Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 247/2025/QH15 Loại văn bản: Nghị quyết
Nơi ban hành: Quốc hội Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày ban hành: 10/12/2025 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Tình trạng: Đã biết

Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường

Ngày 10/12/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 247/2025/QH15 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường.

Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường

Cụ thể, để phát huy kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập, thích ứng kịp thời với bối cảnh trong giai đoạn mới, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp.

Trong đó, nhiệm vụ, giải pháp đột phá đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường và tổ chức thực thi quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả như sau:

Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm xuyên suốt trong tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển bền vững đất nước; thống nhất trong nhận thức và hành động coi chi cho môi trường là đầu tư cho phát triển, bảo đảm an ninh môi trường; loại bỏ quan điểm “Bảo vệ môi trường sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế”; tiếp tục hoàn thiện nhóm chỉ tiêu về môi trường, trong đó chú trọng cơ chế giao chỉ tiêu thực hiện cụ thể cho các địa phương gắn với cơ chế đánh giá trách nhiệm hoàn thành của người đứng đầu; bổ sung chỉ tiêu về tăng trưởng các-bon thấp vào hệ thống chỉ tiêu phát triển quốc gia và trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hằng năm phù hợp với yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn.

Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng và tổng kết, đánh giá, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường phù hợp với yêu cầu thực tế (chi tiết tại Phụ lục kèm theo).

Thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên và được quản lý trên môi trường số; thực hiện chuyển đổi xanh thông qua các cơ chế, chính sách khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ thân thiện với môi trường, công nghiệp môi trường, dịch vụ môi trường, mua sắm xanh, năng lượng tái tạo; chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Kinh tế hóa môi trường, trong đó thiết lập cơ chế định giá tài nguyên, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và nâng cao hiệu quả của công cụ thuế môi trường, phí môi trường, hạn ngạch phát thải; áp dụng triệt để nguyên tắc “Người được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; người gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục, xử lý”.

Tiếp tục đẩy mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát; cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính; phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Xem chi tiết tại Nghị quyết 247/2025/QH15 ngày 10/12/2025.

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Nghị quyết số: 247/2025/QH15

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2025

 

NGHỊ QUYẾT

TIẾP TỤC NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

QUỐC HỘI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 87/2015/QH13;

Căn cứ Nghị quyết số 130/2024/QH15 ngày 08 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2025 và Nghị quyết số 131/2024/QH15 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội về việc thành lập Đoàn giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”;

Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 756/BC-ĐGS ngày 26 tháng 10 năm 2025 của Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành” và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Đánh giá việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực

Quốc hội cơ bản tán thành nội dung Báo cáo số 756/BC-ĐGS ngày 26 tháng 10 năm 2025 của Đoàn giám sát của Quốc hội về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành với những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân chủ yếu sau đây:

1. Việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội và hội nhập quốc tế. Một số kết quả nổi bật là: (a) Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã ban hành hơn 500 văn bản hướng dẫn và triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường, trong đó Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành hơn 30 văn bản, qua đó đã cơ bản thể chế và cụ thể hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, quán triệt nguyên tắc: Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm để phát triển bền vững; chuyển mạnh sang cơ chế quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế với sự tham gia của toàn xã hội. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của hệ thống pháp luật; (b) ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp môi trường được quan tâm (năm 2024, đạt 1,12% tổng chi ngân sách nhà nước), công tác bảo vệ môi trường đã có nhiều chuyển biến, đạt và vượt nhiều mục tiêu, chỉ tiêu quan trọng đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng như tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị, tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung, tỷ lệ che phủ rừng; chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam tăng, trong nhóm dẫn đầu ASEAN; (c) các nguồn thải lớn đã được kiểm soát chủ động và chặt chẽ, không để xảy ra sự cố môi trường lớn; đã xuất hiện nhiều mô hình đô thị, nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất sinh thái, thân thiện với môi trường; (d) công tác quản lý chất thải có nhiều chuyển biến, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tăng dần qua các năm, đến nay đạt 97,28% ở đô thị, 80,5% ở nông thôn, giảm hình thức chôn lấp; việc tái chế, tái sử dụng, tận dụng giá trị tài nguyên từ chất thải được tăng cường thông qua các hình thức như đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng, tận dụng nhiệt dư từ đốt rác, sản xuất xi măng để phát điện; đã giảm mạnh lượng tồn đọng tro, xỉ, thạch cao phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện, phân bón, hóa chất thông qua đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu sản xuất; (đ) tốc độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường đã được ngăn chặn, chất lượng môi trường từng bước cải thiện, đặc biệt là chất lượng môi trường đất, môi trường nước mặt một số lưu vực sông chính, nước biển ven bờ, nước dưới đất; (e) công tác ứng phó với biến đổi khí hậu có chuyển biến tích cực; khả năng chống chịu và năng lực thích ứng của hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội được nâng cao, khởi tạo sinh kế bền vững; kiểm kê khí nhà kính tại các doanh nghiệp đã được triển khai thực hiện; việc chuyển đổi xanh trong các ngành, lĩnh vực hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 được thúc đẩy mạnh mẽ; hành lang pháp lý về phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam đã và đang được hình thành; (g) các mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế số… đang được thúc đẩy; nhiều mô hình công nghệ tiên tiến về tái chế và xử lý chất thải đã được ứng dụng, nhân rộng và phổ biến.

2. Bên cạnh kết quả đạt được, việc quy định chi tiết và tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ môi trường còn một số hạn chế, bất cập. Cụ thể như: (a) tình trạng ô nhiễm môi trường còn xảy ra ở một số nơi, có thời điểm ở mức độ nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm không khí (do bụi mịn) tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; chất lượng môi trường một số đoạn sông tập trung tại khu vực đông dân cư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làng nghề trên lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải chậm được cải thiện; (b) hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường, nhất là trong thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nước thải còn thiếu và lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu (hiện nay tỷ lệ cụm công nghiệp, làng nghề có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn còn thấp (31,5% và 16,6%); chỉ có khoảng 18% tổng lượng nước thải đô thị được thu gom, xử lý; tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt tuy đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao (58,85%); còn 38/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lý triệt để, trong đó chủ yếu là các bãi chôn lấp rác thải); (c) việc tuần hoàn, tái sử dụng nước thải, tái chế một số loại chất thải rắn công nghiệp vẫn còn hạn chế; một số loại chất thải nguy hại phát sinh từ hộ gia đình chưa được thu gom, xử lý riêng mà lẫn trong chất thải rắn sinh hoạt; tại một số địa phương, cơ sở y tế gặp khó khăn trong việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế nguy hại; việc nhập khẩu trái phép công nghệ cũ vẫn chưa được kiểm soát, ngăn chặn triệt để; (d) một số mục tiêu chính sách của Luật Bảo vệ môi trường thể hiện trong các pháp luật khác có liên quan chưa đạt hiệu quả mong muốn như: mục tiêu thúc đẩy thay đổi hành vi, thói quen tiêu dùng thông qua pháp luật về thuế, phí về bảo vệ môi trường; mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để thúc đẩy các dự án về bảo vệ môi trường thông qua pháp luật về ngân sách nhà nước; mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ tư vấn lập hồ sơ về môi trường thông qua việc quy định về điều kiện kinh doanh trong pháp luật về đầu tư; (đ) tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo về môi trường, tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn xảy ra tại một số địa phương, có vụ việc diễn biến phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội.

3. Những hạn chế, bất cập nêu trên do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân khách quan bao gồm: (a) tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 và biến động kinh tế; (b) sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ; (c) biến đổi khí hậu và thiên tai diễn biến phức tạp và cực đoan; (d) tác động từ quá trình hội nhập, toàn cầu hóa, các vấn đề môi trường xuyên biên giới; (đ) khả năng làm chủ công nghệ còn thấp; (e) việc trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon còn mới, gây khó khăn trong xây dựng, hoàn thiện các quy định trong nước.

Bên cạnh đó, nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, cụ thể: (a) nhận thức và ý thức trách nhiệm về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường để phát triển bền vững của một số cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp và người dân còn chưa đầy đủ, có lúc, có nơi còn tư tưởng ưu tiên tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư mà xem nhẹ bảo vệ môi trường, một số doanh nghiệp coi bảo vệ môi trường là chi phí phát sinh; việc xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường địa phương chưa được quan tâm, chú trọng; (b) một số quy định chưa đồng bộ giữa Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và một số luật khác có liên quan; việc ban hành, triển khai các chính sách mới về phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt chưa kịp thời; một số định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá chưa tạo động lực đủ mạnh thúc đẩy xã hội hóa đầu tư cho bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, trong khi việc bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước chưa được quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với nguồn thu từ thuế, phí bảo vệ môi trường; nguyên tắc “người gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục, xử lý” chưa được áp dụng triệt để; một số tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật về tái sử dụng nước thải, chất thải rắn công nghiệp chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế tuần hoàn, sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ; việc thực hiện cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu trong tái chế, xử lý chất thải còn gặp khó khăn do thiếu hạ tầng thu gom, tái chế đồng bộ; lộ trình thực hiện chuyển đổi phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch còn chậm; (c) chậm hình thành thị trường công nghệ môi trường, ngành công nghiệp môi trường; chậm đổi mới, thay thế công nghệ sản xuất lạc hậu; (d) công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được quan tâm triển khai đúng mức, thiếu đổi mới, đa dạng hóa; (đ) việc phân công, phân cấp và phối hợp giữa các cơ quan có lúc, có nơi chưa chặt chẽ và hiệu quả; năng lực, hạ tầng còn hạn chế, đội ngũ công chức, viên chức làm công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu ở cơ sở chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại; (e) công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa đáp ứng yêu cầu, chế tài xử lý đối với một số hành vi gây ô nhiễm môi trường còn thấp, chưa đủ tính răn đe; (g) sự tham gia của cộng đồng dân cư, người dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các bên liên quan trong hoạt động bảo vệ môi trường còn chưa đủ mạnh mẽ và sâu rộng.

4. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường thời gian qua là do chủ trương, đường lối đúng đắn và sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Đồng chí Tổng Bí thư; việc ban hành kịp thời, tương đối đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả theo thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự chủ động vào cuộc, phối hợp kịp thời của các Bộ, ngành, địa phương và sự tham gia, nỗ lực của toàn dân, doanh nghiệp, các lực lượng, các nhà khoa học trong công tác bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, bất cập trong hướng dẫn và thực hiện Luật Bảo vệ môi trường như đã nêu trên. Một số Bộ, ngành, địa phương còn chậm hoặc chưa ban hành đầy đủ một số quy định; chưa bố trí thỏa đáng nguồn lực cho việc xử lý các vấn đề môi trường thuộc phạm vi quản lý, nhất là trong đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt, làng nghề, cụm công nghiệp, chất thải rắn sinh hoạt. Trong một số trường hợp, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ và các cấp chính quyền địa phương có trách nhiệm trong chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện còn thiếu kiên quyết, chưa xử lý triệt để các vấn đề môi trường và giải quyết các vướng mắc phát sinh. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có phần trách nhiệm trong giám sát, kiến nghị, chưa giám sát thường xuyên và chưa giám sát đến cùng việc thực hiện các kiến nghị trong công tác bảo vệ môi trường.

Điều 2. Nhiệm vụ, giải pháp

Để phát huy kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập, thích ứng kịp thời với bối cảnh trong giai đoạn mới, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, nghiên cứu, thực hiện các kiến nghị của Đoàn giám sát tại Báo cáo số 756/BC-ĐGS ngày 26 tháng 10 năm 2025 và tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

1. Nhiệm vụ, giải pháp đột phá

a) Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường và tổ chức thực thi quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả

Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm xuyên suốt trong tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển bền vững đất nước; thống nhất trong nhận thức và hành động coi chi cho môi trường là đầu tư cho phát triển, bảo đảm an ninh môi trường; loại bỏ quan điểm “Bảo vệ môi trường sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế”; tiếp tục hoàn thiện nhóm chỉ tiêu về môi trường, trong đó chú trọng cơ chế giao chỉ tiêu thực hiện cụ thể cho các địa phương gắn với cơ chế đánh giá trách nhiệm hoàn thành của người đứng đầu; bổ sung chỉ tiêu về tăng trưởng các-bon thấp vào hệ thống chỉ tiêu phát triển quốc gia và trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hằng năm phù hợp với yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn.

Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng và tổng kết, đánh giá, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường phù hợp với yêu cầu thực tế (chi tiết tại Phụ lục kèm theo).

Thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên và được quản lý trên môi trường số; thực hiện chuyển đổi xanh thông qua các cơ chế, chính sách khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ thân thiện với môi trường, công nghiệp môi trường, dịch vụ môi trường, mua sắm xanh, năng lượng tái tạo; chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Kinh tế hóa môi trường, trong đó thiết lập cơ chế định giá tài nguyên, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và nâng cao hiệu quả của công cụ thuế môi trường, phí môi trường, hạn ngạch phát thải; áp dụng triệt để nguyên tắc “Người được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; người gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục, xử lý”.

Tiếp tục đẩy mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát; cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính; phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

b) Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực cho bảo vệ môi trường

Chú trọng đầu tư phát triển các công trình bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ưu tiên nguồn lực từ ngân sách và nguồn lực xã hội hóa cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm xây dựng đồng bộ các công trình hạ tầng môi trường thiết yếu như: hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị; hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải phù hợp cho từng loại rác, các nhà máy tái chế, xử lý rác thải hữu cơ, chất thải nguy hại; cải thiện và phục hồi môi trường các lưu vực sông; thích ứng với biến đổi khí hậu; hỗ trợ hoạt động chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, vận hành thị trường các-bon; phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, công nghệ mới không phát thải, công nghệ lưu trữ năng lượng, thu giữ và sử dụng các-bon thông qua các cơ chế tài chính linh hoạt (như đầu tư công hoặc hợp tác công tư...); có cơ chế, chính sách đặc thù trong việc đầu tư xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Bố trí đúng, đủ, quản lý có hiệu quả và tăng dần chi ngân sách cho bảo vệ môi trường tương ứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm từ năm 2027 tỷ trọng ngân sách chi cho bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước tăng hơn so với năm 2025; phân cấp hợp lý cho chính quyền địa phương quyết định phân bổ nguồn lực cho bảo vệ môi trường.

Hoàn thiện và triển khai hiệu quả các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường; phát huy vai trò của các quỹ bảo vệ môi trường, huy động nguồn lực tư nhân thông qua các công cụ tài chính xanh như trái phiếu xanh, tín dụng xanh... để triển khai các dự án đầu tư xanh, dự án bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính; chú trọng đổi mới hình thức, phương thức ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế bảo lãnh rủi ro cho các dự án đầu tư xanh, dự án bảo vệ môi trường và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị phù hợp với nhu cầu thực tế của từng địa phương.

Đa dạng hóa nguồn cung tín chỉ các-bon trong và ngoài nước, trong đó ưu tiên cho phát triển thị trường trong nước. Khuyến khích phát triển các dự án tạo tín chỉ các-bon trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lâm nghiệp, nông nghiệp các-bon thấp, xử lý chất thải, công nghiệp xanh, giao thông xanh, các công nghệ thu hồi, lưu giữ các-bon. Thúc đẩy đầu tư theo phương thức đối tác công tư, phát triển các mô hình hợp tác đầu tư cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tích cực, chủ động tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ về tri thức, tài chính, kỹ thuật của quốc tế phù hợp với lợi ích quốc gia và tăng cường hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Khuyến khích các phong trào tự nguyện, mô hình điển hình tiên tiến về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư; thực hiện cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư, người dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các bên liên quan thực hiện công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm đơn giản, hiệu quả, thiết thực và có tính lan tỏa cao; hình thành thói quen, văn hóa môi trường trong xã hội.

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó ưu tiên vào một số lĩnh vực then chốt như: công nghệ tái chế, xử lý chất thải, kinh tế tuần hoàn; ứng dụng chuyển đổi số trong bảo vệ môi trường; quản lý và vận hành thị trường các-bon trong nước, kiểm kê và giảm phát thải khí nhà kính, triển khai giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu; phòng ngừa, giảm thiểu tác động môi trường, ô nhiễm môi trường, quan trắc và cảnh báo môi trường. Đẩy mạnh liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm hình thành hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - ứng dụng trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện các giải pháp, cơ chế đãi ngộ để thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao tham gia công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

c) Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là trong quản lý chất thải, kiểm soát nguồn thải, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình không phụ thuộc vào địa giới hành chính và cấp phép điện tử. Trước mắt, tập trung xây dựng nền tảng dữ liệu và hạ tầng số thống nhất, liên thông từ trung ương đến địa phương; thúc đẩy ứng dụng, tích hợp công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong cung cấp thông tin, tương tác trực tuyến về môi trường; xây dựng bộ công cụ, hướng dẫn kỹ thuật dạng số về kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải.

Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ chiến lược trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, tập trung vào: giám sát, đánh giá, phân tích và cảnh báo môi trường; tái chế, xử lý chất thải; cải tạo, phục hồi môi trường và bảo tồn hệ sinh thái; phát triển năng lượng sạch, giảm phát thải các-bon. Phát triển mạnh thị trường hàng hóa công nghiệp môi trường, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa công nghiệp môi trường sản xuất trong nước.

Xây dựng sàn giao dịch các-bon trong nước; vận hành Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, thiết lập hệ thống báo cáo kiểm kê khí nhà kính trực tuyến phục vụ doanh nghiệp.

Xây dựng và nhân rộng các giải pháp, mô hình thành phố, đô thị sinh thái thông minh, giao thông thông minh và quản lý năng lượng thông minh.

Xây dựng và thực hiện các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển các chuyên ngành khoa học mũi nhọn trong tái chế chất thải, sản xuất vật liệu thân thiện với môi trường. Nguồn lực ngân sách nhà nước phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được tổng hợp khi tính tỷ lệ % tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hằng năm.

Đẩy mạnh thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào Việt Nam, thông qua đó thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ, tiếp nhận và làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nguồn về bảo vệ môi trường, chuyển đổi xanh.

2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, hoàn thành đến hết năm 2026

a) Tổng kết, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trình Quốc hội xem xét, thông qua đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Trong năm 2025, xem xét sửa đổi ngay một số điều của Luật để góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời sửa đổi quy định về lộ trình, thời gian áp dụng đối với chính sách về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân cho phù hợp với yêu cầu thực tế.

Trong năm 2026, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan đến thuế, phí bảo vệ môi trường. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan trong các năm tiếp theo, bảo đảm thực hiện hiệu quả mục tiêu chính sách về bảo vệ môi trường.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, hướng dẫn thực hiện đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và kiểm kê khí nhà kính của các ngành, lĩnh vực đối với các cơ sở, doanh nghiệp; rà soát, cập nhật kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính cho từng ngành, lĩnh vực phù hợp với Đóng góp do quốc gia tự quyết định giai đoạn 2026 - 2035.

b) Tổ chức rà soát, đánh giá và cập nhật, điều chỉnh trong trường hợp cần thiết các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có liên quan đến bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu để đáp ứng yêu cầu “mở rộng và kiến tạo không gian phát triển mới”, trong đó chú trọng việc đánh giá, dự báo các tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, thiên tai, đặc biệt tại các địa bàn nhạy cảm như tại một số đô thị lớn (các thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…), đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven biển; tăng trưởng kinh tế 2 con số trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc xuyên suốt không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế đơn thuần, tôn trọng quy luật tự nhiên.

c) Ban hành và triển khai hiệu quả Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời thực hiện ngay các biện pháp cấp bách kiểm soát, ngăn chặn và khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí tại thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn thành việc đánh giá khả năng chịu tải và công bố kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt một số lưu vực sông liên tỉnh có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội; cải thiện chất lượng môi trường một số đoạn sông bị ô nhiễm nghiêm trọng trên các sông: Ngũ Huyện Khê, Tô Lịch, hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.

d) Khẩn trương hoàn thành và đưa vào vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, bảo đảm tích hợp, kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia và chia sẻ theo thời gian thực; tích hợp với hệ thống thông tin địa lý để xây dựng bản đồ chất lượng môi trường, công bố, công khai cho cộng đồng và triển khai áp dụng cho một số đô thị lớn (thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh…).

đ) Thiết lập và vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước; hoàn thiện các quy định pháp lý về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon với quốc tế, làm cơ sở triển khai hợp tác trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon với các đối tác quốc tế; quy định tỷ lệ kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, lượng tín chỉ các-bon tối thiểu được giữ lại để thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định khi trao đổi, chuyển giao ra quốc tế phù hợp với từng giai đoạn và tình hình thực tế trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia.

3. Nhiệm vụ, giải pháp đến năm 2030 và các năm tiếp theo

a) Phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường; dự báo sớm tác động của biến đổi khí hậu

Nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm về môi trường và tác động của biến đổi khí hậu nhằm chủ động phòng ngừa, kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ các khu vực có yếu tố nhạy cảm môi trường, hạn chế tác động xấu đối với môi trường và sức khỏe con người; kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính, cung cấp dữ liệu kịp thời cho công tác hoạch định chính sách.

Kiểm soát chặt chẽ các yêu cầu về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đối với các dự án đầu tư từ khâu phê duyệt dự án thông qua hoạt động thẩm định đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường; nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định, đánh giá công nghệ sản xuất để kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả việc nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vào Việt Nam; nâng cao chất lượng thực hiện giám sát chặt chẽ, phòng ngừa đối với các cơ sở thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường cao; đánh giá, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường của các cơ sở năng lượng nguyên tử, cơ sở hạt nhân.

Chủ động di dời các cơ sở sản xuất trong cụm công nghiệp, làng nghề gây ô nhiễm, đặc biệt là tại các cụm công nghiệp, làng nghề xen lẫn với khu dân cư tới địa điểm có quy hoạch phù hợp.

Thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính của các ngành, lĩnh vực theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định; rà soát, đề xuất các cam kết đóng góp về giảm phát thải khí nhà kính của các ngành, lĩnh vực trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định cho giai đoạn sau năm 2035. Xây dựng hệ thống báo cáo kiểm kê khí nhà kính trực tuyến để phục vụ tổng hợp, phân tích và báo cáo kết quả kiểm kê khí nhà kính kịp thời và hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống báo cáo giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trực tuyến.

b) Khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường có trọng tâm, trọng điểm

Đẩy mạnh điều tra, đánh giá, phân loại, lập và thực hiện kế hoạch cải tạo, phục hồi khu vực đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tập trung vào các bãi chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh, khu vực đất bị ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu, ô nhiễm chất độc hóa học, hóa chất tồn lưu do chiến tranh để lại. Xử lý dứt điểm các cơ sở, làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Triển khai hiệu quả kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt đối với lưu vực sông liên tỉnh, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội; tập trung khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường các đoạn sông bị ô nhiễm (các lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai, sông Vu Gia - Thu Bồn và một số sông tại các đô thị lớn), tạo sự chuyển biến rõ rệt, có kết quả rõ ràng trong cải thiện chất lượng môi trường nước các lưu vực sông. Tăng cường thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tại các đô thị, phấn đấu đến năm 2030, bảo đảm tỷ lệ nước thải sinh hoạt tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I được thu gom, xử lý đạt khoảng 70%.

Kiểm soát chặt chẽ khí thải của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; hạn chế phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường không khí tại các đô thị lớn theo phân vùng môi trường; thực hiện lộ trình chuyển đổi xanh phù hợp trong hoạt động giao thông vận tải gắn với đầu tư hạ tầng và các cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội; có biện pháp loại bỏ phương tiện cơ giới không đủ tiêu chuẩn lưu hành gây ô nhiễm môi trường. Quản lý chặt chẽ chất thải phát sinh từ hoạt động giao thông, xây dựng, đặc biệt tại các đô thị và hoạt động đốt phụ phẩm nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2030, tại thành phố Hà Nội, nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm giảm khoảng 20% so với mức trung bình năm 2024, các thông số chất lượng không khí khác được duy trì, bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; tại các tỉnh, thành phố xung quanh khu vực thành phố Hà Nội (bao gồm: Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình), nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm giảm tối thiểu 10% so với mức trung bình năm 2024; tại Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị khác trên toàn quốc, chất lượng không khí được duy trì kiểm soát, không để gia tăng mức độ ô nhiễm.

c) Tăng cường hiệu quả quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại

Thực hiện các biện pháp thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững, giảm phát sinh chất thải; thực hiện nghiêm quy định về thu gom, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân phù hợp với điều kiện, hạ tầng kỹ thuật của từng địa phương; đẩy mạnh thu hồi chất thải có khả năng tái chế. Chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt tiên tiến, thân thiện với môi trường, ưu tiên tái chế, xử lý chất thải kết hợp thu hồi năng lượng thay cho chôn lấp. Tập trung cải tạo, nâng cấp và xử lý ô nhiễm môi trường tại các bãi chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh, các khu vực bị ô nhiễm do chất thải gây ra. Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt 95%, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom, xử lý đạt 85%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng hình thức chôn lấp trực tiếp so với lượng chất thải được thu gom giảm dưới 50%; giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải nhựa thông qua việc thu hồi trên 30% chất thải nhựa phát sinh thải ra môi trường.

Quy hoạch địa điểm lưu giữ, xử lý, chôn cất tập trung chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng. Quản lý chặt chẽ, tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp phải kiểm soát; chủ động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng công nghệ tái chế, xử lý pin, ắc quy xe điện, pin mặt trời và các loại chất thải phát sinh từ hoạt động chuyển đổi xanh; hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật để đẩy mạnh hoạt động tái sử dụng nước thải, tái chế, xử lý tro, xỉ, thạch cao, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Đẩy mạnh mô hình xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình tập trung hoặc theo cụm đối với chất thải y tế lây nhiễm; hạch toán và tính đúng, tính đủ các chi phí quản lý chất thải y tế vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định.

Tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu trong thu hồi, tái chế sản phẩm, bao bì thải bỏ; có cơ chế thúc đẩy hình thành các tổ chức trung gian tham gia việc thu gom, tái chế; xây dựng và nhân rộng các mô hình đặt cọc hoàn trả đối với sản phẩm, bao bì thải bỏ, đặc biệt tập trung đối với các loại chất thải nguy hại như pin, ắc quy thải, bao bì hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y...

Phát triển mạnh ngành công nghiệp tái chế, khuyến khích sử dụng, tiêu thụ các sản phẩm từ quá trình xử lý chất thải rắn để góp phần thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, hài hòa với tự nhiên và thân thiện với môi trường. Thúc đẩy các mô hình hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên minh tái chế, các mô hình liên kết vùng, liên kết đô thị với nông thôn và các mô hình khác nhằm phát triển kinh tế tuần hoàn.

Phát triển và nhân rộng mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh và nông nghiệp hữu cơ; chuyển đổi cách tiếp cận từ nông nghiệp nâu sang nông nghiệp xanh; thúc đẩy ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong chăn nuôi và xử lý chất thải. Rà soát các quy hoạch nuôi trồng thủy sản để bảo đảm gắn nuôi trồng, chế biến thủy sản với mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển du lịch ven biển.

d) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác ứng phó với biến đổi khí hậu

Nghiên cứu đề xuất và xây dựng Luật Biến đổi khí hậu nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về thích ứng với biến đổi khí hậu, trung hòa các-bon, bảo vệ tầng ô-dôn; tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất về thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải và tăng cường hấp thụ khí nhà kính trong các lĩnh vực của nền kinh tế, thúc đẩy các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia.

Rà soát, điều chỉnh các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hạ tầng theo hướng đa mục tiêu, tích hợp, thích ứng với biến đổi khí hậu trong các ngành kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực giao thông vận tải, điện lực và viễn thông.

Thực hiện phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các cơ sở phát thải khí nhà kính theo lĩnh vực quản lý; tổ chức vận hành thị trường các-bon trong nước đồng thời với việc triển khai thực hiện các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon.

đ) Nâng cao hiệu quả tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

Nâng cao vai trò của hoạt động kiểm toán môi trường nhằm phát hiện, cảnh báo kịp thời các hành vi vi phạm có tác động xấu đối với môi trường, góp phần phát triển bền vững. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường, tập trung đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề; nâng cao chế tài xử lý, bảo đảm tính răn đe, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện đông người, phức tạp về môi trường ngay từ cơ sở. Chú trọng thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường khi xảy ra sự cố gây ô nhiễm, suy thoái môi trường.

e) Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, giảm thiểu phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý rác thải; thực hiện công khai thông tin về môi trường nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng, người dân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, tổ chức xã hội vào công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; tiếp tục đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thay đổi hành vi, thói quen, lối sống và chủ động tham gia có trách nhiệm và thân thiện với môi trường; lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào các chương trình giáo dục môi trường bảo đảm thiết thực, trực quan trong các cấp học và hoạt động ngoại khóa để nâng cao nhận thức cho các thế hệ trẻ từ cấp mầm non trở lên.

Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, cộng đồng dân cư trong thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các vi phạm về môi trường. Phát hiện và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; gắn tiêu chí môi trường với các phong trào toàn dân bảo vệ môi trường.

g) Tăng cường nguồn lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

Nâng cao hiệu quả phân công, phối hợp giữa các Bộ, ngành, cơ quan ở trung ương và địa phương trong công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn, bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì xuyên suốt, tránh bỏ sót chức năng, nhiệm vụ và thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Trung ương và địa phương, giữa các cơ quan nhà nước cùng cấp trong công tác quản lý môi trường.

Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các lực lượng khác làm việc trong lĩnh vực môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã và các điều kiện bảo đảm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong giai đoạn hiện nay.

Hình thành, kiện toàn bộ phận tham mưu, bố trí cán bộ chuyên trách về bảo vệ môi trường tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ trong các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước và khuyến khích đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Xây dựng và triển khai các chương trình tín dụng xanh, ưu tiên đầu tư cho các dự án ứng dụng công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và xử lý ô nhiễm môi trường; hỗ trợ các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp nâng cao năng lực thẩm định, đánh giá rủi ro và hiệu quả môi trường của các dự án, chương trình đầu tư theo tiêu chí xanh.

Điều 3. Tổ chức thực hiện

1. Giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo tổ chức thực hiện, báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Nghị quyết này tại cùng kỳ họp với báo cáo công tác bảo vệ môi trường hằng năm; ban hành chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết, trong đó xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, lộ trình, tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ và bảo đảm kinh phí thực hiện; trước mắt, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đột phá và các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, hoàn thành đến hết năm 2026.

2. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra và báo cáo việc thực hiện Nghị quyết này theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức thực hiện, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2025.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Trần Thanh Mẫn

 

PHỤ LỤC

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG, BAN HÀNH MỚI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
(Kèm theo Nghị quyết số 247/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường)

TT

Tên văn bản sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới

Thời hạn thực hiện

2025-2026

2026-2031

1

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

X

 

2

Luật Biến đổi khí hậu và các văn bản quy định chi tiết thi hành.

 

X

3

Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về cảnh sát môi trường.

X

 

4

Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2025/NĐ-CP ngày 07 tháng 07 năm 2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

X

 

5

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cập nhật, điều chỉnh danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.

 

X

6

Sửa đổi, bổ sung các nghị định, thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường (liên quan đến các nghị định, thông tư như: Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2022, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022, Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2025; Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT ngày 07 tháng 01 năm 2022, Thông tư số 08/2025/TT-BNNMT ngày 17 tháng 6 năm 2025, Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022, Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT ngày 28 tháng 02 năm 2025…)

X

 

7

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái sử dụng nước thải làm nước tưới cây.

X

 

8

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia về bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt

X

 

 

THE NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
--------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
---------------

Resolution No.: 247/2025/QH15

Hanoi, December 10, 2025

 

RESOLUTION

ON CONTINUE TO IMPROVE THE EFFECTIVENESS AND EFFICIENCY OF IMPLEMENTATION OF POLICIES AND LAWS ON ENVIRONMENTAL PROTECTION

THE NATIONAL ASSEMBLY

Based on the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam amended by Resolution No. 203/2025/QH15;

Pursuant to the Law on supervisory activities of the National Assembly and People’s Councils No. 87/2015/QH13;

Pursuant to Resolution No. 130/2024/QH15 dated June 8, 2024, of the National Assembly on the National Assembly's supervision program for 2025 and Resolution No. 131/2024/QH15 dated June 21, 2024, of the National Assembly on the establishment of a thematic supervision team focused on “The implementation of policies and laws on environmental protection since the Law on Environmental Protection 2020 came into effect";

Considering Report No. 756/BC-DGS dated October 26, 2025, from the Monitoring Delegation on "The implementation of policies and laws on environmental protection since the Law on Environmental Protection 2020 came into effect" and the opinions of National Assembly deputies,

HEREBY RESOLVES:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The National Assembly basically approves the content of Report No. 756/BC-DGS dated October 26, 2025, of the National Assembly's Supervisory Delegation on the results of supervision of the implementation of policies and laws on environmental protection since the Law on Environmental Protection 2020 came into effect, with the following achievements, limitations, shortcomings, and main causes:

1. The issuance and implementation of policies and laws on environmental protection since the Law on Environmental Protection 2020 came into effect have achieved many positive and significant results, contributing to the successful attainment of socio-economic development objectives and targets, ensuring national defense, security, foreign affairs, social welfare, and international integration. Some notable achievements include: (a) The Government, the Prime Minister, ministries, and central and local authorities have issued over 500 guiding documents for the implementation of the Law on Environmental Protection, of which the Government, the Prime Minister, ministries, and central authorities have issued more than 30 documents. These have basically institutionalized and fully elaborated the CPV’s and the State’s policies on environmental protection and climate change response, firmly establishing the principle that economic and social development and environmental protection shall be the center for sustainable development with a strong shift towards environmental management mechanisms based on economic instruments with the participation of the entire society. The issuance of legislative documents has been carried out in serious manner, ensuring constitutionality, legality, consistency, synchronization, and feasibility of the legal system; (b) The state budget for environmental protection has received attention (in 2024, it reached 1,12% of total state budget expenditure). Environmental protection efforts have seen many positive changes, achieving and surpassing many important objectives and targets set out in the Resolution of the 13th National Party Congress, such as the rate of urban solid waste collection and treatment, the proportion of operating industrial parks and export processing zones with centralized wastewater treatment systems, and forest coverage rates. Vietnam’s sustainable development index has increased, placing the country among the leaders in ASEAN (b) The state budget for environmental protection has received attention (in 2024, it reached 1,12% of total state budget expenditure). Environmental protection efforts have seen many positive changes, achieving and surpassing many important objectives and targets set out in the Resolution of the 13th National Party Congress, such as the rate of urban solid waste collection and treatment, the proportion of operating industrial parks and export processing zones with centralized wastewater treatment systems, and forest coverage rates. Vietnam’s sustainable development index has increased, placing the country among the leaders in ASEAN; (c) Major pollution sources have been proactively and tightly controlled, preventing significant environmental incidents. Numerous urban, rural, industrial park, industrial cluster, craft village, and eco-friendly production models have emerged; (d) Waste management has made considerable progress, with the collection and treatment rates of domestic solid waste gradually increasing over the years, reaching 97,28% in urban areas and 80,5% in rural areas, alongside a reduction in landfill disposal. Recycling, reuse, and resource recovery from waste have been intensified through methods such as co-processing waste in cement kilns, utilizing surplus heat from waste incineration, and cement production for electricity generation. The accumulation of fly ash, slag, and gypsum generated by thermal power plants, fertilizer, and chemical factories has been significantly reduced by promoting recycling and reuse as production materials; (dd) The rate of environmental pollution and degradation has been curbed, and environmental quality has gradually improved, especially soil quality, surface water in some major river basins, coastal seawater, and groundwater; (e) Climate change response efforts have made positive progress; the resilience and adaptive capacity of natural, economic, and social systems have been improved, initiating sustainable livelihoods. Greenhouse gas inventories at enterprises have been implemented; the green transition in various sectors, aiming for net-zero emissions by 2050, has been strongly promoted. The legal framework for developing the carbon market in Vietnam has been and continues to be established; (g) Sustainable economic growth models such as the green economy, circular economy, sharing economy, and digital economy are being promoted; many advanced technologies for recycling and waste treatment have been applied, scaled up, and disseminated widely.

2. In addition to the achieved results, there remain some limitations and inadequacies in the elaboration and implementation of the Law on Environmental Protection. To be specific: (a) Environmental pollution still occurs in some areas, sometimes at a severe level, particularly air pollution caused by fine particulate matter (PM2.5) in major cities such as Hanoi and Ho Chi Minh City. The environmental quality of certain river sections concentrated in densely populated areas, production, business, service establishments, and craft villages in the Cau River basin, the Nhue-Day River basin, and the Bac Hung Hai irrigation system shows slow improvement; (b) Technical infrastructure for environmental protection, especially in the collection and treatment of domestic solid waste and wastewater, remains insufficient and outdated, failing to meet requirements (Currently, the proportion of industrial clusters and craft villages with wastewater treatment systems meeting standards remains low – 31,5% and 16,6%, respectively); only about 18% of total urban wastewater is collected and treated. Although the rate of direct landfill disposal of domestic solid waste has decreased, it still accounts for a high proportion (58,85%). Among 435 seriously polluting facilities, 38 have not completed thorough remediation, mainly landfill sites; (c) The recycling and reuse of wastewater and certain types of industrial solid waste remain limited. Some hazardous waste generated from households has not been separately collected and treated but is mixed with domestic solid waste. In some localities, health facilities face difficulties in collecting, transporting, and treating hazardous medical waste. Illegal imports of outdated technology have not been strictly controlled or completely stopped; (d) Some policy objectives of the Law on Environmental Protection reflected in related laws have not reached the desired effectiveness, such as:; the objective to promote behavioral change and consumption habits through environmental taxes and fees legislation; the objective to improve the efficiency of operations of the Vietnam Environment Protection Fund to promote environmental projects via state budget laws; the objective to improve the quality of consulting services for preparation of environment dossiers  through regulations on business conditions in investment laws; (dd) there are still many complaints, denunciations, environmental crimes, and violations of environmental protection laws still occur in some localities, with some cases developing in a complicated manner, causing social disorder and insecurity.

3. The aforementioned limitations and inadequacies arise from multiple causes. Objective causes include: (a) Negative impacts of the COVID-19 pandemic and economic fluctuations; (b) Rapid population growth and urbanization processes; (c) Complex and extreme developments of climate change and natural disasters; (d) Impacts from integration, globalization, and transboundary environmental issues; (e) Low technological mastery; (dd) The carbon credit exchange and offset mechanism is still new, causing difficulties in building and perfecting domestic regulations.

However, subjective factors remain the primary cause. To be specific: (a) awareness and sense of responsibility regarding the importance of environmental protection for sustainable development among some Executive Committees of CPV Committees, authorities, corporations, enterprises, and people are still insufficient. In some places and times, economic growth and investment attraction have been prioritized over environmental protection. Some enterprises regard environmental protection as an additional cost. The formulation and issuance of local environmental technical standards have not received adequate attention; (b) Some regulations are not synchronized between the Law on Environmental Protection 2020 and other related laws; the issuance and implementation of new policies on classification, collection, and treatment of domestic solid waste have been untimely; some economic-technical norms and prices have not created sufficient incentives to promote socialized investment in environmental protection and climate change response, while allocation of state budget resources has not been properly prioritized nor commensurate with revenues from environmental taxes and fees; the principle of “Those who cause pollution, environmental incidents, and environmental degradation must pay for, compensate for, and remedy the damage” has not been thoroughly applied; some standards, technical regulations, and guidelines on wastewater reuse and industrial solid waste have not kept pace with circular economy development and rapid scientific and technological progress; implementation of mechanism of extended liability for manufacturers and importers in recycling and waste treatment is still facing difficulties due to the lack of synchronized collection and recycling infrastructure; the roadmap for transitioning fossil-fuel-powered vehicles has been slow; (c) The environmental technology market and environmental industry have shown slow progression; outdated production technologies have been slow to innovate and replace; (d) Dissemination, popularization and education of law have not received adequate attention, lacking innovation and diversification; (dd) Assignment, delegation of power, and cooperation among agencies have at times been ineffective and weak; capacity and infrastructure remain limited; the professionalism and modernization of environmental protection and climate change response staff at grassroots levels are insufficient; (e) Inspection, examination, and penalty imposition have not met the requirements, with penalties for some environmental offenses being low and lacking deterrence; (g) The participation of communities, citizens, the Fatherland Front, mass organizations, and relevant stakeholders in environmental protection activities is still weak and insufficient.

4.

However, there are still limitations and inadequacies in the guidance and implementation of the Law on Environmental Protection as mentioned above. Some ministries, central and local authorities have been slow or have not fully issued certain regulations; resources have not been adequately allocated to address environmental issues within their management scope, especially in investment for infrastructure for collecting and treating domestic wastewater, wastewater from craft villages, wastewater from industrial clusters, and domestic solid waste. In some cases, the Government, Prime Minister, ministries, and local authorities responsible for directing, organizing, and implementing have been insufficiently resolute and have not thoroughly handled environmental issues or resolved arising difficulties. The National Assembly, the Standing Committee of the National Assembly, the National Assembly's agencies, the National Assembly delegations, and the People's Councils at all levels shall bear some responsibility in supervision and making petitions, but have not regularly or thoroughly supervised the implementation of petitions in environmental protection.

Article 2. Tasks and solutions

To promote the achievements gained, overcome existing limitations and inadequacies, and promptly adapt to the new context, the National Assembly requests the Government and the Prime Minister to direct ministries, central and local authorities, within their jurisdiction, to study and implement the petition of the Supervisory Delegation in Report No. 756/BC-DGS dated October 26, 2025, and focus on the following tasks and solutions

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Innovate thinking and perfect institutions and policies on environmental protection with decisive, effective, and efficient execution

Continue to deeply internalize the viewpoint of making socio-economic development and environmental protection the center of the thinking, vision, and orientation of sustainable national development; unify in understanding and action that spending on the environment is an investment in development, ensuring environmental security; eliminate the view that "environmental protection will hinder economic growth"; Continue to improve the group of environmental targets, focusing on mechanisms for assigning specific performance targets to administrative divisions linked to mechanisms for assessing the responsibility of the head of the administrative division; add targets on low-carbon growth to the national development target system and in the five-year and annual socio-economic development plans in accordance with the development requirements of each stage.

Promptly institutionalize the CPV’s viewpoints and guidelines; summarize, assess, and propose improvements to the environmental protection legal system suitable to practical requirements (details in the attached appendix).

Promote the circular economy model, regarding waste as a resource managed via digital environmental platforms; implement green transition through incentive policies and mechanisms for research and development of environmentally friendly technologies, environmental industry, environmental services, green procurement, and renewable energy; proactively build legislation to promote green and circular economies.

Economize the environment that involves establishing mechanisms for pricing resources, paying for ecosystem services, and improving the effectiveness of environmental taxes, fees, and emission quotas; thoroughly applying the principle "Those who benefit from the environment have an obligation to contribute financially to environmental protection; those who cause pollution, incidents, and environmental degradation must pay for, compensate for, and remedy the damage."

Continue to strengthen the shift from prior administrative approval (prevention) to post-inspection management, linked with developing standards and regulations for management and intensification of inspection and supervision; reform and simplify administrative procedures; strongly delegate and devolve power for local governments under the principle "local decision, local action, local responsibility”.

b) Strengthen and diversify resources for environmental protection

Focus on investing in environmental protection and climate change adaptation infrastructure. Prioritize budgetary and socialized resources for environmental protection and climate response to invest in key, synchronized infrastructure such as: urban wastewater collection and treatment systems; systems of waste collection, transportation, and treatment suited to each waste type, recycling plants, organic and hazardous waste treatment facilities; environmental improvement and restoration of river basins; climate change adaptation; Support for green transition activities, greenhouse gas emission reduction, and carbon market operation; development of renewable energy sources, new zero-emission technologies, energy storage, and carbon capture and use through flexible financial mechanisms (such as public investment or public-private partnership investment,...); formulate special mechanisms and policies for investing in domestic solid waste treatment.

Allocate a correct, sufficient budget and manage the budget effectively with gradual increases in spending on environmental protection in line with economic growth, ensuring that from 2027 the proportion of the state budget for environmental protection increases from the proportion of 2025; reasonably delegate the power for local governments to make decisions on the allocation of resources for environmental protection.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Diversify domestic and international carbon credit supply, prioritizing domestic market development. Encourage projects generating carbon credits in renewable energy, forestry, low-carbon agriculture, waste treatment, green industry, green transport, and carbon capture/storage technologies. Promote public-private partnership investment and develop cooperative investment models for climate adaptation activities.

Actively and proactively participate in negotiations, conclusion, and implementation of international agreements; take advantage of international support in knowledge, finance, and technology in line with national interests, and intensify international integration in science, technology, and innovation in environmental protection and climate change adaptation.

Encourage voluntary movements and exemplary models in environmental protection by enterprises, organizations, individuals, and local communities. implement mechanisms to encourage participation of communities, citizens, the Fatherland Front, mass organizations, and stakeholders in environmental protection, ensuring simplicity, effectiveness, practicality, and high dissemination; foster environmental habits and culture in society.

Focus on training, refresher training, and developing high-quality human resources for environmental protection and climate response, prioritizing key fields such as recycling technology, waste treatment, circular economy; digital transformation application in environmental protection; managing and operating the domestic carbon market; greenhouse gas inventory and reduction; climate adaptation solutions; environmental impact prevention and reduction; environmental monitoring and warning. Promote strong linkage between state regulatory authority, research institutes, universities, and enterprises to form a training – research – application ecosystem in environmental protection and climate response. Implement solutions and incentive mechanisms to attract high-quality human resources to participate in state management of environmental protection and climate response.

c) Develop science, technology, innovation, and digital transformation in environmental protection and climate change response

Promote the application of information technology and developing digital government, digital economy, digital society, and digital citizens in environmental protection and climate change response, especially in waste management, emission control, streamlining administrative procedures, providing online public services regardless of administrative boundaries, and electronic licensing. Initially, focus on building a unified and interconnected data platform and digital infrastructure from the central to local levels; promote the application and integration of digital technologies and artificial intelligence in providing information and online interaction on the environment; and develop digital tools and technical guidelines for pollution control and waste management.

Intensify research, development, and application of strategic technologies in environmental protection and climate change adaptation, focusing on: supervision, assessment, analysis, and warning about the environment; recycling and waste treatment; environmental renovation and remediation, and ecosystem conservation; development of clean energy and carbon emissions reduction. Develop a robust market for environmental industrial goods, and enhance the quality and competitiveness of domestically manufactured environmental industrial goods.

Establish a domestic carbon trading platform; operate the National registration system for greenhouse gas emission quotas and carbon credits; and set up an online greenhouse gas inventory reporting system for businesses.

Build and scale up solutions and models for smart ecological cities, smart traffic, and smart energy management.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Intensify the attraction of large enterprises to invest in Vietnam, thereby boosting technology transfer activities, acquiring and mastering core technologies and source technologies related to environmental protection and green transformation.

2. Key tasks and solutions to be completed by the end of 2026

a) Review, assess the implementation, and propose amendments to the Law on Environmental Protection 2020 and submit them to the National Assembly for review and approval at the beginning of the 16th National Assembly. In 2025, consider promptly amending certain provisions of the Law to help unlock resources, promote socio-economic development, and implement the two-tier local government model; simultaneously amend regulations on the roadmap and timeline for applying policies on household and individual domestic solid waste classification to suit practical requirements.

In 2026, review, amend relevant laws related to environmental protection taxes and fees. Continue to review and amend relevant laws in subsequent years to ensure the effective implementation of environmental protection policy.

Continue to review and amend regulations and guidelines for measurement, reporting, verification of greenhouse gas emission reductions, and greenhouse gas inventories for sectors and fields applicable to facilities and enterprises; review and update greenhouse gas emission reduction plans for each sector consistent with the Nationally Determined Contributions (NDC) for the 2026–2035 period.

b) Organize reviews, assessments, updates, and adjustments, where necessary, to strategies, planning, and plans related to environmental protection and climate change response to meet the requirements of “expanding and creating new development spaces,” with a focus on assessing and forecasting the impacts of climate change, saline intrusion, and natural disasters, especially in sensitive areas such as major cities (Hanoi, Ho Chi Minh City, Hai Phong, Da Nang, etc.), the Mekong Delta, and coastal regions; pursue double-digit economic growth based on the consistent principle of not sacrificing the environment for mere economic development and respecting natural laws.

c) Issue and effectively implement the National Action Plan on Pollution Remediation and Air Quality Management for the 2025–2030 period, with a vision to 2045; simultaneously implement urgent measures to control, prevent, remediate, and improve air pollution in Hanoi and Ho Chi Minh City. Complete the assessment of load capacity and announce water quality management plans for several important interprovincial river basins that play a key role in socio-economic development; improve the environmental quality of severely polluted sections of rivers such as Ngu Huyen Khe, To Lich, and the Bac Hung Hai irrigation system.

d) Urgently complete and put into operation the national environmental information system and database, ensuring integration, connectivity, and interoperability with the national database system, and real-time data sharing; integrate it with geographic information systems to develop environmental quality maps, publicly announce them to the community, and implement them in several major cities (Hanoi, Ho Chi Minh City, etc.).

dd) Establish and operate the domestic carbon trading platform; complete legal regulations on the international exchange of greenhouse gas emission reduction results and carbon credits as a basis for cooperation in exchanging greenhouse gas emission reduction results and carbon credits with international partners; provide for the minimum proportion of greenhouse gas emission reduction results and carbon credits to be retained to achieve the emission reduction targets in the Nationally Determined Contributions when exchanging and transferring internationally, suitable for each stage and actual conditions, ensuring national interests.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Early prevention, control, and mitigation of pollution risks and environmental incidents; early forecasting of climate change impacts

Enhance capacity for environmental monitoring, forecasting, and early warning of climate change impacts to proactively prevent, control, and remediate pollution; improve environmental quality; protect environmentally sensitive areas; and limit negative impacts on the environment and human health; control greenhouse gas emissions and promptly provide data for policymaking.

Strictly control environmental and climate change response requirements for investment projects starting from project approval through environmental impact assessment and environmental licensing; improve the quality of technology appraisal and assessment to effectively prevent import of outdated, polluting technologies into Vietnam; improve the quality of strict supervision and prevention for facilities with high pollution and environmental incident risks; assess, prevent, and respond to environmental incidents at atomic energy and nuclear facilities.

Proactively relocate polluting production facilities in industrial clusters and craft villages, especially those mixed with residential areas, to locations with appropriate planning.

Fulfill greenhouse gas emission reduction commitments of sectors/fields according to the Nationally Determined Contributions (NDC); review and propose commitments for the post-2035 period. Develop an online greenhouse gas inventory reporting system for timely and effective aggregation, analysis, and reporting. Improve the online supervision and assessment system for climate change adaptation activities.

b) Remediation and improvement of environmental quality with clear target and focus

Intensify investigation, assessment, classification, planning, and implementation of remediation and restoration of severely polluted land areas, focusing on unsanitary waste landfills, land polluted by persistent pesticides, chemical toxins, and war-related residual chemicals. Resolve pollution caused by severely polluting facilities and craft villages.

Effectively implement water quality management plans for important interprovincial river basins with significant socio-economic roles; focus on remediation and improvement of polluted river sections (e.g., Cau River, Nhue - Day River, Dong Nai River, Vu Gia - Thu Bon River, and some rivers in major cities), creating a clear and tangible transformation in improving the water quality of these river basins.. Intensify collection and treatment of domestic wastewater in urban areas, aiming by 2030 to collect and treat about 70% of domestic wastewater in special and class I cities.

Strictly control emissions from road motor vehicles; limit environmentally polluting vehicles in large cities based on environmental zoning; implement suitable green transition roadmaps in transportation linked with infrastructure investment and mechanisms and policies to support the people to gain social consensus; and take measures to eliminate unqualified motor vehicles that cause pollution. Strictly manage waste generated from transportation, construction—especially in urban areas—and agricultural by-product burning. Aim by 2030 to reduce average annual PM2.5 concentration in Hanoi by about 20% compared to 2024 levels while maintaining other air quality parameters to meet national environmental technical standards; reduce PM2.5 by at least 10% in neighboring provinces of Hanoi (Thai Nguyen, Phu Tho, Bac Ninh, Hung Yen, Hai Phong, Ninh Binh); maintain controlled air quality in Ho Chi Minh City and other urban areas nationwide, preventing pollution increases.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Implement measures to promote sustainable production and consumption, reduce waste generation; strictly enforce domestic solid waste collection and classification regulations suitable to local conditions and infrastructure; boost recovery of recyclable waste. Transition to advanced, environmentally friendly domestic solid waste treatment technologies prioritizing recycling and waste-to-energy treatment instead of land filling. Focus on upgrading and remediating pollution at unsanitary landfills and contaminated areas. By 2030, aim to achieve a 95% collection and treatment rate for urban domestic solid waste and an 85% collection and treatment rate for rural domestic solid waste; reduce the percentage of household solid waste treated by direct land filling compared to the amount of collected waste to below 50%; and minimize environmental pollution from plastic waste by recovering over 30% of generated plastic waste released into the environment.

Plan sites for centralized storage, treatment, and disposal of radioactive waste, radioactive sources, and spent nuclear fuel. Strictly manage and increase recycling and reuse of industrial solid waste, especially hazardous and controlled industrial waste; proactively research, transfer, and apply recycling technologies for electric vehicle batteries, solar panels, and other waste arising from green transition activities; complete standards, regulations, and technical guidelines to promote wastewater reuse, recycling, and treatment of ash, slag, gypsum, contributing to circular economy development.

Promote hazardous medical waste treatment by centralized or cluster models, especially infectious medical waste; accurately and fully account for medical waste management costs in healthcare service fees as prescribed.

Strictly execute regulations on the responsibilities of manufacturers and importers in the product and packaging waste collection and recycling; establish mechanisms to promote the formation of intermediary organizations involved in collection and recycling; develop and expand models of deposit-return arrangements for products and packaging waste, focusing on hazardous waste such as batteries, accumulators, pesticide packaging, and veterinary medicine packaging.

Strongly develop the recycling industry; encourage the use and consumption of products from solid waste treatment to foster a green, circular, low-carbon economy, harmonized with nature and environmentally friendly. Promote models of cooperation, cooperatives, cooperative unions, recycling alliances, regional and urban-rural connection, and other models to develop the circular economy.

Develop and expand models for ecological, green, and organic agriculture; shift from brown to green agriculture; promote application of technical and technological advances in animal husbandry and waste treatment; review aquaculture planning to ensure connection between aquaculture and seafood processing and environmental protection and coastal tourism development.

d) Improve effectiveness of climate change response management

Research, propose, and develop a Climate Change Law to fully institutionalize the Party’s guidelines on climate adaptation, carbon neutrality, and ozone layer protection; establish a unified legal framework for climate adaptation, emission reduction, and greenhouse gas absorption across economic sectors; encourage organizations, enterprises, and individuals to participate.

Review and adjust national infrastructure technical standards and regulations towards multi-objective integration and climate adaptation across economic sectors, especially transportation, electricity, and telecommunications.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



dd) Enhancement of compliance with environmental protection laws

Promote the role of environmental auditing activities to detect and promptly warn against violations that negatively affect the environment, thereby contributing to sustainable development. Intensify inspection, supervision, and the combat against environmental crimes and violations against environmental laws, focusing on industrial parks, industrial clusters, and craft villages; increase penalties to ensure deterrence and prevent violations against environmental protection laws; and focus on resolving complex and large-scale environmental complaints at the grassroots level. Emphasize the right to initiate civil lawsuits seeking compensation for environmental damage caused by incidents.

e) Improvement of effectiveness of environmental protection and climate change communication, dissemination, and education

Launch nationwide movements encouraging public participation in environmental protection, waste reduction, classification, collection, and treatment; publicly disclose environmental information to enable community and citizen involvement; mobilize political systems and social organizations in environmental protection and climate response; diversify communication and educational materials to raise awareness and responsibility, change behaviors and lifestyles, and encourage active, responsible, and environmentally friendly participation; integrate environmental protection content into practical, visual environmental education programs across all education levels and extracurricular activities to raise awareness from preschool upwards.

Promote the supervisory and social criticism role of the Vietnam Fatherland Front, member organizations, and local communities in implementing environmental policies and laws; promptly detect and propose penalties for environmental violations; Identify and expand exemplary models in environmental protection and climate response; link environmental criteria with mass movements for environmental protection.

g) Increase in resources and improvement of effectiveness of state management in environmental protection

Improve the efficiency of assignment and cooperation among ministries, agencies, and organizations at the central and local levels in environmental protection and climate change response; clearly define responsibilities and powers, ensuring the principle that one task is assigned to only one agency throughout the entire process, avoiding neglecting functions and tasks, and establishing an effective cooperation mechanism between the central and local levels, and between state agencies at the same level in environmental management.

Strengthen the organizational structure of state management in environmental protection and climate change response according to the two-level local government model, coupled with training, refresher training, and improvement of the capacity of cadres, civil servants, and other forces working in the field of environment and climate change response, especially cadres, civil servants, and public employees at the commune level, and ensuring the conditions to meet the requirements of promoting delegation and devolution of power in the current period.

Establish and strengthen advisory divisions and assign full-time environmental protection cadres commensurate with the task requirements in state-owned corporations and enterprises, and encourage this in non-state enterprises.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 3. Implementation

1. The Government and the Prime Minister, within their jurisdiction, are assigned to direct the organization and implementation of this Resolution; report the implementation results to the National Assembly at the same session as the annual environmental protection report; issue programs and plans for executing the Resolution, clearly specifying the leading agencies, coordinating agencies, timelines, and progress for completing each task, and ensuring the funding for implementation; initially, focus on leading and directing the breakthrough tasks and solutions as well as urgent tasks and solutions to be completed by the end of 2026.

2. Ministries, ministerial agencies, government agencies, the Supreme People’s Court, the Supreme People’s Procuracy, the State Audit Office, and the People’s Committees of provinces/cities shall, within their jurisdiction, direct the organization, implementation, inspection, and reporting on the execution of this Resolution in accordance with the provisions of the Law on Supervision Activities of the National Assembly and the People’s Councils.

3. The Standing Committee of the National Assembly, the Ethnic Council, the National Assembly’s Committees, the National Assembly Delegations, the National Assembly deputies, the People's Councils at all levels, and the Vietnam Fatherland Front, within their jurisdiction, shall organize the implementation and supervise the execution of this Resolution.

This Resolution was ratified in the10th National Assembly’s session by the 15th National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam on December 10, 2025.

 

 

PRESIDENT OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Tran Thanh Man

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Nghị quyết 247/2025/QH15 ngày 10/12/2025 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường do Quốc hội ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

2.480

DMCA.com Protection Status
IP: 216.73.216.146