|
BAN CHỈ ĐẠO TRUNG
ƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
CƠ QUAN THƯỜNG TRỰC
*
|
ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 17-TB/CQTTBCĐ
|
Hà Nội, ngày 29
tháng 12 năm 2025
|
THÔNG BÁO KẾT LUẬN
CỦA
ĐỒNG CHÍ TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM, TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC,
CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM
2025 VÀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM NĂM 2026 CỦA BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG
Ngày 25/12/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (sau đây gọi tắt là Ban
Chỉ đạo) đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp
trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực
tiếp tại trụ sở Trung ương Đảng và trực tuyến đến các điểm cầu của 34 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương. Hội nghị do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng
Ban Chỉ đạo chủ trì, với sự tham dự của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí
thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng, đại diện lãnh đạo các đảng ủy trực
thuộc Trung ương, lãnh đạo các cơ quan đảng ở Trung ương, Bộ trưởng các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban của Quốc hội và Bí thư, Chủ tịch
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các đồng chí thành viên Tổ Giúp việc,
Hội đồng Tư vấn quốc gia; các đồng chí là đại diện lãnh đạo các viện, trường,
doanh nghiệp công nghệ.
Trên cơ sở báo cáo của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ
đạo, ý kiến phát biểu của đồng chí Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo
và các đại biểu tham dự Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo
cơ bản thống nhất và chỉ đạo như sau:
I- VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 1 NĂM THỰC
HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 57-NQ/TW
Ban chỉ đạo nhất trí với đánh giá kết quả 1 năm thực
hiện Nghị quyết 57 nêu trong Báo cáo của Cơ quan Thường trực. Ghi nhận và biểu
dương tinh thần làm việc nghiêm túc, quyết liệt của các thành viên Ban Chỉ đạo,
các bộ, ban, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Qua một năm triển
khai, nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị đã có chuyển biến tích cực,
khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn để kiến
tạo phát triển. Kết quả nổi bật là: (1) Thể chế, chính sách cơ bản đã được khơi
thông với số lượng lớn văn bản luật, nghị định, thông tư được ban hành đồng bộ,
tạo hành lang pháp lý vững chắc. (2) Nguồn lực tài chính được ưu tiên, bố trí,
bảo đảm ở mức 3% tổng chi ngân sách nhà nước. (3) Chuyển đổi số toàn hệ thống
chính trị có chuyển biến tích cực, nhất là khi triển khai Kế hoạch số
02-KH/BCĐTW, Quy định số 05-QĐ/BCĐTW và các kết luận của Ban Chỉ đạo cùng các chương
trình, đề án chuyển đổi số của 4 khối cơ quan. (4) Khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo đã nhận diện được cách làm bài bản, hướng đi đúng, phù hợp với xu thế
phát triển của thế giới với những lĩnh vực trọng tâm về Mô hình hợp tác 3 Nhà,
khu công nghệ cao, đô thị thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo và các công
nghệ chiến lược. Những kết quả bước đầu đạt được trong thực hiện Nghị quyết số
57-NQ/TW năm 2025 đã góp phần vào Tỷ trọng đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số trong GDP ước đạt trên 16,4%.
Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, còn nhiều
tồn tại, hạn chế, điểm nghẽn cần tiếp tục khắc phục: (1) Thể chế, chính
sách mặc dù đã được khơi thông nhưng vẫn còn một số văn bản hướng dẫn thi hành
chưa được ban hành kịp thời, dẫn đến một số chủ trương, chính sách chưa kịp thời
đi vào cuộc sống. (2) Hạ tầng và năng lực số ở cấp cơ sở còn yếu, nhiều
xã, phường thiếu đường truyền, thiết bị và cán bộ chuyên trách công nghệ thông
tin; hệ thống phần mềm ở bộ, ngành còn phân mảnh, chưa liên thông, gây khó khăn
cho việc cung cấp dịch vụ công toàn trình. (3) Tiến độ xây dựng các cơ sở
dữ liệu (CSDL) quốc gia và chuyên ngành còn chậm, dữ liệu chưa được chuẩn hoá,
chưa phát huy giá trị của dữ liệu. (4) Tiến độ phân bổ, giải ngân kinh
phí và bố trí nguồn lực cho một số hạng mục công việc còn chậm, ảnh hưởng trực
tiếp đến tốc độ triển khai các nhiệm vụ trọng tâm. (5) Nguồn nhân lực chất
lượng cao trong các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng
còn thiếu. (6) Công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật dữ liệu vẫn tiềm ẩn
rủi ro lớn.
II- VỀ NHIỆM VỤ, CÔNG TÁC NĂM
2026
Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu
tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Ngay đầu nhiệm kỳ,
Ban chấp hành Trung ương Đảng sẽ ban hành các Nghị quyết chiến lược về chuyển đổi
mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ và các giải pháp chiến
lược huy động nguồn lực để tăng trưởng 2 con số. Điều đó cho thấy vai trò đặc
biệt quan trọng - mang tính nền tảng và cốt lõi của khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS). Đây không còn là sự lựa chọn mà là
yêu cầu bắt buộc để phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn tới.
Ban chỉ đạo thống nhất với đề xuất của Cơ quan Thường
trực về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 thực hiện Nghị quyết 57
(có phụ lục kèm theo). Yêu cầu các các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan
đơn vị quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc trên tinh thần 7 định hướng
và quan điểm chỉ đạo sau:
1. Thống nhất phương châm của năm 2026 là "Hành
động đột phá, lan toả kết quả". Năm 2025 đã hoàn thành giai đoạn
"khởi động, chạy đà", năm 2026 phải chuyển ngay sang "tăng tốc",
với yếu tố quyết định là năng lực tổ chức thực hiện, kỷ luật hành động và kết
quả đầu ra thực tế. Mỗi bộ, ngành, địa phương phải chuyển từ cách làm theo kế
hoạch sang cách làm theo mục tiêu và sản phẩm; từ báo cáo tiến độ sang báo cáo
hiệu quả; từ "có làm" sang "làm đến nơi đến chốn". Các bộ,
ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương phải chủ động đề xuất nhiệm vụ của mình,
không phải chỉ chờ Ban Chỉ đạo giao nhiệm vụ; phải xác định rõ nhiệm vụ của bộ,
cơ quan, địa phương mình để tổ chức, phân công thực hiện; kiến nghị Ban chỉ đạo,
Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Đảng, đoàn thể ở Trung ương chỉ đạo, xem xét,
cho ý kiến những vấn đề vượt thẩm quyền; các ngành phải chủ động phối hợp trong
triển khai thực hiện các nhiệm vụ có liên quan. Ưu tiên bố trí đầy đủ, kịp
thời nguồn lực cho hạ tầng, dữ liệu, công nghệ chiến lược và nhân lực chất lượng
cao; đồng thời có cơ chế kiểm soát bảo đảm hiệu quả trong đầu tư thực hiện.
2. Phát huy vai trò của cấp ủy đảng và người
đứng đầu. Các cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt người đứng đầu các bộ, ngành, địa
phương, cơ quan, đơn vị phải nhận thức rõ trách nhiệm cá nhân về tiến độ và kết
quả, đồng thời đưa kết quả thực hiện vào tiêu chí đánh giá, thi đua, khen thưởng
và xử lý trách nhiệm khi chậm trễ.
3. Tập trung chỉ đạo những nhiệm vụ trọng
tâm, cốt lõi để tạo sức lan toả. Xác định cụ thể những nhiệm vụ trọng tâm, cốt
lõi cần tập trung chỉ đạo và bố trí nguồn lực thực hiện, nhất là các nhiệm vụ về
cụ thể hoá Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc
gia; hoàn thiện hạ tầng, xây dựng các nền tảng, cơ sở dữ liệu, phát triển các
công nghệ chiến lược, phát triển nhân lực công nghệ cao,... với lộ trình cụ thể
cho từng công việc và phân bổ nguồn lực tương xứng để tập trung thực hiện. Phải
trả lời cho được câu hỏi: (1) Các bộ, ngành, các địa phương, doanh nghiệp phải
hình thành cơ sở dữ liệu của mình như thế nào? Trong quý I/2026, phải hoàn
thành đầy đủ danh mục cơ sở dữ liệu; dữ liệu phải được thường xuyên tập hợp, cập
nhật, bổ sung bảo đảm đúng, đủ, sạch sống. (2) Nhóm công nghệ chiến lược cần
xác định rõ bộ ngành nào chịu trách nhiệm triển khai, bộ ngành nào phối hợp,
năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2031 đạt được yêu cầu gì? lộ trình triển khai như
thế nào? (3) Toàn dân cần được nâng cao trình độ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo
như thế nào. Đào tạo được bao nhiêu cử nhân chất lượng cao? Bao nhiêu kỹ sư cho
công nghệ chiến lược. Bộ Giáo dục và Đào tạo phải làm gì? Bộ Khoa học và Công
nghệ phải làm gì? hai Viện Hàn lâm khoa học phải làm gì? Liên hiệp các hội khoa
học phải làm gì?... Tất cả nội dung này cần phải được xác định hết sức cụ thể
và lộ trình thực hiện.
4. Đẩy mạnh phát triển các ứng dụng, các sản
phẩm cụ thể phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phục người dân. Mọi chính
sách, nền tảng và dịch vụ, tiện ích phải đáp ứng yêu cầu phục vụ người dân và
doanh nghiệp; sự hài lòng của người dân doanh nghiệp là thước đo kết quả thực
hiện; làm thực chất, không hình thức, đem lại hiệu quả thực tế. Tăng cường chuyển
đổi số gắn với cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy, vận hành có hiệu quả
chính quyền địa phương 2 cấp, cắt giảm thủ tục hành chính và đẩy mạnh cung cấp
dịch vụ công trực tuyến; thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực công thông qua
phân cấp, chuẩn hoá quy trình, số hoá toàn diện và tạo điều kiện để bộ, ngành,
địa phương chủ động khai thác dữ liệu và vận hành hiệu quả các nền tảng số dùng
chung.
5. Tập trung nguồn lực cho công nghệ chiến
lược và thương mại hoá sản phẩm; thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, làm hạt
nhân để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Ưu tiên phát triển các khu
công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo và đô thị thông minh như những không
gian thử nghiệm, ứng dụng và lan toả. Tập trung đầu tư và triển khai các công
nghệ chiến lược tạo năng lực cạnh tranh lâu dài, huy động nguồn lực xã hội để
đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực
then chốt của tăng trưởng 2 con số.
Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo, tháo gỡ rào cản,
đồng thời là những "khách hàng" đầu tiên đặt hàng các sản phẩm, dịch
vụ và giải pháp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo
thị trường khởi đầu cho các kết quả nghiên cứu, sáng chế và ứng dụng công nghệ
mới và tạo động lực cho doanh nghiệp, viện, trường. Doanh nghiệp lớn cần nghĩ lớn,
làm những việc lớn, dẫn dắt và mở đường, tạo công việc và không gian phát triển
cho các doanh nghiệp khác cùng tham gia chuỗi giá trị; doanh nghiệp vừa và nhỏ
tập trung làm tốt những việc phù hợp với năng lực của mình, từ đó, nâng cao vị
thế và đóng góp cho sự phát triển đất nước.
6. Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng
và chủ quyền số là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững. Yêu cầu các cơ
quan, đơn vị, địa phương quán triệt, triển khai Chỉ thị của Ban Bí thư và kế hoạch
tổng thể của Ban Chỉ đạo về bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ
liệu trong hệ thống chính trị.
7. Kiên quyết chống lãng phí. Cần nhận diện
và phòng ngừa nguy cơ lãng phí ngay từ khâu chủ trương đầu tư. Đầu tư lớn phải
đi đôi với hiệu quả cao; kiên quyết không để xảy ra lãng phí về tài chính, nguồn
lực, tài nguyên và lãng phí cơ hội phát triển.
Giao Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với
các cơ quan xây dựng Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo, trong đó
làm rõ các nội dung đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số trong các ngành, lĩnh vực, tạo cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế 2 con số. Chính phủ tập trung chỉ đạo thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện chuyển
đổi số toàn diện trên các lĩnh vực: Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Trong
đó, ưu tiên chuyển đổi số trong khu vực doanh nghiệp, nhất là các ngành kinh tế,
công nghiệp trọng điểm như: công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến lương
thực - thực phẩm, công nghiệp dệt - may, da giày, túi xách, công nghiệp hoá chất
- phân bón - cao su, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí - điện tử,
mỹ phẩm, nội thất, nông nghiệp thông minh, thương mại điện tử... Chương trình,
kế hoạch công tác năm 2026 của các cơ quan Trung ương và địa phương phải được
hoàn thành trước ngày 10/01/2026.
Xây dựng chỉ số đánh giá và cơ chế xếp hạng, công
khai định kỳ kết quả thực hiện của các cơ quan, địa phương trong thực hiện Nghị
quyết 57 bảo đảm dữ liệu khách quan, minh bạch, có kiểm chứng. Toàn bộ tiến độ
và kết quả phải được đo đếm, theo dõi bằng dữ liệu theo thời gian thực trên Hệ
thống giám sát, đánh giá Nghị quyết 57, đồng thời công khai một phần thông tin
để xã hội và người dân, doanh nghiệp giám sát.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở ra một thời kỳ mới cho
đất nước, đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí
trung tâm của chiến lược phát triển. Năm 2025 đã thiết lập nền móng vững chắc;
năm 2026 phải là năm hành động đột phá, chuyển từ nền tảng sang kết quả, từ
chính sách sang sản phẩm, từ ý tưởng sang giá trị thực tế cho người dân và
doanh nghiệp. Ban chỉ đạo yêu cầu toàn hệ thống chính, trị hành động ngay; mỗi
cán bộ, mỗi cơ quan, mỗi địa phương phải xác định rõ trách nhiệm, huy động nguồn
lực, triển khai quyết liệt để biến mục tiêu thành hiện thực, góp phần đưa đất
nước phát triển nhanh, bền vững.
Văn phòng Trung ương Đảng - Cơ quan Thường trực Ban
Chỉ đạo thông báo để các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo và các cơ quan liên
quan biết, thực hiện.
|
Nơi nhận:
- Bộ Chính trị, Ban Bí thư (để báo
cáo),
- Các thành viên Ban Chỉ đạo (để thực hiện),
- Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương,
- Đảng ủy Chính phủ,
- Đảng ủy Quốc hội,
- Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể Trung ương,
- Các ban đảng Trung ương,
- Quân ủy Trung ương,
- Đảng ủy Công an Trung ương,
- Đảng ủy các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
- Các tỉnh ủy, thành ủy,
- Văn phòng Tổng Bí thư,
- Lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng,
- Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu,
- Lưu Ban Chỉ đạo Trung ương.
|
CHÁNH VĂN PHÒNG
kiêm
PHÓ TRƯỞNG BAN THƯỜNG TRỰC
Phạm Gia Túc
|
PHỤ LỤC
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM NĂM 2026
(Kèm theo Thông báo số 17-TB/CQTTBCĐ ngày 29/12/2025 của Ban Chỉ đạo Trung
ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số)
1. Công tác chỉ đạo, điều hành
và tổ chức thực hiện
a) Các cơ quan Trung ương và địa phương theo phạm
vi quản lý, thông qua Hệ thống pakn.nq57.vn và các kênh có liên quan kịp
thời tiếp nhận, phản hồi ý kiến của các tổ chức, cá nhân (người dân, doanh nghiệp,
viện, trường, nhà khoa học, nhà sáng tạo...) nhằm đo lường mức độ hài lòng đối
với những cơ chế, chính sách, giải pháp về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS để kịp thời
điều chỉnh.
b) Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với
các cơ quan liên quan: (1) Xây dựng chỉ số đánh giá và cơ chế xếp hạng
các cơ quan, đơn vị, bộ, ngành, địa phương về việc triển khai các nội dung liên
quan đến KHCN, ĐMST, CĐS trên Hệ thống theodoinq.dcs.vn để tạo động lực
thúc đẩy; công khai thông tin theo quy định để xã hội và người dân, doanh nghiệp
giám sát; hoàn thành trong quý I/2026. (2) Khảo sát thực địa tại một số
địa phương (đến cấp xã) để phát hiện những khó khăn, vướng mắc, qua đó đề xuất
biện pháp tháo gỡ.
c) Các cơ quan Trung ương và địa phương: (1) Xây dựng
Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2026, trong đó căn cứ điều kiện
và yêu cầu thực tiễn của cơ quan, địa phương mình để đề xuất các nội dung về
chuyển đổi số và khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kế hoạch cần bám sát thực
tiễn, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả, làm
cơ sở đề xuất kinh phí triển khai, tránh hình thức (Hoàn thành trước ngày
10/01/2026). (2) Đăng ký kinh phí để triển khai thực hiện bảo đảm chủ
động công việc, đúng tiến độ, tránh tồn đọng; (3) Chủ động báo cáo Trung ương
các tư duy, sáng kiến đột phá và "đặt hàng" các sản phẩm cần thiết
cho phát triển KHCN, ĐMST, CĐS trên Hệ thống pakn.nq57.vn.
d) Các địa phương: (1) Chủ động rà soát quy
trình, hạ tầng, hệ thống, dữ liệu, nhân lực, tài chính, nhất là đối với cấp xã
để có phương án bảo đảm kịp thời các nguồn lực nêu trên, đáp ứng yêu cầu thực
tiễn. (2) Tổ chức tập huấn, nâng cao kỹ năng số cho cán bộ cấp xã, ưu
tiên ứng dụng các phương pháp đào tạo thuận tiện, hiệu quả, mọi nơi mọi lúc.
đ) Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với các
cơ quan xây dựng Chương trình công tác 2026 của Ban Chỉ đạo, trong đó làm rõ
các nội dung đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số trong các ngành, lĩnh vực, tạo cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
2 con số.
2. Về hoàn thiện thể chế,
quy định, quy trình
a) Các bộ, cơ quan chủ trì xây dựng các văn bản
pháp luật tiếp tục rà soát, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các
văn bản hướng dẫn thi hành các Luật đã được Quốc hội thông qua trong năm 2025 bảo
đảm văn bản có hiệu lực thi hành đồng bộ với các luật, không để tồn đọng, hoàn
thành chậm nhất trong quý I/2026.
b) Các bộ, cơ quan, địa phương chủ động rà soát,
tham mưu cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung những cơ chế, chính sách chưa được
giải quyết ở những văn bản đã ban hành để tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính
sách cho KHCN, ĐMST, CĐS. Trong đó, bảo đảm các quy định về phân cấp, phân quyền,
phân định thẩm quyền gắn với nền tảng số, dữ liệu để thống nhất, thông suốt.
3. Về bảo đảm nguồn nhân
lực
a) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với
các Bộ: Nội vụ, Giáo dục và Đào tạo, Ngoại giao tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ
chế, chính sách thu hút, trọng dụng nhân lực, nhân tài, chuyên gia, nhà khoa học,
nhân lực công nghệ cao trong và ngoài nước. Hoàn thành trong quý I/2026.
b) Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
các viện, trường tập trung triển khai hiệu quả các chương trình, đề án về nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực cho KHCN, ĐMST, CĐS.
c) Các bộ, ngành, địa phương chủ động rà soát, tổ
chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho cán bộ chuyên trách về chuyển đổi số và
an toàn thông tin; nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức và người
lao động. Việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn triển khai 100% trên Nền tảng Bình
dân học vụ số quốc gia, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, giảm chi phí, đồng thời tạo
thuận lợi, không làm gián đoạn công tác của người học.
4. Về tài chính, kinh
phí cho KHCN, ĐMST, CĐS
a) Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính theo chức
năng, nhiệm vụ bảo đảm bố trí đủ và kịp thời ngân sách nhà nước cho việc thực
hiện các nhiệm vụ về: (1) Chuyển đổi số thực hiện theo Kế hoạch số
02-KH/BCĐTW, Quy định số 05-QĐ/BCĐTW, Nghị quyết số 71/NQ-CP và các nhiệm vụ
liên quan. (2) Về KHCN và ĐMST: Mô hình 3 Nhà, công nghệ chiến lược, khu
công nghệ cao, đô thị thông minh, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo
và các nhiệm vụ liên quan. (3) Hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương đề xuất
nhiệm vụ, kinh phí cho KHCN, ĐMST, CĐS trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
b) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với
các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành Thông tư ban hành điều lệ mẫu về tổ chức
và hoạt động của Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (thay thế cho Thông tư số 03/2015/TT-BKHCN đã hết hiệu lực) để các đơn vị,
tổ chức có liên quan thống nhất thực hiện.
c) Các bộ, ngành, địa phương chủ động rà soát và
nghiêm túc triển khai thực hiện các giải pháp đột phá để phát triển KHCN, ĐMST thông
qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế tài chính (trong đó trọng tâm là cơ
chế Quỹ) đã được thể chế hoá trong thời gian qua. Chịu trách nhiệm về việc chậm
hoặc không triển khai việc thực hiện quản lý tài chính theo cơ chế Quỹ, dẫn đến
làm giảm hiệu quả trong hoạt động KHCN, ĐMST tại các lĩnh vực do bộ, ngành, địa
phương quản lý.
d) Về theo dõi thông tin, số liệu phân bổ, giải
ngân, hiệu quả đầu tư cho KHCN, ĐMST, CĐS: (1) Bộ Khoa học và Công nghệ
chủ trì, phối hợp với các cơ quan triển khai hiệu quả việc đăng ký, xét duyệt,
thẩm định, phân bổ kinh phí và theo dõi hiệu quả, tác động sau nghiệm thu đối với
các nhiệm vụ về KHCN, ĐMST, CĐS toàn trình trên môi trường điện tử; phối hợp với
Văn phòng Trung ương Đảng để tích hợp các thông tin, số liệu này về Hệ thống theodoinq.dcs.vn
để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và bảo đảm minh bạch, chất lượng, hiệu
quả. (2) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng
tích hợp thông tin, số liệu về tình hình giải ngân vốn ngân sách nhà nước cho
KHCN, ĐMST, CĐS với Hệ thống theodoinq.dcs.vn. Các cơ quan thống nhất, hoàn
thành tích hợp trong quý I/2026 và cập nhật thường xuyên, liên tục.
5. Về chuyển đổi số
a) Về hạ tầng kỹ thuật, công nghệ
- Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục đẩy mạnh
phát triển hạ tầng viễn thông, phủ sóng 5G băng thông rộng, Internet vệ tinh bảo
đảm hạ tầng số quốc gia thông suốt.
- Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa
phương triển khai đưa Trung tâm dữ liệu quốc gia vào vận hành, khai thác hiệu
quả theo lộ trình.
- Các địa phương chủ động rà soát: (1) Nâng cấp đường
truyền Internet, bảo đảm ổn định, đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu, vùng biên
giới, hải đảo. (2) Bố trí kinh phí để nâng cấp, thay thế hoặc bổ sung trang thiết
bị CNTT đã xuống cấp. (3) Khắc phục triệt để tình trạng còn lỗi của các hệ thống
thông tin. (4) Phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ cấp đầy đủ chứng thư số cho
lãnh đạo và cán bộ chuyên môn của 4 khối cơ quan Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc. (5) Bố trí cán bộ chuyên trách CNTT tại
xã, phường phù hợp. (6) Tổ chức tập huấn kỹ năng số cho cán bộ, người dân và
phát huy vai trò Tổ công nghệ số cộng đồng. Hoàn thành trong quý II/2026.
b) Về thủ tục hành chính, dịch vụ công trực
tuyến
- Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan: Căn cứ kết quả rà soát, tổng hợp
thành phần hồ sơ TTHC của các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đánh giá các
thành phần hồ sơ với các CSDL có liên quan phục vụ cắt giảm, đơn giản hoá TTHC
thực chất, bảo đảm mọi thủ tục hành chính tại các cấp chính quyền được công
khai, minh bạch, vận hành thông suốt; sử dụng tối đa các trường dữ liệu đã được
xác định để thay thế thành phần hồ sơ thủ tục hành chính; kết quả thực hiện được
theo dõi, giám sát, đo lường dựa trên dữ liệu và theo thời gian thực.
- Các bộ, ngành chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ
Công an, Văn phòng Chính phủ: (1) Tiếp tục rà soát các TTHC thuộc phạm vi quản
lý nhà nước của mình có thành phần hồ sơ có thể thay thế bằng dữ liệu, chủ động
thực hiện việc thay thế theo thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền, kịp thời
báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, nhiệm vụ thường xuyên. (2) Rà
soát các thành phần hồ sơ giấy, nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền việc phát
triển, hoàn thiện các trường thông tin trên các CSDL hiện có hoặc xây dựng, bổ
sung các CSDL thực sự cần thiết để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và mục tiêu
thay thế thông tin trong thành phần hồ sơ giấy bằng dữ liệu, hoàn thành rà
soát, đề xuất trong quý I/2026.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ
Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung xây dựng và đưa vào vận
hành các Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu cung
cấp dịch vụ công trực tuyến theo mô hình tập trung đã thống nhất. Hoàn thành
chậm nhất trong tháng 3/2026.
- Bộ Công an chủ trì hướng dẫn Bộ Ngoại giao về lộ
trình, kế hoạch cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 2 cho các tổ chức, cá
nhân nước ngoài là đối tượng thực hiện TTHC của Bộ Ngoại giao và kết nối với Cơ
sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để
có kế hoạch, phương án đưa 37 TTHC ở nước ngoài lên giải quyết trên môi trường
số; mở rộng phạm vi kết nối, chia sẻ dữ liệu dân cư, định danh, xuất nhập cảnh...
để phục vụ xác thực hồ sơ.
c) Về các nền tảng, ứng dụng số
- Các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương khẩn
trương rà soát các hệ thống thông tin, phần mềm, ứng dụng thuộc phạm vi quản lý
bảo đảm giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn tại, vướng mắc để thông suốt, đáp ứng
yêu cầu người dùng. Hoàn thành trong tháng 3/2026.
- Bộ Công an: (1) Xây dựng và đưa vào vận hành Hệ
thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính là một cấu phần của Cổng Dịch vụ
công quốc gia, hoàn thành chậm nhất ngày 01/3/2026. (2) Triển khai ứng dụng
VNeID trở thành nền tảng số quốc gia, là trung tâm kết nối giữa người dân với
Nhà nước, người dân với doanh nghiệp và người dân với người dân, hoàn thành
trong năm 2026.
d) Về các CSDL quốc gia, chuyên ngành; kết nối,
chia sẻ dữ liệu
- Các bộ, cơ quan chủ quản các CSDL quốc gia,
chuyên ngành chủ trì, phối hợp với chặt chẽ với Bộ Công an và các cơ quan liên
quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng CSDL quốc gia, chuyên ngành để tạo lập, kết nối
chia sẻ dữ liệu phục vụ giải quyết TTHC, DVCTT và phát triển kinh tế - xã hội, hoàn
thành dứt điểm trong năm 2026. Trong đó, xây dựng lộ trình triển khai, phân
loại rõ các CSDL phục vụ nghiệp vụ chuyên ngành, giải quyết TTHC và phục vụ tổng
hợp, thống kê; xác định dữ liệu chủ, dữ liệu gốc, dữ liệu tham chiếu và xây dựng
từ điển dữ liệu theo ngành, lĩnh vực đảm bảo đồng bộ, thống nhất, tránh trùng lặp,
lãng phí; hoàn thành trong quý I/2026.
- Các bộ, cơ quan chủ quản CSDL đã có dữ liệu bảo đảm
đủ điều kiện khai thác, sử dụng trên thực tế phải có trách nhiệm cập nhật kịp
thời, đầy đủ thông tin và công bố phạm vi thông tin trong CSDL được khai thác,
sử dụng để thay thế giấy tờ trong thành phần hồ sơ thủ tục hành chính, hoàn
thành trước 31/12/2025; tiếp tục thực hiện công bố phạm vi thông tin được khai
thác, sử dụng dựa trên mức độ sẵn có của dữ liệu.
- Bộ Công an chủ trì theo dõi, đôn đốc sát sao, kiểm
tra việc xây dựng, công bố các CSDL, bảo đảm kết nối, khai thác, sử dụng theo
đúng quy định; theo dõi, đánh giá tình hình sử dụng CSDL để phục vụ giải quyết TTHC
theo quy định tại Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP, ngày 15/11/2025 của Chính phủ.
- Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Công an đôn đốc
các cơ sở khám chữa bệnh, Hội đồng giám định y khoa kết nối, chia sẻ dữ liệu
theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định số 69/QĐ-TTg, ngày
10/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ lên Cổng tiếp nhận dữ liệu Hệ thống
thông tin Giám định bảo hiểm y tế của BHXH Việt Nam, trong đó, yêu cầu tất cả
các dữ liệu được chia sẻ phải được ký số theo quy định nhằm tạo thuận lợi cho
người dân khi thực hiện các DVC trực tuyến.
đ) Về an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo mật
dữ liệu: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan theo chức
năng, nhiệm vụ được giao tập trung hoàn thiện khung pháp lý, nâng cấp năng lực
phòng thủ, tổ chức diễn tập và rà soát vá lỗ hổng các hệ thống nền tảng quốc
gia, bộ, ngành, địa phương, nhất là các nhiệm vụ, giải pháp đã được Ban Chỉ đạo
giao tại Thông báo kết luận số 06-TB/CQTTBCĐ, ngày 27/9/2025.
e) Chính phủ chỉ đạo thúc đẩy mạnh mẽ việc thực
hiện chuyển đổi số toàn diện trên các lĩnh vực: Chính phủ số, kinh tế số,
xã hội số. Trong đó, ưu tiên chuyển đổi số trong khu vực doanh nghiệp, nhất là
các ngành kinh tế, công nghiệp trọng điểm, ví dụ như: công nghiệp năng lượng,
công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm, công nghiệp dệt - may, da giầy,
túi xách, công nghiệp hoá chất - phân bón - cao su, công nghiệp vật liệu xây dựng,
công nghiệp cơ khí - điện tử, mỹ phẩm, nội thất, nông nghiệp thông minh,...
thương mại điện tử... Báo cáo Ban Chỉ đạo trong tháng 01/2026.
6. Về khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo
a) Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
và các viện, trường theo chức năng, nhiệm vụ rà soát, bảo đảm điều kiện hạ tầng
đào tạo, nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, nhất là các phòng thí nghiệm trọng điểm;
huy động chuyên gia trong và ngoài nước tham gia các chương trình, hoạt động
nghiên cứu các công nghệ chiến lược.
b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục
và Đào tạo và các cơ quan liên quan xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành
văn bản hướng dẫn việc thành lập doanh nghiệp từ đại học, viện nghiên cứu. Hoàn
thành trong tháng 3/2026.
c) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học
và Công nghệ và các cơ quan liên quan rà soát toàn bộ quy định thuế, phí liên
quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startup) để đề xuất sửa đổi, bổ
sung theo hướng giảm chi phí tuân thủ, thủ tục hoặc có chính sách ưu đãi tương
đương với các nước trong khu vực để tạo điều kiện thành lập doanh nghiệp tại Việt
Nam, giảm tối đa để tiến đến chấm dứt tình trạng các nhóm khởi nghiệp phải sang
nước ngoài thành lập doanh nghiệp.
d) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học
và Công nghệ và các cơ quan liên quan rà soát các quy định pháp luật để sửa đổi,
bổ sung, quy định rõ cơ chế đồng đầu tư Nhà nước - tư nhân cho các dự án đổi mới
sáng tạo.
đ) Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, cơ quan liên
quan được giao nhiệm vụ tập trung triển khai toàn bộ các công nghệ chiến lược
và sản phẩm công nghệ chiến lược theo danh mục đã ban hành.
e) Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Bộ Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ: (1) Nghiên cứu có
chính sách ưu đãi để khuyến khích doanh nghiệp trích lập, kê khai chi tiêu cho
nghiên cứu phát triển KHCN, ĐMST, CĐS. (2) Có quy định về tỷ lệ nội địa hoá để
các tập đoàn FDI lớn chuyển giao công nghệ. (3) Có chính sách vượt trội để thu
hút nhân lực chất lượng cao trong nước và quốc tế làm việc trong các ngành công
nghệ chiến lược. (4) Rà soát, đánh giá thực chất việc cấp Giấy chứng nhận doanh
nghiệp KHCN để có cái nhìn tổng quan về các doanh nghiệp KHCN, ĐMST, CĐS nói
chung. Hoàn thành trong quý I/2026.
g) Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
và các viện, trường bảo đảm điều kiện hạ tầng đào tạo, nghiên cứu, các phòng
thí nghiệm trọng điểm; huy động chuyên gia trong và ngoài nước tham gia các chương
trình, hoạt động nghiên cứu các công nghệ chiến lược.
h) Bộ Khoa học và Công nghệ tham mưu đề xuất cấp có
thẩm quyền thúc đẩy hoạt động của Tổ công tác liên ngành hỗ trợ doanh nghiệp Việt
Nam trong hoạt động tìm kiếm, đàm phán và mua lại các công ty công nghệ nước
ngoài.
i) Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát lĩnh vực tiêu
chuẩn, đo lường, chất lượng để nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền phương án bảo
đảm: (1) Phát triển đồng bộ lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia
theo thông lệ quốc tế, tách biệt rõ vai trò quản lý chuẩn đo lường quốc gia với
vai trò công nhận năng lực tổ chức giám định, đảm bảo tính độc lập, khách quan
và minh bạch. (2) Đầu tư có trọng tâm cho các năng lực cốt lõi về đo lường,
tiêu chuẩn và công nhận, tạo nền tảng thúc đẩy sự thừa nhận lẫn nhau và nâng
cao mức độ chấp nhận quốc tế của các chứng chỉ chất lượng Việt Nam. Báo cáo
Ban Chỉ đạo kết quả rà soát trong quý I/2026.
k) Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo, Tổ Giúp việc
Ban Chỉ đạo, Hội đồng tư vấn quốc gia tăng cường hoạt động trao đổi, hợp tác với
các mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, các viện nghiên cứu,
trường đại học và các đơn vị thuộc các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Tài chính,
Giáo dục và Đào tạo, Công Thương để chủ động tổ chức các hoạt động nghiên cứu,
đánh giá và tham mưu, đề xuất với Ban Chỉ đạo những giải pháp tiếp tục đổi mới,
tháo gỡ rào cản cho phát triển KHCN, ĐMST, CĐS.
7. Về hợp tác quốc tế
trong phát triển KHCN, ĐMST và CĐS
a) Các cơ quan, địa phương tập trung đẩy mạnh hợp
tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với các quốc gia phát triển, nhất
là các lĩnh vực: trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, bán
dẫn, năng lượng nguyên tử...
b) Bộ Ngoại giao: (1) Triển khai thực hiện Kế hoạch
hành động triển khai công tác ngoại giao khoa học công nghệ đến năm 2030 và
thúc đẩy triển khai các nhiệm vụ của Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ
chiến lược. (2) Phối hợp với các bộ, ngành liên quan thúc đẩy triển khai các
cam kết, thoả thuận về KHCN, ĐSMT, CĐS đã ký trong các hoạt động của lãnh đạo cấp
cao.
c) Các bộ, cơ quan, tổ chức chủ trì triển khai các
dự án, chương trình liên quan đến các công nghệ chiến lược cần áp dụng mô hình
hợp tác 3 Nhà, huy động các chuyên gia, các nhà khoa học, tổng công trình sư,
kiến trúc sư trưởng trong nước, quốc tế, nhất là tại các quốc gia là đối tác
truyền thống, tin cậy của Việt Nam tham gia trong quá trình nghiên cứu, phát
triển.