|
NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 82/VBHN-NHNN
|
Hà Nội, ngày 23
tháng 6 năm 2026
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH VỀ PHÂN LOẠI TÀI SẢN CÓ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG LÀ HỢP
TÁC XÃ
Thông tư số 36/2024/TT-NHNN
ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về
phân loại tài sản có của tổ chức tín dụng là hợp tác xã, có hiệu lực kể từ ngày
15 tháng 08 năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Thông tư số 24/2026/TT-NHNN
ngày 17 tháng 6 năm 2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ
sung một số điều của Thông tư số 14/2024/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản
có của tổ chức tài chính vi mô và Thông tư số 36/2024/TT-NHNN quy định về phân
loại tài sản có của tổ chức tín dụng là hợp tác xã, có hiệu lực kể từ ngày 03
tháng 08 năm 2026.
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín
dụng ngày 18 tháng 01 năm 2024;
Căn cứ Nghị định số 102/2022/NĐ-CP
ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề nghị của Chánh Thanh
tra, giám sát ngân hàng;
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam ban hành Thông tư quy định về phân loại tài sản có của tổ chức tín dụng
là hợp tác xã[1].
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
1. Thông tư này quy định về việc
phân loại đối với các tài sản có (sau đây gọi tắt là nợ) phát sinh từ các hoạt
động sau:
a) Cho vay;
b) Chiết khấu, tái chiết khấu
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;
c) Cấp tín dụng dưới hình thức
phát hành thẻ tín dụng;
d) Trả thay theo cam kết ngoại
bảng (bao gồm khoản trả thay nghĩa vụ của khách hàng trong hoạt động bảo lãnh,
nghiệp vụ thư tín dụng (trừ các trường hợp quy định tại điểm i Khoản này) và
các khoản trả thay khác theo cam kết ngoại bảng);
đ) Mua trái phiếu chưa niêm yết
do tổ chức tín dụng khác phát hành trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng
ký giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom (sau đây gọi tắt là trái phiếu chưa
niêm yết);
e) Ủy thác cấp tín dụng;
g) Gửi tiền (trừ tiền gửi không
kỳ hạn) tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của
pháp luật;
h) Mua chứng chỉ tiền gửi do tổ
chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành;
i) Nghiệp vụ phát hành thư tín dụng
trả chậm có điều khoản thỏa thuận bên thụ hưởng được thanh toán trả ngay hoặc
trả trước ngày đến hạn thanh toán thư tín dụng và nghiệp vụ hoàn trả thư tín dụng
theo hình thức thỏa thuận với khách hàng thanh toán bằng nguồn tiền của ngân
hàng hoàn trả kể từ ngày ngân hàng hoàn trả thanh toán cho bên thụ hưởng; nghiệp
vụ thương lượng thanh toán thư tín dụng;
k) Mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng
từ xuất trình theo thư tín dụng, trừ trường hợp ngân hàng hợp tác xã mua hẳn miễn
truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do chính ngân hàng hợp tác xã phát hành.
2. Ngân hàng hợp tác xã thực hiện
phân loại nợ phát sinh từ các hoạt động quy định tại khoản 1 và cam kết ngoại bảng
theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Quỹ tín dụng nhân dân thực
hiện phân loại nợ phát sinh từ hoạt động quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
4. Các khoản bảo lãnh, nghiệp vụ
thư tín dụng (trừ các trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều này), chấp nhận
thanh toán, cam kết cho vay không hủy ngang và các cam kết khác phát sinh rủi
ro tín dụng (sau đây gọi là cam kết ngoại bảng) phải được phân loại theo quy định
tại Thông tư này để quản lý, giám sát chất lượng hoạt động cấp tín dụng của
ngân hàng hợp tác xã.
5. Đối với nợ đã sử dụng dự
phòng rủi ro theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định về mức trích,
phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong
hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và trường hợp tổ
chức tín dụng phân bổ lãi phải thu phải thoái (sau đây gọi là Nghị định về
trích lập dự phòng rủi ro), tổ chức tín dụng là hợp tác xã thực hiện quản lý,
theo dõi theo quy định tại Nghị định về trích lập dự phòng rủi ro, không phân
loại nợ theo quy định tại Thông tư này.
6. Các khoản nợ mà Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ có quy định, quyết định về phân loại tài sản có thì tổ chức
tín dụng là hợp tác xã thực hiện theo quy định, quyết định đó của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ.
Điều 2. Đối
tượng áp dụng
1. Tổ chức tín dụng là hợp tác
xã, bao gồm:
a) Ngân hàng hợp tác xã;
b) Quỹ tín dụng nhân dân.
2. Tổ chức, cá nhân khác có
liên quan đến việc phân loại nợ của tổ chức tín dụng là hợp tác xã.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong Thông tư này, những từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau:
1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động
của tổ chức tín dụng là hợp tác xã (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy
ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng là hợp tác xã do khách hàng không
trả được hoặc không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo
hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi là thỏa thuận) với tổ chức tín dụng là hợp
tác xã.
2. Khoản nợ là số tiền tổ chức
tín dụng là hợp tác xã đã gửi, thanh toán, giải ngân từng lần theo thỏa thuận
(đối với trường hợp mỗi lần giải ngân có thời điểm cuối cùng của thời hạn, kỳ hạn
trả nợ khác nhau) hoặc số tiền tổ chức tín dụng là hợp tác xã đã giải ngân theo
thỏa thuận (đối với trường hợp nhiều lần giải ngân nhưng có thời điểm cuối cùng
của thời hạn và kỳ hạn trả nợ giống nhau) đối với nợ chưa hoàn trả của một
khách hàng.
3. Khoản nợ quá hạn là khoản nợ
mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng là hợp tác xã. Đối với khoản cấp tín dụng
dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng, khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách
hàng sử dụng thẻ không trả được nghĩa vụ trả nợ đến hạn thanh toán của mình
theo thỏa thuận phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng với ngân hàng hợp
tác xã.
4. Nợ xấu (NPL) là nợ xấu đang
hạch toán trong bảng cân đối kế toán (nợ xấu nội bảng), gồm nợ thuộc các nhóm
3, nhóm 4 và nhóm 5 theo quy định tại Thông tư này.
5. Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ
xấu so với tổng các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo quy định tại Thông tư
này.
6. Tỷ lệ cấp tín dụng xấu là tỷ
lệ giữa tổng của nợ xấu và cam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với tổng
các khoản nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5.
7. Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
là nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước).
8. Khách hàng là tổ chức (bao gồm
cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), cá nhân, các chủ thể khác
theo quy định của pháp luật dân sự có nghĩa vụ hoặc có thể phát sinh nghĩa vụ
trả nợ, thanh toán cho ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân theo thỏa
thuận và theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín
dụng nhân dân.
9. Các cam kết khác phát sinh rủi
ro tín dụng là cam kết ngoại bảng mà trong trường hợp ngân hàng hợp tác xã thực
hiện nghĩa vụ theo cam kết với khách hàng sẽ hình thành các tài sản có quy định
tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này.
Điều 4. Định
kỳ thực hiện phân loại nợ
1. Ít nhất mỗi tháng một lần,
trong 07 (bảy) ngày đầu tiên của tháng, tổ chức tín dụng là hợp tác xã căn cứ
quy định tại khoản 6 Điều 1, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Thông tư
này để tự thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng đến thời điểm cuối
ngày cuối cùng của tháng trước liền kề.
Ngoài thời điểm phân loại nêu
trên, tổ chức tín dụng là hợp tác xã được tự thực hiện phân loại nợ, cam kết
ngoại bảng theo quy định nội bộ.
2. Căn cứ kết quả kiểm tra,
thanh tra, giám sát và thông tin tín dụng có liên quan:
a) Ngân hàng Nhà nước (Cục Quản
lý, giám sát tổ chức tín dụng[2])
có quyền yêu cầu ngân hàng hợp tác xã thực hiện việc đánh giá, phân loại lại
các khoản nợ cụ thể phù hợp với mức độ rủi ro của các khoản nợ đó;
b) Ngân hàng Nhà nước chi nhánh
Khu vực[3] có quyền yêu cầu đơn vị
trực thuộc của ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân thực hiện việc đánh
giá, phân loại lại các khoản nợ cụ thể phù hợp với mức độ rủi ro của các khoản
nợ đó.
Điều 5. Hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ
1. Ngân hàng hợp tác xã phải
xây dựng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ cho việc phân loại nợ, quản
lý chất lượng tín dụng phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế của
ngân hàng hợp tác xã. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tối thiểu phải bao gồm:
a) Các cơ sở pháp lý liên quan
đến thành lập và ngành nghề kinh doanh của khách hàng;
b) Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
liên quan đến tình hình kinh doanh, tài chính, tài sản, khả năng thực hiện
nghĩa vụ theo cam kết;
c) Uy tín đối với tổ chức tín dụng
đã giao dịch trước đây;
d) Các tiêu chí đánh giá khách
hàng chi tiết, cụ thể, có hệ thống (đánh giá yếu tố ngành nghề và địa phương)
trên cơ sở đó xếp hạng cụ thể đối với khách hàng.
2. Quỹ tín dụng nhân dân được
quyền áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Ít nhất mỗi năm một lần, hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được xem xét, sửa đổi, bổ sung trên cơ sở số
liệu, thông tin khách hàng thu thập được trong năm.
4. Trong thời hạn 10 (mười)
ngày kể từ ngày ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ, ngân hàng hợp tác xã phải gửi cho Ngân hàng Nhà nước (Cục Quản lý, giám
sát tổ chức tín dụng[4]), quỹ tín dụng
nhân dân (nếu có) phải gửi cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực[5] bằng phương thức trực tiếp hoặc
qua dịch vụ bưu chính.
Điều 6. Quy
định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro
1. Tổ chức tín dụng là hợp tác
xã phải ban hành quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự
phòng rủi ro phù hợp với quy định tại Thông tư này, Nghị định về trích lập dự
phòng rủi ro và các quy định pháp luật khác có liên quan.
2. Quy định nội bộ về cấp tín dụng,
quản lý nợ tối thiểu phải đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Được xây dựng trên cơ sở thông
tin, số liệu khách hàng đã thu thập được, kết quả xếp hạng khách hàng theo hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ (nếu có);
b) Được áp dụng thống nhất và
nhất quán trong toàn hệ thống, làm cơ sở để thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng,
quản lý nợ đối với khách hàng cụ thể;
c) Có quy định chính sách tín dụng
đối với khách hàng, trong đó bao gồm quy định về điều kiện cấp tín dụng, hạn mức
cấp tín dụng, lãi suất, hồ sơ, trình tự, thủ tục, quy trình thẩm định, phê duyệt
cấp tín dụng, quản lý nợ;
d) Có quy định về quản lý nhằm
đảm bảo tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước về các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo
an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng là hợp tác xã;
đ) Có quy định về trách nhiệm,
quyền hạn của các đơn vị, cá nhân trong việc thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng,
quản lý chất lượng tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm;
e) Có quy định về quy trình, nội
dung kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cấp tín dụng;
g) Có quy định về biện pháp bảo
đảm, thẩm định và quản lý tài sản bảo đảm;
h) Có quy định về định giá tài
sản bảo đảm, bao gồm nguyên tắc, định kỳ, phương pháp, quy trình và trách nhiệm
của từng đơn vị, cá nhân có liên quan đến việc định giá tài sản bảo đảm theo
quy định của pháp luật để đảm bảo giá trị tài sản bảo đảm phù hợp với giá trị
thị trường khi tính số tiền trích lập dự phòng cụ thể theo quy định tại Nghị định
về trích lập dự phòng rủi ro;
i) Có quy định về các biện pháp
thu hồi nợ.
3. Chính sách dự phòng rủi ro tối
thiểu phải đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Phù hợp với các quy định của
pháp luật về chế độ kế toán, chế độ tài chính; về chế độ báo cáo, thống kê;
b) Có quy trình thu thập thông
tin, số liệu về khách hàng, bảo đảm phân loại nợ; cam kết ngoại bảng (nếu có)
chính xác, quản lý nợ xấu, quản lý số dư cấp tín dụng xấu, trích lập đầy đủ dự
phòng rủi ro theo quy định;
c) Có quy định cụ thể về việc
phân loại nợ; cam kết ngoại bảng (nếu có); mức trích, phương pháp trích lập dự
phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động đối với từng đối
tượng khách hàng theo định kỳ, đột xuất;
d) Có quy định quyền hạn, trách
nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong việc phân loại nợ; cam kết ngoại bảng (nếu
có); trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động;
đ) Có cơ chế kiểm tra, giám sát
và báo cáo các nội dung quy định từ điểm a đến điểm d Khoản này.
Điều 7. Báo
cáo về quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro
1. Trong thời hạn 10 (mười)
ngày kể từ ngày ban hành, sửa đổi, bổ sung quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản
lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro quy định tại Điều 6 Thông tư
này, tổ chức tín dụng là hợp tác xã phải gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu
chính cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều này văn bản sau:
a) Đối với trường hợp ban hành
mới: Quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro;
b) Đối với trường hợp sửa đổi,
bổ sung:
(i) Văn bản báo cáo về việc sửa
đổi, bổ sung quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi
ro, trong đó báo cáo rõ lý do sửa đổi, bổ sung;
(ii) Các văn bản sửa đổi, bổ
sung quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro.
2. Tổ chức tín dụng là hợp tác
xã gửi báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều này như
sau:
a) Ngân hàng hợp tác xã gửi báo
cáo cho Ngân hàng Nhà nước (Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng [6]);
b) Quỹ tín dụng nhân dân gửi
báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực[7] nơi quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở chính.
Chương II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 8.
Nguyên tắc tự phân loại
1. Toàn bộ dư nợ và số dư cam kết
ngoại bảng của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng là hợp tác xã phải được
phân loại vào cùng một nhóm nợ và là nhóm có mức độ rủi ro cao nhất trong các
nhóm nợ của các khoản nợ và/hoặc cam kết ngoại bảng của khách hàng đó.
2. Đối với khoản cấp tín dụng hợp
vốn, từng tổ chức tín dụng là hợp tác xã tham gia cấp tín dụng hợp vốn có trách
nhiệm thông báo cho tổ chức tín dụng là hợp tác xã là thành viên tham gia cấp
tín dụng hợp vốn về kết quả tự phân loại nợ theo quy định tại Điều
9 Thông tư này.
3. Đối với khoản chiết khấu các
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác:
a) Dưới hình thức mua có kỳ hạn:
Ngân hàng hợp tác xã phân loại khoản chiết khấu như là một khoản cho vay đối với
người thụ hưởng;
b) Dưới hình thức mua có bảo
lưu quyền truy đòi: Ngân hàng hợp tác xã phân loại khoản chiết khấu như là một
khoản cho vay đối với người thụ hưởng như sau:
Trước thời điểm ngân hàng hợp
tác xã có quyền thực hiện quyền truy đòi theo hợp đồng chiết khấu, ngân hàng hợp
tác xã căn cứ vào tình hình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thanh toán của người
phát hành theo thỏa thuận phát hành công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá và
thông tin, dữ liệu về khả năng trả nợ của người thụ hưởng để thực hiện phân loại
đối với khoản chiết khấu.
Kể từ thời điểm ngân hàng hợp
tác xã có quyền thực hiện quyền truy đòi theo hợp đồng chiết khấu, ngân hàng hợp
tác xã căn cứ thời gian quá hạn theo thỏa thuận phát hành công cụ chuyển nhượng,
giấy tờ có giá và khả năng trả nợ của người thụ hưởng để tiếp tục phân loại khoản
chiết khấu vào nhóm nợ có mức độ rủi ro phù hợp.
4. Đối với số tiền mua trái phiếu
chưa niêm yết, ngân hàng hợp tác xã phân loại số tiền mua trái phiếu như là một
khoản cho vay đối với bên phát hành trái phiếu; trường hợp trái phiếu do tổ chức
tín dụng khác phát hành có bảo đảm thì phân loại như là một khoản cho vay có bảo
đảm đối với bên phát hành trái phiếu.
Đối với số tiền mua trái phiếu
chưa niêm yết được kéo dài kỳ hạn trái phiếu theo quy định của pháp luật thì được
phân loại như một khoản cho vay được gia hạn nợ.
5. Đối với khoản ủy thác cấp
tín dụng mà bên nhận ủy thác chưa giải ngân hết số tiền đã ủy thác theo hợp đồng
ủy thác, ngân hàng hợp tác xã phải phân loại số tiền đã ủy thác nhưng chưa giải
ngân như là một khoản cho vay đối với bên nhận ủy thác. Thời gian quá hạn được
xác định từ thời điểm bên nhận ủy thác không giải ngân đúng theo thời hạn giải
ngân quy định tại hợp đồng ủy thác.
6. Đối với số tiền mua chứng chỉ
tiền gửi do tổ chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành,
ngân hàng hợp tác xã phân loại số tiền mua như một khoản cho vay đối với tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành.
7. Đối với khoản nợ phát sinh từ
nghiệp vụ thư tín dụng:
a) Đối với nghiệp vụ phát hành
thư tín dụng:
(i) Trường hợp phát hành thư
tín dụng trả ngay hoặc trả chậm (trừ trường hợp quy định tại điểm a(ii) Khoản
này), ngân hàng phát hành phân loại khoản trả thay theo cam kết tại thư tín dụng
theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này đối với bên đề
nghị, kể từ ngày ngân hàng phát hành thanh toán cho bên thụ hưởng;
(ii) Trường hợp phát hành thư
tín dụng trả chậm có điều khoản thỏa thuận bên thụ hưởng được thanh toán trả
ngay hoặc trả trước ngày đến hạn thanh toán thư tín dụng, ngân hàng phát hành
phân loại khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ thư tín dụng như là một khoản cho vay
đối với bên đề nghị, kể từ ngày ngân hàng hoàn trả thanh toán cho bên thụ hưởng;
b) Đối với nghiệp vụ xác nhận
thư tín dụng:
Ngân hàng xác nhận phân loại
khoản trả thay theo cam kết tại thư tín dụng đối với ngân hàng phát hành và ngân
hàng phát hành phân loại khoản trả thay theo cam kết tại thư tín dụng đối với
bên đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này,
kể từ thời điểm ngân hàng xác nhận thanh toán cho bên thụ hưởng;
c) Đối với nghiệp vụ thương lượng
thanh toán thư tín dụng:
Ngân hàng thương lượng phân loại
khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ thư tín dụng đối với bên thụ hưởng như khoản
chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác quy định tại khoản
3 Điều này;
d) Đối với nghiệp vụ hoàn trả
thư tín dụng:
(i) Trường hợp hoàn trả thư tín
dụng theo hình thức phát hành cam kết hoàn trả, ngân hàng hoàn trả phân loại
khoản trả thay theo cam kết tại thư tín dụng theo quy định tại khoản
2 Điều 10 Thông tư này đối với ngân hàng phát hành, kể từ ngày ngân hàng
hoàn trả thanh toán cho bên thụ hưởng;
(ii) Trường hợp hoàn trả thư
tín dụng theo hình thức thỏa thuận với khách hàng thanh toán bằng nguồn tiền của
ngân hàng hoàn trả (trừ trường hợp quy định tại điểm d(i) Khoản này), ngân hàng
hoàn trả phân loại khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ thư tín dụng như là một khoản
cho vay đối với ngân hàng phát hành, kể từ ngày ngân hàng hoàn trả thanh toán
cho bên thụ hưởng;
đ) Đối với số tiền mua hẳn miễn
truy đòi bộ chứng từ xuất trình theo thư tín dụng, ngân hàng hợp tác xã phân loại
số tiền mua như một khoản cho vay đối với ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng
xác nhận.
8. Đối với các khoản nợ vi phạm
pháp luật quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều 9 Thông tư này,
tại thời điểm phát hiện vi phạm, tổ chức tín dụng là hợp tác xã phải ban hành
ngay quyết định thu hồi theo quy định của pháp luật.
Đối với các khoản nợ phải thu hồi
theo kết luận thanh tra, kiểm tra, quyết định xử phạt vi phạm hành chính (sau
đây gọi là thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra), tổ chức tín dụng là hợp
tác xã phải ra quyết định thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra.
Đối với các khoản nợ vi phạm
pháp luật quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều 9 Thông tư này,
các khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra, tổ chức tín dụng
là hợp tác xã không được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và trong thời gian chưa thu
hồi được theo quyết định thu hồi, tổ chức tín dụng là hợp tác xã thực hiện phân
loại nợ theo quy định tại Thông tư này.
9. Đối với khoản nợ được cơ cấu
lại thời hạn trả nợ, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ là tổng số lần thực hiện
việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với từng khoản nợ, kể từ thời điểm phát
sinh khoản nợ đến thời điểm khách hàng hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ trả nợ,
thanh toán cho ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân.
Điều 9.
Phân loại nợ
1. Tổ chức tín dụng là hợp tác
xã thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo
05 nhóm như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn)
bao gồm:
(i) Khoản nợ trong hạn và được
đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn;
(ii) Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày
và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu
hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
(iii) Khoản nợ được phân loại
vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
(i) Khoản nợ quá hạn đến 90
ngày, trừ khoản nợ quy định tại điểm a(ii) Khoản này và khoản 3 Điều này;
(ii) Khoản nợ được điều chỉnh kỳ
hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2 và
khoản 3 Điều này;
(iii) Khoản nợ được phân loại vào
nhóm 2 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
bao gồm:
(i) Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày
đến 180 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này;
(ii) Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu
còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều này;
(iii) Khoản nợ được miễn hoặc
giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận, trừ
khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này;
(iv) Khoản nợ thuộc một trong các
trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày tổ
chức tín dụng là hợp tác xã ký văn bản thu hồi khoản nợ (sau đây gọi là ngày có
quyết định thu hồi):
- Khoản nợ vi phạm quy định tại
các khoản 1, 3, 6 Điều 134 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Khoản nợ vi phạm quy định tại
các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Khoản nợ vi phạm quy định tại
các khoản 1, 5, 9 Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Khoản nợ vi phạm quy định về cho
vay của quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
(v) Khoản nợ trong thời hạn thu
hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra; (vi) Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định
thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng là hợp tác xã do khách hàng vi phạm
thỏa thuận với tổ chức tín dụng là hợp tác xã chưa thu hồi được trong thời gian
dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(vii) Khoản nợ được phân loại
vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
(viii) Khoản nợ phải phân loại vào
nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư này;
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
(i) Khoản nợ quá hạn từ 181
ngày đến 360 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này;
(ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu,
trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này;
(iii) Khoản nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2
và khoản 3 Điều này;
(iv) Khoản nợ quy định tại điểm
c(iv) khoản 1 Điều này chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày
kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(v) Khoản nợ phải thu hồi theo
kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh
tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được;
(vi) Khoản nợ phải thu hồi theo
quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng là hợp tác xã do khách
hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng là hợp tác xã chưa thu hồi được
trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(vii) Khoản nợ được phân loại
vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
(viii) Khoản nợ phải phân loại
vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư này;
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
bao gồm: (i) Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
(ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại
lần đầu;
(iii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
(iv) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần thứ ba trở lên, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
(v) Khoản nợ quy định tại điểm
c(iv) khoản 1 Điều này chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định
thu hồi;
(vi) Khoản nợ phải thu hồi theo
kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh
tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được;
(vii) Khoản nợ phải thu hồi theo
quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng là hợp tác xã do khách
hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng là hợp tác xã chưa thu hồi được
trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(viii) Khoản nợ của khách hàng
là tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài đang bị phong tỏa vốn và tài sản;
(ix) Khoản nợ được phân loại
vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này;
(x) Khoản nợ phải phân loại vào
nhóm 5 theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư này.
2. Khoản nợ được phân loại vào
nhóm nợ có rủi ro thấp hơn trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với khoản nợ quá hạn, tổ
chức chức tín dụng là hợp tác xã phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn
(kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
(i) Khách hàng đã trả đầy đủ phần
nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc,
lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo (nếu có) trong thời gian tối thiểu 03 (ba)
tháng đối với nợ trung hạn, dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ
ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng
minh việc khách hàng đã trả nợ;
(iii) Tổ chức tín dụng là hợp
tác xã có đủ cơ sở thông tin, tài liệu đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy
đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
b) Đối với khoản nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng là hợp tác xã phân loại lại vào nhóm nợ có rủi
ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
(i) Khách hàng đã trả đầy đủ nợ
gốc, lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại (nếu có) trong thời gian tối thiểu
03 (ba) tháng đối với nợ trung hạn, dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn,
kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc hoặc lãi theo thời hạn được cơ cấu lại;
trường hợp gốc và lãi có cùng 01 (một) kỳ hạn trả nợ thì tính kể từ ngày bắt đầu
trả đầy đủ nợ gốc và lãi;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng
minh việc khách hàng đã trả nợ;
(iii) Tổ chức tín dụng là hợp
tác xã có đủ cơ sở thông tin, tài liệu để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy
đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn đã được cơ cấu lại;
c) Đối với khoản nợ được miễn,
giảm lãi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ
nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid - 19, tổ chức
tín dụng là hợp tác xã phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm
1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
(i) Khách hàng đã trả đầy đủ nợ
gốc, lãi trong thời gian tối thiểu 03 (ba) tháng đối với nợ trung hạn, dài hạn,
01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày khách hàng bắt đầu trả đầy đủ nợ
gốc hoặc lãi của kỳ hạn trả nợ gần nhất sau khi khách hàng không còn được miễn,
giảm lãi; trường hợp gốc và lãi có cùng 01 (một) kỳ hạn trả nợ thì tính kể từ ngày
bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi của kỳ hạn trả nợ gần nhất sau khi khách hàng
không còn được miễn, giảm lãi;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng
minh việc khách hàng đã trả nợ;
(iii) Tổ chức tín dụng là hợp
tác xã có đủ cơ sở thông tin, tài liệu để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy
đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.
3. Khoản nợ được phân loại vào
nhóm nợ có rủi ro cao hơn trong các trường hợp sau đây:
a) Các chỉ tiêu về khả năng sinh
lời, khả năng thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn, dòng tiền dẫn đến khả năng trả nợ
của khách hàng suy giảm liên tục qua 03 lần đánh giá hoặc phân loại nợ liên tục;
b) Khách hàng không cung cấp đầy
đủ, kịp thời và trung thực các thông tin theo yêu cầu của tổ chức tín dụng là hợp
tác xã để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng;
c) Khoản nợ đã được phân loại
vào nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 theo quy định tại điểm a và điểm b Khoản này từ 01 (một)
năm trở lên nhưng không đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn;
d) Khoản nợ mà hành vi cấp tín
dụng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
đ) Các khoản nợ của khách hàng
bị các tổ chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại vào nhóm
nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin).
Điều 10.
Phân loại cam kết ngoại bảng và khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng
Đối với khoản cam kết ngoại bảng
và khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng, ngân hàng hợp tác xã phải phân loại
vào các nhóm quy định tại Điều 9 Thông tư này như sau:
1. Phân loại cam kết ngoại bảng:
a) Phân loại vào nhóm 1 nếu
ngân hàng hợp tác xã đánh giá khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ theo cam kết;
b) Phân loại vào nhóm 2 trở lên
nếu ngân hàng hợp tác xã đánh giá khách hàng không có khả năng thực hiện các
nghĩa vụ theo cam kết;
c) Phân loại vào nhóm 3 trở lên
đối với cam kết ngoại bảng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều 9 Thông tư này.
2. Phân loại khoản trả thay
theo cam kết ngoại bảng:
a) Ngày quá hạn được tính ngay
từ ngày ngân hàng hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ theo cam kết;
b) Khoản trả thay theo cam kết
ngoại bảng được phân loại như sau:
(i) Phân loại vào nhóm 3 nếu
quá hạn dưới 30 ngày;
(ii) Phân loại vào nhóm 4 nếu
quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày;
(iii) Phân loại vào nhóm 5 nếu
quá hạn từ 90 ngày trở lên.
Trường hợp khoản trả thay phân
loại vào nhóm rủi ro thấp hơn nhóm mà cam kết ngoại bảng được trả thay đã phân
loại theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này thì phải chuyển vào
nhóm mà cam kết ngoại bảng đó đã phân loại.
Điều 11.
Báo cáo
Tổ chức tín dụng là hợp tác xã
phải báo cáo kết quả phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro theo quy định về chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với
tổ chức tín dụng là hợp tác xã do Ngân hàng Nhà nước ban hành.
Chương
III
TỔ
CHỨC THỰC HIỆN[8]
Điều 12.
Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước[9]
1. Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong việc thực hiện phân
loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng
hợp tác xã theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật.
2. Cục Quản lý, giám sát tổ chức
tín dụng có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận Hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ của ngân hàng hợp tác xã theo quy định tại Điều 5
Thông tư này;
b) Tiếp nhận quy định nội bộ về
cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro của ngân hàng hợp tác xã
theo quy định tại Điều 7 Thông tư này;
c) Giám sát việc thực hiện phân
loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng
hợp tác xã theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật.
3. Vụ Tài chính - Kế toán căn cứ
quy định tại Thông tư này xây dựng, trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước văn bản
hướng dẫn thực hiện chế độ hạch toán có liên quan theo quy định của pháp luật.
4. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh
Khu vực có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận Hệ thống xếp hạng
tín dụng nội bộ của quỹ tín dụng nhân dân theo quy định tại Điều
5 Thông tư này;
b) Tiếp nhận quy định nội bộ về
cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân
theo quy định tại Điều 7 Thông tư này;
c) Thanh tra, giám sát, kiểm tra
và xử lý vi phạm trong việc thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập
và sử dụng dự phòng rủi ro của đơn vị trực thuộc của ngân hàng hợp tác xã, quỹ
tín dụng nhân dân trên địa bàn theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật.
Điều 13.
Quy định chuyển tiếp
Số tiền mua kỳ phiếu, tín phiếu
do tổ chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành trước ngày
Thông tư này có hiệu lực thi hành, ngân hàng hợp tác xã phân loại số tiền mua như
số tiền mua chứng chỉ tiền gửi theo quy định tại khoản 6 Điều 8
Thông tư này.
Điều 14.
Điều khoản thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2024.
2. Thông tư này bãi bỏ:
a) Quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban
hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng;
b) Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày
25 tháng 4 năm 2007 về việc sửa đổi, bổ sung, một số điều của Quy định về phân
loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày
22 tháng 4 năm 2005.
Điều 15.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện
[10]Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước, ngân
hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông
tư này./.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
|
|
Nơi nhận:
- Ban lãnh đạo NHNN;
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cổng thông tin điện tử NHNN;
- Lưu VP, PC3.
|
KT. THỐNG ĐỐC
PHÓ THỐNG ĐỐC
Đoàn Thái Sơn
|