
- Số lượng phòng học ngoại ngữ
chuyên dụng còn thiếu, phân bố chưa hợp lý giữa các cấp học và địa bàn. Nhiều
cơ sở giáo dục chưa có phòng học ngoại ngữ riêng; hoạt động dạy học vẫn được tổ
chức trong các phòng học dùng chung làm hạn chế khả năng tổ chức các hoạt động luyện
nghe, nói và thực hành giao tiếp. Phần lớn các phòng học ngoại ngữ hiện có được
đầu tư từ Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn
2017-2025; đến nay nhiều thiết bị đã xuống cấp, hư hỏng hoặc không còn đáp ứng
yêu cầu sử dụng, trong khi chưa được đầu tư nâng cấp, thay thế kịp thời.
- Hạ tầng số phục vụ dạy và học
ngoại ngữ chưa được xây dựng đồng bộ. Hiện nay chưa hình thành hệ sinh thái số
thống nhất cấp tỉnh phục vụ dạy và học tiếng Anh, bao gồm hệ thống quản lý học tập
(LMS), ngân hàng học liệu số, ngân hàng câu hỏi - đề thi chuẩn hóa, hệ thống
luyện tập và đánh giá toàn diện các kỹ năng ngoại ngữ, đặc biệt là kỹ năng nói.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng học tập trực tuyến
trong dạy và học tiếng Anh còn hạn chế, chưa phát huy hiệu quả trong hỗ trợ cá
thể hóa học tập và nâng cao chất lượng dạy học.
- Điều kiện tiếp cận hạ tầng mạng
Internet và thiết bị học tập cá nhân của học sinh chưa đồng đều giữa các khu vực,
đặc biệt tại vùng nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai các mô hình học tập trực tuyến,
học tập kết hợp (blended learning) và các giải pháp ứng dụng công nghệ trong dạy
học ngoại ngữ.
- Nguồn lực đầu tư cho phát triển
dạy và học tiếng Anh còn phân tán, chưa tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm có
tính đột phá như phát triển đội ngũ giáo viên, xây dựng hệ sinh thái số, phát
triển học liệu số và hình thành các mô hình trường học có môi trường sử dụng tiếng
Anh. Công tác xã hội hóa giáo dục và huy động sự tham gia của các tổ chức,
doanh nghiệp, đối tác quốc tế trong hỗ trợ chuyên môn, công nghệ và tài chính
cho hoạt động dạy và học ngoại ngữ còn hạn chế; nguồn lực huy động từ xã hội
chưa tương xứng với nhu cầu thực tiễn. Cụ thể:
+ Giáo dục mầm non: Toàn
tỉnh hiện có 2.591 phòng học mầm non, trong đó 84 phòng (3,2%) là phòng học ngoại
ngữ riêng, còn lại 2.507 phòng (96,8%) là phòng học dùng chung. Các phòng học
ngoại ngữ chủ yếu tập trung tại các cơ sở giáo dục mầm non ở khu vực thuận lợi;
khu vực nông thôn, miền núi hầu như chưa có phòng học chuyên biệt phục vụ tổ chức
các hoạt động làm quen với tiếng Anh cho trẻ.
+ Giáo dục tiểu học: Hiện
nay, toàn tỉnh có 500 phòng học ngoại ngữ tại 665 cơ sở giáo dục có cấp tiểu học.
Phần lớn các phòng học này được đầu tư từ nguồn Đề án dạy và học ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025. Tuy nhiên, sau thời gian sử dụng,
nhiều thiết bị đã xuống cấp, hư hỏng hoặc không còn đáp ứng yêu cầu giảng dạy,
trong khi việc đầu tư nâng cấp, sửa chữa chưa được triển khai đồng bộ. Số lượng
phòng học ngoại ngữ chuyên dụng còn thiếu so với nhu cầu tổ chức dạy học tiếng
Anh theo chương trình giáo dục phổ thông.
c) Giáo dục trung học: Hệ
thống phòng học ngoại ngữ còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy học theo
định hướng phát triển năng lực học sinh. Nhiều phòng học chưa được nâng cấp, bảo
trì thường xuyên, dẫn đến thiết bị hoạt động kém hiệu quả. Cụ thể: Cấp THCS hiện
có 135 phòng học ngoại ngữ tại 612 trường; Cấp THPT có 66 phòng học ngoại ngữ tại
137 trường. Phần lớn các phòng học này được đầu tư từ nguồn kinh phí của Đề án
dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2017-2025, đến nay nhiều thiết bị đã hư hỏng, lạc
hậu hoặc không còn phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, ảnh hưởng đến
hiệu quả tổ chức dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường.
d) Giáo dục thường xuyên: Các
trung tâm GDNN-GDTX trên địa bàn tỉnh hiện có 629 phòng học. Tuy nhiên, chưa có
trung tâm nào bố trí phòng học ngoại ngữ chuyên biệt; việc giảng dạy tiếng Anh
chủ yếu được tổ chức tại các phòng học dùng chung. Trang thiết bị phục vụ dạy
và học ngoại ngữ còn thiếu và chưa được đầu tư đồng bộ, dẫn đến hiệu quả tổ chức
dạy học còn hạn chế.
đ) Giáo dục nghề nghiệp và
giáo dục đại học: Các cơ sở GDNN, GDĐH trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được
trang bị phòng học phục vụ giảng dạy ngoại ngữ, với 169 phòng tại các cơ sở
giáo dục đại học và 89 phòng tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.Tuy nhiên, số
lượng phòng học ngoại ngữ chuyên dụng và phòng thí nghiệm ngoại ngữ (language
lab) còn hạn chế; học liệu phục vụ dạy học ngoại ngữ chưa phong phú, chủ yếu vẫn
dựa vào giáo trình truyền thống, tài liệu số và học liệu trực tuyến còn ít. Việc
ứng dụng công nghệ thông tin và các phần mềm hỗ trợ dạy học ngoại ngữ chưa đồng
đều giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo và khả
năng nâng cao năng lực ngoại ngữ cho người học.
II. HOẠT
ĐỘNG DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ, TIẾNG ANH NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Những năm gần đây, hệ thống
trung tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường trên địa bàn ba khu vực Vĩnh Phúc, Phú Thọ
và Hòa Bình (trước đây) được thành lập và phát triển khá nhanh, trở thành kênh bổ
trợ quan trọng cho việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường.
Hiện toàn tỉnh có 382 trung tâm
ngoại ngữ tập trung chủ yếu ở các xã, phường trung tâm, khu vực đô thị và những
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, có nhu cầu học ngoại ngữ lớn.
Có một số trung tâm ngoại ngữ hoạt động theo mô hình chuỗi hoặc có nhiều cơ sở,
được mở rộng từ các thương hiệu giáo dục ngoại ngữ lớn, góp phần mở rộng mạng
lưới đào tạo ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh. Các trung tâm tổ chức giảng dạy 04 ngoại
ngữ gồm: tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Trong đó, nhu cầu học
tiếng Anh chiếm trên 80%.
Đối tượng học viên đa dạng, từ
lứa tuổi mầm non đến người đi làm, số học viên là trẻ mầm non và học sinh tiểu
học chiếm khoảng 70%. Năm 2025, tổng số lượt học viên tại các trung tâm đạt
30.517 lượt, trong đó tiếng Anh có hơn 22.000 lượt người học (chiếm tỷ lệ 72%),
tiếng Trung có hơn 4.000 lượt người học (chiếm tỷ lệ 13%), tiếng Nhật Bản có hơn
1.400 lượt (chiếm 5%) và tiếng Hàn hơn 2.800 lượt (chiếm 10%).
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo
viên của các trung tâm cơ bản đáp ứng các điều kiện theo quy định hiện hành,
nhiều giáo viên có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm
quốc tế như IELTS, TOEIC, TESOL, TEFL, TOEFL CELTA,... Trong tổng số 798 giáo
viên đang trực tiếp giảng dạy tại các trung tâm có 256 giáo viên nước ngoài đến
từ các nước Anh, Mỹ, Philipin, Ghana, Nam Phi, Nigeria, Algeria, Nga, New Zealand,
… tham gia giảng dạy.
Các trung tâm triển khai nhiều
chương trình đào tạo ngoại ngữ, chủ yếu gồm: chương trình tiếng Anh cho trẻ em
và học sinh phổ thông; chương trình tiếng Anh giao tiếp; chương trình luyện thi
các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế như IELTS, TOEIC, TOEFL; chương trình ngoại ngữ
phục vụ nhu cầu du học, xuất khẩu lao động và việc làm. Phương pháp dạy học từng
bước đổi mới theo hướng phát triển năng lực giao tiếp, tăng cường tương tác, hoạt
động nhóm và ứng dụng công nghệ thông tin. Nhiều trung tâm đã đầu tư cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học hiện đại, ứng dụng công nghệ số và giáo trình quốc tế,
triển khai lớp học trực tuyến hoặc mô hình học kết hợp,…góp phần đổi mới hình
thức, phương pháp dạy học ngoại ngữ.
Nhìn chung, hệ thống các trung
tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển về quy
mô, đội ngũ và điều kiện dạy học. Kết quả và tác động nổi bật của các trung tâm
ngoại ngữ đã bổ sung môi trường thực hành ngoại ngữ, góp phần nâng cao năng lực
giao tiếp và tiếp cận chuẩn quốc tế cho học sinh, hỗ trợ tích cực cho việc nâng
cao kết quả học tập môn tiếng Anh và phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu
trong các nhà trường.
Tuy nhiên, hoạt động của các
trung tâm ngoại ngữ vẫn còn một số hạn chế như: chất lượng đào tạo giữa các
trung tâm còn chênh lệch; chương trình và chuẩn đầu ra còn khác nhau; đội ngũ
giáo viên chất lượng cao còn thiếu; mạng lưới trung tâm phân bố chưa đồng đều
giữa các địa bàn; việc ứng dụng công nghệ thông tin và học liệu số trong dạy học
tại một số trung tâm còn hạn chế; công tác quản lý, kiểm tra ở một số nơi chưa
thường xuyên. Đồng thời, chi phí học tập tại một số trung tâm còn cao, dẫn đến
sự chênh lệch cơ hội tiếp cận giữa học sinh các khu vực.
III. ĐÁNH
GIÁ CHUNG
1. Ưu điểm
- Mạng lưới cơ sở giáo dục được
quy hoạch tương đối đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai dạy và học ngoại
ngữ trên phạm vi toàn tỉnh.
- Quy mô học sinh học tiếng Anh
ngày càng tăng; chương trình dạy học được triển khai thống nhất theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Một số cơ sở giáo dục đã chủ
động đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức hoạt động trải nghiệm và giao lưu ngoại
ngữ. Hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ vẫn còn một số hạn chế, chủ yếu tập
trung ở khu vực đô thị phát triển.
- Kết quả thi học sinh giỏi quốc
gia và kết quả thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh của tỉnh đạt kết quả tích cực.
2. Hạn chế
- Đội ngũ giáo viên ngoại ngữ
còn thiếu về số lượng, chưa đồng đều về năng lực và phân bố giữa các địa bàn.
- Chất lượng dạy và học ngoại
ngữ trong và ngoài nhà trường giữa các vùng còn chênh lệch.
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu.
- Môi trường sử dụng tiếng Anh
trong và ngoài nhà trường còn hạn chế; chưa hình thành hệ sinh thái học tập ngoại
ngữ bền vững.
- Việc ứng dụng công nghệ số và
xã hội hóa trong phát triển dạy và học ngoại ngữ chưa phát huy hiệu quả.
IV. NGUYÊN
NHÂN
1. Nguyên nhân khách quan
- Điều kiện kinh tế - xã hội giữa
các vùng trong tỉnh còn chênh lệch, ảnh hưởng đến việc đầu tư cơ sở vật chất và
tổ chức dạy học ngoại ngữ.
- Nguồn tuyển dụng giáo viên
ngoại ngữ chất lượng cao còn hạn chế; cơ chế chính sách thu hút giáo viên chưa
đủ mạnh.
- Chương trình, học liệu và mô
hình dạy học bằng tiếng Anh trong các môn khoa học còn thiếu và chưa đồng bộ.
2. Nguyên nhân chủ quan
- Công tác quy hoạch, phát triển
đội ngũ giáo viên ngoại ngữ chưa theo kịp nhu cầu thực tế.
- Việc đầu tư cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy học ngoại ngữ chưa được ưu tiên tập trung.
- Công tác chỉ đạo, tổ chức xây
dựng môi trường sử dụng tiếng Anh trong nhà trường chưa được triển khai đồng bộ.
- Việc huy động nguồn lực xã hội
hóa cho phát triển dạy và học ngoại ngữ còn hạn chế.
Phần thứ
ba
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM
VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
I. QUAN ĐIỂM
VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRIỂN KHAI
1. Quan
điểm chỉ đạo
a) Phát triển ngoại ngữ là nhiệm
vụ chiến lược, lâu dài và có tính đột phá, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế của tỉnh; là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị, trong đó ngành giáo dục giữ vai trò nòng cốt.
b) Nâng cao toàn diện chất lượng
dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục; từng bước đưa tiếng Anh trở thành
ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đồng thời phát triển các ngoại ngữ khác phù
hợp. Lấy năng lực sử dụng ngoại ngữ thực chất của người học làm thước đo, gắn với
chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục ngoại ngữ
công bằng giữa các vùng, tránh hình thức, chạy theo thành tích.
c) Phát triển ngoại ngữ phải gắn
với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, phục vụ thu hút đầu tư,
phát triển du lịch, công nghiệp, dịch vụ và hội nhập quốc tế; đồng thời góp phần
giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
d) Bảo đảm tính khả thi, hiệu
quả và bền vững; triển khai có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải; ưu tiên vùng
khó khăn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước thu hẹp khoảng
cách về chất lượng dạy và học ngoại ngữ giữa các vùng.
2. Định
hướng triển khai
a) Triển khai theo lộ trình phù
hợp với điều kiện thực tế của tỉnh. Phân tầng mục tiêu theo mức độ phát triển của
cơ sở giáo dục (mức 1, 2, 3); ưu tiên thí điểm tại các cơ sở đủ điều kiện, đánh
giá, rút kinh nghiệm trước khi nhân rộng. Không triển khai cơ học, đồng loạt đối
với những địa bàn còn khó khăn.
b) Lấy đội ngũ giáo viên làm khâu
then chốt. Rà soát, đánh giá năng lực giáo viên theo chuẩn; xây dựng kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên gắn với nhu cầu thực tiễn. Đồng thời có cơ chế
thu hút, đãi ngộ và giữ chân giáo viên giỏi, chính sách hỗ trợ giáo viên công
tác tại vùng đặc biệt khó khăn; khuyến khích tự học, tự bồi dưỡng nâng cao chuẩn
nghề nghiệp.
c) Bảo đảm công bằng trong tiếp
cận giáo dục ngoại ngữ. Ưu tiên đầu tư hạ tầng, thiết bị và học liệu cho khu vực
miền núi, vùng đồng bào DTTS; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm khắc phục khoảng
cách địa lý, mở rộng cơ hội tiếp cận học ngoại ngữ.
d) Phát triển ngoại ngữ theo
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Duy trì và từng bước mở rộng các
ngoại ngữ ngoài tiếng Anh tại những cơ sở đủ điều kiện; gắn đào tạo ngoại ngữ với
nhu cầu doanh nghiệp, thị trường lao động và định hướng hợp tác quốc tế; bảo đảm
triển khai có chọn lọc, hiệu quả và bền vững.
e) Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác
quốc tế. Huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục ngoại ngữ; tăng cường hợp
tác với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo uy tín; phát triển
môi trường sử dụng ngoại ngữ trong nhà trường và cộng đồng.
f) Tăng cường quản lý, kiểm tra
và giám sát. Xây dựng bộ chỉ số theo dõi, đánh giá theo từng giai đoạn; thực hiện
công khai, minh bạch kết quả triển khai; kịp thời điều chỉnh mục tiêu và giải
pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn.
II. MỤC
TIÊU
1. Mục
tiêu chung
a) Phát triển đội ngũ giáo viên
tiếng Anh, các ngoại ngữ khác bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng đáp ứng
yêu cầu triển khai chương trình giáo dục phổ thông và dạy học tăng cường tiếng
Anh. Xây dựng đội ngũ giáo viên nòng cốt có khả năng giảng dạy theo chuẩn quốc
tế, từng bước triển khai dạy học song ngữ tại các trường trọng điểm.
b) Đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất
dạy học ngoại ngữ, hoàn thiện, xây mới, nâng cấp, trang bị thiết bị đầy đủ cho
phòng học ngoại ngữ, phòng học thông minh; bảo đảm điều kiện dạy học theo hướng
hiện đại, ứng dụng công nghệ số.
c) Nâng cao năng lực tiếng Anh
của học sinh, bảo đảm 100% học sinh phổ thông học tiếng Anh theo chương trình
giáo dục phổ thông; từng bước nâng cao tỷ lệ học sinh đạt chuẩn năng lực ngoại
ngữ và chứng chỉ quốc tế.
d) Phát triển hệ sinh thái đào
tạo ngoại ngữ ngoài nhà trường, duy trì và phát triển mở rộng hệ thống các trung
tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường, khuyến khích mô hình đào tạo chất lượng cao,
liên kết quốc tế và ứng dụng công nghệ số, mở rộng môi trường học tập và sử dụng
tiếng Anh.
đ) Huy động và sử dụng hiệu quả
nguồn lực đầu tư, giai đoạn 2026-2035 từ ngân sách nhà nước kết hợp xã hội hóa
và hợp tác quốc tế, tập trung cho phát triển đội ngũ giáo viên, đầu tư cơ sở vật
chất và nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ.
e) Định hướng đến năm 2045, hệ thống
giáo dục của tỉnh hình thành nguồn nhân lực có năng lực sử dụng tiếng Anh và
các ngoại ngữ khác tự tin, hiệu quả trong học tập, lao động và giao tiếp quốc tế,
đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.
2. Mục
tiêu cụ thể
2.1. Giai đoạn 1 (2026-
2030)
a) Giáo dục mầm non
- 100% cơ sở giáo dục mầm non
vùng thuận lợi và 30% cơ sở vùng đặc biệt khó khăn đủ điều kiện tổ chức cho trẻ
mẫu giáo làm quen với tiếng Anh; 10% cơ sở đạt Mức độ 1.
- Thí điểm cho trẻ làm quen với
tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc tại các cơ sở có đủ điều kiện.
b) Giáo dục phổ thông
- 100% cơ sở giáo dục phổ thông
tổ chức dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1 theo chương trình và quy định của Bộ
GD&ĐT.
- 20% cơ sở đạt Mức độ 1; 5% đạt
Mức độ 2; 2% đạt Mức độ 3.
- Thí điểm chương trình làm
quen tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc cho học sinh lớp 1, lớp 2
tại các cơ sở có nhu cầu và đủ điều kiện; duy trì và nâng cao chất lượng dạy
các ngoại ngữ khác.
- 100% các trường THPT chuyên,
THPT ở khu vực trung tâm, vùng thuận lợi và CSGD có điều kiện thí điểm tổ chức
dạy học các môn Toán, KHTN, Công nghệ, Tin học bằng tiếng Anh. Khuyến khích các
trường dạy môn KHXH bằng tiếng Anh.
- Xây dựng điểm 55 trường phổ
thông dạy song ngữ (trong đó, trung học phổ thông: 30, trung học cơ sở: 15, tiểu
học: 10).
c) Giáo dục thường xuyên
- 20% cơ sở đạt Mức độ 1; 5% đạt
Mức độ 2.
- Triển khai các chương trình đào
tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ (ngoại ngữ ASEAN và ngoại ngữ khác) phù hợp nhu cầu
người học và thực tiễn địa phương.
d) Giáo dục nghề nghiệp
- 15% cơ sở đạt Mức độ 1; 5% đạt
Mức độ 2.
- Xây dựng và triển khai chương
trình dạy ngoại ngữ phục vụ đào tạo nghề.
- Đến năm 2030: thí điểm tiếng
Anh chuyên ngành tại một số trường cao đẳng trọng điểm; từng bước triển khai dạy
học một số môđun/ngành nghề bằng ngoại ngữ.
đ) Giáo dục đại học
- 20% cơ sở đạt Mức độ 1; 5% đạt
Mức độ 2; 3% đạt Mức độ 3.
- Đến năm 2030, thí điểm
giảng dạy một số học phần hoặc chương trình đào tạo bằng tiếng Anh tại các trường
đại học thuộc tỉnh.
e) Đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý
- Tuyển dụng, bố trí đủ giáo
viên ngoại ngữ, đặc biệt giáo viên tiếng Anh cho các cấp học. Tổng nhu cầu dự
kiến là 923 giáo viên tiếng Anh, gồm: cấp mầm non 213 giáo viên, cấp TH 317
giáo viên; cấp THCS 170 giáo viên, cấp THPT 117 giáo viên và GDTX 106 giáo
viên.
- Tham mưu cơ chế, chính sách thu
hút, tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, loại giỏi ngành sư phạm ngoại
ngữ và giáo viên dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh về giảng dạy tại các cơ sở
giáo dục trên địa bàn tỉnh.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên ngoại ngữ. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng,
nâng cao năng lực tiếng Anh cho giáo viên các môn học khác để bảo đảm đủ năng lực
dạy học các môn học bằng tiếng Anh.
- Xây dựng và triển khai thực hiện
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở nước ngoài nhằm nâng cao năng lực
chuyên môn và phương pháp giảng dạy theo chuẩn quốc tế.
- 100% giáo viên tiếng Anh phổ
thông và GDTX đạt chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn nghề nghiệp. 95% giáo viên tiếng
Anh đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho
Việt Nam (trong đó phấn đấu 30-35% đạt chuẩn theo khung năng lực quốc tế).
- 10 - 15% giáo viên các môn
Toán, KHTN, Tin học, Công nghệ đạt chuẩn năng lực tiếng Anh để thí điểm dạy môn
học bằng tiếng Anh tại các trường có đủ điều kiện.
- 100% giáo viên tiếng Anh,
giáo viên dạy học tích hợp (CLIL) được bồi dưỡng phương pháp giảng dạy bằng tiếng
Anh.
- 100% cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục được bồi dưỡng về quản lý môi trường song ngữ và chuyển đổi số trong dạy
học ngoại ngữ.
g) Điều kiện bảo đảm và môi
trường song ngữ
- Đầu tư, nâng cấp, trang bị cơ
sở vật chất bảo đảm điều kiện dạy và học ngoại ngữ theo hướng hiện đại, ứng dụng
công nghệ số cho các cơ sở giáo dục; ưu tiên các cơ sở giáo dục vùng khó khăn,
vùng đồng bào DTTS.
- 100% cơ sở giáo dục mầm
non vùng thuận lợi và 30% cơ sở vùng đặc biệt khó khăn triển khai chương trình
làm quen tiếng Anh bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị và học liệu theo quy định.
- 100% học sinh phổ thông được
học tiếng Anh theo chương trình quy định, học sinh tốt nghiệp trung học phổ
thông có khả năng giao tiếp đạt trình độ Bậc 3 của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc
dành cho Việt Nam.
- 100% học viên học chương
trình giáo dục thường xuyên được học môn Tiếng Anh theo chương trình giáo dục
phổ thông.
- Tối thiểu 30% cơ sở giáo dục
phổ thông và GDTX có phòng học ngoại ngữ/English Zone (không gian tiếng Anh) đạt
chuẩn, kết nối nền tảng số và phần mềm dạy - học, kiểm tra - đánh giá tiếng
Anh.
- Ít nhất 20% cơ sở giáo
dục nghề nghiệp và đại học có phòng học ngoại ngữ chuyên dụng, kết nối hệ thống
học tập và đánh giá trực tuyến.
(Có
các phụ lục kèm theo)
2.2. Giai đoạn 2
(2030-2035)
a) Giáo dục mầm non
- 100% cơ sở giáo dục mầm non
vùng thuận lợi, 50% cơ sở vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn thường xuyên tổ chức
hoạt động cho trẻ mẫu giáo được làm quen với tiếng Anh.
- 70% cơ sở giáo dục mầm non
vùng khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn đảm bảo điều kiện triển khai tổ chức thực
hiện hoạt động cho trẻ làm quen với tiếng Anh.
- 20% số cơ sở đạt Mức độ 1;
10% số cơ sở đạt Mức độ 2.
- Nhân rộng hoạt động cho trẻ mầm
non làm quen với tiếng Trung, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc trong các cơ sở
giáo dục mầm non có đủ điều kiện.
b) Giáo dục phổ thông
- 30% cơ sở đạt Mức độ 1, 10% đạt
Mức độ 2; 5% đạt Mức độ 3; hình thành mạng lưới trường chuẩn tiếng Anh (ESS) ở
tất cả các vùng của tỉnh.
- Phấn đấu 70% cơ sở có ít nhất
một môn học/hoạt động giáo dục được tổ chức bằng tiếng Anh (CLIL/immersion) ở mức
độ phù hợp. Khuyến khích các trường dạy môn KHXH bằng tiếng Anh.
- Thí điểm triển khai việc dạy
và học ngôn ngữ của một số quốc gia trong khu vực ASEAN tại các cơ sở giáo dục có
nhu cầu và đủ điều kiện triển khai thực hiện.
- Tăng cường triển khai chương
trình dạy ngoại ngữ, dạy tích hợp ngoại ngữ và nội dung, các môn học bằng ngoại
ngữ trong các cơ sở giáo dục phổ thông, trong đó có ngôn ngữ tiếng Trung Quốc,
tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc đáp ứng nhu cầu của người học, phù hợp với điều
kiện của địa phương, các cơ sở giáo dục. Tiếp tục nâng cao chất lượng việc dạy
và học các ngoại ngữ khác.
c) Giáo dục thường xuyên
- 40% cơ sở (có đào tạo, bồi dưỡng
tiếng Anh và bồi dưỡng các môn học khác bằng tiếng Anh) đạt Mức độ 1; 10% số cơ
sở đạt Mức độ 2; 5% số cơ sở đạt Mức độ 3.
- Tiếp tục triển khai các
chương trình dạy ngoại ngữ (ngôn ngữ của một số quốc gia trong khu vực ASEAN và
các ngoại ngữ khác) bảo đảm đáp ứng nhu cầu của người học, phù hợp thực tiễn.
d) Giáo dục nghề nghiệp
- 35% cơ sở đạt Mức độ 1; 10%
cơ sở đạt Mức độ 2; 5% cơ sở đạt Mức độ 3.
- Tiếp tục triển khai dạy các ngoại
ngữ, dạy tích hợp ngoại ngữ và nội dung, dạy các môn học và ngành, nghề bằng
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có ngôn ngữ tiếng Trung Quốc,
tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc đáp ứng nhu cầu của người học, phù hợp với điều
kiện thực tiễn. Năm 2035: Tiếp tục triển khai dạy học tiếng Anh chuyên ngành;
triển khai thí điểm dạy học một số môn học, học phần, môđun hoặc chương trình
đào tạo bằng tiếng Anh đối với các ngành/nghề trọng điểm hoặc tại các trường
cao đẳng trọng điểm/chất lượng cao thuộc tỉnh.
đ) Giáo dục đại học
- 30% cơ sở giáo dục đại học
thuộc tỉnh (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh
trong đào tạo) đạt Mức độ 1; 20% cơ sở đạt Mức độ 2; 5% cơ sở đạt Mức độ 3.
- Tiếp tục triển khai dạy các
ngoại ngữ, dạy tích hợp ngoại ngữ và nội dung, dạy các môn học và ngành, nghề bằng
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có ngôn ngữ tiếng Trung Quốc,
tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc đáp ứng nhu cầu của người học, phù hợp với điều
kiện thực tiễn. Năm 2035: Triển khai diện rộng các ngành nghề dạy tiếng Anh
chuyên ngành; tiếp tục phát triển dạy học một số môn học, học phần hoặc chương
trình đào tạo bằng tiếng Anh các trường đại học thuộc tỉnh.
e) Đội ngũ nhà giáo, cán bộ
quản lý
- Tuyển dụng, bố trí đủ giáo
viên ngoại ngữ, đặc biệt giáo viên tiếng Anh cho các cấp học.
- Tiếp tục thực hiện chính sách
thu hút, tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, loại giỏi ngành sư phạm
ngoại ngữ và giáo viên dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh về giảng dạy tại các
cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh.
- Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng
nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên ngoại ngữ; đặc biệt chú trọng đào tạo, bồi dưỡng,
nâng cao năng lực tiếng Anh cho giáo viên các môn học khác để bảo đảm đủ năng lực
dạy học các môn học bằng tiếng Anh.
- Đẩy mạnh triển khai chương trình,
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở nước ngoài nhằm nâng cao năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực sử dụng ngoại ngữ và phương pháp giảng
dạy theo chuẩn quốc tế.
- 100% cơ sở giáo dục mầm non
có giáo viên được bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động làm quen với tiếng Anh,
đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình.
- Duy trì 100% giáo viên tiếng
Anh các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đạt chuẩn trình độ đào
tạo, chuẩn nghề nghiệp, phấn đấu 20% đạt trên chuẩn.
- 100% giáo viên tiếng Anh đạt
chuẩn năng lực ngoại ngữ theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam
(trong đó phấn đấu 35% - 45% đạt chuẩn theo khung năng lực quốc tế).
- Phấn đấu 30% giáo viên môn
Toán, KHTN, Tin học, Công nghệ đạt chuẩn năng lực tiếng Anh để dạy môn học bằng
tiếng Anh tại các trường đủ điều kiện.
- 100% giáo viên tiếng Anh,
giáo viên CLIL và cán bộ quản lý các trường phổ thông, giáo dục thường xuyên được
bồi dưỡng thường xuyên, cập nhật về chương trình, phương pháp, công nghệ và
tiêu chuẩn Mức 1-2-3.
- Duy trì 100% giáo viên, giảng
viên tiếng Anh và ngoại ngữ khác của các cơ sở GDNN, GDĐH đạt chuẩn, trên chuẩn
trình độ đào tạo; chuẩn năng lực ngoại ngữ theo Khung năng lực 6 bậc dùng cho
Việt Nam hoặc tương tương.
g) Điều kiện đảm bảo và môi
trường song ngữ
- Tăng cường đầu tư, trang bị
cơ sở vật chất bảo đảm điều kiện dạy và học ngoại ngữ theo chuẩn quốc tế; ưu
tiên cho các cơ sở giáo dục vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS.
- 100% trường MN tổ chức cho trẻ
làm quen với tiếng Anh đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, môi
trường tiếng Anh đúng quy định, phù hợp điều kiện thực tế.
- Tối thiểu 60% cơ sở giáo dục
phổ thông, giáo dục thường xuyên có phòng học ngoại ngữ/English Zone đạt chuẩn,
kết nối nền tảng số và phần mềm dạy - học, kiểm tra - đánh giá tiếng Anh;
- Ít nhất 35% số cơ sở giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học thuộc tỉnh có phòng học ngoaị ngữ chuyên dụng hiện
đại, kết nối nền tảng chuyển đổi số và phần mềm học, kiểm tra, đánh giá tiếng
Anh.
(Có
các phụ lục kèm theo)
2.3. Giai đoạn 3
(2035-2045)
a) Giáo dục mầm non
- Đến năm 2040: 90% cơ sở bảo đảm
điều kiện triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen với tiếng Anh. Ít nhất
30% cơ sở đạt Mức độ 1; 15% đạt Mức độ 2 và 5% đạt Mức độ 3.
- Đến năm 2045: 100% cơ sở bảo
đảm điều kiện triển khai thực hiện việc cho trẻ em làm quen với tiếng Anh. Ít
nhất 50% cơ sở đạt Mức độ 1; 20% đạt Mức độ 2 và 10% đạt Mức độ 3.
- Tiếp tục triển khai hoạt động
cho trẻ mầm non làm quen với tiếng Trung, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc trong
các cơ sở giáo dục mầm non đủ điều kiện.
b) Giáo dục phổ thông
- Đến năm 2040: Ít nhất 40% cơ
sở đạt Mức độ 1; 15% đạt Mức độ 2 và 10% đạt Mức độ 3.
- Đến năm 2045: Ít nhất 50% cơ
sở đạt Mức độ 1; 20% đạt Mức độ 2 và 15% đạt Mức độ 3.
- Tăng cường triển khai chương
trình dạy các ngoại ngữ, dạy tích hợp ngoại ngữ và nội dung các môn học, trong
đó có ngôn ngữ tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc, … đáp ứng nhu cầu
của người học, phù hợp với điều kiện thực tiễn và hội nhập quốc tế.
- Triển khai diện rộng các cơ sở
giáo dục dạy môn KHTN và KHXH bằng tiếng Anh.
c) Giáo dục thường xuyên
- Đến năm 2040: Ít nhất 50% cơ
sở (có đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh và bồi dưỡng các môn học khác bằng tiếng
Anh) đạt Mức độ 1; phấn đấu 15% đạt Mức độ 2 và 10% đạt Mức độ 3.
- Đến năm 2045: Ít nhất 60% cơ
sở (có đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh và bồi dưỡng bằng tiếng Anh) đạt Mức độ 1;
phấn đấu 20% đạt Mức độ 2 và 15% đạt Mức độ 3.
- Tăng cường triển khai chương
trình dạy các ngoại ngữ, dạy tích hợp ngoại ngữ và nội dung các môn học, trong
đó có ngôn ngữ tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc, … đáp ứng nhu
cầu của người học, phù hợp với điều kiện thực tiễn và hội nhập quốc tế.
d) Giáo dục nghề nghiệp
- Đến năm 2040: Ít nhất 40% cơ
sở thuộc tỉnh đạt Mức độ 1; phấn đấu 15% đạt Mức độ 2 và 10% đạt Mức độ 3.
- Đến năm 2045: Ít nhất 50% cơ
sở thuộc tỉnh đạt Mức độ 1; phấn đấu 20% đạt Mức độ 2 và 15% đạt Mức độ 3.
- Tăng cường triển khai chương
trình dạy các ngoại ngữ, dạy tích hợp ngoại ngữ và nội dung, các môn học và
ngành, nghề bằng ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có ngôn
ngữ tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc và các ngoại ngữ khác đáp ứng
nhu cầu của người học, phù hợp với điều kiện thực tiễn và hội nhập quốc tế.
đ) Giáo dục đại học
- Đến năm 2040: Ít nhất 40% cơ
sở thuộc tỉnh (ngoại trừ các giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong
đào tạo) đạt Mức độ 1; 35% đạt Mức độ 2 và 15% đạt Mức độ 3.
- Đến năm 2045: Ít nhất 50% cơ
sở thuộc tỉnh (ngoại trừ các cơ sở giáo dục đại học dùng ngoại ngữ khác tiếng
Anh trong đào tạo) đạt Mức độ 2 và 25% đạt Mức độ 3.
- Tăng cường triển khai chương
trình dạy các ngoại ngữ, dạy tích hợp ngoại ngữ và nội dung, các môn học và
ngành, nghề bằng ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có ngôn
ngữ tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc và các ngoại ngữ khác đáp ứng
nhu cầu của người học, phù hợp với điều kiện thực tiễn và hội nhập quốc tế.
e) Đội ngũ nhà giáo, cán bộ
quản lý
- Phấn đấu 100% các cơ sở giáo
dục có đủ giáo viên tiếng Anh.
- Phấn đấu 30% giáo viên tiếng
Anh các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đạt trên chuẩn trình độ
đào tạo, chuẩn nghề nghiệp. 100% giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn năng lực ngoại
ngữ theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam (trong đó phấn đấu ít
nhất 50% đạt chuẩn theo khung năng lực quốc tế).
- Phấn đấu 60% giáo viên môn
Toán, KHTN, Tin học, Công nghệ đạt chuẩn năng lực tiếng Anh để dạy môn học bằng
tiếng Anh tại các trường đạt Mức 2-3.
- 100% giáo viên tiếng Anh,
giáo viên CLIL và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục
thường xuyên được bồi dưỡng thường xuyên, cập nhật về chương trình, phương
pháp, công nghệ giảng dạy ngoại ngữ, kiểm tra và đánh giá môn ngoại ngữ.
- Tiếp tục đẩy mạnh triển khai các
chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh và giáo viên giảng
dạy các môn học bằng tiếng Anh ở nước ngoài.
- Duy trì 100% giáo viên, giảng
viên các cơ sở GDNN, GDĐH đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo, đạt chuẩn
năng lực ngoại ngữ theo Khung năng lực 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc chứng chỉ
quốc tế tương tương. Đến năm 2045: Phấn đấu có đội ngũ giảng viên đạt chuẩn
năng lực tiếng Anh để dạy học tiếng Anh chuyên ngành và các chương trình đào tạo
bằng tiếng Anh.
g) Điều kiện đảm bảo và môi
trường song ngữ
- Phấn đấu 100% các cơ sở giáo
dục mầm non đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất và môi trường dạy và học
ngoại ngữ.
- Phấn đấu 100% cơ sở giáo dục
phổ thông, giáo dục thường xuyên có đủ phòng học ngoại ngữ/English Zone đạt chuẩn,
kết nối nền tảng số và phần mềm dạy - học, kiểm tra - đánh giá tiếng Anh;
- Hình thành hệ sinh thái tiếng
Anh số cấp tỉnh: hệ thống LMS, ngân hàng học liệu mở, nền tảng luyện tập và khảo
thí tiếng Anh chuẩn hóa, kết nối với cơ sở dữ liệu ngành giáo dục và các nền tảng
quốc gia.
- Phấn đấu có ít nhất 50% số cơ
sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thuộc tỉnh có phòng học ngoaị ngữ
chuyên dụng hiện đại, kết nối nền tảng chuyển đổi số và phần mềm học, kiểm tra,
đánh giá tiếng Anh. Từ năm 2040: Triển khai đại trà giảng dạy tiếng Anh chuyên
ngành các cơ sở GDĐH, cơ sở GDNN; Phát triển giảng dạy chương trình đào tạo bằng
tiếng Anh đối với ngành nghề phù hợp tại các cơ sở GDNN, GDĐH thuộc tỉnh. Tăng
cường giáo viên, giảng viên người nước ngoài giảng dạy tiếng Anh, các môn học/học
phần tại các cơ sở đào tạo.
(Có
các phụ lục kèm theo)
III. NHIỆM
VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Nâng
cao nhận thức về vai trò của ngoại ngữ; xây dựng môi trường dạy và học, sử dụng
tiếng nước ngoài, dạy và học bằng tiếng nước ngoài
- Phát triển ngoại ngữ, đặc biệt
là tiếng Anh, phải được xác định là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, có ý nghĩa nền
tảng trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực hội nhập và sức cạnh
tranh của tỉnh trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của
ngành giáo dục mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, của các cấp,
các ngành và toàn xã hội.
- Tăng cường sự lãnh đạo toàn
diện, thống nhất của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; đưa mục tiêu phát triển
ngoại ngữ vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và trung
hạn. Gắn trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương với kết quả thực
hiện Đề án.
- Xây dựng và triển khai kế hoạch
truyền thông tổng thể theo từng giai đoạn, bảo đảm phù hợp với từng nhóm đối tượng:
cán bộ quản lý, giáo viên, người học, cha mẹ học sinh, doanh nghiệp và cộng đồng.
Nội dung truyền thông phải làm rõ ý nghĩa thiết thực của việc học ngoại ngữ đối
với cơ hội việc làm, thu nhập, tiếp cận tri thức và hội nhập quốc tế.
- Đẩy mạnh truyền thông đa nền tảng;
phát hiện, nhân rộng mô hình hay, cách làm hiệu quả; lan tỏa các tấm gương điển
hình, đặc biệt tại khu vực miền núi, vùng đồng bào DTTS, qua đó tạo niềm tin và
động lực học tập trong xã hội.
- Chú trọng hình thành môi trường
sử dụng ngoại ngữ trong nhà trường và cộng đồng theo hướng tự nhiên, thiết thực,
gắn với hoạt động học tập, giao lưu văn hóa, du lịch, dịch vụ; khắc phục tình
trạng hình thức, chạy theo phong trào.
2. Xây dựng,
ban hành cơ chế, chính sách mang tính đột phá
a) Đột phá về tuyển dụng,
thu hút và phát triển đội ngũ giáo viên.
- Đổi mới cơ chế tuyển dụng,
cho phép tuyển dụng giáo viên tiếng Anh và giáo viên dạy các môn học bằng tiếng
Anh theo hình thức linh hoạt, rút ngắn quy trình, ưu tiên sinh viên tốt nghiệp
loại xuất sắc, giỏi, khá tại các cơ sở đào tạo uy tín trong và ngoài nước.
- Ban hành chính sách thu hút
giáo viên tiếng Anh và giáo viên dạy các môn học bằng tiếng Anh chất lượng cao,
như hỗ trợ ban đầu khi tuyển dụng, hỗ trợ nhà ở hoặc phụ cấp đặc thù đối với
giáo viên công tác tại khu vực miền núi, vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS.
- Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng
nâng chuẩn giáo viên, đặc biệt năng lực ngoại ngữ, phương pháp giảng dạy hiện đại
và khả năng giảng dạy song ngữ. Tăng cường liên kết với các trường đại học, tổ
chức quốc tế để tổ chức đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, bảo đảm đội ngũ
giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy tiếng Anh theo chuẩn quốc tế.
- Từng bước xây dựng đội ngũ
giáo viên nòng cốt, có khả năng dạy học một số môn bằng tiếng Anh tại các trường
trọng điểm.
b) Đột phá về đầu tư cơ sở
vật chất và thiết bị dạy học ngoại ngữ
- Đầu tư đồng bộ hệ thống phòng
học ngoại ngữ, phòng học thông minh đạt chuẩn; trang bị thiết bị nghe-nhìn, bảng
tương tác, phần mềm dạy học và học liệu số. Ưu tiên đầu tư phòng học, thiết bị
và hạ tầng internet cho các trường vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào
DTTS; từng bước hình thành các trung tâm học ngoại ngữ dùng chung cấp xã hoặc cụm
trường.
- Xây dựng nền tảng học tập ngoại
ngữ số dùng chung, tích hợp kho học liệu điện tử, bài giảng số, tài nguyên mở
và hệ thống kiểm tra, đánh giá theo chuẩn năng lực. Từng bước ứng dụng công nghệ
số và trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ dạy học, quản lý tiến độ học tập và cá nhân
hóa lộ trình học tập của người học.
c) Đột phá về phương pháp
giảng dạy, kiểm tra - đánh giá
- Đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát triển năng lực, bảo đảm phát triển toàn diện năng lực giao tiếp,
tư duy và kỹ năng vận dụng trong tình huống thực tiễn. Triển khai có chọn lọc
các lớp tăng cường, lớp song ngữ tại những cơ sở đủ điều kiện; phát triển môi
trường học tập và sử dụng ngoại ngữ trong nhà trường.
- Đổi mới nội dung và hình thức
kiểm tra - đánh giá theo hướng chuyển mạnh từ đánh giá kiến thức sang đánh giá
năng lực sử dụng ngoại ngữ theo bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Chuẩn hóa kiểm
tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc
dùng cho Việt Nam và tiệm cận Khung tham chiếu châu Âu (CEFR).
- Ứng dụng công nghệ trong dạy
học và đánh giá, sử dụng các nền tảng số, phần mềm hỗ trợ dạy học ngoại ngữ, đặc
biệt trong luyện nghe - nói và tương tác trực tuyến. Triển khai các hệ thống kiểm
tra, đánh giá trực tuyến, chấm thi tự động, phân tích dữ liệu học tập và ứng dụng
trí tuệ nhân tạo (AI) trong hỗ trợ cá thể hóa học tập và đánh giá năng lực người
học.
d) Đột phá về chính sách
hỗ trợ và khuyến khích học sinh, giáo viên
- Ban hành chính sách hỗ trợ,
khen thưởng đối với giáo viên, học sinh đạt các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế
(IELTS, TOEFL, Cambridge…) hoặc học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi
quốc gia, quốc tế.
- Xây dựng quỹ học bổng ngoại
ngữ của tỉnh, hỗ trợ học sinh có năng lực ngoại ngữ xuất sắc tham gia các
chương trình đào tạo, trao đổi học tập tại nước ngoài.
- Khuyến khích giáo viên, học
sinh tham gia các chương trình giao lưu quốc tế, trại hè tiếng Anh, các cuộc thi
và hoạt động học thuật bằng tiếng Anh, góp phần hình thành môi trường sử dụng
ngoại ngữ trong học tập và sinh hoạt.
đ) Đột phá về thu hút và
phát triển hệ sinh thái đào tạo ngoại ngữ, góp phần mở rộng môi trường học tập
và thực hành tiếng Anh
- Hình thành hệ sinh thái học tập
ngoại ngữ kết nối giữa nhà trường - gia đình - xã hội - doanh nghiệp. Tăng cường
môi trường sử dụng tiếng Anh trong nhà trường và cộng đồng.
- Xây dựng mô hình trường điển hình
về “đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học” và nhân rộng triển
khai trên địa bàn tỉnh theo lộ trình của Đề án.
- Khuyến khích đầu tư phát triển
các trung tâm ngoại ngữ chất lượng cao, có liên kết với các tổ chức giáo dục quốc
tế và áp dụng chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế.
- Thu hút các cơ sở giáo dục quốc
tế, trường song ngữ hoặc chương trình giáo dục tích hợp quốc tế đầu tư và hoạt
động trên địa bàn tỉnh.
- Tăng cường phối hợp giữa nhà trường
và các trung tâm ngoại ngữ, đặc biệt trong bồi dưỡng học sinh giỏi, đào tạo kỹ
năng giao tiếp và luyện thi các chứng chỉ quốc tế.
- Khuyến khích phát triển mô
hình học ngoại ngữ kết hợp trực tuyến và trực tiếp, mở rộng cơ hội học tập cho
học sinh ở khu vực nông thôn, miền núi.
3. Tăng
cường hợp tác quốc tế và hợp tác công - tư
- Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp
tác công- tư trong phát triển hạ tầng, học liệu và công nghệ dạy học ngoại ngữ;
khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức quốc tế tham gia cung cấp giải pháp, dịch vụ
giáo dục với chi phí hợp lý.
- Chủ động thu hút các nguồn viện
trợ, tài trợ hợp pháp; khuyến khích các cơ sở giáo dục xây dựng mô hình hợp tác
linh hoạt, hiệu quả.
- Gắn hoạt động đào tạo ngoại
ngữ với nhu cầu doanh nghiệp, khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ và xuất khẩu
lao động, góp phần nâng cao khả năng ứng dụng ngoại ngữ trong học tập và việc
làm.
4. Nâng
cao hiệu lực chỉ đạo, quản lý và giám sát thực hiện
- Xây dựng kế hoạch triển khai
Đề án theo lộ trình; kiện toàn Ban Chỉ đạo các cấp, phân công trách nhiệm cụ thể
cho các cơ quan, đơn vị và cơ sở giáo dục.
- Tăng cường kiểm tra, giám
sát, đánh giá định kỳ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, theo dõi
và đánh giá kết quả thực hiện.
- Chú trọng phong trào thi đua,
khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích; đồng thời tăng cường
thanh tra, kiểm tra, phòng ngừa bệnh thành tích, bảo đảm thực hiện đúng mục
tiêu, tiến độ và hiệu quả.
Phần thứ
tư
LỘ TRÌNH - TỔ CHỨC THỰC
HIỆN
I. LỘ
TRÌNH THỰC HIỆN
Đề án được phân kỳ thực hiện
theo 03 giai đoạn:
1. Giai đoạn 1 (2026- 2030):
Chuẩn bị điều kiện bảo đảm; tổ chức thí điểm tại các cơ sở giáo dục có điều
kiện thuận lợi, hoàn thiện mô hình và đạt các tiêu chí bước đầu theo quy định của
Bộ GD&ĐT.
2. Giai đoạn 2 (2030- 2035):
Mở rộng phạm vi triển khai, nâng cao chất lượng và tăng số cơ sở đạt các Mức
độ 1, 2, 3.
3. Giai đoạn 3 (2035- 2045):
Triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn tỉnh, hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục
ngoại ngữ và bảo đảm đạt các mục tiêu Đề án.
(Định kỳ hằng năm rà soát,
đánh giá, tổ chức đánh giá giữa kỳ và tổng kết từng giai đoạn, kịp thời điều chỉnh
mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phù hợp).
II. KINH
PHÍ THỰC HIỆN
1. Tổng kinh phí dự kiến huy
động giai đoạn 2026- 2035 (dự kiến) là 2.999.741 triệu đồng; trong
đó Giai đoạn 2026-2030: 1.362.203 triệu đồng; Giai đoạn 2030-2035: 1.637.538
triệu đồng (có phụ lục kèm theo).
2. Về nguồn vốn huy động
- Ngân sách nhà nước: Nguồn
ngân sách nhà nước (chi thường xuyên và chi đầu tư) được bố trí theo quy định của
pháp luật về ngân sách nhà nước và phân cấp ngân sách hiện hành. Các sở, ngành,
địa phương có trách nhiệm tham mưu cân đối, bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm
vụ của Đề án theo quy định.
- Nguồn vốn lồng ghép: Lồng
ghép nguồn lực từ các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình giáo dục có liên quan đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Nguồn xã hội hóa: Khuyến
khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư,
tài trợ, hỗ trợ kinh phí thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật.
- Nguồn thu hợp pháp khác: Nguồn
thu hợp pháp của các cơ sở giáo dục và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo
quy định của pháp luật.
III. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Sở Giáo dục và Đào tạo
Là cơ quan thường trực của Đề
án, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về việc tổ chức triển khai thực hiện, có
nhiệm vụ:
- Chủ trì xây dựng và tổ chức
thực hiện kế hoạch triển khai Đề án theo từng giai đoạn và hằng năm; hướng dẫn,
đôn đốc các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp với từng cấp học.
- Rà soát, đánh giá năng lực
ngoại ngữ của đội ngũ; tham mưu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, bố trí
và sử dụng giáo viên ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu triển khai Đề án.
- Tham mưu UBND tỉnh cân đối, bố
trí nguồn lực tài chính và lồng ghép các nguồn lực hợp pháp để thực hiện Đề án.
- Tham mưu xây dựng cơ chế, chính
sách thu hút, đãi ngộ giáo viên ngoại ngữ, giáo viên dạy học bằng tiếng Anh và
cán bộ quản lý giáo dục tham gia triển khai Đề án; đề xuất cơ chế thu hút giáo
viên, chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục.
- Tăng cường hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực giáo dục, mở rộng liên kết với các tổ chức giáo dục quốc tế nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chủ
trương, chính sách về phát triển ngoại ngữ; tham mưu biểu dương, khen thưởng các
tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực trong triển khai Đề án.
- Chủ trì theo dõi, kiểm tra,
giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án; định kỳ báo cáo UBND
tỉnh, Bộ Giáo dục và Đào tạo theo quy định.
2. Sở Tài chính: Chủ
trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan liên quan tham mưu bố
trí kinh phí thực hiện Đề án theo phân cấp ngân sách. Hướng dẫn quản lý, sử dụng
và quyết toán kinh phí bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Phối hợp nghiên cứu,
đề xuất cơ chế huy động và lồng ghép các nguồn lực tài chính hợp pháp phục vụ
triển khai Đề án.
3. Sở Nội vụ: Chủ trì
tham mưu UBND tỉnh rà soát, bố trí vị trí việc làm và biên chế giáo viên ngoại
ngữ trong các cơ sở giáo dục công lập theo quy định. Phối hợp xây dựng cơ chế,
chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên ngoại ngữ.
4. Sở Khoa học và Công nghệ:
Chủ trì tham mưu triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển
dạy học ngoại ngữ. Phối hợp phát triển học liệu số, nền tảng học tập số và các ứng
dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ dạy và học ngoại ngữ.
5. Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch: Phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, du lịch, sự kiện cộng đồng
có sử dụng tiếng Anh và các ngoại ngữ khác, tạo môi trường thực hành ngoại ngữ
cho người học. Hỗ trợ các cơ sở giáo dục xây dựng nội dung giáo dục địa phương
bằng tiếng Anh gắn với di sản văn hóa và du lịch Đất Tổ.
6. Sở Ngoại vụ: Chủ trì tham
mưu mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Phối hợp
kết nối, thu hút chuyên gia, giáo viên nước ngoài tham gia giảng dạy, hỗ trợ
chuyên môn tại các cơ sở giáo dục.
7. Trường Đại học Hùng
Vương: Thực hiện đào tạo giáo viên ngoại ngữ theo chỉ tiêu UBND tỉnh giao hằng
năm (gắn với thực hiện đề án); nâng cao năng lực tiếng Anh của sinh viên các
ngành sư phạm hướng đến giảng dạy các môn chuyên môn bằng tiếng Anh sau khi tốt
nghiệp. Phối hợp với Sở GD&ĐT trong triển khai các nhiệm vụ của Đề án (xây
dựng học liệu; đào tạo, bồi dưỡng năng lực giáo viên; kiểm tra đánh giá năng lực
ngoại ngữ; tổ chức cho giáo viên đi đào tạo, bồi dưỡng nước ngoài…) theo lộ
trình của Đề án.
8. Các Sở, ngành liên quan:
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo
tổ chức triển khai các nhiệm vụ của Đề án, đồng thời tham gia kiểm tra, giám
sát và đánh giá kết quả thực hiện.
9. Ủy ban nhân dân các xã,
phường
- Tổ chức triển khai thực hiện Đề
án tại địa phương theo phân cấp; chỉ đạo các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch
thực hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn.
- Phối hợp rà soát nhu cầu đội
ngũ giáo viên, hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ.
- Huy động và sử dụng hiệu quả
nguồn lực xã hội hóa hỗ trợ phát triển môi trường học tập ngoại ngữ.
- Theo dõi, kiểm tra việc triển
khai Đề án tại các cơ sở giáo dục; tổng hợp khó khăn, vướng mắc và báo cáo UBND
tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo để kịp thời giải quyết.
PHỤ LỤC I
DANH MỤC CÁC NHIỆM VỤ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
(Kèm theo Đề án được phê duyệt tại Quyết định số 1064/QĐ-UBND ngày 06 tháng
4 năm 2026 của UBND tỉnh Phú Thọ)
|
Số TT
|
Tên nhiệm vụ
|
Cơ quan chủ trì
|
Cơ quan phối hợp
|
Thời gian thực hiện
|
|
1
|
Đề án “Đưa tiếng Anh thành
ngôn ngữ thứ hai và tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2026-2035, định
hướng đến năm 2045” trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
|
Sở GD&ĐT
|
Các sở, ban, ngành
|
Quý I năm 2026
|
|
2
|
Tổ chức tuyên truyền, nâng cao
nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và xã hội về vai trò của
ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh trong giáo dục, hội nhập quốc tế và phát triển
nguồn nhân lực
|
Sở GD&ĐT
|
Sở Khoa học và Công nghệ; Báo và PT, TH Phú Thọ, UBND xã/phường
|
Thường xuyên
|
|
3
|
Kế hoạch, lộ trình triển khai
Đề án trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh
|
Sở GD&ĐT
|
Các sở, ngành liên quan; UBND xã/phường
|
Quý II năm 2026
|
|
4
|
Rà soát, điều chỉnh, xây dựng
chương trình, học liệu, tài liệu dạy học tiếng Anh và dạy học bằng tiếng Anh
phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông và các chương trình đào tạo
|
Sở GD&ĐT
|
Các cơ sở giáo dục, Các trường đại học, cao đẳng, cơ sở GDNN
|
Trong năm 2026
|
|
5
|
Xây dựng bộ chỉ số theo dõi,
đánh giá kết quả thực hiện Đề án theo từng giai đoạn
|
Sở GD&ĐT
|
Các sở, ngành liên quan
|
Trong năm 2026
|
|
6
|
Kế hoạch phát triển đội ngũ
giáo viên tiếng Anh; tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ
và phương pháp giảng dạy cho giáo viên tiếng Anh và giáo viên dạy các môn học
bằng tiếng Anh
|
Sở GD&ĐT
|
Sở Nội vụ, Trường ĐH Hùng Vương, các cơ sở đào tạo giáo viên
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
7
|
Rà soát, bố trí vị trí việc
làm và biên chế giáo viên ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục công lập
|
Sở Nội vụ
|
Sở GD&ĐT, UBND xã/phường
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
8
|
Tổ chức bồi dưỡng cán bộ quản
lý giáo dục về quản lý môi trường song ngữ, quản lý dạy học ngoại ngữ và chuyển
đổi số trong giáo dục
|
Sở GD&ĐT
|
Các cơ sở đào tạo, các tổ chức giáo dục
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
9
|
Kế hoạch đầu tư, nâng cấp cơ
sở vật chất, phòng học ngoại ngữ, trang thiết bị dạy học phục vụ dạy và học
tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục
|
Sở GD&ĐT
|
Sở Tài chính, các cơ sở giáo dục, UBND xã/phường
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
10
|
Kế hoạch xây dựng và phát triển
hệ sinh thái số phục vụ dạy và học tiếng Anh (hệ thống LMS, ngân hàng học liệu
số, nền tảng luyện tập và đánh giá trực tuyến)
|
Sở GD&ĐT
|
Sở Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp công nghệ
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
11
|
Xây dựng môi trường sử dụng
tiếng Anh trong nhà trường thông qua câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm, giao
lưu quốc tế và không gian tiếng Anh (English Zone)
|
Sở GD&ĐT
|
Sở Ngoại vụ, Sở VH,TT&DL, các cơ sở giáo dục, tổ chức giáo dục
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
12
|
Kế hoạch tổ chức các hoạt động
văn hóa, du lịch, sự kiện cộng đồng có sử dụng tiếng Anh và các ngoại ngữ
khác. Hỗ trợ các CSGD xây dựng nội dung giáo dục địa phương bằng tiếng Anh gắn
với di sản văn hóa và du lịch Đất Tổ.
|
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
|
Sở GD&ĐT, các sở, ngành liên quan, các cơ sở giáo dục
|
Giai đoạn 2026-2030
|
|
13
|
Tăng cường dạy và học ngoại
ngữ trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; từng bước triển khai giảng
dạy một số học phần, chương trình đào tạo bằng tiếng Anh
|
Sở GD&ĐT
|
Các trường đại học, cao đẳng, cơ sở GDNN
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
14
|
Đẩy mạnh xã hội hóa, củng cố
và phát triển các trung tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường; huy động nguồn lực của
tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia đầu tư phát triển dạy và học ngoại
ngữ
|
Sở GD&ĐT
|
Sở Tài chính, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
15
|
Tăng cường hợp tác quốc tế;
thu hút chuyên gia, giáo viên nước ngoài tham gia giảng dạy ngoại ngữ tại các
cơ sở giáo dục
|
Sở Ngoại vụ
|
Sở GD&ĐT, các cơ sở giáo dục
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
16
|
Xây dựng và triển khai các mô
hình tăng cường tiếng Anh; thí điểm dạy học một số môn KHTN, KHXH bằng tiếng
Anh tại các cơ sở giáo dục
|
Sở GD&ĐT
|
Các cơ sở giáo dục
|
Giai đoạn 2026-2035
|
|
17
|
Tổ chức kiểm tra, giám sát,
đánh giá định kỳ; sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án và báo cáo UBND tỉnh
|
Sở GD&ĐT
|
Các sở, ngành; UBND xã/phường
|
Hằng năm, giai đoạn
|
PHỤ LỤC II
SỐ LIỆU HỌC SINH, SINH VIÊN HỌC TIẾNG ANH VÀ NGOẠI NGỮ
KHÁC TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ (TÍNH ĐẾN THỜI ĐIỂM
02/2026)
(Kèm theo Đề án được phê duyệt tại Quyết định số 1064/QĐ-UBND ngày 06 tháng
4 năm 2026 của UBND tỉnh Phú Thọ)
|
STT
|
Bậc học
|
Tổng số trường
|
Tổng số học sinh/sinh viên
|
Số học sinh/sinh viên học ngoại ngữ (trẻ mẫu giáo làm quen với tiếng
Anh)
|
Số học sinh/sinh viên có CCNN quốc tế
|
Ghi chú
|
|
Tổng số
|
Trong đó
|
|
Tiếng Anh
|
Tỉ lệ %
|
Tiếng Pháp
|
Tiếng Trung
|
Tiếng Nga
|
Tiếng Nhật
|
NN khác
|
|
1
|
Mầm non
|
708
|
196.528
|
50.605
|
50.605
|
26
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
2
|
Tiểu học
|
441
|
328.478
|
281.488
|
281.488
|
85,7
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
3
|
THCS
|
612
|
291.649
|
291.649
|
291.649
|
100
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
4
|
THPT
|
137
|
123.878
|
123.878
|
123.335
|
99,56
|
300
|
105
|
103
|
35
|
0
|
1.686
|
|
|
5
|
GDTX
|
33
|
31.544
|
1.693
|
1.693
|
5
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
6
|
Trung cấp
|
11
|
23.801
|
23.801
|
23.801
|
100
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
7
|
Cao đẳng
|
19
|
11.800
|
11.800
|
11.800
|
100
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
8
|
Đại học
|
4
|
27.954
|
27.954
|
27.954
|
100
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
0
|
|
|
Tổng số
|
1.965
|
1.035.632
|
812.868
|
812.325
|
78
|
300
|
105
|
103
|
35
|
0
|
1.686
|
|