|
CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 210/NQ-CP
|
Hà Nội, ngày 06 tháng 8 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
VỀ KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN KẾT LUẬN
CỦA ĐỒNG CHÍ TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TẠI THÔNG BÁO SỐ 117-TB/VPTW NGÀY 04
THÁNG 7 NĂM 2026 CỦA VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BÃO,
LŨ, THIÊN TAI CỰC ĐOAN VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CHÍNH PHỦ
Căn
cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn
cứ Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04 tháng 7 năm 2026 của Văn phòng Trung ương Đảng
thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm
việc với đại diện Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về công tác phòng,
chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu từ nay đến hết năm 2026;
Theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Trên
cơ sở kết quả biểu quyết của các Thành viên Chính phủ.
QUYẾT NGHỊ:
Thực
hiện Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số
117-TB/VPTW ngày 04 tháng 7 năm 2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về công tác
phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu từ nay đến hết năm
2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết về Kế hoạch hành động với những nội dung
như sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục
đích
a)
Quán triệt chủ trương, yêu cầu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại
Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04 tháng 7 năm 2026 của Văn phòng Trung ương Đảng
về công tác phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu từ nay
đến hết năm 2026, phân công rõ cơ quan, đơn vị chủ trì, tiến độ, nguồn lực và
có cơ chế kiểm tra, đôn đốc.
b) Xác
định nhiệm vụ cụ thể để các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương xây dựng kế hoạch
hành động chi tiết đến cấp cơ sở, đơn vị và tổ chức triển khai thực hiện các chủ
trương, nội dung tại Thông báo số 117-TB/VPTW bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, thống
nhất, hiệu quả và hoàn thành đúng tiến độ.
c) Tạo
chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, địa
phương và toàn xã hội, trong đó xác định công tác phòng, chống thiên tai là một
cấu phần của phát triển bền vững, gắn với bảo đảm an ninh con người, an ninh
nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và ổn định xã hội; tích hợp
trong các kịch bản điều hành phát triển, kế hoạch đầu tư công, điều hành sản xuất
kinh doanh, thu hút đầu tư, bảo đảm an sinh và bảo vệ đời sống nhân dân; định
hướng chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động; từ xử lý hậu
quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; từ chỉ đạo theo mùa vụ sang chuẩn bị thường
xuyên; từ cách làm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang cách làm dựa trên dữ liệu,
khoa học, công nghệ, pháp luật, kỷ luật quy hoạch và trách nhiệm của người đứng
đầu.
2. Yêu
cầu
a) Bảo
đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương;
phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức triển khai thực
hiện công tác phòng, chống thiên tai; tuyệt đối không được chủ quan với bất kỳ
kịch bản thiên tai, phải chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống xấu hơn, nhanh hơn, rộng
hơn, phức tạp hơn để chủ động ứng phó, không bị động, bất ngờ.
b) Tập
trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp để bảo vệ tính mạng nhân dân
là yêu cầu cao nhất, trong đó ưu tiên hàng đầu là các đối tượng yếu thế (người
già, trẻ em, phụ nữ mang thai, người khuyết tật, người bệnh, hộ nghèo, hộ neo
đơn); phòng ngừa phải đi trước một bước (chủ động lồng ghép yêu cầu phòng, chống
thiên tai vào quy hoạch, đầu tư, tiêu chuẩn xây dựng, bảo vệ rừng, hành lang
thoát lũ, an toàn hồ đập, bố trí dân cư đến quản lý sông suối, kiểm soát khai
thác cát, nước ngầm, thoát nước đô thị,…); tăng cường cảnh báo sớm, dữ liệu số
và kỹ năng cộng đồng; phòng, chống thiên tai phải gắn trực tiếp với mục tiêu
tăng trưởng và phát triển bền vững; lấy cơ sở làm nền tảng, bảo đảm phù hợp thực
tế từng địa bàn; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, gắn với trách nhiệm người đứng đầu
các cấp nếu để xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý địa bàn, dẫn đến các vi phạm,
thiệt hại có liên quan.
c) Bảo
đảm sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ, cơ quan, địa phương trong quá
trình tổ chức thực hiện; gắn việc triển khai với kế hoạch thực hiện Kết luận số
213-KL/TW ngày 21 tháng 11 năm 2025, Kết luận số 26-KL/TW ngày 24 tháng 4 năm
2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 29 tháng 4 năm
2026, Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ; Chỉ thị số
23/CT-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình hành động
thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các nghị quyết, kết luận
có liên quan.
d) Xây
dựng kế hoạch hành động chi tiết để phân công rõ cơ quan, đơn vị chủ trì nhiệm
vụ, tiến độ, nguồn lực và có cơ chế kiểm tra, đôn đốc tổ chức triển khai thực
hiện bảo đảm đồng bộ, hiệu quả; ưu tiên bố trí và huy động các nguồn lực để triển
khai các nhiệm vụ, giải pháp và dự án trọng điểm, bảo đảm hoàn thành các mục
tiêu.
đ) Siết
chặt kỷ luật, xử lý nghiêm minh trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, tài nguyên
và môi trường (phá rừng, lấn suối, san lấp ao hồ, khai thác cát trái phép, xây
dựng trong hành lang thoát lũ,…), không để làm gia tăng rủi ro đối với tính mạng,
tài sản của Nhân dân; xem xét trách nhiệm người đứng đầu nếu buông lỏng quản
lý, để xảy ra vi phạm kéo dài gây hậu quả.
II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
1. Các nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến hết năm 2026
a) Bộ
Nông nghiệp và Môi trường
- Xây
dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc
gia giai đoạn 2026-2030.
- Cập
nhật kịch bản thiên tai, hướng dẫn cảnh báo theo tác động.
- Chỉ
đạo công tác bảo đảm an toàn đê điều, hồ đập; chủ động ứng phó hạn hán, xâm nhập
mặn, lũ quét, sạt lở đất.
- Nâng
cao chất lượng dự báo, cảnh báo. Chuyển mạnh từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh
báo tác động, chi tiết đến từng địa bàn.
- Chủ
trì, phối hợp với các địa phương liên quan rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên,
hoàn thiện danh mục dự án để bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ, dự án bảo vệ môi
trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu thuộc các Đề án do Bộ Nông nghiệp
và Môi trường chủ trì tại Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương
thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.
b) Bộ
Quốc phòng, Bộ Công an chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phương án cứu hộ, cứu nạn,
phối hợp sơ tán dân, bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn xảy ra thiên tai. Chủ
trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia điều động lực lượng vũ
trang để chi viện hỗ trợ các lực lượng tại chỗ ứng phó, khắc phục hậu quả thiên
tai hoặc để ổn định, duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong trường hợp
vượt quá khả năng ứng phó của cấp tỉnh.
c) Bộ
Xây dựng rà soát quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, thoát nước đô thị, nhà ở an
toàn, hạ tầng chống chịu thiên tai.
d) Bộ
Tài chính chủ trì tham mưu bảo đảm nguồn lực và cơ chế tài chính phù hợp, ưu
tiên cho phòng ngừa, ứng phó kịp thời, khắc phục nhanh hậu quả thiên tai và phục
hồi sinh kế, sản xuất.
đ) Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố:
- Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ về
công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra các địa bàn xung yếu, khu vực có nguy cơ cao xảy ra
thiên tai; chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã nắm chắc từng hộ dân, địa bàn và các
khu vực có nguy cơ xảy ra thiên tai (lũ quét, sạt lở, ngập lụt, …) để chủ động ứng
phó, không bị động, bất ngờ.
- Bảo
đảm tuyệt đối an toàn tính mạng Nhân dân trong mọi tình huống. Đồng thời, cần
xác định rõ các phương án sơ tán khi có tình huống khẩn cấp: Đối tượng ưu tiên
sơ tán trước, lộ trình di chuyển phương tiện, lực lượng hỗ trợ; bảo đảm các điều
kiện thiết yếu tại nơi trú tránh như nước sạch, thuốc men, điện, vệ sinh môi
trường và an ninh trật tự.
- Thường
xuyên rà soát, cập nhật, tích hợp công tác phòng, chống thiên tai vào kịch bản điều
hành tăng trưởng năm 2026. Đồng thời, có phương án cụ thể để duy trì hoạt động
và phục hồi nhanh các lĩnh vực trọng yếu khi xảy ra thiên tai, bao gồm các khu
công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển, sân bay, logistics, du lịch; vùng sản xuất
nông nghiệp, thủy sản; hệ thống năng lượng, điện, nước, viễn thông, giao
thông,…, không để sản xuất kinh doanh bị đình trệ kéo dài do tác động của thiên
tai.
- Rà
soát, cập nhật phương án ứng phó thiên tai những tháng cuối năm 2026 (hạn hán,
xâm nhập mặn, thiếu nước, cháy rừng, bão mạnh, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, ngập
úng đô thị, sự cố hồ đập, đê điều...), trong đó cập nhật kịch bản sẵn sàng ứng
phó với các tình huống thiên tai bất thường, vượt lịch sử như đã xảy ra các năm
2024, 2025. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm phê duyệt, triển
khai phương án ứng phó tại địa phương đảm bảo xây dựng chi tiết, khả thi, phù hợp
với đặc thù từng vùng, từng địa bàn, từng khu dân cư có nguy cơ chịu ảnh hưởng
cao; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý đường
bộ trong việc phân luồng giao thông, huy động lực lượng, phương tiện, bố trí
bãi đổ đất, đá, giải phóng mặt bằng và xử lý các vướng mắc phát sinh khi khắc
phục sự cố giao thông do thiên tai gây ra.
- Các
địa phương khu vực Nam Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long
chủ động xây dựng kế hoạch ứng phó cụ thể với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn
mùa khô 2026-2027, tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp từ điều chỉnh lịch
thời vụ, giống cây trồng, điều tiết hồ chứa, cấp nước, trữ nước cho sinh hoạt
và sản xuất, phòng cháy rừng, bảo vệ cây trồng, vật nuôi … đến thông tin cảnh
báo cho từng cộng đồng dân cư.
- Tổ
chức lại phương châm “bốn tại chỗ” trên cơ sở rà soát lực lượng phòng thủ dân sự
tại chỗ ở cấp xã, ở thôn, bản, đặc biệt là thanh niên, người có kỹ năng vận
hành máy móc, phương tiện. Chỉ đạo thiết lập, triển khai cơ chế phối hợp liên
xã, liên địa bàn theo lưu vực sông, vùng hạ du hồ chứa, ven biển, vùng có nguy
cơ sạt lở, ngập sâu, chia cắt; xác định rõ xã trung tâm, điểm tập kết lực lượng,
vật tư, phương tiện, tuyến sơ tán, nơi trú tránh và phương án chi viện chéo giữa
các xã, giữa địa bàn xung yếu với địa bàn an toàn hơn. Khi có tình huống vượt
quá khả năng cấp xã, phải có lực lượng cơ động cấp tỉnh, quân đội, công an chi
viện.
- Thường
xuyên kiểm tra an toàn công trình xung yếu và hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là
công trình đê điều, hồ đập, công trình phòng, chống thiên tai, công trình hạ tầng
quan trọng đang sử dụng như sân bay, đường sắt, đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ,
đường độc đạo liên xã, liên thôn, bến cảng quốc gia, hệ thống lưới cao thế từ
66 kV trở lên, trường học, bệnh viện, trụ sở các cơ quan, các khu kinh tế, khu
công nghiệp, công trình thủy lợi, khu neo đậu tàu thuyền, hệ thống viễn thông,
công trình cấp nước, các điểm sạt lở bờ sông, bờ biển,… Trên cơ sở đó, phải có
biện pháp khẩn cấp cần áp dụng ngay để ứng phó và khắc phục hậu quả nhằm ngăn
chặn, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai và sự cố công trình; đồng
thời cảnh báo, hạn chế đi lại, bố trí lực lượng, vật tư, xây dựng phương án sơ
tán người dân vùng có nguy cơ chịu ảnh hưởng.
- Nâng
cao chất lượng cảnh báo và truyền tin đến người dân. Chuyển mạnh từ cảnh báo hiện
tượng sang cảnh báo tác động, chi tiết đến từng địa bàn (khu vực nào có thể ngập,
bị chia cắt, tuyến đường nào bị cấm, hộ dân nào cần sơ tán…). Kết hợp đa dạng
kênh truyền tin để cảnh báo đến đúng người, đúng nơi, đúng thời điểm, thông qua
chính quyền, các tổ chức đoàn thể và các hình thức như truyền hình, phát thanh,
loa truyền thanh, tin nhắn, mạng xã hội,... Trong trường hợp không có sóng điện
thoại hoặc mất điện, phải bố trí phương án truyền tin thay thế bằng loa truyền
thanh, loa lưu động, bộ đàm, lực lượng trực tiếp đến từng hộ dân và các hình thức
thông tin phù hợp khác; nội dung cảnh báo phải ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đặc
điểm dân cư từng địa bàn.
- Huy
động và điều phối công khai, minh bạch các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, quỹ
phòng, chống thiên tai, doanh nghiệp, xã hội, lực lượng vũ trang, các tổ chức
đoàn thể và các nguồn tài chính cho phòng, chống thiên tai khác theo quy định của
pháp luật. Trong đó, ưu tiên nguồn lực cho phòng ngừa, cảnh báo sớm, xử lý dứt điểm
hạ tầng xung yếu, di dời dân cư khỏi nơi nguy hiểm, khơi thông lòng dẫn, giải tỏa
các điểm gây tắc nghẽn dòng chảy và trang bị vật tư thiết yếu (nước sạch, y tế,
phương tiện cứu hộ, cứu nạn,...). Có kế hoạch kiểm tra chuyên đề công tác chuẩn
bị trên thực tế tại các địa bàn có nguy cơ rủi ro thiên tai cao (danh sách hộ
dân, nơi trú tránh, kho vật tư, lực lượng xung kích, phương án dự phòng mất điện,
liên lạc, bảo vệ trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, vùng sản xuất, phương
án dự trữ hàng hóa thiết yếu, nhất là lương thực, thực phẩm, thuốc men, đồ dùng
thiết yếu, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, …).
e) Các
Bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ được giao theo quy định của pháp luật tập trung thực hiện các nội dung sau:
- Rà
soát, cập nhật phương án ứng phó với các loại hình thiên tai.
- Có kế
hoạch kiểm tra chuyên đề tại các địa bàn rủi ro cao; thường xuyên kiểm tra an
toàn công trình xung yếu và hạ tầng thiết yếu đối với công trình, hạ tầng, dịch
vụ thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật.
- Bảo
đảm điện, nước, viễn thông, giao thông, y tế, giáo dục, hàng hóa thiết yếu
trong mọi tình huống.
g) Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các ban, ngành, đoàn thể phát
huy vai trò vận động, giám sát, hỗ trợ Nhân dân; tổ chức lực lượng cộng đồng
tham gia phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả, bảo đảm hỗ trợ công khai, minh
bạch, đúng đối tượng. Nâng cao vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác quy hoạch
xây dựng, quản lý tài nguyên, bảo vệ rừng, hành lang thoát lũ và an toàn hồ đập;
giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc phân bổ, sử dụng các nguồn lực cứu
trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai.
h)
Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các
cơ quan báo chí phối hợp triển khai công tác thông tin, tuyên truyền về phòng,
chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu; đẩy mạnh thông tin dự
báo, cảnh báo, hướng dẫn kỹ năng phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên
tai; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phản
ánh kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
các bộ, ngành, địa phương; lan tỏa các mô hình, kinh nghiệm, cách làm hiệu quả;
đấu tranh, phản bác thông tin sai sự thật, gây hoang mang trong nhân dân liên
quan đến công tác phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu.
2. Định hướng các nhiệm vụ giai đoạn 2026 - 2030
Đây là
giai đoạn tạo nền tảng căn bản để chuyển từ ứng phó thiên tai sang quản trị rủi
ro thiên tai. Mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng năng lực đáp ứng yêu cầu phòng,
chống, ứng phó với thiên tai, đặc biệt là ở cấp xã, trên cơ sở ứng dụng khoa học,
công nghệ, dữ liệu số, bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân và nền kinh tế.
a) Căn
cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật, các bộ,
cơ quan, địa phương tập trung các nội dung cụ thể như sau:
- Hoàn
thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống thiên tai, phòng thủ dân sự, tài
nguyên nước, thủy lợi, đê điều, khí tượng thủy văn, quy hoạch, đầu tư công,
ngân sách, bảo hiểm, cứu hộ, cứu nạn và huy động lực lượng, tài sản.
- Ưu
tiên đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 cho công tác phòng ngừa, giảm
rủi ro thiên tai, nhất là các công trình phòng, chống thiên tai quy mô lớn,
liên vùng; hồ đập, đê điều, thoát lũ, sạt lở, bố trí dân cư an toàn, cảnh báo sớm,
dữ liệu số, hạ tầng chống chịu, trường học, bệnh viện, nước sạch, sinh kế bền vững.
- Tích
hợp yêu cầu phòng, chống thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu gắn với hệ thống
quy hoạch.
b) Bộ
Nông nghiệp và Môi trường tổ chức thực hiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc
gia giai đoạn 2026 - 2030 gắn với Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến
năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi và phòng,
chống thiên tai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các quy hoạch
liên quan.
c) Bộ
Tài chính chủ trì phát triển các công cụ tài chính xử lý rủi ro thiên tai, bảo
hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tài sản công, trái phiếu xanh, hợp tác công tư, tài
chính khí hậu quốc tế.
d)
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng chủ động triển khai
các chương trình, chính sách tín dụng góp phần hỗ trợ phục hồi sinh kế cho người
dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi bão lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố:
a) Căn
cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và các nhiệm vụ được phân công tại
Nghị quyết này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các bộ, cơ quan được giao chủ trì
nhiệm vụ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng,
ban hành kế hoạch hành động chi tiết để tổ chức thực hiện, hoàn thành trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày Nghị quyết được ban hành; gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường
để tổng hợp, báo cáo Chính phủ theo quy định. Đối với các nhiệm vụ đã được lồng
ghép trong các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án hoặc văn bản chỉ đạo đã được
cấp có thẩm quyền ban hành, các Bộ, cơ quan, địa phương chủ động rà soát, cập
nhật, bổ sung để bảo đảm phù hợp với các nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến hết năm
2026 và lồng ghép các định hướng giai đoạn 2026 - 2030 theo chủ trương, chỉ đạo
của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; tiếp tục tổ chức thực hiện theo các chương
trình, kế hoạch, đề án, dự án, văn bản đã ban hành, không phải xây dựng hoặc
ban hành thêm kế hoạch riêng. Đối với các nhiệm vụ đã rõ, đã được giao hoặc đã
có văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì chủ động tổ chức triển
khai thực hiện ngay, bảo đảm kịp thời, hiệu quả.
Các bộ,
cơ quan khác căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động, phối hợp tổ chức
triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Nghị quyết này.
b) Tập
trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Kết luận của đồng chí Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước, Nghị quyết của Chính phủ và kế hoạch của Bộ, cơ quan, địa
phương đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
c)
Tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ
và kế hoạch của từng Bộ, cơ quan, địa phương; tổ chức đánh giá kết quả thực hiện
Nghị quyết từ nay đến hết năm 2026, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước
ngày 31 tháng 12 năm 2026, đồng thời gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để theo
dõi, tổng hợp theo quy định.
2. Bộ
Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương
theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết này.
3.
Chính phủ trân trọng đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Chính
sách, Chiến lược Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài
Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan báo chí phối hợp trong quá trình triển khai
thực hiện.
4. Bộ
Tài chính chủ trì tham mưu bảo đảm nguồn lực và cơ chế tài chính phù hợp, ưu
tiên cho phòng ngừa, ứng phó kịp thời, khắc phục nhanh hậu quả thiên tai và phục
hồi sinh kế, sản xuất; phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương tổng hợp, trình
cấp có thẩm quyền cân đối, bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách
trung ương giai đoạn 05 năm và hằng năm, kinh phí chi thường xuyên hằng năm để
thực hiện các nhiệm vụ của Nghị quyết này theo quy định của pháp luật về ngân
sách nhà nước, pháp luật về đầu tư công và quy định của pháp luật khác có liên
quan.
5. Các
bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ động bố trí ngân sách và
các nguồn tài chính hợp pháp khác để triển khai thực hiện nhiệm vụ tại kế hoạch
do cơ quan trực thuộc chủ trì.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư
Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Đài Truyền hình Việt Nam;
- Đài Tiếng nói Việt Nam;
- Thông tấn xã Việt Nam;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ: TH, NN, KGVX, Công báo;
- Lưu: VT, NN (2).
|
TM. CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Hồ Quốc Dũng
|