|
Kính gửi:
|
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.
|
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, Thủ
tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 191/2026/NĐ-CP ban hành Quy chế làm việc của
Chính phủ.
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ
giao tại Nghị quyết số 148/NQ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2026, để bảo đảm Quy chế
được thực hiện nghiêm, đầy đủ, kịp thời, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều
hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hệ thống hành chính các cấp, Văn
phòng Chính phủ trân trọng gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố Báo cáo tổng hợp về những điểm mới cần lưu ý
trong Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số
191/2026/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2026./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Thủ tướng Chính phủ, các PTTg (để b/c);
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý, Thư ký TTg, các PTTg, các Vụ, Cục;
- Lưu: VT, TH (3b).
|
BỘ TRƯỞNG, CHỦ
NHIỆM
Đặng Xuân Phong
|
TỔNG HỢP NHỮNG ĐIỂM MỚI CẦN LƯU Ý
TRONG QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA CHÍNH PHỦ BAN HÀNH KÈM
THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 191/2026/NĐ-CP
1. Về
nguyên tắc làm việc của Chính phủ (Điều 2)
Nguyên tắc làm việc của Chính
phủ được kế thừa những quy định phù hợp của Quy chế trước đây và bổ sung một số
nguyên tắc bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các nguyên tắc hoạt động của Chính
phủ theo quy định của Đảng, Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, cụ thể như sau:
- Phân định rõ cơ quan chủ trì,
chịu trách nhiệm chính, cơ quan có liên quan phối hợp thực hiện.
- Bảo đảm giải quyết công việc
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; tăng cường phối hợp công tác, trao đổi
thông tin, bảo đảm thống nhất trong xử lý công việc.
- Thực hiện nguyên tắc tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách, bảo đảm cấp dưới phục tùng, chấp hành sự lãnh đạo,
chỉ đạo, phân công của cấp trên.
- Bảo đảm công khai, minh bạch,
trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ
quan ngang bộ, địa phương theo quy định pháp luật; tạo điều kiện để người dân,
doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia, giám sát, đóng góp trong xây dựng,
thực hiện chính sách, pháp luật.
- Khuyến khích, bảo vệ cán bộ
dám nghĩ, dám làm, dám tham mưu, dám chịu trách nhiệm, đề xuất những vấn đề mới
có tính chất phức tạp, vì lợi ích chung.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học,
công nghệ, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu, dữ liệu thời gian thực
trong chỉ đạo, điều hành; xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, liên
tục, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả,
phục vụ Nhân dân.
2. Về trách
nhiệm phạm vi và cách thức giải quyết công việc (Chương II)
a) Trách nhiệm, phạm vi và cách
thức giải quyết công việc của Chính phủ
- Bổ sung hình thức quyết
nghị các nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ theo một hoặc cả hai hình thức:
thảo luận và quyết nghị tại phiên họp Chính phủ; bằng phiếu hoặc văn bản lấy ý
kiến thành viên Chính phủ để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhất là việc xử lý văn
bản quy phạm pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật (khoản 2 Điều 3).
- Quy định rõ trách nhiệm của
thành viên Chính phủ, nhất là chủ động, tích cực tham gia giải quyết công việc
chung của Chính phủ; thảo luận, biểu quyết và chịu trách nhiệm về các quyết định
của Chính phủ; chịu trách nhiệm toàn diện, mọi mặt trước Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ và pháp luật đối với các nội dung được phân cấp, ủy quyền (khoản 6 Điều 3).
- Những vấn đề Chính phủ thảo
luận và quyết nghị (Điều 4) được cơ cấu lại theo
nhóm vấn đề như: Các đề xuất, dự án, dự thảo văn bản trình Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội theo quy định pháp luật; Chính sách, văn bản quy phạm pháp luật thuộc
thẩm quyền của Chính phủ; Những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc
Chính phủ thông qua trước khi trình cấp thẩm quyền…
b) Về trách nhiệm, phạm vi và
cách thức giải quyết công việc của Thủ tướng Chính phủ (Điều
5)
- Bổ sung, làm rõ nguyên tắc Thủ
tướng Chính phủ không quyết định thay Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đối
với các vấn đề thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ đối với ngành, lĩnh vực theo phân công và các nhiệm vụ đã phân
công, phân cấp, ủy quyền cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, trừ trường hợp cần
thiết (khoản 1).
- Bổ sung cách thức giải quyết
công việc của Thủ tướng Chính phủ sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền
trong trường hợp thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, phòng, chống thiên tai, dịch
bệnh, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân hoặc trường hợp thật cần thiết vì
lợi ích quốc gia, dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân, bảo đảm sự linh
hoạt, kịp thời trong chỉ đạo, điều hành, phản ứng chính sác trước các tình huống
không được dự liệu nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát quyền lực (điểm
b, điểm c khoản 2 Điều 5); khẳng định vai trò hạt nhân của Thủ tướng
Chính phủ trong chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giữa các thành viên Chính
phủ, lý xử lý các vấn đề liên ngành (điểm đ khoản 2).
- Bổ sung cách thức giải quyết
công việc trong trường hợp cấp bách và cần thiết phải quyết định, chỉ đạo ngay
hoặc thực hiện ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, Thủ tướng Chính phủ trên
cơ sở trao đổi, thống nhất với Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực, quyết định những vấn đề thuộc
thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ mà không phải thực hiện trình tự,
thủ tục thông thường. Đây là cơ chế xử lý nhanh, tăng cường khả năng phản ứng
chính sách, duy trì cơ chế kiểm soát thông qua trách nhiệm báo cáo sau quyết định
(điểm n khoản 2).
c) Về trách nhiệm, phạm vi và
cách thức giải quyết công việc của Phó Thủ tướng Chính phủ (Điều
6)
- Các quy định về trách nhiệm,
phạm vi và cách thức giải quyết công việc của Phó Thủ tướng Chính phủ được sửa
đổi, bổ sung theo hướng đề cao trách nhiệm của Phó Thủ tướng Chính phủ trong phạm
vi được phân công, góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý công việc, nâng cao tính chủ
động và hiệu quả điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; quy định nguyên
tắc không trình Thủ tướng Chính phủ những vấn đề thuộc phạm vi đã được phân
công, trừ trường hợp vượt thẩm quyền (điểm c khoản 1).
- Quy định rõ hơn cơ chế phối hợp
giữa các Phó Thủ tướng Chính phủ (điểm d khoản 1);
thẩm quyền quyết định của Phó Thủ tướng Chính phủ đối với những vấn đề được
phân công (điểm a khoản 2); làm rõ hơn cách thức giải
quyết công việc của Phó Thủ tướng, quyết định các vấn đề còn có ý kiến khác
nhau giữa các bộ, cơ quan, địa phương (điểm c khoản 2);
xác lập cơ chế phối hợp, quyết định đối với các vấn đề liên ngành, xử lý công
việc nhanh, hiệu quả, bổ sung quy định chỉ đạo VPCP định kỳ báo cáo Thủ tướng
Chính phủ (điểm e khoản 2).
d) Về trách nhiệm, phạm vi và
cách thức giải quyết công việc của Thành viên Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ (Điều 7, Điều 8)
- Bổ sung các quy định nhằm
tăng cường trách nhiệm của thành viên Chính phủ, tham gia quyết định các vấn đề
thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Quy định rõ nguyên tắc không trình cấp trên đối
với nội dung thuộc thẩm quyền, thực hiện phân cấp thực chất; bổ sung cơ chế
ràng buộc trách nhiệm khi không tham gia hoặc chậm tham gia ý kiến (trường hợp
đặc biệt không thể trả lời đúng hạn thì phải báo cáo rõ lý do) (điểm c khoản 1 và điểm e khoản 2 Điều 7).
- Thiết lập cơ chế xử lý và quyết
định trong phối hợp liên ngành, xác định rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì; bổ
sung quy định đề cao sự chủ động phối hợp, lấy ý kiến, làm việc để thống nhất (điểm c khoản 2 Điều 7); quy định trách nhiệm Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ được giao chủ trì đối với nội dung chưa thống nhất khi
trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; quy định chi tiết hơn về trách nhiệm dự họp
(điểm d khoản 2 Điều 7), về triển khai quy trình nội
bộ để xử lý công việc kịp thời (điểm e khoản 2 Điều 7).
- Với tư cách là Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, Điều 8 Quy chế được thiết kế theo
hướng tách bạch vai trò quản lý nhà nước của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ; tăng cường trách nhiệm cá nhân trong quản lý ngành, lĩnh vực, quyết định
và tổ chức thực hiện các quyết định thuộc thẩm quyền (điểm b
khoản 1 Điều 8); không trình cấp trên đối với công việc thuộc thẩm quyền,
quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền (điểm c khoản 1 và điểm
b khoản 2 Điều 8).
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ được phân công, ủy quyền nhưng vẫn chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện,
khắc phục sự buông lỏng quản lý, gắn phân quyền với trách nhiệm kiểm tra, giám
sát (điểm a và điểm g khoản 2 Điều 8); hoàn thiện cơ
chế xử lý, quyết định trong phối hợp liên ngành (điểm c khoản
2 Điều 8); quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì phải chủ động
phối hợp, lấy ý kiến, làm việc để thống nhất với các cơ quan liên quan và chịu
trách nhiệm về nội dung chưa thống nhất khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
(điểm d khoản 2 Điều 8); bổ sung trách nhiệm ban
hành văn bản hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực hiện,
kiểm tra việc thi hành trong phạm vi quản lý (điểm đ khoản 2
Điều 8).
đ) Quan hệ công tác giữa Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, các bộ, cơ
quan, tổ chức, địa phương
- Bổ sung quy định về quan hệ
công tác giữa Chính phủ và Đảng ủy Chính phủ, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của
Đảng, sự chủ động của Chính phủ trong thể chế hóa và tổ chức thực hiện; bổ sung
quy định Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ họp với Ban Thường
vụ Đảng ủy Chính phủ, tập thể Thường trực Đảng ủy Chính phủ định kỳ hằng tháng,
quý hoặc khi cần thiết để thống nhất về các chủ trương, định hướng lớn, các đề
án, nội dung quan trọng (khoản 2 Điều 9).
- Làm rõ quan hệ công tác với
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường
cơ chế kiểm soát quyền lực (khoản 3 Điều 9); tạo điều
kiện để các tổ chức chính trị - xã hội tham gia xây dựng chính sách, pháp luật
và giám sát, phản biện xã hội (khoản 4 Điều 9); làm
rõ chủ thể, chế độ báo cáo, quan hệ hai chiều giữa trung ương và địa phương (khoản 5, khoản 6 Điều 9); Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ sau khi nhận được nội dung đề xuất của
các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương có trách nhiệm
xem xét, giải quyết; trường hợp không đồng ý thì phải trả lời bằng văn bản và
nêu rõ lý do.
- Bổ sung một điều quy định về
quan hệ công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Điều 10) nhằm phát huy vai trò của các tổ chức này trong
tuyên truyền, vận động, hỗ trợ thực thi chính sách, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền
quản trị quốc gia hiện đại. Các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp là
kênh quan trọng phản ánh tiếng nói, nguyện vọng, kiến nghị của người dân và các
nhóm đối tượng trong xã hội một cách tập hợp, có hệ thống, qua đó giúp cơ quan
nhà nước nắm bắt sát thực tiễn, kịp thời điều chỉnh chính xác.
- Đối với quan hệ công tác của
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với các bộ, cơ quan ngang bộ (Điều 11): quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và
cơ quan phối hợp, hình thức phối hợp, cơ chế xử lý ý kiến khác nhau; tăng cường
vai trò điều hòa, đôn đốc của VPCP (khoản 5). Quy định
cụ thể trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì: xác định rõ đối
tượng, nội dung cần lấy ý kiến, thời hạn trả lời; chịu trách nhiệm về tiến độ,
chất lượng hồ sơ, nội dung trình (điểm a khoản 2);
chủ động tổ chức việc phối hợp, lấy ý kiến cơ quan liên quan trực tiếp đến nội
dung cần giải quyết; trường hợp nhận được văn bản trả lời sau thời hạn quy định
và sau khi công việc đã được xử lý, trình cấp có thẩm quyền thì không phải chịu
trách nhiệm tổng hợp vào quá trình xử lý (điểm b khoản 2).
Bổ sung cơ chế ràng buộc trách
nhiệm; bộ, cơ quan được lấy ý kiến phải nêu rõ quan điểm, chính kiến, không được
né tránh trách nhiệm (điểm a, b khoản 3); rút ngắn
thời gian lấy ý kiến (không ít hơn 02 ngày làm việc và không quá 05 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến) (điểm a khoản 4).
Đối với việc dự họp, ý kiến của người được cử tham dự họp là ý kiến chính thức
của bộ, cơ quan tại thời điểm họp và được ghi vào biên bản họp; trường hợp cần
điều chỉnh, bổ sung thì phải có văn bản đề nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc
sau ngày họp và chịu trách nhiệm về nội dung điều chỉnh, bổ sung (điểm b khoản 4 Điều 11).
- Về quan hệ công tác giữa Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với chính quyền địa phương (Điều 12) được sửa đổi, bổ sung theo hướng minh bạch trách
nhiệm, đúng thẩm quyền, tăng tính chủ động trong phối hợp, giải quyết; bổ sung
cơ chế ràng buộc về thời hạn, trách nhiệm giải quyết; rút ngắn thời gian trả lời,
hướng dẫn, giải quyết kiến nghị của địa phương (không quá 05 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được đầy đủ hồ sơ; trường hợp phải lấy thêm ý kiến thì không quá 10
ngày làm việc); các bộ, cơ quan phải thông báo cho địa phương biết lý do và thời
hạn hoàn thành đối với trường hợp cần kéo dài thời hạn (điểm
a khoản 4).
3. Về trách
nhiệm, quy trình giải quyết công việc (Chương III)
a) Về hồ sơ trình Chính phủ,
Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ và trách
nhiệm của bộ, cơ quan, địa phương (Điều 13)
- Các quy định về hồ sơ trình
được sửa đổi, bổ sung theo hướng sắp xếp lại và cấu trúc thành các nhóm rõ ràng
(yêu cầu, thành phần, hình thức gửi, tiếp nhận); đẩy mạnh ứng dụng khoa học
công nghệ, chuyển đổi số; quy định trách nhiệm của cơ quan trình đối với chất
lượng và tiến độ của hồ sơ (khoản 1); cơ quan chủ
trì trình phải xác định rõ nội dung, hình thức văn bản dự kiến ban hành và tổng
hợp tiếp thu, giải trình; biên bản làm việc, văn bản thẩm định của của cơ quan
chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành (khoản
1, điểm a khoản 3); độ dài tờ trình, báo cáo tóm tắt không quá 06 trang
A4 để đảm bảo ngắn gọn, súc tích (điểm b khoản 3)
- Bổ sung cơ chế kiểm soát văn
bản quy định chi tiết ngay từ giai đoạn xây dựng luật (phải có báo cáo về các nội
dung dự kiến giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ quy định
chi tiết và dự thảo văn bản quy định chi tiết đối với hồ sơ dự án luật, pháp lệnh,
nghị quyết trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội), khắc phục tình trạng nợ
đọng ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (điểm
d khoản 3 Điều 13).
- Về trách nhiệm của bộ, cơ
quan, địa phương trong giải quyết công việc trình Chính phủ, Thường trực Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ (Điều 14); quy định rõ
trách nhiệm chung của bộ, cơ quan, địa phương, trách nhiệm của bộ, cơ quan chủ
trì, cơ quan thẩm định và VPCP. Trong đó:
+ Bộ, cơ quan, địa phương chịu
trách nhiệm về tiến độ nội dung, số liệu, kiến nghị, đề xuất; phối hợp, cung cấp
đầy đủ, kịp thời hồ sơ, thông tin, dữ liệu trong quá trình xử lý; cập nhật đầy
đủ, kịp thời trạng thái xử lý hồ sơ trên hệ thống thông tin quản lý, bảo đảm
theo dõi tiến độ xử lý công việc theo thời gian thực, phục vụ công tác tổng hợp,
chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
+ Bộ, cơ quan địa phương phối hợp,
cơ quan thẩm định có trách nhiệm cử người đủ thẩm quyền tham gia trong quá
trình soạn thảo đề án, dự thảo văn bản theo đề nghị của cơ quan chủ trì; thực
hiện công việc được giao, bảo đảm chất lượng, đúng thời hạn quy định và chịu
trách nhiệm về ý kiến phối hợp, thẩm định của mình.
+ Bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo
có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của cơ quan thẩm
định, cơ quan phối hợp; trường hợp bảo lưu ý kiến hoặc còn ý kiến khác nhau, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì phải trực tiếp trao đổi, làm việc với Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan thẩm định, cơ quan phối hợp; đồng thời đề xuất, kiến nghị rõ
phương án xử lý đối với vấn đề còn ý kiến khác nhau và chịu trách nhiệm về các
đề xuất, kiến nghị và kết quả thực hiện.
+ VPCP có trách
nhiệm rà soát, có ý kiến về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, nội dung chủ yếu của
hồ sơ trình theo quy định; tổng hợp ý kiến khác nhau của các bộ, cơ quan liên
quan; tham mưu tổng hợp, có ý kiến độc lập đối với các hồ sơ, văn bản do các bộ,
cơ quan, địa phương trình.
b) Về quy trình giải quyết công
việc (các Điều 15, 16, 17)
- Đối với quy trình xử lý đề xuất
lập pháp, văn bản quy phạm pháp luật (Điều 15) được
thiết kế theo hướng ngắn gọn, giản đơn, cơ cấu lại theo luồng xử lý thống nhất
(từ khâu tiếp nhận, kiểm tra, nghiên cứu hồ sơ trình, lấy ý kiến thành viên
Chính phủ, xử lý kết quả lấy ý kiến thành viên Chính phủ, trình Thủ tướng Chính
phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ); làm rõ trách nhiệm từng chủ thể và thời hạn xử
lý. Một số nội dung cần lưu ý như sau:
+ Hồ sơ trình đầy đủ, đúng thủ
tục, đủ điều kiện trình và đã thực hiện đúng quy định nhưng vẫn còn ý kiến khác
nhau về những vấn đề lớn, trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận hồ sơ, VPCP báo cáo Thủ tướng Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ phụ
trách xem xét, quyết định hoặc chủ trì họp để xem xét, quyết định phương án xử
lý (điểm c khoản 3).
+ Hồ sơ trình nhưng chưa đầy đủ,
chưa đúng quy trình, thủ tục hoặc Bộ Tư pháp có ý kiến thẩm định chưa đủ điều
kiện trình hoặc chưa thực hiện quy định làm việc để thống nhất ý kiến, rút ngắn
thời hạn VPCP trả hồ sơ trong vòng không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp
nhận (điểm b khoản 3).
+ Về việc lấy ý kiến thành viên
Chính phủ: Quy định rõ VPCP đề xuất nội dung cần xin ý kiến, báo cáo Thủ tướng
Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực xem xét, quyết định để
gửi phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ (trên cơ sở hồ sơ trình của cơ quan
chủ trì soạn thảo và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp). Thời hạn tối thiểu tham
gia ý kiến của thành viên Chính phủ không ít hơn 02 ngày làm việc.
Bổ sung cơ chế ràng buộc trách
nhiệm: trường hợp quá thời hạn mà thành viên Chính phủ không có ý kiến thì được
xác định là đồng ý với ý kiến và đề xuất của cơ quan chủ trì và phải chịu trách
nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trước pháp luật (điểm
c khoản 5); trường hợp đa số thành viên Chính phủ thông qua nhưng còn
thành viên Chính phủ có ý kiến khác, trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc
kể từ ngày hết hạn lấy ý kiến, cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện nội dung
báo cáo tiếp thu, giải trình, đề xuất, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ
tướng Chính phủ phụ trách phương án xử lý (điểm c khoản 6).
+ Bổ sung quy định về trường hợp
có bút phê trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ sửa đổi,
bổ sung tại dự thảo văn bản trình thì cơ quan chủ trì có trách nhiệm tiếp thu,
giải trình, hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ ký
ban hành (khoản 8).
+ Bổ sung quy định về trách nhiệm
của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, VPCP, cơ quan tham gia góp ý và cơ
chế rà soát sau thẩm định, hướng tới mục tiêu bảo đảm chất lượng pháp lý cao nhất
cho văn bản (khoản 10). Theo đó: cơ quan chủ trì tiếp
thu, giải trình đầy đủ ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, hoàn thiện hồ sơ, gửi lại
Bộ Tư pháp để rà soát nội dung tiếp thu, giải trình và hồ sơ văn bản sau thẩm định;
Bộ Tư pháp phải có ý kiến bằng văn bản nêu rõ quan điểm đồng ý hoặc không đồng
ý với nội dung tiếp thu, giải trình; VPCP kiểm tra quy trình, thủ tục, thẩm quyền,
tổng hợp, đôn đốc và tham mưu trình theo quy định; các cơ quan liên quan chịu
trách nhiệm về nội dung ý kiến góp ý.
- Đối với quy trình xử lý đề
án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất khác trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
(Điều 16) được thiết kế theo hướng cơ cấu lại thành
quy trình xử lý thống nhất, làm rõ các bước (tiếp nhận - kiểm tra - xử lý -
trình - quyết định - phát hành); bảo đảm phân định rành mạch với xử lý văn bản
quy phạm pháp luật. Bổ sung quy định đối với hồ sơ còn ý kiến khác nhau về những
vấn đề lớn thì VPCP báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ
trách lĩnh vực xem xét, quyết định hoặc chủ trì họp để xem xét, quyết định
phương án xử lý (điểm b khoản 2). Quy định rõ quy
trình xử lý kiến nghị, đề xuất của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân (khoản 7).
- Đối với quy trình xử lý văn bản,
đề xuất, công việc khác theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng
Chính phủ hoặc do VPCP đề xuất (Điều 17) được thiết
kế theo hướng cơ cấu lại thành quy trình xử lý thống nhất theo từng nhóm tình
huống (chỉ đạo trực tiếp, vấn đề phát sinh, vấn đề thuộc thẩm quyền); làm rõ
trách nhiệm của các chủ thể trong quy trình xử lý và vai trò của VPCP trong nắm
tình hình, tham mưu, tổng hợp và đề xuất, bảo đảm quy định ngắn gọn, rõ ràng, dễ
áp dụng và đồng bộ với Điều 15, 16.
4. Về
chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Chương IV)
a) Về các loại chương trình
công tác (Điều 18), bổ sung “đề xuất lập pháp” là một
trong các nội dung thuộc Chương trình công tác (khoản 1);
quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ trong việc xây dựng,
đề xuất dự kiến chương trình công tác hàng tuần của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ
tướng Chính phủ (khoản 3).
b) Về trình tự xây dựng, ban
hành chương trình công tác (Điều 19): đề cao trách
nhiệm của các bộ, cơ quan trong đăng ký chương trình công tác năm; làm rõ trách
nhiệm của VPCP xác định các đề án đưa vào chương trình công tác, trong đó có việc
gửi lấy ý kiến các bộ, cơ quan và tiếp thu, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ
xem xét, ban hành (điểm c khoản 1). Điều chỉnh thời
hạn xây dựng, ban hành chương trình công tác tuần của Thủ tướng Chính phủ, Phó
Thủ tướng Chính phủ chậm nhất vào thứ Năm của tuần trước (điểm
c khoản 2).
c) Việc thực hiện chương trình
công tác (Điều 21) và trách nhiệm xây dựng, thực hiện,
theo dõi và đánh giá việc thực hiện chương trình công tác (Điều
22): Bổ sung quy định xử lý đối với các trường hợp phát sinh ngoài
chương trình trên cơ sở được cấp có thẩm quyền xem xét, chấp thuận hoặc bổ sung
vào chương trình công tác; trách nhiệm của VPCP trong tham mưu quyết định
chương trình công tác năm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và việc điều chỉnh
chương trình công tác; giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra,
đánh giá tình hình thực hiện chương trình công tác, báo cáo tại phiên họp Chính
phủ thường kỳ hằng tháng; xây dựng, ban hành chương trình công tác quý, tháng.
5. Về chế độ
họp, hội nghị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Chương V)
Quy chế tiếp tục cải tiến mạnh
mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả, cách thức tổ chức các phiên họp, hội nghị,
cuộc họp, làm việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo chỉ đạo của cấp thẩm
quyền tại Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư.
a) Về công tác chuẩn bị phiên họp
Chính phủ (Điều 23): Bổ sung trách nhiệm của VPCP
trong việc tổng hợp, tham mưu đề xuất xử lý hồ sơ, văn bản, tài liệu trình ra
phiên họp và trách nhiệm gửi tài liệu trình ra phiên họp của cơ quan chủ trì đề
án, trường hợp gửi không đúng hạn, VPCP báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét đưa
ra khỏi chương trình họp.
b) Về thành phần dự họp (Điều 25): Bổ sung quy định theo hướng nghiêm khắc hơn về
trách nhiệm và chế tài trong việc tham dự các phiên họp Chính phủ của thành
viên Chính phủ như: phải tham dự đầy đủ, xác nhận tham dự trên Hệ thống thông
tin, không được vắng mặt hoặc vắng mặt một phần thời gian của phiên họp khi
chưa có sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ… nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương
hành chính, nâng cao trách nhiệm của thành viên Chính phủ.
c) Về trình tự phiên họp Chính
phủ (Điều 26, Điều 27): được thiết kế theo hướng rõ
ràng, thuận lợi trong thực hiện; trách nhiệm của các cơ quan minh bạch, cụ thể
hơn; các nội dung trình bày ngắn gọn, súc tích, tập trung vào nội dung cần
Chính phủ xem xét, thảo luận.
d) Về hội nghị của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, cuộc họp của Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Phó Thủ tướng Chính phủ và thành viên Chính phủ được ủy quyền (các Điều: 29, 30, 31, 32)
- Quy định cụ thể thành phần đại
biểu mời dự hội nghị hàng quý, 06 tháng và cả năm của Chính phủ theo hướng mở rộng
thành phần tham dự ở cấp tỉnh (Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân
dân), Chủ tịch Hội đồng thành viên một số doanh nghiệp nhà nước (khoản 1 Điều 29); bổ sung chế tài đối với cơ quan liên
quan chuẩn bị nội dung, báo cáo tại hội nghị trong trường hợp gửi tài liệu quá
hạn (khoản 4 Điều 29).
- Đối với các cuộc họp Thường
trực Chính phủ (Điều 30): quy định cụ thể thời hạn gửi
tài liệu phục vụ họp và chế tài xử lý đối với trường hợp gửi không đúng hạn (khoản 3). Bổ sung hình thức báo cáo bằng văn bản nếu Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì cử cấp phó dự họp thay (khoản
4). Làm rõ trách nhiệm và thời hạn xử lý của VPCP trong công tác chuẩn
bị, tham mưu tổ chức họp (khoản 5). Quy định cụ thể
trình tự cuộc họp Thường trực Chính phủ (khoản 6).
Rút ngắn quy trình và thời gian ban hành thông báo kết luận họp.
- Đối với các cuộc họp, làm việc
của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ (Điều 31):
quy định trình tự cuộc họp, làm việc (khoản 2); làm
rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương và VPCP trong việc chuẩn bị, tổ chức
họp; rút ngắn quy trình xử lý, thời gian trình ban hành thông báo kết luận họp
(01 ngày làm việc); quy định trách nhiệm, chế tài trong việc gửi tài liệu phục
vụ họp; trường hợp không gửi đúng hạn, VPCP báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ
tướng Chính phủ chủ trì họp xem xét đưa ra khỏi chương trình họp (điểm d khoản 4); sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn lấy
ý kiến các bộ, cơ quan đối với các cuộc làm việc với địa phương (khoản 5).
đ) Về bảo đảm kỷ luật, kỷ cương
các cuộc họp, hội nghị (Điều 33)
Quy chế quy định nghiêm khắc
hơn trong việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính đối với việc tham dự các
phiên họp, hội nghị, cuộc họp, làm việc của Chính phủ, Thường trực Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ; trong đó có chế tài phê bình công
khai đối với trường hợp cử người không đúng thành phần dự họp (khoản 1), không gửi tài liệu đúng thời hạn (khoản 2); làm rõ quy định bảo vệ bí mật nhà nước đối với
các phiên họp, hội nghị, cuộc họp, làm việc có nội dung bí mật nhà nước, nhất
là đối với các cuộc họp tổ chức trực tuyến (phải được người có thẩm quyền cho
phép, bảo đảm các yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định pháp luật về cơ
yếu, an ninh mạng và bảo vệ bí mật nhà nước) (khoản 4).
6. Về công
tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật và thực
hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao (Chương VI)
a) Về nguyên tắc, thẩm quyền, nội
dung theo dõi, đôn đốc, kiểm tra (Điều 34) được hệ
thống hóa, ngắn gọn hơn, rõ trách nhiệm của VPCP, Bộ Tư pháp, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh. Bổ sung quy định về cách thức thực hiện, theo đó việc theo dõi, đôn đốc,
kiểm tra được thực hiện thường xuyên, linh hoạt, gắn với ứng dụng công nghệ
thông tin, hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành; kết hợp giữa
theo dõi qua hệ thống, báo cáo và làm việc trực tiếp khi cần thiết.
b) Hình thức theo dõi, đôn đốc,
kiểm tra (Điều 35) được thiết kế theo hướng quy định
rõ 05 hình thức, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu, gắn việc
đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và mức độ hoàn
thành.
c) Về kết quả kiểm tra (Điều 36): Quy định rõ kết quả kiểm tra phải được tổng hợp,
báo cáo kịp thời, chính xác, phục vụ trực tiếp công tác chỉ đạo, điều hành của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; là căn cứ để đánh giá tình hình, kết quả, hiệu
quả thực hiện nhiệm vụ; xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan và đề xuất biện pháp xử lý, điều chỉnh phù hợp. Việc tổng hợp, báo
cáo kết quả kiểm tra được thực hiện trên cơ sở dữ liệu, bảo đảm cập nhật, kết nối,
chia sẻ thông tin phục vụ theo dõi, đôn đốc và quản lý theo kết quả.
7. Về tiếp
khách, đi công tác (Chương VII)
Bổ sung quy định về trách nhiệm
của Bộ Ngoại giao (thực hiện các nội dung, chương trình làm việc và công tác lễ
tân của chuyến công tác nước ngoài, báo cáo xin ý kiến Phó Thủ tướng Chính phủ
phụ trách trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hoặc báo
cáo cấp có thẩm quyền); trách nhiệm của các bộ, cơ quan liên quan trong việc
chuẩn bị các nội dung theo phân công tại Đề án về chủ trương của chuyến công
tác; gửi kiến nghị, đề xuất đến Bộ Ngoại giao chậm nhất sau 03 ngày làm việc
sau khi kết thúc chuyến công tác (khoản 2, khoản 3 Điều 39).
8. Về công
tác thông tin, báo cáo và xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định
(Chương VIII)
a) Bổ sung một điều về thông
tin, dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Điều 41); theo đó, quy định rõ hơn về trách nhiệm cung cấp
thông tin, dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ; việc cung cấp, khai thác thông tin được thực hiện chủ yếu thông qua
các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu được kết nối, liên thông, cập nhật theo
thời gian thực; việc quản lý, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu được thực
hiện theo nguyên tắc quản trị dựa trên dữ liệu.
b) Thiết kế lại và bổ sung quy
định về công tác báo cáo phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ (Điều 42). Theo đó, báo cáo được xây dựng
trên cơ sở khai thác, tổng hợp, phân tích thông tin, dữ liệu từ các báo cáo, hệ
thống thông tin, cơ sở dữ liệu và các nguồn thông tin liên quan theo quy định
pháp luật; đúng thời hạn, ngắn gọn, rõ ràng, phản ánh trung thực, kịp thời tình
hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tập trung vào đánh giá tình hình, kết quả,
hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra; xác định rõ tồn tại, hạn chế,
nguyên nhân, trách nhiệm và đề xuất giải pháp, kiến nghị cụ thể.
Quy định rõ hơn chế độ báo cáo
định kỳ, đột xuất và trách nhiệm thực hiện của các bộ, cơ quan; điều chỉnh thời
gian gửi báo cáo theo hướng sát thời gian thực, hạn chế số liệu ước tính. Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, báo cáo Thủ
tướng Chính phủ (không phải gửi VPCP như hiện nay) về tình hình biên giới, biển
đảo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thông tin đối ngoại đáng
chú ý; thực hiện thường xuyên, kể cả trong thời gian nghỉ Lễ, Tết hoặc khi có vấn
đề phát sinh.
c) Quy định rõ hơn về nội dung
báo cáo tại phiên họp Chính phủ theo hướng trên cơ sở tổng hợp, phân tích thông
tin, dữ liệu, tập trung vào những vấn đề trọng tâm, cấp bách, phục vụ trực tiếp
công tác chỉ đạo, điều hành (Điều 43).
d) Quy định rõ trách nhiệm công
khai, minh bạch, cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình (Điều 44). Việc công khai, cung cấp thông tin được thực hiện
chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử,
nền tảng số và các hệ thống thông tin được kết nối, liên thông. Đồng thời, chủ
động tiếp nhận, xử lý, phản hồi ý kiến, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp
và xã hội theo quy định của pháp luật; kịp thời nhận diện vấn đề, có phản ứng
chính sách nhanh nhạy, phù hợp với diễn biến thực tiễn.
Bổ sung quy định về trách nhiệm
của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc
thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong phạm vi quản lý;
chủ động cung cấp thông tin, tổ chức đối thoại với người dân, doanh nghiệp; tạo
điều kiện để các tổ chức chính trị - xã hội tham gia và đồng hành trong quá
trình xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách.
đ) Bổ sung quy định xử lý các
trường hợp không thực hiện đúng Quy chế (Điều 46). Theo
đó, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
phải trực tiếp chỉ đạo thực hiện Quy chế và kỷ luật, kỷ cương hành chính, các
quyết nghị, quyết định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng
Chính phủ. Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của việc không thực hiện đúng
quy định, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh tự kiểm điểm, phê bình và có báo cáo giải trình gửi Thủ tướng Chính phủ;
việc công khai kết quả thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Quy định
rõ trách nhiệm của VPCP trong việc tổng hợp, báo cáo và đề xuất kiến nghị xử lý
trường hợp không thực hiện đúng Quy chế./.