|
Kính gửi:
|
-
Thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế (danh sách kèm theo);
- Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
|
Ngày 28/7 hằng năm được lựa chọn là Ngày Thế giới phòng, chống
viêm gan vi rút. Năm 2026, Việt Nam chọn chủ đề “Tăng tốc hành động loại
trừ bệnh viêm gan vi rút và ngăn ngừa ung thư gan”. Chủ đề này tương đồng
với chủ đề do Tổ chức Y tế Thế giới đề ra: “Accelerate Global Action, Stop
Preventable Deaths. Eliminate Hepatitis. Act Now.” (Tăng tốc hành động toàn cầu
- ngăn chặn tử vong có thể phòng tránh - Loại trừ viêm gan - Hành động ngay hôm
nay). Tổ chức Y tế Thế giới nhấn mạnh rằng: Viêm gan vi rút là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu, mặc dù bệnh có thể phòng ngừa,
điều trị. Nếu triển khai đồng bộ các các biện pháp dự phòng hiệu quả, tiếp cận
vắc xin dự phòng một số viêm gan vi rút, đẩy mạnh xét nghiệm sớm, điều trị kịp
thời, cùng với sự chung tay của cộng đồng, chúng ta có thể đẩy lùi và tiến tới
loại trừ bệnh viêm gan vi rút vào năm 2030.
Nhằm tăng cường triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh
viêm gan vi rút tại Việt Nam và hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống viêm gan
vi rút (28/7), Cục Phòng bệnh kính đề nghị Thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực
thuộc Bộ Y tế; các đồng chí Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chỉ đạo thực hiện các nội dung:
1. Tổ chức các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Thế giới
phòng, chống viêm gan vi rút (28/7) phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng
đơn vị (Hướng dẫn chi tiết tại Phụ lục đính kèm).
2. Xây dựng kế hoạch, huy động sự hỗ trợ về tài chính và kỹ
thuật của các dự án hợp tác quốc tế (nếu có thể), chỉ đạo, tổ chức triển khai
các hoạt động phòng, chống viêm gan vi rút theo các Kế hoạch đã được Bộ Y tế
ban hành[1].
Trong quá trình thực hiện, nếu gặp khó khăn, vướng mắc,
kính đề nghị Quý cơ quan, đơn vị liên hệ với Cục Phòng bệnh để thống nhất giải
quyết.
Thông tin liên hệ: ThS. Trương Thị Ngọc, chuyên viên Phòng
Kiểm soát HIV và bệnh truyền nhiễm mạn tính, Cục Phòng bệnh, điện thoại
0975613126, email: [email protected].
Trân trọng cảm ơn./.
|
Nơi nhận:
- Như
trên;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Thứ trưởng Nguyễn Thị Liên Hương (để báo cáo);
- Các Phó Cục trưởng (để biết);
- TTKSBT các tỉnh, thành phố (để thực hiện);
- Văn phòng Cục, p.KH-TC, p.QLTC (để biết);
- Website Cục Phòng bệnh (để đăng tải);
- Lưu: VT, HIV-MT.
|
CỤC TRƯỞNG
Hoàng Minh Đức
|
DANH
SÁCH GỬI CÔNG VĂN
1. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh;
2. Cục Quản lý Dược;
3. Cục Bà mẹ - Trẻ em;
4. Vụ Kế hoạch Tài chính;
5. Vụ Bảo hiểm Y tế;
6. Cục Hạ tầng và Thiết bị Y tế
7. Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo;
8. Vụ Hợp tác Quốc tế;
9. Văn phòng Bộ Y tế;
10. Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương;
11. Báo Sức khỏe đời sống.
12. Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương;
13. Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên;
14. Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh;
15. Viện Pasteur Nha Trang;
16. Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương;
17. Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương;
18. Bệnh viện Phụ sản Trung ương;
19. Bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh;
20. Bệnh viện Phụ sản thành phố Hà Nội;
21. Bệnh viện Phụ sản thành phố Hải Phòng;
22. Bệnh viện Phụ sản Nhi thành phố Đà Nẵng;
23. Bệnh viện Hùng vương thành phố Hồ Chí Minh;
24. Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ;
25. Bệnh viện Nhi Trung ương;
26. Bệnh viện Nhi đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh;
27. Bệnh viện Nhi đồng 2, thành phố Hồ Chí Minh;
28. Bệnh viện Nhi đồng thành phố Hồ Chí Minh;
29. Bệnh viện Da liễu Trung ương;
30. Bệnh viện K;
31. Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên;
32. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế;
33. Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ;
34. Bệnh viện C Đà Nẵng
35. Bệnh viện Bạch Mai;
36. Bệnh viện Hữu Nghị;
37. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội;
38. Bệnh viện Thống Nhất;
39. Bệnh viện Chợ Rẫy;
40. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội;
41. Hội gan mật Việt Nam
42. Tổ chức Y tế Thế giới
43. CDC Hoa Kỳ tại Việt Nam
44. Tổ chức HAIVN
45. Dự án Heplink, PATH
46. Tổ chức CHAI
PHỤ LỤC
HƯỚNG DẪN
TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG HƯỞNG ỨNG
NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG, CHỐNG VIÊM GAN VI RÚT NĂM 2026
(Kèm theo công văn số 1113/PB-HIV-MT ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Cục Phòng
bệnh)
Hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống viêm gan vi rút (28/7)
năm 2026, Cục Phòng bệnh hướng dẫn các đơn vị triển khai các hoạt động truyền
thông phòng, chống viêm gan vi rút như sau:
I. MỤC TIÊU
Tăng cường sự hiểu biết của người dân về phát hiện sớm, xét
nghiệm sớm, điều trị kịp thời và các biện pháp dự phòng lây nhiễm viêm gan vi
rút nhằm thực hiện mục tiêu giảm lây truyền viêm gan vi rút, giảm tỷ lệ mắc và
tử vong do viêm gan vi rút, tiến tới loại trừ bệnh viêm gan vi rút vào năm 2030.
II. CHỦ ĐỀ, KHẨU HIỆU VÀ CÁC THÔNG
TIN CHÍNH VỀ VIÊM GAN VI RÚT
1. Chủ đề
Năm 2026, Việt Nam chọn chủ đề “Tăng tốc hành động loại
trừ bệnh viêm gan vi rút và ngăn ngừa ung thư gan”. Chủ đề này
tương đồng với chủ đề của Ngày Thế giới phòng, chống viêm gan vi rút năm 2026
do Tổ chức Y tế Thế giới ban hành: “Accelerate Global Action, Stop Preventable
Deaths. Eliminate Hepatitis. Act Now.” (Tăng tốc hành động toàn cầu - ngăn chặn
tử vong có thể phòng tránh - Loại trừ viêm gan - Hành động ngay hôm nay).
2. Giải thích chủ đề
Chủ đề “Tăng tốc hành động loại trừ bệnh viêm gan vi
rút và ngăn ngừa ung thư gan” là thông điệp trọng tâm của chiến dịch
truyền thông cho Ngày Thế giới Phòng chống Viêm gan vi rút, nhấn mạnh yêu cầu cấp
thiết phải đẩy nhanh các giải pháp phòng, chống viêm gan vi rút nhằm bảo vệ sức
khỏe cộng đồng và giảm gánh nặng bệnh tật và tử vong.
Thông điệp này xuất phát từ tình hình dịch tễ học bệnh viêm
gan vi rút, đặc biệt là viêm gan B, C, hiện vẫn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến
xơ gan, ung thư gan và tử vong trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Trong
khi đó, nhiều trường hợp có thể được phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị hiệu
quả nếu người dân được tiếp cận thông tin và các dịch vụ y tế kịp thời.
“Tăng tốc hành động” thể hiện quyết tâm triển khai, quyết
liệt hơn nữa các hoạt động như: Nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh viêm
gan vi rút. Nhiều người dân không biết mình mắc viêm gan B, C do bệnh diễn tiến
âm thầm gây tổn thương gan và ung thư gan, mặc dù viêm gan B, C có thể phòng ngừa,
viêm gan vi rút C có thể điều trị khỏi. Tại nhiều địa phương, người dân còn
chưa hiểu biết đầy đủ về bệnh viêm gan vi rút và hậu quả của bệnh, do đó, họ
chưa chủ động tiếp cận các dịch vụ y tế kịp thời để xét nghiệm, điều trị bệnh.
Thêm vào đó, chi phí xét nghiệm và điều trị viêm gan vi rút lâu dài cũng là
gánh nặng cho gia đình bệnh nhân khi họ không có bảo hiểm y tế. Vẫn còn tồn tại
sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những bệnh nhân mắc viêm gan vi rút.
Đồng thời, chủ đề cũng nhấn mạnh mục tiêu lâu dài là tiến tới
loại trừ để viêm gan vi rút không còn là mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng
vào năm 2030, qua đó góp phần ngăn ngừa ung thư gan, nâng cao chất lượng cuộc sống
cho người dân.
Chủ đề năm nay nhấn mạnh tăng tốc hành động, mở rộng quy mô
và tích hợp các dịch vụ về viêm gan vi rút như tiêm vắc-xin phòng bệnh, thực
hành tiêm an toàn, giảm tác hại và đặc biệt là xét nghiệm và điều trị viêm gan
vi rút vào hệ thống y tế.
Đến năm 2030, loại trừ bệnh viêm gan vi rút và ngăn ngừa
ung thư gan là mục tiêu của Tổ chức Y tế thế giới. Chúng ta phải hành động ngay
để mở rộng khả năng tiếp cận, tích hợp dịch vụ chăm sóc điều trị và loại trừ
viêm gan vi rút để không còn là mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng.
3. Các thông tin chính về bệnh
viêm gan vi rút
3.1. Viêm gan vi rút là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư
gan và là nguyên nhân gây tử vong ngày càng tăng trên toàn cầu.
Trong 5 loại vi rút viêm gan, vi rút viêm gan B và C có ảnh
hưởng đến sức khỏe con người nhiều nhất. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) năm 2024, trên thế giới có khoảng 240 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B
và khoảng 47 triệu trường hợp nhiễm vi rút viêm gan C mạn tính. Hàng năm trên
thế giới có khoảng 1,34 triệu trường hợp tử vong có liên quan đến bệnh viêm gan
vi rút (1,1 triệu ca do vi rút viêm gan B và 240.000 ca do vi rút viêm gan C)[2]. Đáng chú ý, tử vong do vi rút
viêm gan B tăng 17% kể từ năm 2015 do tỷ lệ chẩn đoán và điều trị còn thấp, chỉ
có 5% bệnh nhân viêm gan mạn tính biết mình bị nhiễm và chỉ có chưa đến 1% được
tiếp cận điều trị. Trên thế giới, khoảng 5% số người nhiễm viêm gan vi rút B mạn
tính đồng nhiễm viêm gan vi rút D. Viêm gan vi rút D là thể viêm gan vi rút nặng
nhất, do làm tăng tốc độ tiến triển đến xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan và tử
vong liên quan đến bệnh gan.
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm
gan B và viêm gan C cao trong khu vực và chịu hậu quả nặng nề do nhiễm vi rút
viêm gan gây nên. Ung thư gan đứng hàng đầu trong các bệnh ung thư có tỷ lệ tử
vong cao nhất ở Việt Nam và Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có tỷ lệ mắc và
tử vong ung thư gan cao nhất thế giới, ước tính có khoảng 57% các trường hợp xơ
gan và 78% trường hợp ung thư gan tiên phát do nhiễm vi rút viêm gan B, C. Theo
các kết quả điều tra tại Việt Nam ở một số nhóm quần thể, tỷ lệ nhiễm vi rút
viêm gan B là khoảng 9,4% và tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan C khoảng 0,2-4%[3].
Tại Việt Nam, vi rút viêm gan B lây truyền chủ yếu từ mẹ
sang con và vi rút viêm gan C lây truyền chủ yếu qua đường máu. Kết quả mô hình
ước tính gánh nặng bệnh tật do vi rút viêm gan B, C do Bộ Y tế phối hợp với Tổ
chức Y tế Thế giới thực hiện, ước tính hiện nay có khoảng 6,5 triệu người nhiễm
vi rút viêm gan B, gây ra 26.700 ca tử vong mỗi năm và khoảng 1 triệu người nhiễm
vi rút viêm gan C, gây ra khoảng 3.800 ca tử vong mỗi năm. Viêm gan B và viêm
gan C là nguyên nhân chính gây ra 80.000 người xơ gan và ung thư gan; viêm gan
B và viêm gan C gây ra 90% tổng số ca ung thư gan toàn quốc, ung thư gan là loại
ung thư phổ biến đứng thứ 2 trong tổng số các bệnh ung thư ở Việt Nam chiếm
13.6% năm 2022[4].
3.2. Phát hiện sớm, xét nghiệm sớm, điều trị kịp thời có thể
ngăn ngừa phần lớn tử vong do xơ gan, ung thư gan
Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiến tới loại trừ viêm gan
vi rút. Chúng ta đã có trong tay các công cụ hiệu quả như các can thiệp đặc hiệu
để dự phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con, vắc xin phòng viêm gan A và
B, cũng như các thuốc điều trị đặc hiệu. Bệnh viêm gan C có thể được điều trị
khỏi với tỷ lệ khỏi bệnh cao trên 95%[5];
điều trị viêm gan B giúp ức chế sự nhân lên, làm giảm tải lượng vi rút xuống mức
thấp nhất hoặc không thể phát hiện trong máu. Điều này giúp bảo vệ lá gan, ngăn
ngừa sự tiến triển thành xơ gan và ung thư gan. Tuy nhiên, một thách thức lớn
hiện nay là phần lớn các ca mắc viêm gan vi rút chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở
giai đoạn muộn, làm giảm hiệu quả điều trị và gia tăng nguy cơ biến chứng.
Triển khai tiêm vắc xin phòng viêm gan vi rút, mở rộng xét
nghiệm, chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và chăm sóc toàn diện với con người là
trung tâm sẽ góp phần cứu sống hàng triệu người và ngăn ngừa hiệu quả xơ gan và
ung thư gan.
4. Các nội dung truyền thông về Dự
phòng lây nhiễm viêm gan vi rút
- Đối với người dân:
+ Tìm hiểu thông tin và trao đổi với nhân viên y tế về xét
nghiệm viêm gan B, C và điều trị sớm viêm gan vi rút.
+ Tất cả phụ nữ mang thai cần được xét nghiệm viêm gan B
trong lần khám thai đầu tiên hoặc càng sớm càng tốt trong thời gian mang thai.
Phụ nữ mang thai có HBsAg dương tính cần được đánh giá theo hướng dẫn chuyên
môn, tư vấn điều trị/dự phòng lây truyền mẹ - con; trẻ sinh từ mẹ HBsAg dương
tính cần tiêm vắc xin viêm gan B liều sơ sinh càng sớm càng tốt trong 24 giờ đầu
và cân nhắc huyết thanh kháng viêm gan B theo chỉ định/hướng dẫn hiện hành.
+ Tiêm vắc xin viêm gan B đầy đủ cho trẻ theo lịch của
Chương trình tiêm chủng mở rộng, đặc biệt tăng cường tiêm vắc xin viêm gan B liều
sơ sinh cho trẻ trong vòng 24 giờ đầu sau sinh; không trì hoãn liều sơ sinh nếu
không có chống chỉ định; tăng tư vấn trước sinh để cha mẹ hiểu lợi ích của liều
sơ sinh.
+ Hiện chưa có vắc xin phòng viêm gan C; dự phòng chủ yếu
là tiêm an toàn, truyền máu an toàn, giảm tác hại, không dùng chung kim tiêm/dụng
cụ xuyên da và thực hành tình dục an toàn khi có nguy cơ phơi nhiễm máu. Đồng
thời, điều trị bằng thuốc kháng vi rút viêm gan C tác động trực tiếp có thể điều
trị khỏi trên 95% trường hợp nếu được phát hiện và điều trị đúng.
+ Thực hiện an toàn tình dục.
- Đối với các cơ quan y tế tại địa phương
+ Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về phòng, chống bệnh viêm gan vi rút...
+ Mở rộng và lồng ghép cung cấp các dịch vụ về viêm gan vi
rút qua bảo hiểm y tế. Ưu tiên phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị sớm, tập
trung vào nhóm đối tượng là người bệnh có hoàn cảnh khó khăn, vùng sâu vùng xa,
chưa có thẻ bảo hiểm y tế.
+ Tiêm chủng cho trẻ em: Đảm bảo tiêm vắc xin viêm gan B đầy
đủ cho trẻ theo lịch của Chương trình tiêm chủng mở rộng, đặc biệt tăng cường
tiêm vắc xin viêm gan B liều sơ sinh trong vòng 24 giờ sau sinh, không trì hoãn
liều sơ sinh nếu không có chống chỉ định; tăng tư vấn trước sinh để cha mẹ hiểu
lợi ích của liều sơ sinh.
+ Tiêm phòng cho người lớn và thanh thiếu niên: (1) Khuyến
nghị tiêm phòng bổ sung viêm gan B cho trẻ lớn và thanh thiếu niên đã bỏ lỡ mũi
tiêm phòng thời thơ ấu, cũng như người lớn có nguy cơ cao mắc viêm gan B nếu có
điều kiện; (2) Tiêm vắc xin viêm gan B cho các đối tượng chưa bị nhiễm HBV, đặc
biệt ở các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm viêm gan B cao (nhân viên y tế, người
có tiền sử truyền máu, người tiêm chích ma túy, người có quan hệ tình dục không
an toàn, gia đình có người nhiễm viêm gan B...); (3) Tiêm vắc xin viêm gan B
cho phụ nữ mang thai. Phụ nữ mang thai có thể được tư vấn tiêm nếu chưa có miễn
dịch và có nguy cơ/phơi nhiễm, theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
+ Mở rộng quy mô xét nghiệm và điều trị tích hợp vào hệ thống
chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm HIV, kiểm soát bệnh không lây nhiễm, kiểm
soát ung thư và sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đảm bảo quyền tiếp cận xét nghiệm và
điều trị viêm gan vi rút cho người dân.
+ Người có phơi nhiễm với vi rút viêm gan B cần được đánh
giá tình trạng miễn dịch và xử trí dự phòng sau phơi nhiễm càng sớm càng tốt
theo hướng dẫn hiện hành, bao gồm vắc xin viêm gan B và/hoặc huyết thanh kháng
viêm gan B khi có chỉ định (trong vòng 24 giờ) theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
+ Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức về mối liên hệ
giữa viêm gan vi rút và ung thư gan. Lồng ghép truyền thông về phòng ngừa viêm
gan vi rút vào các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em; truyền thông
giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm viêm gan B, C tại các khu
công nghiệp, cơ quan, trường học.
+ Truyền thông, cung cấp thông tin địa chỉ các dịch vụ tiêm
vắc xin, xét nghiệm và điều trị viêm gan tại địa phương và ngoài tỉnh (nếu có).
+ Các cơ sở y tế cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa chuẩn
dự phòng lây truyền viêm gan vi rút; thực hành tiêm/truyền máu an toàn; xử lý vật
sắc nhọn; vô khuẩn dụng cụ y tế; tất cả các mẫu máu toàn phần và máu tách huyết
tương cần được sàng lọc để phát hiện viêm gan B, viêm gan C và các tác nhân lây
truyền qua đường máu theo quy định an toàn truyền máu trước khi được đưa vào sử
dụng trong lâm sàng hoặc sản xuất.
5. Một số khẩu hiệu của Ngày Thế
giới phòng, chống viêm gan vi rút
(1) Tăng tốc hành động loại trừ bệnh viêm gan vi rút và
ngăn ngừa ung thư gan.
(2) Phát hiện sớm viêm gan vi rút – Điều trị kịp thời –
Ngăn ngừa ung thư gan.
(3) Chủ động xét nghiệm viêm gan B, viêm gan C để bảo vệ sức
khỏe bản thân và gia đình.
(4) Phụ nữ mang thai xét nghiệm viêm gan B sớm - Bảo vệ sức
khỏe cho mẹ và bé.
(5) Tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ trong 24 giờ đầu sau
sinh để bảo vệ sức khỏe hôm nay và tương lai.
(6) Tiêm vắc xin viêm gan B đầy đủ, đúng lịch – Hành động
thiết thực bảo vệ thế hệ tương lai.
(7) Điều trị viêm gan vi rút hiệu quả – Giảm gánh nặng bệnh
tật cho cá nhân, gia đình và xã hội.
(8) Điều trị viêm gan vi rút sớm giúp giảm nguy cơ xơ gan,
ung thư gan và tử vong.
(9) Chủ động phòng ngừa, tích cực điều trị – Chung tay đẩy
lùi viêm gan vi rút.
(10) Chung tay loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030 vì một
Việt Nam khỏe mạnh.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG HƯỞNG ỨNG NGÀY
THẾ GIỚI PHÒNG, CHỐNG VIÊM GAN VI RÚT (28/7)
1. Ban hành văn bản hướng dẫn chỉ
đạo
Các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ, Sở Y tế các tỉnh, thành phố
ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc triển khai các hoạt động
phòng, chống viêm gan vi rút và hưởng ứng ngày Thế giới phòng, chống viêm gan
vi rút năm 2026.
2. Tổ chức các hoạt động truyền
thông
Tùy thuộc điều kiện cụ thể, từng địa phương, đơn vị cân nhắc
và lựa chọn việc tổ chức các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Thế giới
phòng, chống viêm gan vi rút cụ thể như sau:
a) Tổ chức Lễ phát động, lễ mít tinh
- Các tỉnh, thành phố tổ chức hoặc lồng ghép tổ chức Lễ
phát động các hoạt động truyền thông phòng, chống viêm gan vi rút.
- Tổ chức lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Thế giới phòng, chống
viêm gan vi rút (28/7). Lễ mít tinh nên được tổ chức vào thời điểm thuận lợi
cho việc huy động cộng đồng tham gia và nên tổ chức trong tháng 7/2026.
- Bên cạnh đó, việc tổ chức lễ phát động hoặc mít tinh, các
địa phương, đơn vị có thể tổ chức các hoạt động phối hợp trong cùng thời gian
Mít tinh để huy động sự tham gia của cộng đồng, người dân như: Diễu hành quần
chúng, giải chạy, đi bộ, đạp xe, thi chạy, trưng bày, triển lãm, ca nhạc, biểu
diễn kịch và chiếu phim lưu động hoặc tổ chức các sự kiện tặng quà cho người bệnh
viêm gan vi rút, khám sàng lọc...
b) Tổ chức các hoạt động truyền thông
Truyền thông đại chúng
Tăng cường truyền thông phòng, chống viêm gan vi rút trên
báo in, trang tin điện tử, các đài phát thanh truyền hình cũng như hệ thống
truyền thanh xã, phường thông qua xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chuyên
đề, tọa đàm, phóng sự, phim ngắn, lồng ghép nội dung phòng, chống viêm gan vi
rút vào các chương trình giải trí, các chương trình quảng cáo, các chương trình
tọa đàm, giao lưu với những người nổi tiếng...
Truyền thông qua mạng xã hội:
Tăng cường sự tham gia của cán bộ y tế vào công tác truyền
thông về phòng, chống viêm gan vi rút trên hệ thống mạng xã hội như (Facebook,
Zalo, TikTok, Youtube, Viber, Telegram …); tin nhắn điện thoại; các loại hình
truyền thông trên nền tảng Internet; thông qua các hình thức truyền tải thông
điệp hiệu quả cao như: Infographic, videoclip, audioclip, bộ câu hỏi - đáp ngắn,
tọa đàm trực tuyến; ưu tiên ngôn ngữ dễ hiểu, không gây sợ hãi, không đổ lỗi
cho người nhiễm.
Truyền thông trực tiếp và truyền thông nhân sự kiện
- Tổ chức truyền thông cá nhân và truyền thông nhóm về
phòng, chống viêm gan vi rút tại gia đình và cộng đồng. Lấy lực lượng y tế xã,
phường, đặc khu làm nòng cốt, giao nhiệm vụ và định kỳ kiểm tra, giám sát kết
quả và hiệu quả các hoạt động truyền thông.
- Kết hợp với các nền tảng số truyền thông của các đơn vị,
mạng lưới truyền thông Sở Y tế các tỉnh/thành phố – các đơn vị thuộc và trực
thuộc Bộ; các đơn vị y tế tuyến tỉnh, tuyến cơ sở, cơ sở bảo trợ xã hội để mở rộng
phạm vi tiếp cận.
- Tổ chức các sự kiện truyền thông về phòng, chống viêm gan
vi rút và các nội dung có liên quan tại các cơ quan, trường học, khu công nghiệp...
nhằm thu hút sự quan tâm của đông đảo nhân dân.
- Lồng ghép và đẩy mạnh truyền thông, tư vấn phòng, chống
viêm gan vi rút qua cơ sở cung cấp dịch vụ y tế.
Cung cấp thông tin cho đội ngũ phóng viên, cán bộ truyền
thông viết bài về phòng, chống viêm gan vi rút
- Tổ chức gặp mặt đội ngũ phóng viên viết bài về phòng, chống
viêm gan vi rút để định hướng và cung cấp thông tin.
- Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công
tác truyền thông y tế tại địa phương (chú ý tuyến xã và thôn bản).
- Tập huấn truyền thông, cung cấp thông tin cho người phát
ngôn và lãnh đạo đơn vị, cán bộ truyền thông các cấp, lưu ý cán bộ truyền thông
trong các cơ sở khám chữa bệnh.
Sản xuất và nhân bản tài liệu truyền thông
- Sản xuất nhân bản các tài liệu truyền thông dưới các hình
thức thích hợp chuyển cho các cơ sở cung cấp dịch vụ, các tuyên truyền viên, cộng
tác viên truyền thông phòng, chống viêm gan vi rút để lan tỏa thông điệp tới
nhân dân.
- Xây dựng và phổ biến các thông điệp phòng, chống viêm gan
vi rút qua các phương tiện và tài liệu truyền thông khác: Xây dựng các cụm
panô, khẩu hiệu, treo băng rôn tại các địa điểm công cộng có đông người qua lại
như các trục đường giao thông chính, các bến xe, công viên; cửa ngõ tỉnh, thành
phố, xã phường, thôn, ấp, bản và cổng các cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viện;
Phổ biến các ấn phẩm truyền thông phòng, chống viêm gan vi rút khác như áp
phích, tranh gấp, tờ rơi, sách mỏng...
3. Tổ chức các hoạt động chuyên
môn (hội nghị, hội thảo, tập huấn...)
Tùy từng điều kiện cụ thể, các đơn vị, địa phương tổ chức
các hội nghị, hội thảo, tập huấn với số người tham gia và hình thức tổ chức phù
hợp với tiêu chí trang nghiêm, tiết kiệm. Các hội nghị, hội thảo, tập huấn... tập
trung phổ biến về các nội dung:
- Nguyên nhân, đường lây truyền các bệnh viêm gan vi rút,
biện pháp dự phòng lây nhiễm viêm gan vi rút và các biện pháp chăm sóc, điều trị
các bệnh viêm gan vi rút.
- Hậu quả của bệnh viêm gan vi rút đối với sức khỏe, tính mạng
con người và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Tiêm vắc xin phòng, chống viêm gan vi rút
- Các phương pháp, dịch vụ xét nghiệm vi rút
- Điều trị các bệnh viêm gan vi rút
- Xơ gan, ung thư gan
4. Đường link một số sản phẩm truyền
thông của Cục Phòng bệnh, Tổ chức Y tế Thế giới về phòng, chống viêm gan vi rút
để các địa phương tham khảo và sử dụng (nếu cần).
https://vadp.gov.vn/category/kiem-soat-hiv-va-benh-truyen-nhiem-man-tinh
[1] Quyết
định số 7130/QĐ-BYT ngày 29/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt Kế
hoạch hành động quốc gia tiến tới loại trừ HIV, viêm gan B và giang mai lây
truyền từ mẹ sang con giai đoạn 2018 -2030; Quyết định số 4531/QĐ-BYT ngày
24/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Kế hoạch phòng, chống viêm gan vi rút
tại Việt Nam, giai đoạn 2021-2025; Quyết định số 2780/QĐ-BYT ngày 29/8/2025 của
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Kế hoạch Tiêm chủng mở rộng giai đoạn 03 năm
(2026-2028); Quyết định số 631/QĐ-BYT ngày 12/3/2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban
hành Kế hoạch phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2026.
[2]
WHO, 2026, WHO Global Hepatitis Report.
[3] Bộ
Y tế - Cục Phòng bệnh (trước tháng 3/2025 là Cục Y tế dự phòng). Báo cáo kết quả
điều tra ước tính tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B và vi rút viêm gan C trong nhóm
người trưởng thành. Tháng 10/2019.
[4]
WHO, 2025, Vietnam Viral hepatitis programme review report: achievements,
challenges and policy recommendations.
[5] Quyết
định số 2855/QĐ-BYT ngày 25/9/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng
dẫn chẩn đoàn và điều trị bệnh viêm gan vi rút C.