Kính gửi: Các
doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk
Thời gian qua, Thuế tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện tuyên
truyền, phổ biến nhiều chính sách thuế mới đến người nộp thuế, từ đó góp phần
nâng cao ý thức tự giác, tuân thủ và chấp hành việc kê khai thuế của người nộp
thuế. Tuy nhiên, qua công tác quản lý thuế cơ quan thuế nhận thấy vẫn còn một số
doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý thực hiện kê khai
thuế chưa đúng quy định; trong giao dịch mua bán vẫn còn trường hợp cố tình chỉ
thanh toán bằng tiền mặt không nhận thanh toán điện tử hoặc thanh toán điện tử
không qua tài khoản của doanh nghiệp để che dấu doanh thu, không kê khai thuế
nhằm trốn thuế, gian lận thuế gây thất thu ngân sách nhà nước.
Để người nộp thuế tiếp tục nắm bắt kịp thời, chấp
hành đúng các quy định bắt buộc về pháp luật thuế liên quan đến hoạt động kinh
doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý; lợi ích được hướng khi thanh toán không dùng
tiền mặt và chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật
về thuế, về hóa đơn. Thuế tỉnh Đắk Lắk tuyên truyền, hướng dẫn đến người nộp
thuế các nội dung cụ thể như sau:
1. Phương pháp tính thuế GTGT
áp dụng đối với hoạt động kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý
Doanh nghiệp kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý
phải thực hiện kê khai thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị
gia tăng, quy định tại Điều 22 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/07/2025 của
Chính phủ, cụ thể:
- Số thuế GTGT phải nộp xác định như sau:
|
Số thuế GTGT phải
nộp
|
=
|
Giá trị gia tăng của
hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý
|
x
|
Thuế suất
|
Trong đó:
+ Giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác
vàng, bạc, đá quý = giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ (-) giá thanh
toán mua vào tương ứng, cụ thể:
(1) Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra là
giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán vàng, bạc, đá quý, bao gồm cả tiền công chế
tác (nếu có), thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên
bán được hưởng.
(2) Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào được
xác định bằng giá trị vàng, bạc, đá quý mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế giá
trị gia tăng dùng cho mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý bán ra tương ứng.
+ Thuế suất thuế GTGT: 10%.
- Người nộp thuế lưu ý trường hợp cơ sở kinh doanh
có nhiều hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc,
đá quý thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo
phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.
- Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị
gia tăng âm (-) của vàng, bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng
dương (+) của vàng, bạc, đá quý. Trường hợp không phát sinh giá trị gia tăng
dương (+) hoặc giá trị gia tăng dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm
(-) thì được kết chuyển để trừ vào giá trị gia tăng của kỳ sau trong năm. Kết
thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-) không được kết chuyển tiếp sang
năm sau.
2. Chính sách thuế TNDN được hưởng
khi thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào
Tại khoản 1 Điều 9 Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15
ngày 14/6/2025 của Quốc hội quy định về các khoản chi được trừ nếu đáp ứng đủ
các điều kiện:
“1. Trừ các khoản chi quy định tại khoản 2 Điều
này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu
đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được
trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế
liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp:
….
c) Các khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ thanh
toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp đặc
thù theo quy định của Chính phủ.”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp
kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý kê khai thuế theo phương pháp Doanh thu -
Chi phí, khi mua hàng hóa, dịch vụ thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt thì
khoản chi này là một trong những điều kiện được trừ khi tính thuế TNDN khi có đầy
đủ hóa đơn chứng từ và có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định
của pháp luật (mức giới hạn do Chính phủ quy định).
3. Quy định về hóa đơn điện tử
áp dụng đối với hoạt động kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý
- Tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP
ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định đối tượng áp dụng hóa đơn điện tử
"Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch
vụ bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo
pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam;
b) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
c) Hộ, cá nhân kinh doanh, tổ hợp tác;
d) Đơn vị sự nghiệp công lập có bán hàng hóa,
cung cấp dịch vụ;
đ) Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có
hoạt động kinh doanh.”
- Tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 11 Nghị định số
123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ (đã được
sửa đổi bổ sung tại khoản 6, khoản 8 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày
20/3/2025 của Chính phủ).
"Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định về
hóa đơn, chứng từ
…
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, điểm a, điểm
e, điểm l, điểm m, điểm n khoản 4 Điều 9 và bổ sung điểm p, điểm q, điểm r vào
khoản 4 Điều 9 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 như sau:
"1. Thời điểm lập hóa đơn đối với bán
hàng hóa (bao gồm cả bán, chuyển nhượng tài sản công và bán hàng dự trữ quốc
gia là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng, hóa cho người
mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
…
8. Sửa đổi tên Điều 11 và sửa đổi, bổ sung Điều
11 như sau:
Điều 11. Hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền
1. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định
tại khoản 1 Điều 51 có mức doanh thu hằng năm từ 01 tỷ đồng trở lên, khoản 2 Điều
90, khoản 3 Điều 91 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và doanh nghiệp có hoạt động
hán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, trong đó có bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trực
tiếp đến người tiêu dùng (trung tâm thương mại; siêu thị; bán lẻ (trừ ô tô, mô
tô, xe máy và xe có động cơ khác); ăn uống; nhà hàng; khách sạn; dịch vụ vận tải
hành khách, dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường bộ, dịch vụ nghệ thuật,
vui chơi, giải trí, hoạt động chiếu phim, dịch vụ phục vụ cá nhân khác theo quy
định về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam) sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ
máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.”
Căn cứ quy định nêu trên, doanh nghiệp, tổ chức
kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá quý ngoài việc thực hiện áp dụng hóa đơn điện
tử, phải thực hiện áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối dữ
liệu điện tử với cơ quan thuế. Thời điểm lập hóa đơn đối với bán hàng hóa là thời
điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không
phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
4. Các hành vi vi phạm về thuế,
về hóa đơn và chế tài xử lý các hành vi vi phạm
- Trường hợp doanh nghiệp đã thực hiện bán hàng
hóa, chuyển giao chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa nhưng lập
hóa đơn sau thời điểm trên là hành vi lập không đúng thời điểm, mức xử phạt như
sau:
+ Xử phạt đối với hành vi lập hóa đơn không đúng thời
điểm nhưng không dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định tại khoản 3
Điều 24 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, cụ thể: Phạt
tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng.
+ Xử phạt đối với hành vi lập hóa đơn không đúng thời
điểm dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều
24 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, cụ thể: Phạt
tiền từ 4 triệu đồng đến 8 triệu đồng.
- Trường hợp NNT kê khai thuế đối hàng hóa, dịch vụ
mua vào nhưng không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định
(thuế TNDN: mức giới hạn do Chính phủ quy định) thì xử phạt như sau:
+ Xử phạt đối với hành vi khai hồ sơ thuế nhưng
không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp quy định tại Điều 13 Nghị định số
125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, phạt tiền từ 05 triệu đồng
đến 8 triệu đồng.
+ Xử phạt đối với hành vi kê khai dẫn đến thiếu số
thuế phải nội theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020
của Chính phủ. Phạt tiền 20% trên số tiền thuế khai thiếu, đồng
thời người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp tương ứng theo quy định của Luật Quản
lý thuế.
- Trường hợp cố tình thanh toán bằng tiền mặt,
không nhận thanh toán bằng hình thức chuyển khoản hoặc thanh toán điện tử không
qua tài khoản của doanh nghiệp để cố tình che dấu doanh thu, không kê khai thuế,
không lập hóa đơn để nhằm mục đích trốn thuế. Mức xử phạt như sau:
+ Xử phạt đối với hành vi trốn thuế quy định tại Điều
17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ. Tùy theo mức độ
vi phạm sẽ bị xử phạt từ 01 lần đến 03 lần trên số tiền thuế trốn, NNT
còn phải nộp đủ số tiền thuế đã trốn vào NSNN.
+ Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán
hàng hóa, cung cấp dịch vụ không lập hóa đơn theo quy định tại Điều 24 Nghị định
số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, cụ thể: Phạt tiền từ 10
triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với tổ chức, doanh nghiệp.
- Trường hợp hành vi trốn thuế có tính chất nghiêm
trọng hoặc có dấu hiệu phạm tội, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật về hình sự.
Trên đây là nội dung tuyên truyền, phổ biến chính
sách về thuế, các chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp
luật về thuế, về hóa đơn đối với doanh nghiệp kinh doanh, chế tác vàng, bạc, đá
quý. Thuế tỉnh Đắk Lắk gửi Công văn này đến các doanh nghiệp, tổ chức kinh
doanh vàng, bạc, đá quý trên địa bàn để các đơn vị nghiên cứu, thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Báo và PTHT Đắk Lắk (để p/h đưa tin);
- Lãnh đạo Thuế tỉnh;
- Văn phòng, các Phòng thuộc Thuế tỉnh;
- Các Thuế cơ sở thuộc Thuế tỉnh;
- Website, Zalo Thuế tỉnh;
- Lưu: VT, NVDTPC (02b)
|
TRƯỞNG THUẾ TỈNH
Nguyễn Anh Tuấn
|