|
ỦY
BAN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
1396/QĐ-UBND
|
Phú
Thọ, ngày 06 tháng 5 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT FDI THẾ HỆ MỚI TỈNH PHÚ
THỌ GIAI ĐOẠN 2026-2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa
phương ban hành ngày 16/6/2025;
Căn cứ Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày
22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc
gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày
20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng
cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày
24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết
số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục phát triển kinh tế tư nhân
trong giai đoạn mới;
Căn cứ Chương trình hành động số
01-CTr/TU ngày 31/10/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030;
Căn cứ Nghị quyết số 53/NQ-HĐND ngày
10/12/2025 của HĐND tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
2026-2030; Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 29/12/2025 về thực hiện mục
tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh,
bền vững đến năm 2045;
Căn cứ Kết luận số 199-KL/TU ngày
13/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Hội nghị ngày 13/3/2026;
Nghị quyết số 26-NQ/TU ngày
11/4/2026 của Tỉnh ủy về Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm
kỳ 2025-2030;
Xét đề nghị của Sở Tài chính tại Tờ
trình số 203/TTr-STC ngày 29/4/2026 về việc đề nghị phê duyệt Định hướng thu hút dòng vốn
đầu tư nước ngoài thế hệ mới giai đoạn 2026-2030,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án Định hướng thu hút
dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới giai đoạn 2026-2030 với các nội dung chủ
yếu sau:
I. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng
của Đề án
1. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2030,
Phú Thọ trở thành trung tâm tiếp nhận FDI công nghệ cao, công nghiệp xanh và
dịch vụ công nghệ của vùng Tây Bắc và vành đai phía Tây thủ đô, tham gia ngày
càng sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao của chuỗi giá trị toàn cầu, tạo
lan tỏa mạnh mẽ về công nghệ, nhân lực kỹ thuật và phát triển doanh nghiệp nội
địa.
b) Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026 -
2030:
- Thu hút từ 7 - 8 tỷ USD vốn FDI
mới trong giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có 60 - 70% thuộc nhóm FDI thế hệ mới
(công nghệ cao, có hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo, xanh, bền vững).
- Tỷ trọng vốn FDI thực hiện đạt
trên 80% tổng vốn đăng ký.
- Phấn đấu 80% dự án FDI mới thuộc
các ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, ô
tô, xe máy điện cơ khí chính xác, thiết bị y tế, năng lượng tái tạo, vật liệu
mới, công nghiệp hỗ trợ.
- Hình thành ít nhất 01 khu công
nghiệp công nghệ cao; 03 khu công nghiệp hỗ trợ; 03 khu công nghiệp chuyên đề và
01 trung tâm đổi mới sáng tạo vùng; Tỷ lệ khu công nghiệp có hạ tầng số, hạ
tầng xử lý môi trường đạt 100%; Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong khu công
nghiệp đạt tối thiểu 50%.
- Có ít nhất 100 doanh nghiệp nội
địa tham gia chuỗi cung ứng FDI, trong đó có 20 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn nhà
cung ứng cấp 1.
- Đào tạo ít nhất 20.000 lao động kỹ
thuật cao đáp ứng yêu cầu của FDI và DDI nhóm các ngành công nghiệp công nghệ
cao.
2. Phạm vi của Đề án
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2026
- 2030, có định hướng tầm nhìn đến năm 2050 để bảo đảm tính kế thừa và liên
thông trong quy hoạch phát triển.
3. Đối tượng của Đề án
- Các ngành, lĩnh vực tiềm năng thu
hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các ngành có đặc điểm của thế hệ mới.
- Các cơ chế, chính sách, biện pháp
thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất, thúc đẩy liên kết, phát triển
vùng của Trung ương và tỉnh.
II. Nội dung của Đề án
Gồm 4 phần chính, cụ thể như sau:
1. Phần thứ nhất: Sự cần thiết và căn cứ xây dựng Đề
án.
2. Phần thứ hai: Hiện trạng, những vấn đề đặt ra và
tiềm năng thu hút đầu tư nước ngoài thế hệ mới vào tỉnh Phú Thọ.
3. Phần thứ ba: Định hướng và giải pháp thu hút dòng
vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới vào tỉnh Phú Thọ.
4. Phần thứ tư: Tổ chức thực hiện.
(Chi tiết có Đề án kèm theo Quyết
định)
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ
ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân
tỉnh; Giám đốc, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Chủ tịch UBND các
xã, phường và các tổ chức, cá nhân có liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.
|
|
TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Trần Duy Đông
|
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ ÁN
Định hướng thu hút FDI thế hệ mới tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2026-2030
MỤC LỤC
DANH MỤC HỘP
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Phần thứ nhất:
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ
ÁN
I. Sự cần thiết xây dựng đề án
II. Căn cứ xây dựng đề án
Phần thứ hai
HIỆN TRẠNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ
TIỀM NĂNG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THẾ HỆ MỚI VÀO TỈNH PHÚ THỌ
I. Đặc điểm một số chuỗi sản xuất và cung ứng FDI thế
hệ mới
1. Đặc điểm một số chuỗi sản xuất và
cung ứng thế hệ mới toàn cầu
2. Hiện trạng một số chuỗi sản xuất
và cung ứng thế hệ mới tại Việt Nam
3. Yếu tố tác động đến thu hút đầu
tư các chuỗi sản xuất và cung ứng thế hệ mới vào Việt Nam
3.1 Một số địa phương thu hút đầu tư
thành công FDI thế hệ mới
3.2 Yếu tố tác động đến thành công
trong thu hút đầu tư FDI thế hệ mới
II. Hiện trạng và tiềm năng thu hút
FDI thế hệ mới vào tỉnh Phú Thọ
1. Hiện trạng thu hút FDI của tỉnh
Phú Thọ từ 1987-2025
1.1 Kết quả đạt được
1.1.1. Đóng góp về kinh tế
1.1.2. Đóng góp vào chuyển dịch cơ
cấu kinh tế
1.2. Đánh giá theo ngành, lĩnh vực
1.2.1 Lĩnh vực công nghiệp
1.2.2 Lĩnh vực nông nghiệp và chế
biến nông lâm thủy sản
1.2.3. Lĩnh vực công nghệ cao, công
nghệ xanh và chuyển đổi số
1.2.4. Lĩnh vực dịch vụ, logistics
và thương mại
1.2.5. Các lĩnh vực khác: du lịch,
năng lượng, giáo dục, y tế
1.3 Công tác thu hút đầu tư
1.3.1. Kết quả cải cách môi trường
đầu tư qua các chỉ số PCI và PAPI
1.3.2. Nguồn nhân lực và khả năng
đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư
1.3.3. Chi phí không chính thức và
cơ chế phòng chống tham nhũng
1.3.4. Các công ty hạ tầng và tư vấn
đầu tư
1.3.5. Hỗ trợ doanh nghiệp và chuyển
đổi số trong quản lý nhà nước
2. Hiện trạng một số chuỗi sản xuất
và cung ứng FDI trên địa bàn tỉnh
2.1. Hiện trạng một số chuỗi sản
xuất và ung ứng FDI
2.2. Hiện trạng thu hút đầu tư FDI
thế hệ mới của Phú Thọ
2.2.1. Quy mô và cơ cấu FDI
2.2.2. FDI thế hệ mới tại Phú Thọ
2.2.3. Hạn chế trong thu hút FDI
hiện nay
3. Tiềm năng của tỉnh Phú Thọ trong
thu hút FDI thế hệ mới
III. Đánh giá chung
1. Những kết quả đạt được
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.1 Tồn tại và hạn chế
2.2 Nguyên nhân
2.2.1 Nguyên nhân khách quan
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Phần thứ ba
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT DÒNG
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THẾ HỆ MỚI VÀO TỈNH PHÚ THỌ
I. Bối cảnh thu hút đầu tư giai đoạn
mới của tỉnh Phú Thọ
1. Bối cảnh thế giới và trong nước
1.1. Những thuận lợi, cơ hội
1.2. Những thách thức, khó khăn
2. Bối cảnh của tỉnh
2.1. Những thuận lợi, tiềm năng thu
hút FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2.2. Những khó khăn và thách thức
chủ yếu
II. Quan điểm, định hướng, mục tiêu
phát triển
1. Quan điểm thu hút đầu tư giai
đoạn mới.
2. Mục tiêu thu hút dòng vốn đầu tư
nước ngoài thế hệ mới của tỉnh Phú Thọ
3.1 Theo ngành, lĩnh vực ưu tiên
3.1.1 Nhóm ngành công nghiệp công
nghệ cao
2.1.2 Nhóm dịch vụ chất lượng cao,
logistics, tài chính
2.1.3 Nhóm nông nghiệp công nghệ cao
và nông nghiệp sinh thái
2.2. Theo đối tác và thị trường
2.2.1 Nhóm đối tác chiến lược và
công nghệ cao
2.2.2 Nhóm đối tác thị trường mới
nổi
2.2.3. Nhóm đối tác tiềm năng và thị
trường ngách
3.3. Theo không gian phát triển
3.3.1 Vùng Vĩnh Yên - Việt Trì: điện
tử, dữ liệu, dịch vụ số
3.3.2 Vùng Bình Xuyên - Phúc Yên -
Vĩnh Phúc: cơ khí chế tạo và EV
3.3.3 Vùng Hòa Bình - Thanh Sơn -
Yên Lập: vật liệu, năng lượng xanh và du lịch sinh thái
3.3.4 Vùng Tam Nông -Thanh Thủy:
nông nghiệp công nghệ cao du lịch sinh thái
3.4. Theo mô hình phát triển
3.4.1. Chuyển đổi từ KCN đơn chức
năng sang KCN CNC, KCN hỗ trợ
3.4.2. Phát triển các cụm liên kết
ngành
3.4.3. Tích hợp R&D, đổi mới
sáng tạo, startup vào không gian FDI
3.4.4. Phát triển mô hình liên kết
FDI và DDI
III. Giải pháp thu hút dòng vốn đầu
tư nước ngoài thế hệ mới vào tỉnh Phú Thọ
1. Nhóm các giải pháp tích hợp với
đề án Thu hút nhà đầu tư chiến lược
2. Nhóm giải pháp đặc thù thu hút
FDI thế hệ mới
2.1 Nhóm giải pháp ưu tiên
2.2. Nhóm giải pháp bổ trợ
Phần thứ tư
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. Nhiệm vụ chung
II. Nhiệm vụ cụ thể
III. Kinh phí thực hiện Đề án
IV. Kiến nghị, đề xuất
PHỤ LỤC I: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
ĐỀ ÁN
PHỤ LỤC II. KHÁI NIỆM VÀ TIÊU CHÍ
XÁC ĐỊNH FDI THẾ HỆ MỚI
DANH MỤC HỘP
Hộp 2.1 Lý do Kinh Bắc lựa chọn phát
triển các KCN mới ở Thái Nguyên
Hộp 2.2 Mô hình trường cao đẳng nghề
tư nhân tại Bắc Ninh và Bình Dương
Hộp 2.3. Hệ sinh thái doanh nghiệp
công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tại Bắc Ninh và Bình Dương
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Chi phí thời gian trong
chỉ số PCI của một số địa phương phía Bắc
Bảng 2.2. Chi phí không chính thức
của một số địa phương phía Bắc
Bảng 2.3. Đặc điểm một số chuỗi sản
xuất FDI tại Phú Thọ
Bảng 2.4. Lũy kế các dự án FDI điện
tử (mã 2610 và 2620) đến 12/2025
Bảng 2.5. Lũy kế các dự án FDI ô tô,
xe máy và linh kiện đến 12/2025
Bảng 2.6. Giá thuê đất và tỉ lệ lấp
đầy một số KCN
Bảng 2.7. Giá thuê đất KCN ở một số
tỉnh phía Bắc trước sáp nhập (6/2025)
Bảng 3.1 Định hướng thu hút đầu tư
công nghiệp điện tử và bán dẫn
Bảng 3.2 Định hướng thu hút đầu tư
lĩnh vực xe điện và phương tiện giao thông điện hóa
Bảng 3.3 Định hướng thu hút cơ khí
chế tạo và công nghiệp hỗ trợ
Bảng 3.4 Định hướng thu hút dịch vụ,
logistic và tài chính
Bảng 3.5 Định hướng thu hút nông
nghiệp công nghệ cao và sinh thái
Bảng 3.6 Định hướng thu hút theo đối
tác và thị trường
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Các dự án FDI lĩnh vực
điện tử của Phú Thọ đến 2025
Hình 2.2. Nguồn cung đất KCN ở một
số tỉnh phía Bắc trước sáp nhập (6/2025)
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. Danh mục các từ viết tắt bằng tiếng
Việt
|
Viết tắt
|
Giải nghĩa tiếng Việt
|
|
CCKT
|
Cơ cấu kinh tế
|
|
CCN
|
Cụm công nghiệp
|
|
CLKCN
|
Chuỗi liên kết công
nghiệp
|
|
CN
|
Công nghiệp
|
|
CNHT
|
Công nghiệp hỗ trợ
|
|
DN
|
Doanh nghiệp
|
|
DNCN
|
Doanh nghiệp công
nghiệp
|
|
DNNVV
|
Doanh nghiệp nhỏ và
vừa
|
|
KCN
|
Khu công nghiệp
|
|
KH&CN
|
Khoa học và công nghệ
|
|
XNK
|
Xuất nhập khẩu
|
|
XTĐT
|
Xúc tiến đầu tư
|
2. Danh mục các chữ viết tắt bằng tiếng
Anh
|
Viết tắt
|
Giải nghĩa tiếng
anh
|
Giải nghĩa tiếng
việt
|
|
AFTA
|
ASEAN Free Trade Area
|
Khu vực mậu dịch tự do
Đông Nam Á
|
|
ASEAN
|
Association of Southeast
Asian Nations
|
Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
|
|
CNC
|
Computer Numerical
Control
|
Điều khiển bằng máy
tính
|
|
CPTPP
|
Comprehensive and
Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership
|
Hiệp định Đối tác Toàn
diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
|
|
CSR
|
Corporate Social
Responsibility
|
Trách nhiệm doanh
nghiệp với xã hội
|
|
DDI
|
Domestic Direct
Investment
|
Đầu tư nội địa
|
|
ESG
|
Environmental, Social
and Governance
|
Môi trường, Xã hội,
Quản trị
|
|
EVFTA
|
European-Vietnam Free
Trade Agreement
|
Hiệp định thương mại
tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam
|
|
FDI
|
Foreign Direct
Investment
|
Đầu tư trực tiếp nước
ngoài
|
|
FTA
|
Free Trade Agreement
|
Hiệp định thương mại
tự do
|
|
GCI
|
Global Competitiveness
Index
|
Chỉ số cạnh tranh toàn
cầu
|
|
GDP
|
Gross Domestic Product
|
Tổng sản phẩm trong
nước
|
|
GIZ
|
Deutsche Gesellschaft
für Internationale Zusammenarbeit
|
Tổ chức hợp tác phát
triển quốc tế của Đức
|
|
GRDP
|
Gross regional
domestic product
|
Tổng sản phẩm trên địa
bàn
|
|
GSO
|
General Statistics
Office
|
Tổng cục thống kê
|
|
ICD
|
Inland Container Depot
|
Cảng cạn/cảng khô/cảng
nội địa
|
|
IoT
|
Internet of Things
|
Internet vạn vật
|
|
JICA
|
The Japan
International Cooperation Agency
|
Cơ quan Hợp tác quốc
tế Nhật Bản.
|
|
MOIT
|
Ministry of Industry
and Trade
|
Bộ Công Thương
|
|
ODA
|
Official Development
Assistance
|
Hỗ trợ phát triển chính
thức
|
|
OECD
|
Organization for
Economic Cooperation and Development
|
Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế
|
|
R&D
|
Research and
development
|
Nghiên cứu và phát
triển
|
|
UNCTAD
|
United Nations
Conference on Trade and Development
|
Hội nghị Liên Hiệp
Quốc về thương mại và Phát triển
|
|
UNDP
|
United Nations
Development Programme
|
Chương trình Phát
triển của Liên hợp quốc
|
|
WB
|
World Bank
|
Ngân hàng Thế giới
|
|
WEF
|
World Economic Forum
|
Diễn đàn Kinh tế thế
giới
|
|
WTO
|
World Trade
Organization
|
Tổ chức thương mại thế
giới
|
Phần thứ nhất:
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. Sự
cần thiết xây dựng đề án
Nền kinh tế thế giới đang trải qua
một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc dưới tác động đồng thời của tái cấu trúc chuỗi
cung ứng toàn cầu, các xung đột địa chính trị, kinh tế, biến đổi khí hậu và sự
gia tăng của các hàng rào thuế quan, phi thuế quan và tiêu chuẩn ESG tại các
thị trường lớn. Sự dịch chuyển này làm thay đổi căn bản dòng vốn đầu tư quốc
tế, khi các quốc gia không còn cạnh tranh bằng ưu đãi tài chính hay chi phí lao
động thấp, mà chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, năng lực hạ tầng,
tiêu chuẩn môi trường và khả năng cung ứng nhân lực công nghệ cao.
Trong bối cảnh đó, dòng vốn FDI thế
hệ mới đang nổi lên như xu thế chủ đạo của giai đoạn 2025-2035. Dòng vốn này có
đặc điểm: tập trung vào các ngành công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh; ưu
tiên đầu tư có chọn lọc dựa trên năng lực công nghệ, chất lượng quản trị và tác
động lan tỏa; đặt yêu cầu cao về minh bạch, môi trường và phát triển bền vững;
đồng thời thúc đẩy chuyển giao tri thức, phát triển nguồn nhân lực, R&D và
liên kết chuỗi cung ứng. Đây cũng là xu thế đầu tư của các tập đoàn lớn từ các
quốc gia phát triển, và có xu hướng đang chuyển dịch sản xuất khỏi Trung Quốc
nhằm đa dạng hóa rủi ro và tối ưu hóa chuỗi cung ứng.
Sau gần 40 năm thu hút FDI, Việt Nam
đã trở thành điểm đến lớn của khu vực với hơn 470 tỷ USD vốn đăng ký và trên 38
nghìn dự án còn hiệu lực. Khu vực FDI đóng góp khoảng 20% GDP, 25% tổng vốn đầu
tư xã hội, 70% kim ngạch xuất khẩu và việc làm cho 5 triệu lao động. Tuy nhiên,
cơ cấu FDI vẫn nghiêng nhiều về gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; liên
kết với doanh nghiệp nội địa còn hạn chế; chuyển giao công nghệ chưa tương
xứng; nhiều dự án chưa đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Do đó, Bộ Chính trị đã ban hành
Nghị quyết 50-NQ/TW (2019) với định hướng then chốt: chuyển từ thu hút FDI theo
số lượng sang thu hút FDI có chọn lọc, coi chất lượng - công nghệ - môi trường
- lan tỏa là tiêu chí chủ đạo. Các Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học - công nghệ
- đổi mới sáng tạo và 68- NQ/TW về kinh tế tư nhân tiếp tục đặt nền tảng cho mô
hình “hai dòng vốn - một hệ sinh thái” giữa FDI và doanh nghiệp nội địa.
Việc hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ cũ,
Vĩnh Phúc, Hòa Bình từ 1/7/2025 tạo ra một không gian phát triển hoàn toàn mới.
Tỉnh Phú Thọ hiện nay sở hữu diện tích hơn 9.360 km², dân số trên 4 triệu
người, trở thành trung tâm vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, đồng thời là cửa
ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội. Vị trí chiến lược trên trục Hà Nội - Lào Cai -
Hải Phòng, cùng hạ tầng kết nối thuận lợi qua cao tốc Nội Bài - Lào Cai, Hòa
Lạc - Hòa Bình, Quốc lộ 2, 32 và mạng lưới đường sắt, logistics, tạo nền tảng
để tỉnh trở thành cực tăng trưởng mới của vùng. Hiện tỉnh có 734 dự án FDI còn
hiệu lực với tổng vốn đăng ký 12,8 tỷ USD, đến từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ,
chủ yếu trong xe máy, ô tô, cơ khí, điện tử, chế biến, vật liệu và may mặc.
Tuy nhiên, phần lớn dự án có quy mô
nhỏ, công nghệ trung bình, giá trị lan tỏa thấp; các dự án công nghệ cao, kinh
tế số, năng lượng xanh còn hạn chế; tỷ lệ nội địa hóa và R&D thấp. Sự cạnh
tranh giữa các địa phương trong vùng như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái
Nguyên ngày càng gay gắt, đặc biệt trong việc thu hút chuỗi điện tử, bán dẫn,
EV, trung tâm dữ liệu và công nghiệp xanh. Nếu không có định hướng mới, Phú Thọ
sẽ có thể đứng ngoài làn sóng FDI thế hệ mới đang dịch chuyển nhanh vào Việt Nam giai đoạn 2026-2035.
Bên cạnh thách thức, Phú Thọ cũng sở
hữu nhiều lợi thế quan trọng. Vùng hợp nhất đã hình thành nền công nghiệp chế
tạo mạnh, nhất là xe máy/ô tô tại Vĩnh Phúc và điện tử tại Vĩnh Phúc và Phú Thọ
cũ. Các ngành này đều thuộc nhóm có chuỗi cung ứng đa tầng, giá trị gia tăng
cao và phù hợp với xu hướng FDI thế hệ mới ít gây ô nhiễm. Hơn nữa, vị trí cận
kề Hà Nội và kết nối trực tiếp với các cực công nghiệp Bắc Ninh - Hải Phòng -
Thái Nguyên tạo điều kiện để tỉnh tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất,
logistics, và công nghệ cao của vùng.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng “Đề
án Định hướng thu hút FDI thế hệ mới tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026-2030” là
hết sức cần thiết, nhằm xác định tầm nhìn chiến lược và lĩnh vực ưu tiên phù
hợp xu hướng đầu tư toàn cầu; tạo khung chính sách thống nhất để đổi mới mô
hình xúc tiến đầu tư (XTĐT) và quản lý FDI; chuyển dịch cơ cấu FDI sang công
nghệ cao, đổi mới sáng tạo, xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI,
PAPI, PAR INDEX, DDCI); đưa Phú Thọ trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ,
logistics của vùng vào năm 2030.
II. Căn
cứ xây dựng đề án
1. Căn cứ chủ trương, định hướng của
Đảng và Nhà nước
- Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính
trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả
hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030;
- Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ chính
trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực
của nền kinh tế;
- Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 27/4/2020 của Chính phủ
ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính
trị;
- Luật Đầu tư năm 2025;
- Luật Doanh nghiệp năm 2020;
- Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 -
2030 (Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 2/6/2022);
- Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược hợp tác đầu
tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030 (Quyết định số 308/QĐ-TTg ngày 28/3/2023);
- Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2024,
và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan;
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
- Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 của
Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới;
- Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 18/2/2025 về việc Ban
hành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
- Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 25/3/2025 của Thủ tướng
Chính phủ về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới
sáng tạo và thu hút đầu tư nước ngoài thế hệ mới;
- Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính
trị về phát triển kinh tế tư nhân.
2. Căn cứ chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch của tỉnh Phú Thọ
- Quyết định số 610/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc
thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Nghị quyết số 66/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐNDT
tỉnh về việc thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021-2030, tầm
nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 2156/QĐ-UBND ngày 19/12/2025 của UBND
tỉnh về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021-2030, tầm
nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 555/QĐ-UBND ngày 03/3/2026 của UBND
tỉnh về việc phê duyệt Danh mục dự án kêu gọi đầu tư, danh mục dự án hạn chế và
không thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026-2030.
- Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ
2025-2030;
- Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030;
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ về kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030;
- Kế hoạch hành động của UBND tỉnh Phú Thọ thực hiện
Nghị quyết 68- NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân;
- Chương trình hành động số
02-CTr/TU ngày 22/7/2025 của Tỉnh ủy Phú Thọ về thực hiện Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công
nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia của tỉnh Phú Thọ (sau hợp
nhất);
- Kế hoạch số 7316/KH-UBND ngày 22/10/2025 của UBND
tỉnh Phú Thọ Thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ và
Chương trình hành động số 02-CTr/TU ngày 22/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia của
tỉnh Phú Thọ (sau hợp nhất);”
- Đề án chuyển đổi số trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 - 2030, định hướng xây dựng “chính quyền số - kinh
tế số - xã hội số”.
3. Căn cứ thực tiễn phát triển và
yêu cầu đổi mới công tác thu hút đầu tư của tỉnh
3.1. Vấn đề nội tại của mô hình thu hút
FDI hiện nay
Trong giai đoạn 2021 - 2025, Phú Thọ
sau sáp nhập đã đạt được những kết quả quan trọng trong thu hút đầu tư nước
ngoài. Quy mô vốn FDI và số lượng dự án lớn tăng nhanh, đóng góp tích cực vào
tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, mô hình
thu hút FDI hiện nay của tỉnh vẫn chủ yếu dựa trên các lợi thế truyền thống như
chi phí lao động, quỹ đất công nghiệp và ưu đãi đầu tư, chưa chuyển dịch rõ nét
sang mô hình dựa trên chất lượng thể chế, công nghệ và giá trị gia tăng cao. Cơ
cấu FDI, gồm cả Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình trước đây, vẫn tập trung vào gia
công, lắp ráp, công nghệ trung bình; tỷ lệ dự án công nghệ cao, trung tâm
R&D, đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI và
doanh nghiệp nội địa còn thấp, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, hiệu ứng lan
tỏa về công nghệ, quản trị và thị trường chưa tương xứng với quy mô vốn đầu tư.
Khu vực FDI hầu như vẫn phát triển tách rời khu vực doanh nghiệp trong nước,
làm giảm vai trò dẫn dắt và lan tỏa của FDI đối với kinh tế địa phương. Như
vậy, mô hình thu hút FDI hiện nay đã bộc lộ những điểm nghẽn mang tính cấu
trúc, không còn phù hợp với bối cảnh cạnh tranh đầu tư ngày càng gay gắt và các
yêu cầu mới của phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
3.2. Nguy cơ tụt hậu trong cạnh
tranh thu hút FDI công nghệ cao
Bối cảnh quốc tế đang chứng kiến sự
dịch chuyển mạnh mẽ của các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu. Các tập
đoàn đa quốc gia không chỉ tìm kiếm địa điểm đầu tư có chi phí thấp mà ngày
càng đặt trọng tâm vào chất lượng thể chế, năng lực công nghệ, tiêu chuẩn ESG,
hạ tầng số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Dòng vốn FDI thế hệ mới vì vậy
mang tính chọn lọc cao hơn, gắn với đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và khả
năng chống chịu của chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh đó, Phú Thọ đang đứng
trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh thu hút FDI công nghệ cao nếu không kịp
thời đổi mới mô hình và chính sách. So với các địa phương đã đi trước trong thu
hút FDI bán dẫn, điện tử cao cấp, trung tâm dữ liệu, R&D và năng lượng tái
tạo, Phú Thọ vẫn thiếu bộ tiêu chí sàng lọc dự án theo công nghệ - môi trường -
liên kết, cũng như thiếu các chính sách đủ mạnh để thu hút các nhà đầu tư đầu
chuỗi và nhà đầu tư chiến lươc dài hạn.
3.3. Nguy cơ nếu không đổi mới mô
hình thu hút FDI
Nếu tiếp tục thu hút FDI theo cách
tiếp cận truyền thống, tỉnh có thể bỏ lỡ các làn sóng đầu tư mới có hàm lượng
công nghệ và giá trị gia tăng cao, đồng thời khó tham gia sâu vào các chuỗi giá
trị toàn cầu thế hệ mới.
Thứ nhất, nguy cơ bị kẹt ở tầng
trung của chuỗi giá trị toàn cầu. Khi FDI tiếp tục tập trung vào các khâu gia công, lắp ráp
và sản xuất công nghệ trung bình, Phú Thọ sẽ khó tiếp cận các phân đoạn có giá
trị gia tăng cao như R&D, thiết kế, trung tâm đổi mới sáng tạo. Điều này
làm chậm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hạn chế tăng năng suất lao động
và làm suy giảm khả năng cạnh tranh dài hạn của tỉnh.
Thứ hai, nguy cơ mất cơ hội tiếp
nhận các dòng vốn FDI công nghệ cao và xanh. Trong bối cảnh các tập đoàn toàn cầu tái cấu trúc
chuỗi cung ứng và lựa chọn địa điểm đầu tư dựa trên các tiêu chí mới về công
nghệ, ESG và phát triển bền vững, việc thiếu một khung chính sách thu hút FDI
thế hệ mới sẽ khiến Phú Thọ khó cạnh tranh với các địa phương có định hướng rõ
ràng và chính sách tiên phong.
Thứ ba, nguy cơ gia tăng sức ép về
môi trường và sử dụng tài nguyên. Nếu không có cơ chế lựa chọn và sàng lọc dự án theo tiêu
chí xanh, tỉnh có thể tiếp tục thu hút các dự án thâm dụng năng lượng, phát
thải cao, sử dụng nhiều đất và nước, làm gia tăng rủi ro ô nhiễm môi trường và
chi phí xử lý trong dài hạn.
Thứ tư, nguy cơ FDI phát triển tách
rời khu vực doanh nghiệp trong nước. Khi thiếu các chính sách thúc đẩy liên kết FDI - DDI,
doanh nghiệp nội địa khó tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, công nghiệp
hỗ trợ chậm phát triển, làm suy giảm động lực hình thành hệ sinh thái công
nghiệp bền vững của tỉnh.
Thứ năm, nguy cơ lãng phí cơ hội từ
không gian phát triển mới sau hợp nhất ba tỉnh. Việc mở rộng quy mô không gian,
dân số và hạ tầng kết nối tạo ra lợi thế lớn để thu hút FDI thế hệ mới. Tuy
nhiên, nếu không có định hướng và cơ chế điều phối thống nhất, lợi thế này có
thể không được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực sự, thậm chí dẫn tới
phân tán nguồn lực và cạnh tranh nội vùng kém hiệu quả.
Thứ sáu, nguy cơ suy giảm năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh trong trung và dài hạn. Khi mô hình thu hút FDI chậm đổi mới, các chỉ số về
môi trường đầu tư, cải cách hành chính và chất lượng điều hành kinh tế khó được
cải thiện bền vững, ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh và sức hấp dẫn của tỉnh
đối với các nhà đầu tư chiến lược.
Thứ bảy, nguy cơ khu vực FDI suy
giảm vai trò động lực đối với tăng trưởng. Nếu không nâng cao chất lượng FDI, khu vực này khó
tiếp tục dẫn dắt về công nghệ, xuất khẩu và năng suất lao động, từ đó ảnh hưởng
đến mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh trong giai đoạn 2026-2035.
3.4. Vai trò của Đề án trong hệ
thống chiến lược phát triển tỉnh
Những phân tích trên cho thấy Phú
Thọ sau sáp nhập đang thiếu một khung chính sách tổng thể và nhất quán để tái
cấu trúc mô hình thu hút FDI theo hướng chất lượng cao. Đề án “Thu hút FDI thế
hệ mới” giữ vai trò then chốt trong việc tái cấu trúc mô hình thu hút FDI của
tỉnh, chuyển từ mục tiêu “tăng số lượng” sang “nâng cao chất lượng, công nghệ,
lan tỏa và phát triển bền vững”. Đề án không thay thế các chiến lược, quy hoạch
và đề án hiện có, mà đóng vai trò kết nối, bổ sung và nâng tầm các chính sách
thu hút đầu tư theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển mới.
Thông qua việc xác lập rõ tiêu chí
và nhóm giải pháp đặc thù cho FDI thế hệ mới, Đề án tạo nền tảng để Phú Thọ chủ
động đón bắt các dòng vốn đầu tư công nghệ cao, xanh và đổi mới sáng tạo; đồng
thời tăng cường liên kết giữa FDI và doanh nghiệp nội địa, hình thành hệ sinh
thái công nghiệp bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng
trưởng của tỉnh trong trung và dài hạn. Cụ thể, Đề án tập trung giải quyết ba
vấn đề cốt lõi đang tồn tại trong công tác thu hút FDI của tỉnh, gồm: (i) thiếu
cơ chế sàng lọc và lựa chọn dự án theo tiêu chí chất lượng, công nghệ và phát
triển bền vững; (ii) hạn chế trong việc tạo lập liên kết thực chất giữa khu vực
FDI và doanh nghiệp nội địa; và (iii) chưa hình thành được các điều kiện nền
tảng về hạ tầng, nhân lực và thể chế để tiếp nhận các dòng FDI công nghệ cao.
Trong hệ thống chiến lược phát triển của tỉnh, Đề án đóng vai trò là lớp chính
sách định hướng cho thu hút FDI, làm cầu nối giữa quy hoạch phát triển không
gian công nghiệp, chiến lược phát triển ngành và các chương trình cải thiện môi
trường đầu tư. Đề án cũng là cơ sở để thống nhất hành động giữa các sở, ngành,
địa phương trong tổ chức thực hiện, tránh phân tán nguồn lực và trùng lặp chính
sách. Qua đó, Đề án góp phần nâng cao hiệu quả điều phối phát triển công
nghiệp, bảo đảm FDI thực sự trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng nhanh và bền
vững của tỉnh trong giai đoạn 2026-2035.
Phần thứ hai
HIỆN TRẠNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ TIỀM NĂNG THU HÚT ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI THẾ HỆ MỚI VÀO TỈNH PHÚ THỌ
I. Đặc điểm một số chuỗi sản xuất và
cung ứng FDI thế hệ mới
1. Đặc
điểm một số chuỗi sản xuất và cung ứng thế hệ mới toàn cầu
Trong bối cảnh kinh tế thế giới trải
qua biến động sâu rộng sau đại dịch, xung đột địa chính trị, gián đoạn
logistics và sự nổi lên của các chiến lược chuyển đổi xanh, chuỗi giá trị toàn
cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ theo hướng chuỗi sản xuất thế hệ mới. Đây là mô
hình chuỗi có mức độ công nghệ và số hóa cao, tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn
môi trường, đồng thời phân tán rủi ro bằng cách mở rộng nhiều trung tâm cung
ứng khu vực. Sự chuyển đổi này đang làm thay đổi phương thức vận hành của các
tập đoàn đa quốc gia, tiêu chí lựa chọn địa điểm đầu tư và cả chiến lược phát
triển công nghiệp của nhiều quốc gia. Các đặc điểm chính của chuỗi sản xuất thế
hệ mới:
Đa dạng hóa và phân tán rủi ro chuỗi
cung ứng. Thay vì
tổ chức hoạt động sản xuất đầu vào và đầu ra tại một quốc gia, doanh nghiệp tổ
chức mạng lưới cung ứng theo hướng mở rộng địa điểm sản xuất, phân tán rủi ro
và tối ưu khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu. Những cú sốc gần đây như dịch
COVID-19 căng thẳng Mỹ-Trung, gián đoạn vận tải biển, thuế đối ứng mới của Hoa
Kỳ, đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc này và khiến các doanh nghiệp
phải đánh giá lại toàn bộ chuỗi của mình. Theo UNCTAD, hơn 50% doanh nghiệp
điện tử, bán dẫn và xe điện đang lên kế hoạch mở rộng hoặc dịch chuyển một phần
chuỗi sản xuất sang Đông Nam Á, biến khu vực này thành một trung tâm sản xuất
mới của thế giới.
Số hóa và quản trị dữ liệu xuyên
chuỗi. Dữ liệu đóng
vai trò xương sống của toàn bộ hoạt động chuỗi, từ nghiên cứu thiết kế, sản
xuất, logistics, đến phân phối. Các hệ thống IoT, cảm biến, giám sát thời gian
thực và nền tảng logistics số cho phép doanh nghiệp theo dõi tình trạng nguyên
vật liệu, tối ưu hóa tồn kho, quản lý luồng vận tải và đánh giá rủi ro ngay lập
tức. Tổ chức Thương mại Thế giới và OECD đều khắng định số hóa giúp doanh
nghiệp giảm chi phí tồn kho 10,30%, rút ngắn vòng đời sản xuất 15,25% và nâng
cao minh bạch chuỗi ở mức chưa từng có. Từ các tập đoàn công nghệ cao ở Đông Á
tới các nhà sản xuất thiết bị y tế ở châu Âu và Hoa Kỳ, mọi phân đoạn trong
chuỗi cung ứng đang được chuyển đổi sang mô hình dữ liệu hóa toàn diện để đáp
ứng yêu cầu về tốc độ, độ chính xác và kiểm soát rủi ro.
Tự động hóa và yêu cầu năng lực kỹ
thuật tại chỗ. Đặc
điểm này trở thành tiêu chí then chốt trong quyết định đầu tư quốc tế. Nhà máy
thế hệ mới đòi hỏi robot công nghiệp, dây chuyền tự động, hệ thống vận hành
thông minh và đội ngũ kỹ sư tích hợp vận hành và bảo trì tự động hóa. Xu hướng
này khiến chi phí lao động không còn là lợi thế duy nhất. Thay vào đó, chất
lượng nguồn nhân lực kỹ thuật, hạ tầng công nghệ và khả năng cung ứng kỹ sư trở
thành yếu tố quyết định. Theo McKinsey và Boston Consulting Group, mức độ tự
động hóa trong sản xuất điện tử bán dẫn đã vượt 70%, trong khi nhu cầu kỹ sư cơ
điện tử, tự động hóa, công nghệ vật liệu và kỹ thuật số tăng 18,22% mỗi năm
trên toàn cầu. Đối với các quốc gia đang phát triển, việc đáp ứng được yêu cầu
kỹ thuật này là điều kiện để tham gia sâu vào chuỗi công nghệ cao.
Chuỗi cung ứng xanh và tuân thủ tiêu
chuẩn môi trường. Sự
ra đời của các cơ chế như CBAM của EU, tiêu chuẩn tái chế của Hoa Kỳ hay hệ
thống giám sát phát thải của Nhật Bản đã buộc doanh nghiệp toàn cầu chuyển sang
mô hình sản xuất ít phát thải, tuần hoàn và có khả năng truy xuất toàn bộ vòng
đời của sản phẩm. Các ngành điện tử, dệt may, xe điện (EV) và thiết bị y tế đều
phải tuân thủ các bộ tiêu chuẩn môi trường khắt khe trước khi tiếp cận thị
trường quốc tế. Điều này tạo áp lực đầu tư vào năng lượng tái tạo, công nghệ xử
lý chất thải và hệ thống giám sát môi trường cho các quốc gia muốn thu hút FDI
thế hệ mới, đồng thời mở ra cơ hội nếu địa phương đáp ứng được các chuẩn mực
xanh.
Trí tuệ nhân tạo (AI). AI đang tạo ra bước đột phá trong
tối ưu hóa chuỗi cung ứng toàn cầu. AI hỗ trợ dự báo nhu cầu theo thời gian
thực, tính toán tối ưu tuyến và quản lý vận tải, phân tích rủi ro, kiểm lỗi,
điều chỉnh dây chuyền sản xuất và dự đoán sự cố thiết bị. Sự kết hợp AI với IoT
và tự động hóa đã tạo ra mô hình chuỗi cung ứng tự vận hành, yêu cầu các điểm
đến FDI phải có năng lực về dữ liệu, sandbox công nghệ và chính sách thử
nghiệm.
Hàm lượng công nghệ cao và giá trị
gia tăng lớn. Các
nhóm ngành như bán dẫn, thiết bị y tế, cơ khí chính xác, xe điện, thiết bị điện
tử thông minh và IoT đang được tất cả các quốc gia quan tâm. Các quốc gia muốn
tham gia chuỗi không thể dựa vào lợi thế truyền thống mà phải định hướng dựa
trên khả năng đáp ứng cao về lao động kỹ thuật, R&D, ESG và hệ thống nhà
cung cấp nội địa.
Dịch vụ hóa sản xuất. Hiện nay doanh nghiệp không chỉ sản
xuất linh kiện hay thiết bị mà cung cấp trọn gói dịch vụ vận hành, bảo trì,
giám sát và phân tích dữ liệu. Điều này làm mờ ranh giới giữa công nghiệp và
dịch vụ, đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp trong chuỗi phải có năng lực cung cấp
dịch vụ công nghiệp chất lượng cao.
Cụm liên kết và chuỗi khu vực. Xu thế này đang trở thành mô hình
chủ đạo của chuỗi thế hệ mới. Thay vì trải dài toàn cầu, nhiều chuỗi được tái
cấu trúc theo các cụm địa lý như cụm bán dẫn Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài
Loan, Singapore, Việt Nam), cụm EV Trung Quốc và ASEAN, cụm điện tử ASEAN và Ấn
Độ. Mô hình cụm đòi hỏi quốc gia tham gia phải phát triển hệ sinh thái liên kết
giữa FDI và doanh nghiệp nội địa, với trung tâm R&D, logistics và nguồn
nhân lực, thay vì chỉ tập trung thu hút từng dự án riêng lẻ.
2. Hiện trạng một số chuỗi
sản xuất và cung ứng thế hệ mới tại
Việt Nam
Việt Nam đang trở thành một trong
những điểm đến chiến lược của các chuỗi cung ứng thế hệ mới, đặc biệt trong bối
cảnh dịch chuyển FDI khỏi Trung Quốc, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và
nhu cầu gia tăng đối với sản phẩm công nghệ cao, thiết bị xanh và dịch vụ số.
Giai đoạn 2018-2025 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của Việt Nam từ trung tâm lắp
ráp, từng bước tham gia vào phân đoạn giá trị cao hơn như R&D, thiết kế,
thử nghiệm và sản xuất linh kiện công nghệ cao. Một số chuỗi điển hình tại Việt
Nam:
Chuỗi bán dẫn. Chuỗi này bao gồm các công đoạn như
đóng gói và kiểm thử, thiết bị cho ngành bán dẫn, vật liệu bán dẫn và từng bước
tiến lên thiết kế vi mạch và R&D. Việt Nam hiện đã trở thành điểm đến quan
trọng trong lĩnh vực lắp ráp, kiểm thử và đóng gói, với nhiều dự án FDI quy mô
lớn như Intel, Amkor, Infineon, cùng hệ thống các nhà cung cấp và hệ sinh thái
đang mở rộng tại Bắc Ninh, Bắc Giang cũ và TP. Hồ Chí Minh. Vì sự có mặt này,
các doanh nghiệp nội địa cũng đã bắt đầu tham gia sản xuất linh kiện cơ khí cho
thiết bị bán dẫn. Hiện nay chính phủ đang tích cực xúc tiến thu hút đầu tư các
công đoạn cao hơn, bằng ưu đãi, hạ tầng và nguồn nhân lực đào tạo cho ngành bán
dẫn. Những động thái gần đây cho thấy xu hướng mở rộng ATP đang gia tăng, do
các doanh nghiệp muốn giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, đồng thời có những tín
hiệu đầu tư vào năng lực cao hơn trong trung hạn.
Chuỗi xe điện (EV) và linh kiện cho
EV. Chuỗi này gồm
pin, BMS, motor drive, inverter, wire harness EV, power semiconductor. Dự án
điển hình như: Foxconn đầu tư 300 triệu USD ở Bắc Giang cho linh kiện EV;
ProLogium (Đài Loan) khảo sát dự án pin thể rắn tại VN; Hệ sinh thái cung ứng cho
CATL, BYD, Tesla đang khảo sát dịch chuyển một phần sang Việt Nam. Pin cho xe điện là hạng mục quan trọng nhất của ngành xe điện. Chuỗi pin ở Việt Nam đang ở giai đoạn hình thành mạnh mẽ về lắp ráp và tích hợp. Các nhà máy lắp ráp cell và
module của VinFast và LG/SK phục vụ xe điện đã được triển khai, nhưng phần lớn
vật liệu then chốt và cell vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc/Hàn Quốc.
Chuỗi thiết bị điện tử thông minh. Ngành điện tử tiếp tục là trụ cột
xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch gia tăng cao mỗi năm. Hiện đã có hầu hết
các tập đoàn đa quốc gia đặt cơ sở lắp ráp điện thoại thông minh, bo mạch,
thiết bị ngoại vi và linh kiện phụ tùng điện - điện tử tại Việt Nam. Điểm yếu là tỷ lệ nội địa hóa cụm linh kiện rất thấp, hầu hết các linh kiện quan trọng
vẫn phải nhập khẩu, làm giảm lợi ích chuỗi giá trị thu được trong nước và tạo
rủi ro chuỗi cung ứng. Việc thu hút đầu tư sản xuất các linh kiện điện điện tử
quan trọng tại Việt Nam vẫn là cơ hội lớn của chuỗi ngành này. Các nhà đầu tư
điển hình là Samsung, Apple, Luxshare, Goertek, Foxconn; Xiaomi, Oppo, Huawei
đang dịch chuyển một số dòng sản phẩm sang Việt Nam.
Chuỗi sản xuất robot, tự động hóa,
cơ khí chính xác thế hệ mới. Chuỗi này tập trung vào cơ khí chính xác cho các ngành mới như thiết
bị y tế, thiết bị bay không người lái, linh kiện cho thiết bị điện gió và năng
lượng tái tạo… Làn sóng mới gồm QL Electronics, Jinko, BYD Precision mở rộng
tại Bắc Giang, Bắc Ninh; Nidec nâng cấp nhà máy tại Khu Công nghệ cao TPHCM.
Trung tâm R&D, AI và thiết kế. Trung tâm R&D của Samsung
đầu tư tại Hà Nội; trung tâm R&D của Panasonic đặt tại TPHCM; Synopsys,
Marvell, Renesas đã tăng nhân sự thiết kế chip tại Hà Nội và TPHCM; Nhà máy
Intel đang xem xét mở rộng sau năm 2025.
3. Yếu
tố tác động đến thu hút đầu tư các chuỗi sản xuất và cung ứng thế hệ mới vào Việt Nam
3.1
Một số địa phương thu hút đầu tư thành công FDI thế hệ mới
TP. Hồ Chí Minh. TP.HCM sau sáp nhập với Bình Dương
và Bà Rịa-Vũng Tàu tạo thành vùng công nghiệp công nghệ cao lớn nhất Việt Nam,
thu hút FDI ở ngôi đầu với lũy kế hơn 140 tỷ USD (TPHCM cũ hơn 59,7 tỷ, Bình
Dương 42,9 tỷ và Bà Rịa - Vũng Tàu gần 38,2 tỷ), với gần 60 KCN, chiếm 28% tổng
vốn FDI đăng ký còn hiệu lực của cả nước. Trong đó, trong đó nhóm công nghệ
cao, tự động hóa và thiết bị điện tử chiếm ưu thế. TP.HCM dẫn đầu về R&D,
thiết bị y tế và hệ sinh thái startup công nghệ, trong khi Bình Dương cũ mạnh
về công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ và logistics thông minh. TP.HCM có
khu công nghệ cao đóng góp 23,25 tỷ USD xuất khẩu công nghệ cao/năm, lớn nhất
cả nước với chuỗi thiết bị y tế và dược phẩm mạnh nhất Việt Nam gồm Terumo,
Nipro, USM Healthcare. Hiện đã thu hút nhiều dự án robot, tự động hóa, cảm biến
như Nidec, Datalogic, Sonion; và là trung tâm Data Center hàng đầu: NTT, GDS,
Viettel/SK. Bình Dương cũ phát triển mạnh về hạ tầng KCN (dẫn đầu PCI 3 năm
liền về “Chi phí thời gian” và “Tiếp cận đất đai”). Bình Dương thu hút hơn 40
tỷ USD FDI, tập trung vào: Chuỗi công nghiệp điện tử và thiết bị thông minh,
như Tokyu, Foster, Sharp, TCL; Chuỗi robot, cơ khí chính xác, phụ tùng, như
Nitto, Wonderful Saigon, Kumho, Dainichi; Chuỗi logistics thông minh với VSIP
logistics hub, BW Industrial, YCH Prologis; Thí điểm xây dựng Thành phố thông
minh Bình Dương là mô hình phát triển đô thị công nghiệp theo chuẩn WTA. Như
vậy, TP.HCM sau sáp nhập là cực sản xuất công nghệ cao đa chuỗi, có chiều sâu
công nghiệp và mạng lưới doanh nghiệp CNHT phát triển mạnh.
Hà Nội. Tổng vốn FDI lũy kế đạt khoảng
61,5 tỷ USD từ 7.710 dự án với các lĩnh vực FDI thế hệ mới chủ yếu gồm công
nghiệp chế biến chế tạo (23,61%) và hoạt động R&D (12,4%). Hà Nội là địa
phương duy nhất hiện có sự hiện diện đồng thời của các trung tâm R&D bán
dẫn, R&D điện tử, AI, IoT, và trung tâm dữ liệu, tạo ra năng lực giá trị
cao cho chuỗi cung ứng thế hệ mới. Các dự án tiêu biểu gồm Samsung R&D Tower, Synopsys Semiconductor Lab, Marvell Việt Nam, Panasonic R&D Center và một số trung tâm thiết kế chip quy mô 300-1.000 kỹ sư. Ngoài R&D, Hà Nội
thu hút mạnh chuỗi robot, cơ khí chính xác, thiết bị quang học, với các doanh
nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc đang mở rộng trong các khu công nghiệp phía Bắc
thành phố (Quang Minh, Bắc Thăng Long). Về dịch vụ số, Hà Nội dẫn đầu cả nước
về FDI vào data center, cloud, AI services, nơi các tập đoàn đang đầu tư các
trung tâm dữ liệu công suất lớn.
Bắc Ninh. Việc hợp nhất Bắc Ninh và Bắc Giang
đưa Bắc Ninh trở thành một trong các vùng điện tử lớn nhất Đông Nam Á, với hệ
sinh thái của Samsung, LG, Foxconn, Amkor, Canon, Goertek. Đây là địa phương
duy nhất được đầu tư gần 40 tỷ USD chỉ cho điện tử và linh kiện điện tử. Chuỗi
giá trị sản xuất smartphone, camera module, âm thanh, linh kiện quang học và
thiết bị ngoại vi đã hoàn thiện toàn diện từ sản xuất đến testing và packaging.
Sự kiện Amkor đầu tư 1,6 tỷ USD vào tổ hợp OSAT tại Yên Phong năm 2023 đưa Bắc
Ninh trở thành trung tâm assembly và testing lớn của khu vực ASEAN. Bắc Ninh
hiện có các lợi thế nổi bật so với các địa phương khác: Hệ sinh thái điện tử
hoàn chỉnh nhất Việt Nam với hàng trăm doanh nghiệp cấp 1,2,3 từ Hàn Quốc,
Trung Quốc, Nhật Bản; Nền công nghiệp hỗ trợ lớn nhất miền Bắc, tạo điều kiện
cho các chuỗi mới như IoT, AIoT, module bán dẫn dễ dàng phát triển; Khả năng
cung cấp lao động kỹ thuật có kinh nghiệm vận hành dây chuyền tự động; Tỷ lệ dự
án công nghệ cao chiếm trên 70% vốn FDI cấp mới giai đoạn 2020-2024. Bắc Ninh
cũng đang nổi lên trong các chuỗi robot, cơ khí chính xác và năng lượng tái
tạo, với các dự án Jinko Solar, QL Electronics, BYD Precision.
Hải Phòng. Hải Phòng sau khi hợp nhất với Hải
Dương trở thành vùng công nghiệp và logistics mạnh nhất miền Bắc, với tổng
1.250 dự án FDI với tổng vốn đăng ký lũy kế đạt trên 33,14 tỷ USD đến từ 42
quốc gia và vùng lãnh thổ. Các lĩnh vực chính: Chuỗi điện tử và điện công
nghiệp (LG Display, LG Innotek, Kyocera…), Chuỗi thiết bị năng lượng, turbine,
công nghiệp nặng (GE Hải Phòng, Keyang, Doosan), Chuỗi logistics và cảng biển
thông minh (Gemalink, DeepC, Maersk, CMA,CGM), Chuỗi công nghiệp thực phẩm,
dược phẩm, thiết bị y tế đang tăng nhanh. Hải Phòng được xem là địa phương có
hệ sinh thái hạ tầng tốt nhất miền Bắc để thu hút các chuỗi cung ứng quy mô
lớn: cảng biển nước sâu, khu công nghiệp và khu phi thuế quan liên hoàn,
logistics tự động hóa và năng lực giải phóng mặt bằng nhanh. Chuỗi điện tử của
Hải Phòng dẫn đầu với tổ hợp LG gồm LG Display, LG Innotek, LG Electronics với
tổng vốn hơn 10 tỷ USD, tạo ra chuỗi TV, display, camera module, electrical
device có quy mô lớn nhất Việt Nam. Ngành năng lượng và thiết bị năng lượng
hình thành mạnh với GE sản xuất turbine, Apollo, và cụm sản xuất inverter,
thiết bị điện công nghiệp phục vụ thị trường xuất khẩu. Hiện đã thu hút mạnh
chuỗi EV và linh kiện với VinFast và các nhà c.ung cấp. Hải Dương cũ là cứ điểm
của các chuỗi công nghiệp nặng, cơ khí chính xác và thiết bị công nghiệp như
Toyo Ink, Sumidenso, Brother Industries, Nichirin, Daikin Compressor và có thế
mạnh về nguồn lao động kỹ thuật dồi dào, chi phí đất và nhân công thấp hơn, phù
hợp nhà máy vệ tinh. Vai trò của Hải Phòng tương tự Thâm Quyến ở quy mô Việt
Nam trong sản xuất công nghệ cao, thiết bị công nghiệp và logistics toàn cầu
trong một hệ sinh thái tích hợp.
3.2.
Yếu tố tác động đến thành công trong thu hút đầu tư FDI thế hệ mới
Đánh giá tóm tắt tác động đến thu
hút đầu tư thành công các chuỗi sản xuất và cung ứng thế hệ mới của các địa
phương kể trên, có thể rút ra một số yếu tố sau:
(1) Tốc độ và sự nhất quán của chính
sách đầu tư. Dự án
công nghệ cao yêu cầu thời gian triển khai ngắn và sự chắc chắn trong thủ tục.
Hải Phòng nổi bật nhờ mô hình Chính quyền - Nhà đầu tư - Nhà phát triển hạ tầng
đã rút ngắn thời gian cấp phép cho các dự án LG xuống mức cạnh tranh trong khu
vực. Bắc Giang cũ áp dụng cơ chế tổ công tác đặc biệt cho các dự án Hoa kỳ và
Hàn Quốc, giúp giải quyết vướng mắc về thủ tục xây dựng và môi trường trong vài
tuần thay vì vài tháng. Bắc Ninh luôn được các doanh nghiệp chia sẻ với nhau về
tốc độ nhanh nổi bật trong cấp phép và giải quyết các vấn đề phát sinh. Như
vậy, các địa phương có cam kết chính trị mạnh và nhất quán về thực thi chính
sách đầu tư sẽ luôn đứng đầu về thu hút FDI.
(2) Hạ tầng công nghiệp và logistics
chuyên biệt. Những
địa phương thu hút thành công FDI thế hệ mới mà đa số là công nghệ cao, công
nghệ xanh, công nghệ số đều có các khu công nghiệp chuẩn hoá, giải phóng mặt
bằng nhanh và hạ tầng sẵn sàng. Ví dụ, Bắc Ninh phát triển KCN Yên Phong và Đại
Đồng, cung cấp mặt bằng sẵn và kết nối nhanh tới sân bay Nội Bài, giúp 200 nhà
cung ứng của Samsung dễ dàng đầu tư. Hải Phòng nổi bật với KCN Tràng Duệ 1 và 2
với hạ tầng hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn quốc tế và cảng biển nước sâu, là lý do
LG lựa chọn đầu tư và sau đó mở rộng cho các dự án hàng tỷ USD. Tổ hợp hạ tầng
hoàn chỉnh rút ngắn thời gian triển khai dự án, là yếu tố cạnh tranh rất rõ
giữa các địa phương. Các tập đoàn đa quốc gia các ngành công nghệ cao cũng ưu
tiên địa phương có cam kết rõ ràng về ESG, bao gồm quản lý chất thải, nước
thải, dấu chân carbon và quy hoạch KCN xanh. Bình Dương xây dựng mô hình thành
phố thông minh và KCN bền vững, đáp ứng tiêu chuẩn LEED, nên thu hút các nhà
sản xuất có yêu cầu môi trường cao.
(3) Các công ty phát triển hạ tầng và tư
vấn đầu tư. Một yếu
tố có tính quyết định trong thành công thu hút FDI thế hệ mới của các địa
phương điển hình như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Bình Dương chính là vai
trò của các công ty phát triển hạ tầng và tư vấn đầu tư chuyên nghiệp. Những
nhà phát triển như VSIP, Kinh Bắc, DeepC, Becamex… không chỉ cung cấp hạ tầng
đạt chuẩn quốc tế, mà còn chủ động tìm kiếm, tiếp cận và dẫn dắt dòng vốn FDI
thông qua mạng lưới quan hệ toàn cầu. Với thương hiệu mạnh, khả năng cung cấp
dịch vụ chuyên nghiệp, giải phóng mặt bằng nhanh, pháp lý minh bạch, họ đã giúp
rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cho địa
phương trong thu hút các tập đoàn công nghệ cao. Nhiều dự án quy mô hàng tỷ USD
như LG ở Hải Phòng, Samsung ở Bắc Ninh hay các dự án năng lượng, cơ khí tại
Bình Dương đều có sự tham gia chủ động trực tiếp ngay từ giai đoạn đầu, của các
nhà phát triển hạ tầng lớn trong việc tìm kiếm thông tin, thuyết phục, đàm phán
và đồng hành với nhà đầu tư và lãnh đạo địa phương. Có thể khẳng định rằng các
công ty phát triển hạ tầng chính là đối tác chiến lược cấp địa phương, góp phần
hình thành hệ sinh thái đầu tư hoàn chỉnh và là một trong các nhân tố quyết
định giúp các địa phương dẫn đầu về FDI thế hệ mới.
|
Hộp 2.1 Lý do
Kinh Bắc lựa chọn phát triển các KCN mới ở Thái Nguyên
Điển hình thu hút
thành công FDI ngành điện tử thế hệ mới là tổng công ty Kinh Bắc (KBC) với
Canon, Samsung, LG, Foxconn… vào Bắc Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang. Các nhà đầu
tư FDI lớn này vẫn đang tiếp tục mở rộng các dự án hàng tỉ USD với hạ tầng
cung cấp bởi KBC. Sau hơn 20 năm hoạt động rất thành công của các KCN ở 3 địa
phương này, KBC bắt đầu phát triển các KCN mới ở Thái Nguyên, khởi đầu là KCN
Phú Binh khai trương tháng 12/2025. Lý do chính để KBC lựa chọn địa phương
này: (1) Tốc độ và sự nhất quán của chính sách thu hút đầu tư, cam kết của
lãnh đạo địa phương và năng lực thực thi của các cơ quan chức năng liên quan;
(2) Nguồn nhân lực kỹ thuật được đào tạo bởi hệ thống các trường ĐH và dạy
nghề xếp thứ 3 toàn miền Bắc; (3) Chi phí hợp lý; (4) Hạ tầng nền đất cao và
vững chắc phù hợp cho sản xuất công nghiệp; (5) Vị trí địa lý (6) Sự có mặt của
FDI lớn có tính dẫn dắt (trong ngành điện tử) tại Thái Nguyên.
Nguồn: Phỏng vấn của nhóm nghiên cứu
|
(4) Chất lượng nguồn nhân lực và các
chương trình đào tạo nghề. Nhà đầu tư bán dẫn, điện tử cao cấp hay thiết bị y tế ưu tiên địa
phương có lao động kỹ thuật lành nghề và chương trình đào tạo chuyên sâu. Hà
Nội và TP.HCM vẫn có lợi thế nhiều nhất về chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật,
do đó các địa phương tiếp giáp cũng được hưởng lợi, như Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,
Hưng Yên, Bình Dương, Đồng Nai, Long An. Tận dụng và mở rộng các lợi thế này,
các địa phương đã hình thành hệ thống đào tạo nghề tại chỗ nhằm mục tiêu đáp
ứng yêu cầu của các nhà đầu tư tại địa phương. Đây là một trong các lý do chính
mà các tỉnh này tiếp tục thu hút đầu tư mạnh mẽ bền vững trong thời gian dài.
|
Hộp 2.2 Mô hình
trường cao đẳng nghề tư nhân tại Bắc Ninh và Bình Dương
Trường cao đẳng
BECAMEX Bình Dương đã ra đời chỉ sau một thời gian ngắn khi BECAMEX phát triển
hạ tầng tại đây. Trong 15 năm qua, chỉ với 4 chuyên ngành đào tạo, trường đã
đáp ứng rất hiệu quả cho các công ty FDI và DDI đầu tư vào KCN và tỉnh Bình
Dương, nhất là nguồn lao động kỹ thuật. Sinh viên có việc làm ngay từ năm thứ
2, do đó, trường luôn rất thuận lợi trong tuyển sinh và gia tăng số lượng đào
tạo. Tương tự như vậy, Cao đẳng nghề Lý Thái Tổ ở Bắc Ninh đã liên kết chặt
chẽ với doanh nghiệp trên địa bàn và có nhiều loại hình đào tạo phù hợp theo
thời gian đối với mỗi ngành nghề, đáp ứng tối đa nguyện vọng của cả bên cung
và cầu của thị trưởng việc làm trong tỉnh, nhất là lao động kỹ thuật.
Nguồn: Phỏng vấn của nhóm nghiên cứu
|
(5) Tính sẵn sàng của hệ sinh thái nhà
cung cấp. Các chuỗi
thế hệ mới cần hệ sinh thái CNHT bao quát và sâu: cơ khí chính xác, linh kiện
điện tử, tự động hoá, vật liệu. Bắc Ninh và Bắc Giang sau 10 năm thu hút ngành
điện tử đã hình thành mạng lưới hơn 200 nhà cung cấp nội địa tại chỗ, làm tăng
tốc độ mở rộng của các nhà đầu tư mới, cả FDI và DDI. TP Hồ Chí Minh và Bình
Dương cũ có hơn 300 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, là một trong các lý do các
nhà sản xuất Nhật Bản dụng cụ, máy móc, thiết bị y tế tiếp tục mở rộng. Địa
phương nào có nhà cung cấp sẵn sàng, sẽ giảm chi phí logistics và lead time,
giúp tăng khả năng thu hút các dự án công nghệ cao.
|
Hộp 2.3. Hệ sinh
thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tại Bắc Ninh và Bình Dương
Nắm bắt được nhu cầu
tìm kiếm nhà cung cấp nội địa của các công ty FDI đầu chuỗi và công ty FDI
cung ứng lớp 1, lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh đã quyết liệt chỉ đạo, để các cơ quan
ban ngành của tỉnh liên tục tổ chức các hoạt động kết nối FDI - DDI. Năm 2025,
tỉnh đã cho phép thành lập Hiệp hội doanh nghiệp công nghiệp Bắc Ninh trong
thời gian rất ngắn, và gần đây nhất sau khi sáp nhập, số lượng hội viên là
doanh nghiệp Việt Nam cung ứng cho FDI đã tăng nhanh gần 200 công ty. Đây là
lợi thế rất lớn, được các nhà đầu tư hiện hữu, cả FDI và DDI ghi nhận, cũng
như trong thu hút đầu tư mới, đặc biệt là khu vực DDI sản xuất chế tạo đang
ngày càng lớn mạnh trở thành các tập đoàn lớn. Năm 2024, Bình Dương cũng đã
thành lập Hiệp hội CNHT tỉnh và sau sáp nhập hiện đã có gần 400 hội viên, gồm
cả FDI và DDI. Dựa trên nguồn lực này, các Sở ban ngành TP HCM đang thực hiện
các chương trình phát triển cụm liên kết ngành tự động hóa, ngành điện tử và
ngành cơ khí chính xác, với sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư FDI trên
địa bản.
Nguồn: Phỏng vấn của nhóm nghiên cứu
|
(6) Năng lượng ổn định và tiêu chuẩn
chuỗi xanh. Chuỗi
thế hệ mới, đặc biệt bán dẫn, điện tử, trung tâm dữ liệu, pin cho EV, đòi hỏi
nguồn điện ổn định, dự phòng cao, và tỷ lệ năng lượng xanh ngày càng lớn. Bắc
Giang cũ và Hải Phòng đã triển khai mô hình ký kết PPA trực tiếp và phát triển
năng lượng tái tạo để đáp ứng yêu cầu ESG của các tập đoàn. Một số nhà đầu tư
như Apple, Samsung yêu cầu minh bạch dấu chân carbon, buộc địa phương phải có
kế hoạch điện sạch và hạ tầng môi trường đạt chuẩn quốc tế. Những tỉnh chứng
minh được khả năng cung ứng điện ổn định đều thu hút dự án giá trị cao hơn.
II. Hiện
trạng và tiềm năng thu hút FDI thế hệ mới vào tỉnh Phú Thọ
1. Hiện
trạng thu hút FDI của tỉnh Phú Thọ từ 1987-2025
1.1.
Kết quả đạt được
Sau gần 40 năm thu hút FDI, Phú Thọ
hiện có 734 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 12,8 tỷ USD (Sở Tài
chính, 12/2025). Cơ cấu FDI chuyển dịch mạnh về công nghiệp chế tạo, gồm xe
máy, ô tô, cơ khí chính xác, điện tử và linh kiện, đưa khu vực FDI trở thành
lực lượng chủ lực đóng góp vào tăng trưởng GRDP, xuất khẩu, công nghiệp hóa và
chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh.
1.1.1. Đóng góp về kinh tế
Đóng góp vào tăng trưởng GRDP. Khu vực FDI hiện đóng góp trên 45%
tăng trưởng GRDP của tỉnh, chiếm khoảng 55-60% tổng giá trị sản xuất công
nghiệp. Tốc độ tăng trưởng GRDP vùng duy trì mức cao ổn định 8-10%/năm trong
giai đoạn 2015-2023, trong đó FDI là động lực hàng đầu nhờ các tổ hợp sản xuất
quy mô lớn ngành xe máy, ô tô, điện tử, quang học, cơ khí chính xác và công
nghiệp hỗ trợ.
Đóng góp vào xuất khẩu. FDI chiếm tỷ lệ 70-75% tổng kim
ngạch xuất khẩu của tỉnh, trong đó điện tử và linh kiện, linh kiện ô tô/xe máy
và máy móc thiết bị chiếm hơn 60%, đưa Phú Thọ trở thành một trong những trung
tâm xuất khẩu công nghiệp chế tạo lớn nhất khu vực miền Bắc.
Đóng góp ngân sách và việc làm. Khu vực FDI đóng góp khoảng 25-30%
tổng thu ngân sách nội địa của tỉnh. Về lao động, FDI tạo việc làm cho
180.000-200.000 lao động, trong đó nhóm dự án chiến lược >500 triệu USD cần
đội ngũ kỹ thuật lên tới 45.000-50.000 người, góp phần chuyển dịch chất lượng
nhân lực trong toàn vùng.
1.1.2. Đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh
tế
Chuyển dịch mạnh sang công nghiệp
chế tạo. Nhờ các dự
án FDI quy mô lớn, tỷ trọng công nghiệp chế tạo trong GRDP tăng từ dưới 30% năm
2000 lên trên 50% vào 2025. Cơ cấu ngành chuyển từ dệt may, giấy, cơ khí phổ
thông sang cơ khí chế tạo, điện tử, nâng giá trị gia tăng toàn ngành công
nghiệp lên mức 25- 35%, cao hơn giai đoạn trước.
Hình thành chuỗi cung ứng công
nghiệp. Khu vực Phú
Thọ đã hình thành 2 cụm công nghiệp quan trọng: Cụm xe máy/ô tô/cơ khí ở Vĩnh
Phúc; Cụm điện tử ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ (cũ). Các cụm này tạo ra liên kết sản
xuất, logistics và dịch vụ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nội địa tham gia
chuỗi cung ứng.
Tác động đến việc làm và chất lượng
nhân lực. FDI thúc
đẩy quá trình chuyển dịch lao động mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và
dịch vụ. Tỷ lệ lao động kỹ thuật tại các KCN tăng nhanh, đặc biệt trong ngành cơ
khí, điện tử, tự động hóa, bước đầu tác động đến các chương trình đào tạo nghề,
liên kết doanh nghiệp và trường nghề trong toàn tỉnh.
Thúc đẩy dịch vụ logistics, thương
mại và đô thị hóa. Các trung tâm công nghiệp lớn đã hình thành nhu cầu logistics chuyên dụng,
công nghiệp hỗ trợ, thương mại và dịch vụ quốc tế, góp phần thúc đẩy đô thị hóa
tại Vĩnh Yên, Việt Trì, Phúc Yên và các đô thị vệ tinh dọc các KCN.
1.2.
Đánh giá theo ngành, lĩnh vực
1.2.1. Lĩnh vực công nghiệp
Trong giai đoạn 1987-2025, công nghiệp
giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu FDI của tỉnh Phú Thọ, chiếm trên 85% tổng vốn
FDI lũy kế, tương đương khoảng 80% số dự án còn hiệu lực trên địa bàn ba tỉnh
cũ. Đây là tỷ lệ rất cao nếu so với mặt bằng FDI chung của cả nước, thể hiện rõ
xu hướng công nghiệp hóa bằng FDI. Các ngành được thu hút chủ yếu bao gồm: xe
máy, ô tô, điện tử và linh kiện, cơ khí chế tạo, tự động hóa, khuôn mẫu, dệt
may da giày, vật liệu xây dựng… Những ngành này đã đóng góp trực tiếp vào tăng
trưởng GDP, xuất khẩu và tạo việc làm ổn định cho hàng vạn lao động trong vùng.
Trong ba địa bàn hợp nhất, Vĩnh Phúc
là trung tâm lớn nhất với gần 1.4 tỷ USD vốn thực hiện, trở thành cứ điểm sản
xuất xe máy/ô tô lớn nhất Việt Nam. Hệ sinh thái xe máy/ô tô của Vĩnh Phúc hình
thành dựa trên các dự án nền tảng của Honda, Toyota, Piaggio và hàng loạt nhà
cung ứng cấp 1,2 (VPIC1, Nissin, Exedy), tạo ra chuỗi giá trị sâu hơn so với
nhiều địa phương công nghiệp khác. Những doanh nghiệp này tạo doanh thu hàng tỷ
USD mỗi năm, đóng góp ngân sách lớn, đồng thời phát triển mạng lưới doanh
nghiệp CNHT Việt Nam tham gia cung ứng. Do đó, tại đây cũng đã hình thành các
tập đoàn Việt Nam hàng đầu toàn quốc trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, cả về quy
mô và chất lượng, như Cosmos và CNC Tech. Ngoài ra, linh kiện điện tử cũng là
lĩnh vực thu hút đầu tư mạnh mẽ của Vĩnh Phúc các năm qua, với tổng số 26 dự
án, với tổng số vốn đăng ký gần 2,9 tỉ USD, vốn thực hiện gần 60%. Các dự án
này hầu hết là các nhà cung cấp cấp 1 của Samsung Việt nam, tập trung tại KCN
Khai Quang, Bá Thiện, Bá Thiện II, Thăng Long VP.
Trong khi đó, giai đoạn từ
2018-2025, Phú Thọ cũ nổi lên mạnh mẽ trong lĩnh vực điện tử và linh kiện, trở
thành tỉnh trung du thu hút điện tử nhanh nhất. Các dự án quy mô lớn như: JNTC
Vina (2 giai đoạn với tổng vốn đăng ký là 578 triệu USD, vốn thực hiện là 535,5
triệu USD, chiếm 92.6%), BYD với vốn đăng ký 411 triệu USD, đã thực hiện 100%;
Jahwa Electronics, vốn đăng ký 210 triệu, đã thực hiện 206 triệu USD. Hòa Bình
chỉ có 1 dự án điện tử nổi bật của công ty Meiko với vốn đăng ký 200 triệu USD
đã thực hiện hơn 50%.
Như vậy, FDI công nghiệp của Phú Thọ
các đặc điểm: Quy mô tương đối lớn và có sức lan tỏa mạnh, dẫn dắt bởi các tập
đoàn toàn cầu; Chuỗi cung ứng đã hình thành rõ tại Vĩnh Phúc (xe máy/ô tô/linh
kiện điện tử) và đang hình thành tại Phú Thọ cũ (điện tử/bán dẫn); Tỷ lệ tái
đầu tư cao, với 86% vốn FDI giai đoạn 2024-2025 là vốn tăng thêm, đây là tỉ lệ
tương đương Bắc Ninh cũ và cao hơn Hải Phòng; Hiệu suất tạo việc làm và giá trị
xuất khẩu cao, đặc biệt trong điện tử và xe máy/ô tô.
Tuy nhiên, tỉnh vẫn đối mặt một số
hạn chế so với các trung tâm công nghiệp hàng đầu: Tỷ lệ nội địa hóa thấp, dưới
20%, tương đương Bắc Giang cũ, và thấp hơn Bắc Ninh (VD 30-35% với Samsung);
Chưa có dự án công nghệ nguồn (R&D, bán dẫn) như Bắc Ninh hoặc Hải Phòng;
Một số ngành vẫn dựa vào lao động giá rẻ, công nghệ trung bình, đặc điểm phổ
biến ở Hòa Bình và các dự án dệt may; Ít các doanh nghiệp nội địa tham gia
chuỗi giá trị, tương tự hạn chế của Bắc Giang và Thái Nguyên; Các năm gần đây
đầu tư FDI tăng chậm. Tổng thể, xét trên mặt bằng vùng Trung du miền núi phía
Bắc, tỉnh Phú Thọ đang có cấu trúc công nghiệp FDI mạnh và đa dạng nhất, với
hai trụ cột chiến lược (xe máy/ô tô và điện tử/linh kiện). So với các cực FDI
quốc gia như Hà nội, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Hải Phòng, tỉnh vẫn còn khoảng
cách về công nghệ lõi, quy mô dự án và mức độ tích hợp chuỗi cung ứng, nhưng có
lợi thế về quỹ đất, chi phí và vị trí trong vùng Thủ đô, giúp duy trì mức tăng
trưởng ổn định và an toàn trong dài hạn.
1.2.2. Lĩnh vực nông nghiệp và chế biến
nông lâm thủy sản
Trong giai đoạn 1987-2025, thu hút
đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ nhìn chung còn rất
hạn chế cả về số lượng dự án, quy mô vốn và mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh
tế. Tổng hợp dữ liệu từ ba địa bàn trước sáp nhập cho thấy FDI nông nghiệp chỉ
chiếm dưới 2% tổng vốn FDI lũy kế, tức thấp hơn nhiều so với nhóm công nghiệp
chế biến chế tạo (chiếm trên 85%), và cũng thấp hơn mức trung bình của một số
tỉnh có điều kiện tương đồng như Thanh Hóa, Hà Nam hay Lâm Đồng. Về phân bố địa
lý, Phú Thọ cũ là nơi thu hút nhiều nhất các dự án nông nghiệp, chủ yếu trong
chế biến gỗ, tinh bột, thực phẩm và sản phẩm nông lâm thô; Vĩnh Phúc có một số
dự án nông nghiệp công nghệ cao quy mô nhỏ từ 2,10 triệu USD tập trung ở khu
vực trồng hoa, rau sạch, sản xuất giống; còn Hòa Bình ghi nhận một số dự án chế
biến nông sản, du lịch sinh thái kết hợp nông nghiệp, với vốn đầu tư từ 1,20
triệu USD. Dù không nhiều về vốn, các dự án này vẫn góp phần tạo việc làm tại
khu vực nông thôn và kéo theo sự hình thành các vùng nguyên liệu quy mô nhỏ tại
địa phương.
Tuy nhiên, đánh giá hiện trạng cho
thấy FDI vào nông nghiệp trong 38 năm vẫn không hình thành được chuỗi giá trị
sản xuất hay cụm ngành nông nghiệp nào đủ mạnh để tạo sức lan tỏa. Phần lớn dự
án mang tính chất chế biến thô, giá trị gia tăng thấp và không gắn với hệ thống
thu mua, logistics, bảo quản lạnh, tiêu thụ theo tiêu chuẩn xuất khẩu. Điều này
được lý giải bởi một loạt rào cản mang tính cấu trúc: quy mô vùng nguyên liệu
của cả ba tỉnh trước sáp nhập đều manh mún, phân tán; năng lực logistics cho
nông nghiệp, nhất là kho lạnh và vận chuyển nông sản tươi, chưa được đầu tư bài
bản; và các doanh nghiệp FDI lớn trong lĩnh vực thực phẩm, đồ uống, nông nghiệp
công nghệ cao không chọn Phú Thọ làm điểm đến chiến lược. Lý do là thị trường
tiêu thụ nhỏ và thiếu liên kết với các tập đoàn phân phối quốc tế. Bên cạnh đó,
thủ tục đất đai, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và cơ chế bảo vệ
vùng nguyên liệu chưa đồng bộ cũng làm giảm sức hấp dẫn của tỉnh so với các địa
bàn đã phát triển mô hình nông nghiệp FDI như Lâm Đồng hay Đồng Nai.
So sánh với các tỉnh lân cận trong
vùng Thủ đô, có thể thấy mức độ cạnh tranh của Phú Thọ trong thu hút FDI nông
nghiệp thấp hơn đáng kể. Hà Nam thu hút mạnh nông nghiệp công nghệ cao nhờ
chính sách ưu tiên đất đai và thủ tục nhanh, còn Bắc Giang và Thanh Hóa có
chuỗi chế biến nông sản gắn với vùng nguyên liệu rộng. Trong khi đó, Phú Thọ
cũ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình vẫn chủ yếu dựa vào doanh nghiệp trong nước cho các
hoạt động sản xuất nông nghiệp và mới chỉ thu hút được một số dự án FDI mang
tính bổ trợ. Nhìn tổng thể, FDI nông nghiệp của Phú Thọ chưa tạo được tác động
chuyển dịch cơ cấu, chưa kéo được công nghệ tiên tiến vào sản xuất và chưa hình
thành các mô hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu quy mô lớn. Đây được xem là
nhóm ngành có mức độ phát triển FDI thấp nhất trong toàn bộ cơ cấu đầu tư của
tỉnh đến năm 2025.
1.2.3. Lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ
xanh và chuyển đổi số
Giai đoạn 2015-2025 đánh dấu bước
chuyển quan trọng của Phú Thọ trong thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ cao, gắn
với sự bùng nổ của các dự án điện tử, quang học, cơ khí chính xác và logistics
thông minh. Vĩnh Phúc và Phú Thọ cũ là hai địa bàn nổi bật trong nhóm này, với
sự xuất hiện của những tập đoàn sản xuất linh kiện lớn như Compal, Partron,
JNTC, BYD tạo nên một vành đai điện tử ngày càng rõ nét tại khu vực phía Tây Hà
Nội. Các dự án điện tử tại Vĩnh Phúc cũng duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng,
với hàng chục doanh nghiệp vệ tinh đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, góp
phần bổ sung khối lượng lớn linh kiện đầu vào cho chuỗi sản xuất thiết bị di
động và máy tính trong vùng.
Một điểm nhấn mang tính biểu tượng
của giai đoạn này là Trung tâm logistics thông minh SuperPort ICD Vĩnh Phúc,
hợp tác giữa YCH Singapore và T&T, được xây dựng theo hướng logistics công
nghệ cao, ứng dụng hệ thống vận hành tự động, trí tuệ nhân tạo, quản trị kết
nối cảng và sân bay bằng dữ liệu thời gian thực. Đây là mô hình logistics tích
hợp đầu tiên tại Việt Nam đi theo xu hướng zero carbon và doanh nghiệp công bố
mục tiêu vận hành trung hòa carbon vào năm 2040. Sự xuất hiện của SuperPort đã
giúp tăng năng lực tiếp nhận FDI công nghệ cao vào phía Bắc, đồng thời tạo lợi
thế cạnh tranh cho Phú Thọ trong chuỗi cung ứng khu vực, khi doanh nghiệp có
thể tiếp cận hệ thống vận chuyển thông minh ngay trong tỉnh, rút ngắn thời gian
với cảng Hải Phòng.
Về công nghệ xanh, các dự án FDI
trong công nghiệp tại Phú Thọ cũ và Vĩnh Phúc đều bắt đầu chuyển sang mô hình
sản xuất sạch hơn, với yêu cầu chất lượng môi trường nghiêm ngặt hơn trong các
khu công nghiệp mới. Một số KCN đã áp dụng hệ thống xử lý nước thải tiêu chuẩn
A, sử dụng năng lượng mặt trời áp mái và hệ thống tái sử dụng nước tuần hoàn,
đặc biệt tại các dự án Nhật Bản và Singapore. Tuy việc hình thành chuỗi giá trị
xanh chưa thật sự hoàn chỉnh, nhưng mức độ tuân thủ tiêu chuẩn ESG của doanh
nghiệp FDI tại Phú Thọ cao hơn đáng kể so với các tỉnh trung du miền núi khác.
Về chuyển đổi số, phần lớn các doanh
nghiệp điện tử đều ứng dụng tự động hóa và số hóa trong sản xuất. Các nhà máy
điện tử đã triển khai dây chuyền tự động hóa hoàn toàn, phân tích dữ liệu và
truy xuất nguồn gốc theo tiêu chuẩn chuỗi cung ứng toàn cầu. Các nhà máy xe máy
ô tô đã thực hiện chuyển đổi số và tự động hóa mạnh mẽ theo yêu cầu của thị
trường. Nhiều KCN của Vĩnh Phúc áp dụng hệ thống quản lý vận hành số hóa toàn
bộ, giúp giảm thời gian xử lý thủ tục của nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc hình
thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cấp tỉnh vẫn còn hạn chế. Cả ba tỉnh trước
sáp nhập chưa có trung tâm R&D quy mô lớn, chưa thu hút được doanh nghiệp
bán dẫn hoặc phòng thí nghiệm công nghệ cao tương tự Bắc Ninh hay Hà Nội.
Nhìn tổng thể, nhóm ngành công nghệ
cao đã bắt đầu tạo dấu ấn rõ rệt tại Phú Thọ, song chưa đạt đến mức hình thành
cụm công nghệ cao hoàn chỉnh. Mức độ lan tỏa còn phụ thuộc vào một số nhà đầu
tư chủ lực và thiếu các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi.
1.2.4. Lĩnh vực dịch vụ, logistics và thương
mại
Dịch vụ và logistics là nhóm ngành
có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong cơ cấu FDI của Phú Thọ trong giai đoạn
2020-2025, chủ yếu nhờ động lực từ các dự án công nghiệp quy mô lớn và sự kết
nối thuận lợi giữa Phú Thọ cũ với Vĩnh Phúc, Hà Nội và Sân bay Nội Bài. Sự ra
đời của SuperPort ICD tại Vĩnh Phúc đóng vai trò như cú hích lớn, nhờ đó, tỷ
trọng FDI vào thương mại và dịch vụ hỗ trợ công nghiệp đã tăng lên rõ rệt trong
cơ cấu FDI mới từ 2021-2024. Tại Phú Thọ cũ, hệ thống dịch vụ phục vụ công nghiệp
tại các KCN như Thụy Vân, Phú Hà cũng tăng nhanh, bao gồm trung tâm logistics
nhỏ, kho bãi, dịch vụ vận tải, thương mại, khách sạn và dịch vụ quản lý hạ tầng
KCN. Tuy nhiên, sự phát triển này chủ yếu mang tính chất bổ trợ, quy mô vừa và
nhỏ, chưa hình thành trung tâm logistics liên vùng như SuperPort. Hòa Bình, với
vị trí cửa ngõ Tây Bắc, có tiềm năng về dịch vụ du lịch, nhưng lượng FDI đổ vào
lĩnh vực dịch vụ vẫn còn thấp, đa số là các dự án lưu trú, nghỉ dưỡng và dịch
vụ sinh thái quy mô nhỏ dưới 20 triệu USD.
Dù tăng trưởng nhanh, hệ thống dịch
vụ của Phú Thọ vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành chuỗi cung ứng
hiện đại. Tỉnh vẫn thiếu trung tâm logistics quy mô lớn tại Phú Thọ cũ và Hòa
Bình; kết nối đường thủy và đường sắt chưa khai thác hiệu quả; dịch vụ hỗ trợ
công nghiệp (bảo trì, kỹ thuật, thử nghiệm, logistics lạnh…) còn thấp hơn nhiều
so với Bắc Ninh hoặc Hải Phòng. Nhìn chung, FDI trong dịch vụ và logistics đã
có bước phát triển mạnh sau 2020, nhưng chưa đạt mức hình thành ngành, mà chủ
yếu đóng vai trò hỗ trợ cho sự mở rộng của công nghiệp điện tử, ô tô và cơ khí.
1.2.5. Các lĩnh vực khác: du lịch, năng
lượng, giáo dục, y tế
Ngoài các ngành chủ lực, FDI vào các
lĩnh vực khác của Phú Thọ, như du lịch, năng lượng, giáo dục, y tế, có quy mô
nhỏ và phân tán. Hòa Bình nổi bật nhất trong nhóm này với một số dự án du lịch
sinh thái, nghỉ dưỡng và dịch vụ cộng đồng kết hợp nông nghiệp, mặc dù phần lớn
đều dưới 15-20 triệu USD và chưa tạo thành chuỗi dịch vụ quy mô lớn như ở Quảng
Ninh hay Ninh Bình. Trong lĩnh vực năng lượng, ba tỉnh trước sáp nhập ghi nhận
một số dự án điện mặt trời mái nhà, năng lượng tái tạo, chưa thu hút được dự án
năng lượng quy mô lớn, ngoại trừ dự án của Toyo Solar ở KCN Cẩm Khê, Phú Thọ
(cũ) sản xuất Pin năng lượng mặt trời với số vốn thực hiện là 120 triệu USD
trên tổng 200 triệu USD vốn đăng ký. Các lĩnh vực giáo dục và y tế hầu như
không thu hút được FDI đáng kể, phần lớn dịch vụ được cung cấp bởi hệ thống
công lập hoặc doanh nghiệp trong nước.
Nhìn chung, các lĩnh vực ngoài công
nghiệp chế biến chế tạo đóng góp phần lớn vào tổng vốn FDI của tỉnh, chưa hình
thành các ngành kinh tế mới dựa trên dịch vụ chất lượng cao, giáo dục quốc tế
hay y tế tiêu chuẩn cao như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hoặc Đà Nẵng. Đây là điểm
hạn chế, nếu xét trong bối cảnh tỉnh mong muốn chuyển dịch sang mô hình phát
triển dựa trên tri thức, công nghệ và dịch vụ trong giai đoạn 2026-2035.
1.3.
Công tác thu hút đầu tư
1.3.1. Kết quả cải cách môi trường đầu tư
qua các chỉ số PCI và PAPI
Trong giai đoạn 5 năm gần đây, ba
tỉnh trước sáp nhập đều có bước tiến nhất định trong cải cách hành chính và cải
thiện môi trường đầu tư, thể hiện qua sự gia tăng tương đối ổn định của chỉ số
PAPI (đặc biệt ở tiêu chí thủ tục hành chính công) và chỉ số PCI (ở tiêu chí chi
phí thời gian, tiếp cận đất đai). Những cải thiện này đã giúp rút ngắn thời
gian xử lý thủ tục, giảm mức độ phiền hà trong các khâu đăng ký đầu tư, đất
đai, xây dựng và môi trường. Tuy nhiên, sự cải thiện này không đồng đều, và đặc
biệt chưa đủ mạnh để tạo bứt phá so với các địa phương cạnh tranh như Bắc Giang
cũ, Hải Phòng, hay Hải Dương cũ. Điều này cho thấy chất lượng công khai thông
tin về quy hoạch, giá đất, ngân sách và phản hồi giải quyết các vấn đề của
doanh nghiệp chưa hiệu quả. TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Bắc Ninh đã áp dụng
hệ thống công khai dữ liệu quy hoạch số, đấu giá đất trực tuyến, chuẩn hóa chi
phí hành chính và xây dựng cơ chế phản hồi doanh nghiệp theo thời gian thực.
Trong khi đó, Phú Thọ vẫn duy trì mức công khai phân tán theo từng sở ngành,
thiếu một cơ sở dữ liệu tích hợp cho nhà đầu tư. Điều này khiến nhiều doanh
nghiệp đánh giá chi phí tìm kiếm thông tin và rủi ro pháp lý vẫn cao hơn so với
các địa phương dẫn đầu.
Bảng 2.1. Chi phí thời gian trong
chỉ số PCI của một số địa phương phía Bắc
|
Tỉnh
|
2024
|
2023
|
2022
|
2021
|
2020
|
|
Vĩnh Phúc
|
7.25
|
8.03
|
7.46
|
8.46
|
8.34
|
|
Phú Thọ
|
8.01
|
7.61
|
7.08
|
7.7
|
7.58
|
|
Hòa Bình
|
6.81
|
7.42
|
6.83
|
6.11
|
6.63
|
|
Hải Phòng
|
8.18
|
8.32
|
7.91
|
7.64
|
7.51
|
|
Hải Dương
|
7.65
|
7.62
|
7.08
|
7.23
|
6.97
|
|
Hưng Yên
|
7.9
|
7.63
|
7.89
|
8.46
|
8.24
|
|
Bắc Giang
|
7.25
|
7.71
|
7.38
|
6.99
|
8.68
|
Nguồn: www.pcivietnam.vn
1.3.2. Nguồn nhân lực và khả năng đáp ứng
nhu cầu của nhà đầu tư
Mặc dù 3 tỉnh đã có nỗ lực đáng kể
trong đào tạo nghề, nhưng chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt trong các ngành
cơ khí, điện tử, công nghệ cao, logistics vẫn còn hạn chế. Trong khi Bắc Giang
cũ và Bắc Ninh đã hình thành mô hình đặt hàng đào tạo giữa doanh nghiệp FDI và
trường nghề, TP. Hồ Chí Minh có hệ sinh thái đào tạo liên kết doanh nghiệp và
đại học, thì Phú Thọ vẫn thiếu mô hình phối hợp quy mô lớn. Các doanh nghiệp
FDI điện tử (như BYD, Compal, Partron), các công ty hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực cơ khí chế tạo (như CNC Tech và Cosmos) phản ánh thiếu nghiêm trọng nhân
lực kỹ thuật ở bậc trung cấp và cao đẳng. Thực tế, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở
Hòa Bình và Phú Thọ cũ thấp hơn đáng kể so với Hà Nội, Bắc Ninh và Hải Phòng.
Đây là yếu tố cản trở thu hút FDI thế hệ mới ở các lĩnh vực có hàm lượng công
nghệ cao.
1.3.3. Chi phí không chính thức và cơ chế
phòng chống tham nhũng
Bảng 2.2. Chi phí không chính thức của một số địa phương
phía Bắc
|
Tỉnh
|
2024
|
2023
|
2022
|
2021
|
2020
|
|
Vĩnh Phúc
|
6.8
|
7.47
|
7.12
|
8.05
|
6.25
|
|
Phú Thọ
|
7.08
|
7.05
|
6.54
|
6.45
|
6.67
|
|
Hòa Bình
|
6.85
|
6.81
|
6.57
|
5.32
|
5.42
|
|
Hải Phòng
|
7.67
|
7.01
|
7.22
|
6.7
|
6.63
|
|
Hải Dương
|
7.08
|
7.25
|
6.81
|
7.24
|
5.28
|
|
Hưng Yên
|
7.3
|
7.54
|
7.68
|
6.63
|
6.72
|
|
Bắc Giang
|
7.26
|
7.38
|
8.02
|
7.74
|
6.47
|
Nguồn: www.pcivietnam.vn
Một vấn đề được doanh nghiệp phản
ánh phổ biến là sự tồn tại của chi phí không chính thức trong các thủ tục đất
đai, cấp phép xây dựng, PCCC và thanh tra môi trường. Cụ thể, chi phí không
chính thức của 3 tỉnh thuộc vào nhóm thấp nhất trong các tỉnh phía Bắc cùng
cạnh tranh thu hút FDI. So với các địa phương cải thiện mạnh như Hải Phòng (áp
dụng mô hình Chính quyền phục vụ) hay Bắc Giang (cắt giảm 20-40% thời gian kiểm
tra chuyên ngành), thì mức độ kiểm soát nhũng nhiễu tại Phú Thọ cũ, Vĩnh Phúc
và Hòa Bình vẫn chưa đạt yêu cầu, làm giảm niềm tin của nhà đầu tư. Đặc biệt,
Hòa Bình liên tục nằm trong nhóm thấp của chỉ số kiểm soát tham nhũng ở cấp địa
phương, gây ra bất lợi lớn khi cạnh tranh với các trung tâm công nghiệp lớn
trong vùng.
1.3.4. Các công ty hạ tầng và tư vấn đầu tư
Một trong những hạn chế của Phú Thọ
là thiếu vắng các nhà phát triển hạ tầng công nghiệp có thương hiệu mạnh. Khác
với các địa phương thành công như Bắc Ninh, Hải Phòng, Bình Dương, nơi các chủ
đầu tư như VSIP, Kinh Bắc, DeepC, Becamex, đóng vai trò đầu kéo nhờ năng lực
marketing quốc tế, dịch vụ đầu tư trọn gói và tiêu chuẩn hạ tầng tiệm cận quốc
tế. Trong khi đó, các KCN tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ cũ và Hòa Bình chủ yếu được
phát triển bởi doanh nghiệp quy mô trung bình, thiếu kinh nghiệm vận hành các
dự án lớn và thiếu khả năng kết nối trực tiếp với các tập đoàn toàn cầu. Điều
này dẫn đến việc các KCN trong vùng thường có quy mô nhỏ, hạ tầng kỹ thuật chưa
đồng bộ, chưa đáp ứng tiêu chuẩn xanh/thông minh, cũng như thiếu các dịch vụ hỗ
trợ như kho bãi chuẩn quốc tế, logistics tích hợp, nhà xưởng cao cấp, và bộ
phận xúc tiến đầu tư chuyên nghiệp. Do chưa có thương hiệu mạnh và mạng lưới quan
hệ với các hiệp hội công nghiệp quốc tế, khả năng tiếp cận dòng vốn FDI bán
dẫn, điện tử, công nghệ cao cũng bị hạn chế đáng kể. Mới đây nhất, tỉnh đã cấp
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho tập đoàn Amata (Thái Lan) đầu tư tại KCN
Đoan Hùng và xã Tây Cốc, với diện tích hơn 475 ha, tổng vốn đầu tư 185 triệu
USD với định hướng thu hút các dự án công nghệ cao. Các dự án tương tự như vậy
cần được gia tăng và triển khai nhanh để có thể thu hút FDI thế hệ mới.
1.3.5. Hỗ trợ doanh nghiệp và chuyển đổi số
trong quản lý nhà nước
So với các tỉnh dẫn đầu, hệ thống
dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tại Phú Thọ còn mỏng, thiếu các trung tâm hỗ trợ
đầu tư một điểm đến, thiếu dịch vụ pháp lý, tư vấn, logistics chất lượng cao.
Vĩnh Phúc đã có bước tiến rõ hơn, nhưng vẫn chưa đạt trình độ hỗ trợ doanh
nghiệp giống Hải Phòng, Bắc Ninh hay TP.HCM, nơi thành lập các trung tâm Xúc
tiến đầu tư, thương mại du lịch tích hợp, cùng nền tảng số quản lý quy trình
đầu tư theo thời gian thực. Việc số hóa quản lý đất đai, thanh toán không dùng
tiền mặt, cấp phép trực tuyến… tại Phú Thọ cũ và Hòa Bình còn chậm, khiến chi
phí tuân thủ của doanh nghiệp tăng cao hơn. Hiện nay, Phú Thọ đã triển khai
chính sách thu hút đầu tư theo ba nhóm chính: (i) hoàn thiện thể chế quản lý và
đầu tư hạ tầng KCN, (ii) cải cách thủ tục hành chính thông qua cơ chế “một cửa,
một cửa liên thông”, và (iii) hỗ trợ trực tiếp về giải phóng mặt bằng, tái định
cư và đào tạo lao động theo nhu cầu doanh nghiệp. Những chính sách này giúp Phú
Thọ giữ được môi trường đầu tư ổn định, an ninh và an sinh tốt, thu hút được
dòng vốn vào công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ và một số lĩnh vực nông
nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, so với các tỉnh đi đầu, Phú Thọ vẫn thiếu nghị
quyết mang tính tích hợp và chiến lược dài hạn cho toàn tỉnh. Các chính sách
chủ yếu được ban hành theo từng trường hợp hoặc từng lĩnh vực, thiếu một khung
chính sách tổng thể đủ mạnh để tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn trong thu hút
FDI.
2. Hiện trạng một số chuỗi
sản xuất và cung ứng FDI trên địa bàn
tỉnh
2.1.
Hiện trạng một số chuỗi sản xuất và ung ứng FDI
Đến năm 2025, tỉnh có 15 dự án FDI
chiến lược có quy mô từ 200 triệu USD trở lên, trở thành lực lượng nòng cốt,
chiếm trên 60% tổng vốn FDI đăng ký của toàn tỉnh, dù chỉ chiếm khoảng 1,5% số
lượng dự án. Đây là đặc điểm phản ánh tính chất tập trung vốn cao vào những tập
đoàn có sức lan tỏa công nghệ và chuỗi cung ứng. Tuy vậy, sự phát triển chuỗi
sản xuất và cung ứng cho các dự án lớn này khác nhau, tùy thuộc vào lĩnh vực và
thị trường tiêu thụ. Bảng 2.3 tóm tắt về chuỗi cung ứng của một số chuỗi sản
xuất FDI tại Phú Thọ.
Bảng 2.3. Đặc điểm một số chuỗi sản xuất FDI tại Phú Thọ
|
Công ty
|
Lĩnh vực
|
Thị trường chính
|
Chuỗi cung ứng
|
|
Honda Việt Nam
|
Xe máy/ô tô
|
Nội địa
|
Phát triển rất mạnh
cho xe máy, 95% cung cấp nội địa, hệ sinh thái phát triển mạnh nhất, là động
lực để các DN CNHT Việt Nam phát triển. Chuỗi ô tô còn yếu do sản lượng nhỏ.
|
|
Toyota Việt Nam
|
Ô tô
|
Nội địa
|
Nỗ lực nội địa hóa và
hỗ trợ doanh nghiệp CNHT Việt Nam nâng cao năng lực tham gia chuỗi, nhưng tỉ
lệ vẫn thấp do sản lượng nhỏ và phân mảnh theo nhiều dòng xe
|
|
VPIC1
|
Linh kiện cơ khí
|
Nội địa
|
Phát triển rất mạnh
cho xe máy, máy nông nghiệp, ô tô, điện tử. Hệ sinh thái phát triển mạnh
nhất, là động lực để các DN CNHT Việt Nam phát triển.
|
|
Piaggio Việt Nam
|
Xe máy
|
Nội địa
|
Phát triển mạnh. Nội
địa hóa hầu hết khu vực cơ khí và nhựa cao su.
|
|
Haesung Vina
|
Camera cho điện thoại
Samsung
|
Xuất khẩu
|
Nhập khẩu hầu hết
|
|
Nissin Việt Nam
|
Phanh cho ô tô
|
Xuất khẩu
|
Nhập khẩu hầu hết
|
|
BYD Vietnam
|
Linh kiện điện tử
|
Xuất khẩu
|
Nhập khẩu hầu hết
|
|
Namuga
|
Linh kiện điện tử
|
Xuất khẩu
|
Nhập khẩu hầu hết
|
|
JNTC VINA
|
Linh kiện điện tử
|
Xuất khẩu
|
Nhập khẩu hầu hết
|
Nguồn: Sở Tài chính
Như vậy đặc điểm cơ bản của FDI
chiến lược đang đầu tư tại Phú Thọ là hầu hết phục vụ thị trường nội địa hoặc
xuất khẩu cho công ty lắp ráp và sản xuất FDI đầu chuỗi tại Việt Nam. Đặc điểm này sẽ tác động rất nhiều đến xu hướng đầu tư của các công ty FDI vào tỉnh,
nếu không có các chương trình thu hút trọng tâm của địa phương.
2.2.
Hiện trạng thu hút đầu tư FDI thế hệ mới của Phú Thọ
2.2.1. Quy mô và cơ cấu FDI
Tỉnh Phú Thọ hiện Phú Thọ hiện có
734 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 12,8 tỷ USD. Quy mô này đưa
tỉnh trở thành một trong những cực thu hút đầu tư lớn nhất vùng Trung du và
miền núi phía Bắc, ngang tầm các tỉnh công nghiệp dẫn dắt như Bắc Ninh hay Hải
Phòng trong giai đoạn trước.
Tuy nhiên, khác với các địa phương
tập trung theo cực ngành, như Bắc Ninh điện tử, Hải Phòng công nghệ cao và ô
tô, cơ cấu FDI của Phú Thọ hình thành từ sự cộng hưởng của ba nền tảng công
nghiệp trước hợp nhất. Vĩnh Phúc cũ là trung tâm FDI quốc gia về xe máy/ô tô/cơ
khí chế tạo và linh kiện điện tử; Phú Thọ cũ với điện tử. Đây là hệ sinh thái
FDI đa dạng, nhưng vẫn có cực kéo là Vĩnh Phúc cũ có thể đóng vai trò dẫn dắt
quyết định cơ cấu.
Sau hợp nhất, Phú Thọ hình thành 3
cực công nghiệp: (1) Vĩnh Phúc là đầu tàu FDI với 521 dự án, chiếm 75% vốn FDI
toàn tỉnh, có hàm lượng công nghệ trong nhóm 5 địa phương cao nhất miền Bắc,
sau Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Phòng. Toyota và Honda vẫn là hai dự án
có tác động cơ cấu lớn nhất, tạo ra hệ sinh thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ
trợ, 78 đại lý dịch vụ, và đóng góp >40% sản lượng ô tô miền Bắc. (2) Phú
Thọ cũ trước hợp nhất có 166 dự án, tổng vốn 1,5 tỷ USD. Sau hợp nhất được bổ
sung chuỗi lớn từ Vĩnh Phúc với BYD Electronics là dự án nổi bật nhất với 411
triệu USD và 8 lần mở rộng. Sản phẩm điện tử tăng trưởng liên tục trong
2021-2025, nằm trong nhóm ngành tăng trưởng nhanh nhất theo Quy hoạch tỉnh. (3)
Hòa Bình với vật liệu và năng lượng quy mô lớn. Khu vực này ít dự án FDI nhưng
có các dự án vật liệu công nghiệp quy mô lớn, như nhà máy xi măng Xuân Thiện
29.800 tỷ đồng và Nhà máy nghiền clinker 3.500 tỷ đồng (2026-2027), sẽ bảo đảm
vật liệu cho phát triển công nghiệp cả tỉnh và vùng.
2.2.2. FDI thế hệ mới tại Phú Thọ
Việc hợp nhất đã hình thành cho Phú
Thọ một không gian kinh tế rộng lớn. Dựa trên 8 đặc điểm của các chuỗi sản xuất
thế hệ mới, có thể thấy, dòng vốn FDI thế hệ mới đã có mặt tại tỉnh, tuy còn
thấp nhưng đã thể hiện một vài đặc trưng.
Mức độ tự động hóa và hàm lượng kỹ
thuật. Theo tiêu
chí FDI thế hệ mới, trình độ công nghệ và khả năng tạo ra giá trị gia tăng là
yếu tố then chốt. FDI chiến lược tại Phú Thọ đã gắn liền với yêu cầu công nghệ
cao và tự động hóa. Trong lĩnh vực cơ khí, các tập đoàn Toyota và Honda đã áp
dụng mô hình sản xuất tinh gọn kết hợp công nghệ số, với hơn 60% khâu kiểm định
và đo lường được số hóa nhằm tăng năng suất và giảm lỗi sản xuất. Ở lĩnh vực
điện tử, các nhà máy của BYD Electronics, Meiko, Partron, JNTC, Jahwa vận hành
dây chuyền SMT tự động cấp độ 3 và 4, sử dụng hệ thống truy suất theo chuẩn Mỹ
và EU cho toàn chu trình: từ vật tư đầu vào, in mạch, gắn chip, module camera
cho đến đóng gói. Điều này đặt Phú Thọ vào nhóm các địa phương có hàm lượng
công nghệ cao miền Bắc, tương đương Bắc Giang giai đoạn 2020-2023 khi Foxconn
và Luxshare tăng tốc đầu tư. Việc các doanh nghiệp liên tục mở rộng (BYD,
Partron, JNTC) chứng minh năng lực đáp ứng của tỉnh đang cải thiện và phù hợp
với các yêu cầu công nghệ thế hệ mới. Tuy nhiên, FDI tại Phú Thọ hiện nay sử
dụng công nghệ tập trung vào gia công, lắp ráp, phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào
thiết bị, nguyên vật liệu và thiết kế từ công ty mẹ. Tỷ lệ dự án sử dụng công
nghệ cao, tự động hóa cao hoặc công nghệ lõi còn rất hạn chế. Do vậy, giá trị
gia tăng được tạo ra tại Việt Nam rất thấp. Việc thiếu các dự án FDI công nghệ
cao tạo giá trị gia tăng cao cho địa phương khiến khả năng nâng cao năng suất
lao động, lan tỏa công nghệ và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của tỉnh
còn chậm, chưa tạo được động lực đột phá cho tăng trưởng dài hạn.
Nhu cầu nhân lực kỹ thuật trình độ
cao. Sự phát triển
của các nhà máy FDI thế hệ mới khiến nhu cầu lao động kỹ thuật của tỉnh tăng
rất nhanh. Riêng 15 dự án FDI chiến lược đã cần khoảng 45.000-50.000 lao động
kỹ thuật bậc trung và bậc cao, bao gồm kỹ sư điện/điện tử, tự động hóa, cơ khí
chính xác, vận hành robot, quản trị sản xuất số, kỹ thuật khuôn mẫu, AI data
monitoring trong sản xuất. Tuy nhiên, khả năng cung ứng lao động kỹ thuật của
Phú Thọ mới chỉ đáp ứng khoảng 60-65%, phần còn lại phải thu hút từ Hà Nội,
Hưng Yên, Thái Nguyên hoặc thuê chuyên gia nước ngoài. Đây là thách thức lớn
nhất đối với việc nâng tầm chất lượng FDI. So với các địa phương dẫn đầu như Hà
Nội (có 65 trường kỹ thuật) hay TP.HCM (hơn 90 trường nghề), Phú Thọ còn thiếu
hệ thống đào tạo quy mô lớn và đào tạo chuyên ngành hẹp phục vụ điện tử, quang
học, robot, EV. Tuy nhiên, nhu cầu lao động kỹ thuật cao cũng mở ra cơ hội để
Phú Thọ xây dựng một chiến lược đào tạo gắn với doanh nghiệp tương tự mô hình
tại Bắc Ninh với các trường cao đẳng và trung cấp nghề tư nhân kết hợp rất hiệu
quả với các công ty FDI trên địa bàn, hoặc các trường cao đẳng nghề tại Bình
Dương cũ được hình thành bởi các công ty đầu tư hạ tầng như Becamex hay VSIP.
Nếu làm tốt, địa phương có thể trở thành trung tâm nhân lực kỹ thuật của vùng
trung du.
FDI lĩnh vực điện tử. Một đặc điểm nổi bật của FDI tại Phú
Thọ giai đoạn 2018-2025 là sự chuyển trục nhanh sang nhóm ngành điện tử và linh
kiện. Đây là khu vực có nhiều đặc điểm điển hình của dòng vốn thế hệ mới nhất,
với yêu cầu cao về công nghệ, mức độ tự động hóa trong dây chuyền sản xuất,
nhân lực kỹ thuật, các yêu cầu tiêu chuẩn về quản trị chuỗi cung ứng, số hóa,
xanh hóa, phát triển chuỗi cung ứng… Đến tháng 12/2025, lũy kế các dự án FDI
của tỉnh có số vốn đăng ký là 12,805 tỉ USD, trong đó 53.7% là các dự án trên
50 triệu USD, và 35.2% là các dự án điện tử (hình 2.1). Tỷ trọng vốn FDI vào
điện tử đã tăng nhanh, là dấu hiệu cho thấy dòng vốn thế hệ mới đã hình thành ở
Phú Thọ. Tỉ lệ này khá cao, mức tương đương các trung tâm công nghiệp như Bắc
Ninh giai đoạn trước và Bắc Giang giai đoạn gần đây.
Hình 2.1. Các dự án FDI lĩnh vực điện tử của Phú Thọ đến
2025

Nguồn: Sở Tài Chính
Điểm đáng chú ý là sự xuất hiện của
chuỗi linh kiện cho xe điện, gồm BYD Việt Nam sản xuất module camera, màn hình,
bảng mạch cho EV; Partron, InterFlex sản xuất cảm biến, ăng ten, mạch mềm FPC
dùng trong xe điện và thiết bị IoT; một số nhà cung ứng từ Trung Quốc, Đài Loan
đang khảo sát mở rộng sang pin, module BMS, motor điện. Đây là tín hiệu quan
trọng cho thấy Phú Thọ đã bắt đầu gia nhập chuỗi EV toàn cầu, một trong những
chuỗi FDI có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Bên cạnh đó, các linh kiện
quang học, kính, camera phát triển nhanh (JNTC, Jahwa, Goertek), đưa tỉnh trở
thành trung tâm sản xuất optical parts quy mô lớn ở miền Bắc, chỉ sau Bắc Giang
cũ.
Cụm sản xuất và chuỗi cung ứng. Sự phân bố tập trung của FDI theo
không gian là đặc điểm nổi bật của Phú Thọ sau hợp nhất. Dòng vốn không phân
tán mà hình thành theo 2 cụm sản xuất và cung ứng khá rõ rệt:
(1) Điện tử, bán dẫn, máy tính. Bảng 2.4 cho thấy, Phú Thọ hiện có
33 dự án với vốn đăng ký từ 50 triệu USD trở lên trong lĩnh vực này, tập trung
chính vào linh kiện điện tử và bán dẫn với 30 dự án mã ngành 2610 điện tử và
linh kiện, 02 dự án mã 2620 máy tính, và 01 dự án pin năng lượng mặt trời. Tích
tụ ngành điện tử lớn nhất là 26 dự án ở Vĩnh Phúc, với tổng vốn thực hiện 1,55
tỉ USD, đạt 53.7% so với vốn đăng ký (Phụ lục 2). Hầu hết các dự án tại các KCN
Khai Quang, Bá Thiện I, Bá Thiện II, và Thăng Long VP, quy mô trung bình 112
triệu USD/dự án. Khu vực mới nổi là KCN Thụy Vân và Phú Hà, thuộc Phú Thọ cũ,
chỉ có 6 dự án, nhưng quy mô lớn hơn gấp đôi, với vốn trung bình 236 triệu USD
và giải ngân thực hiện rất nhanh, tỉ lệ thực hiện là 97%. Trên địa bàn Hòa Bình
cũ có 1 công ty là Meiko, vốn đăng ký 200 triệu USD, đã thực hiện 105.5 triệu.
Các dự án FDI điện tử thuộc các mã ngành 2610 và 2620 này là điển hình của FDI
thế hệ mới tại tỉnh.
Bảng 2.4. Lũy kế các dự án FDI điện tử (mã 2610[1] và 2620[2]) đến 12/2025
|
Chỉ tiêu
|
Số dự án
|
Quy mô TB (vốn ĐK, triệu USD)
|
Tổng vốn ĐK (tỉ USD)
|
Tổng vốn TH (tỉ USD)
|
% vốn TH so với ĐK
|
|
Vĩnh Phúc cũ
|
26
|
111.12
|
2,889
|
1,552.4
|
53.7%
|
|
Phú Thọ cũ
|
6
|
236.5
|
1,419
|
1,372.5
|
96.7%
|
|
Hòa Bình cũ
|
1
|
200
|
200
|
105.5
|
52.8%
|
|
Phú Thọ
|
33
|
136.61
|
4,508
|
3,030.4
|
67.2%
|
Nguồn: Sở Tài Chính
(2) Xe máy/ô tô, cơ khí, logistics. Phú Thọ hiện có 8 dự án trên 50
triệu USD vốn đăng ký thuộc nhóm này, 6 dự án tập trung ở khu vực Vĩnh Yên, có
Honda, Toyota, Piaggio, VPIC, Hitachi Astemo và 2 dự án ở KCN Phú Hà là BYD và
công ty cao su INOE của Nhật Bản.
Bảng 2.5. Lũy kế các dự án FDI ô tô, xe máy và linh kiện đến
12/2025
|
Chỉ tiêu
|
Số dự án
|
Quy mô TB (vốn ĐK, triệu USD)
|
Tổng vốn ĐK (triệu USD)
|
Tổng vốn TH (triệu USD)
|
% vốn TH so với ĐK
|
|
Vĩnh Phúc cũ
|
6
|
166.07
|
996.39
|
922.35
|
92.6%
|
|
Phú Thọ cũ
|
2
|
254.66
|
509.31
|
431.00
|
84.6%
|
|
Phú Thọ
|
8
|
188.21
|
1,505.70
|
1,353.35
|
89.9%
|
Nguồn: Sở Tài Chính
Các công ty này, cùng với hệ thống
nhà cung cấp Việt Nam cấp 1,2, đã hình thành hệ sinh thái cơ khí chế tạo lớn
nhất Việt Nam. Bảng 2.5 cho thấy, tổng số vốn đăng ký trong lĩnh vực này đạt
1,5 tỉ USD, vốn thực hiện đạt gần 90%. Quy mô dự án lớn hơn khu vực điện tử,
trung bình là 188 triệu USD/dự án. BYD là doanh nghiệp xuất hiện trong cả 2
ngành.
Như vậy, đã có sự tích tụ nhất định
của FDI các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ ở Phú Thọ. Tuy vậy,
Yêu cầu xanh hóa, tiêu chuẩn hóa và
quản trị chuỗi. Các
dự án FDI trong tỉnh ngày càng tuân thủ yêu cầu: ESG, dấu chân carbon, chứng
nhận môi trường và truy xuất nguồn gốc, trong các ngành điện tử, quang học;
Năng lượng sạch: nhiều doanh nghiệp đang chuyển sang rooftop solar hoặc ký hợp
đồng DPPA. Tuy nhiên, nhiều KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải cấp vùng, chưa
có trung tâm logistics xanh. Đây là điểm mà Phú Thọ còn cách xa Hải Phòng và
Bình Dương, là thiếu chuẩn hạ tầng xanh tại các KCN.
2.2.3. Hạn chế trong thu hút FDI hiện nay
Như vậy, mặc dù đã hình thành hai
cụm sản xuất và cung ứng tương đối rõ nét về mặt không gian, các chuỗi FDI tại
Phú Thọ hiện nay vẫn chủ yếu dừng ở tập trung địa lý, mức độ liên kết chuỗi còn
thấp. Các FDI này đã hình thành tích tụ công nghiệp, nhưng chưa phát triển được
hệ sinh thái chuỗi giá trị gắn kết FDI với khu vực doanh nghiệp nội địa, do đó
chưa tạo giá trị gia tăng cao cho địa phương. Một số hạn chế trong thu hút FDI
hiện nay của tỉnh:
Vị trí của Phú Thọ trong chuỗi giá
trị toàn cầu còn ở phân đoạn trung bình. Xét trong chuỗi giá trị toàn cầu, Phú Thọ hiện chủ
yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp và sản xuất tiêu chuẩn, với hàm lượng
công nghệ và giá trị gia tăng chưa cao. Các dự án FDI trên địa bàn phần lớn tập
trung vào sản xuất lắp ráp và các công đoạn cuối của chuỗi sản xuất, hoặc linh
kiện đơn giản, ít tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao như nghiên cứu
- phát triển, thiết kế sản phẩm, công nghệ kỹ thuật lõi, và quản trị chuỗi cung
ứng toàn cầu. Điều này cho thấy, mặc dù tỉnh đã trở thành điểm đến của đầu tư
nước ngoài, song vai trò của Phú Thọ trong mạng lưới sản xuất toàn cầu vẫn chủ
yếu là vệ tinh sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia. Vị trí này sẽ dễ bị thay
thế khi các điều kiện về ưu đãi giảm hay chi phí lao động gia tăng.
Sản xuất gia công lắp ráp. Theo tiêu chí FDI thế hệ mới, trình
độ công nghệ và khả năng tạo ra giá trị gia tăng là yếu tố then chốt đánh giá
dự án FDI. Đa số dự án FDI tại Phú Thọ hiện nay tập trung vào gia công, lắp
ráp, phụ thuộc lớn vào thiết bị, nguyên vật liệu và thiết kế từ công ty mẹ. Tỷ
lệ dự án sử dụng công nghệ cao, tự động hóa cao hoặc công nghệ lõi còn hạn chế.
Phần lớn nguyên vật liệu, linh kiện đầu vào của các dự án điện tử và ô tô vẫn
phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, đặc biệt từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Các
doanh nghiệp Việt Nam, hầu hết chỉ tham gia cung cấp các linh kiện rời, giá trị
gia tăng thấp, ít công ty sản xuất được cụm linh kiện hoàn chỉnh. Việc thu hút
đầu tư theo chuỗi giá trị chưa hình thành, do thiếu vắng các doanh nghiệp đầu
chuỗi có vai trò dẫn dắt và kéo theo hệ sinh thái vệ tinh.
Thiếu vắng R&D và thiết kế, chưa
hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Một trong những tiêu chí quan trọng của FDI thế hệ mới là sự
hiện diện của hoạt động R&D, thiết kế và đổi mới sáng tạo tại địa phương.
Tuy nhiên, tại Phú Thọ, số lượng dự án FDI có bộ phận R&D, trung tâm kỹ
thuật hoặc chức năng thiết kế sản phẩm còn rất ít. Phần lớn hoạt động nghiên
cứu và phát triển vẫn được thực hiện tại công ty mẹ hoặc các trung tâm R&D
ở các địa phương, quốc gia khác. Các trung tâm R&D, thiết kế và thử nghiệm của
các tập đoàn lớn như Toyota, Honda, BYD, Meiko không đặt trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh hiện chưa hình thành được hệ sinh thái R&D gắn kết giữa doanh nghiệp
FDI, doanh nghiệp nội địa, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo. Điều này hạn chế
khả năng tiếp nhận, học hỏi công nghệ và tham gia sâu hơn vào các phân đoạn giá
trị cao của chuỗi giá trị toàn cầu.
Liên kết với doanh nghiệp nội địa
yếu. Liên kết giữa
doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa là tiêu chí cốt lõi để đánh giá mức độ
lan tỏa của FDI thế hệ mới. Tuy nhiên, liên kết FDI - DDI tại Phú Thọ hiện còn
yếu, số lượng doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của FDI còn hạn chế,
tỷ lệ nội địa hóa thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực công nghệ, quản trị
và tiêu chuẩn của doanh nghiệp nội địa chưa đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn
FDI; đồng thời tỉnh chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thúc đẩy các chương
trình phát triển nhà cung cấp, kết nối cung - cầu và liên kết chuỗi giá trị một
cách quyết liệt và có hệ thống.
Yêu cầu ESG bước đầu cải thiện nhưng
chưa đáp ứng FDI thế hệ mới. FDI thế hệ mới đặt trọng tâm vào các tiêu chí ESG và phát
triển bền vững. Tuy nhiên, tại Phú Thọ, hạ tầng xanh và giải pháp tuần hoàn tài
nguyên chưa phổ biến. Việc ứng dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng và
giảm phát thải carbon trong các khu, cụm công nghiệp còn hạn chế. Nếu không sớm
nâng cao tiêu chuẩn môi trường và phát triển hạ tầng xanh, tỉnh sẽ gặp khó khăn
trong việc thu hút các dự án FDI xanh, công nghệ cao và các tập đoàn đa quốc
gia có yêu cầu nghiêm ngặt về ESG.
Thiếu hụt nguồn nhân lực kỹ thuật
chất lượng cao. Nguồn
nhân lực là yếu tố quyết định trong thu hút FDI thế hệ mới. Tuy nhiên, Phú Thọ
hiện đang thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực kỹ thuật chất lượng cao, đặc biệt là
kỹ sư trong các lĩnh vực bán dẫn, điện tử, tự động hóa, công nghệ thông tin, dữ
liệu và sản xuất thông minh. Hệ thống đào tạo nghề và đào tạo kỹ thuật cao chưa
theo kịp nhu cầu của các ngành công nghiệp ưu tiên và các dự án FDI công nghệ
cao. Điều này làm giảm sức hấp dẫn của tỉnh đối với các nhà đầu tư chiến lược,
đồng thời hạn chế khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ mới.
Như vậy, từ việc đánh giá hiện trạng
theo các tiêu chí cốt lõi của FDI thế hệ mới, có thể khẳng định rằng chất lượng
dòng vốn FDI hiện nay của tỉnh Phú Thọ chưa cao, tỉnh chưa tham gia sâu vào các
khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Mô hình thu hút FDI
hiện tại vẫn nặng về số lượng, chưa tạo được động lực đủ mạnh cho đổi mới sáng
tạo, nâng cao năng suất và phát triển bền vững. Các hạn chế này chính là những
điểm nghẽn lớn của mô hình thu hút FDI hiện nay trong việc thực hiện mục tiêu
chiến lược tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030. Nếu không có định hướng
và chính sách mới để nâng cao chất lượng FDI, tăng cường liên kết FDI - DDI,
phát triển công nghiệp hỗ trợ, R&D và nhân lực chất lượng cao, khu vực FDI
sẽ khó tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng nhanh và bền vững của
tỉnh trong giai đoạn tới.
3. Tiềm
năng của tỉnh Phú Thọ trong thu hút FDI thế hệ mới
Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi
cung ứng toàn cầu và xu hướng dịch chuyển FDI thế hệ mới vào Việt Nam, tỉnh Phú
Thọ sau hợp nhất có tiềm năng trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao của
vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Dựa trên các đặc điểm FDI đã hình thành
giai đoạn 2010-2025, Phú Thọ có nhiều yếu tố tương đồng với Bắc Giang, Bắc Ninh
hay Bình Dương thời kỳ bứt phá 2017-2022, tạo nền tảng thuận lợi để thu hút
dòng vốn FDI công nghệ cao, xanh, tự động hóa và tích hợp chuỗi trong thập kỷ
tới.
Vị trí địa lý chiến lược trong mạng
lưới chuỗi cung ứng phía Bắc. Phú Thọ nằm ở vị trí cửa ngõ Tây Bắc của Hà Nội, là điểm nút
kết nối giữa tam giác công nghiệp Hà Nội - Thái Nguyên - Hải Phòng và hành lang
Lào Cai - Côn Minh. Khoảng cách từ các trung tâm công nghiệp lớn đều rất gần:
55-60 km tới Hà Nội, 70-90 km tới sân bay Nội Bài, 120-150 km tới Hải Phòng -
Quảng Ninh. Tuy không có lợi thế như vùng đã phát triển mạnh là Hà Nội, Bắc
Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và gần đây là Thái Nguyên, tỉnh
Phú Thọ có lợi thế về vị trí địa lý hơn một số địa phương khác trong vùng đồng
bằng Bắc bộ, nhất là vùng trung du. Vị trí này cũng có thuận lợi khi các chuỗi
sản xuất thế hệ mới đang tiếp tục dịch chuyển khỏi Trung Quốc, kể cả các nhà
sản xuất Trung Quốc, trong bối cảnh thuế đối ứng và các mức thuế khác của Hoa
Kỳ tiếp tục áp nặng cho quốc gia này.
Năng lực hạ tầng công nghiệp và
logistics. Tỉnh Phú
Thọ sau sáp nhập đã quy hoạch 58 KCN với quy mô sử dụng đất là 14.055,36 ha đến
năm 2050 (Phú Thọ (cũ): 13 KCN/5095ha; Hoà Bình: 16 KCN/3470ha; Vĩnh Phúc: 29
KCN/5489ha), Hiện nay, có 28 KCN đã được đầu tư/hoạt động với diện tích đất
công nghiệp là 2.313,52 ha. Tổng vốn đầu tư đăng ký là 34.329,2 tỷ đồng và
246,82 triệu USD. Hình 2.2 cho thấy năng lực cung ứng KCN của Vĩnh Phúc cũ so với
các tỉnh phía Bắc trong cạnh tranh thu hút FDI. Các chỉ số này tương đương với
Hải Dương cũ và thấp hơn các tỉnh đi đầu là Bắc Ninh và Hải Phòng. Đến nay sau
khi sáp nhập, tổng nguồn cung đất công nghiệp của Phú Thọ sẽ tương đương Hải
Phòng (sáp nhập với Hải Dương) và ít hơn Bắc Ninh (sáp nhập với Bắc Giang). Tuy
nhiên, tỉ lệ lấp đầy của Phú Thọ thấp hơn nhiều 2 địa phương trên sau sáp nhập.
Như vậy, nguồn cung hạ tầng KCN của Phú Thọ sau sáp nhập sẽ có thể cạnh tranh
hơn, so với các địa phương đi đầu trong thu hút FDI thế hệ mới.
Hình 2.2. Nguồn cung đất KCN ở một số tỉnh phía Bắc trước
sáp nhập (6/2025)

Nguồn: Cushman& Walkefield, 2025
Về giá thuê đất một số KCN ở Phú Thọ
dao động từ 90-140 USD/m2 (Bảng 2.6). Trong đó, Vĩnh Phúc cũ có giá cao nhất
lên tới 140 USD, tương đương với mức cao ở Bắc Ninh, nhưng khu vực Phú Thọ cũ
có giá tương đương một số địa điểm ở Hải Phòng, Hải Dương hiện nay. Tuy vậy, vị
trí các KCN này kém cạnh tranh hơn so với Hải Phòng, Hải Dương, do vậy, có thể
nói giá thuê đất của Phú Thọ sau sáp nhập vẫn chưa cạnh tranh so với các địa
phương cùng thu hút FDT thế hệ mới.
Bảng 2.6. Giá thuê đất và tỉ lệ lấp đầy một số KCN
|
KCN
|
Diện tích (ha)
|
Giá thuê đất trung bình (USD/m2)
|
Tỉ lệ lấp đầy
|
|
Phú Hà (PT cũ)
|
270.7
|
100
|
60%
|
|
Cẩm Khê (PT cũ)
|
331.9
|
90
|
42.6%
|
|
Bình Xuyên (VP)
|
218.5
|
130-140
|
100%
|
|
Bá Thiện (VP)
|
232.7
|
120-130
|
80%
|
|
Thăng Long (VP)
|
172.5
|
90-95
|
100%
|
Nguồn: BQL các KCN
Để so sánh, hình 2.3 cho thấy giá
thuê đất KCN trung bình của Vĩnh Phúc trước đây thuộc nhóm cao, kém Bắc Ninh,
Hải Phòng, ngang Hưng yên, và cao hơn hẳn Hải Dương và Quảng Ninh. Tuy ngang
Hưng Yên nhưng khả năng hấp thụ thấp hơn hẳn, và cũng thấp hơn nhóm sau rất
nhiều, cho thấy giá thuê sơ cấp trung bình của Vĩnh Phúc hiện đang cao so với
mặt bằng và phân khúc các nhà đầu tư mà tỉnh hướng đến. Mức giá này làm cho khả
năng hấp thụ không cạnh tranh được với nhóm trên mà cũng không cạnh tranh được
với nhóm dưới. Sau sáp nhập, các địa phương này đều thuộc nhóm có lợi thế hơn.
Trong khi đó Phú Thọ mới, với trung bình cộng của 3 địa phương, giá thuê đất sẽ
có thể rẻ hơn nhưng năng lực hấp thụ sẽ giảm hơn so với Vĩnh Phúc trước đây,
nghĩa là lợi thế sau khi sáp nhập không tăng lên, nếu không có các chính sách
quyết liệt trong thu hút đầu tư.
Hình 2.3. Giá thuê đất KCN ở một số tỉnh phía Bắc trước sáp
nhập (6/2025)

Nguồn: Cushman& Walkefield, 2025
Lực lượng lao động. Nguồn lao động của tỉnh đạt hơn 1,5
triệu người, trong đó lực lượng 20-39 tuổi chiếm trên 45%. Mức lương trung bình
trong KCN 5,5- 7,5 triệu đồng/tháng, thấp hơn Hà Nội, Bắc Ninh và Hải Phòng từ
15-30%, tạo biên độ cạnh tranh lớn cho các ngành cần nhiều lao động kỹ thuật
như SMT, điện tử, cơ khí, sản xuất linh kiện EV.
Hình thành tích tụ công nghiệp là
nền tảng cho các ngành công nghệ cao. Phú Thọ sau khi hợp nhất ba tỉnh, đã hình thành một nền tảng
tích tụ công nghiệp hiếm có trong vùng Bắc Bộ, tạo lực đẩy quan trọng cho quá
trình chuyển dịch sang các ngành công nghệ cao. Trước hết, tỉnh thừa hưởng hệ
sinh thái cơ khí - ô tô - xe máy phát triển mạnh từ Vĩnh Phúc, đặc biệt tại khu
vực Vĩnh Yên, nơi tập trung các nhà máy lớn của Honda, Toyota, Piaggio và mạng
lưới các doanh nghiệp cung ứng linh kiện. Đây là nền tảng công nghiệp chế tạo
bền vững, có trình độ tự động hóa cao và nguồn nhân lực kỹ thuật dày dặn. Đồng
thời, Phú Thọ đã tích lũy năng lực trong sản xuất điện tử, quang học và linh
kiện, với sự hiện diện của các tập đoàn như BYD, JNTC, Meiko… giúp hình thành
các cụm công nghệ cao có quy mô ngày càng lớn. Sự kết hợp của hai hệ sinh thái
này tạo ra cấu trúc công nghiệp bổ trợ lẫn nhau, khác biệt so với nhiều địa
phương chỉ mạnh một ngành đơn lẻ. Sự giao thoa giữa cơ khí chính xác và điện tử
có thể mở ra cơ hội chiến lược để Phú Thọ phát triển các lĩnh vực công nghệ cao
thế hệ mới. Cụ thể, tỉnh có khả năng trở thành điểm đến cho sản xuất linh kiện
và cấu phần của xe điện (EV), bao gồm động cơ điện, bộ điều khiển, cảm biến,
module pin và các hệ thống điện/điện tử trong xe. Nền tảng công nghiệp kép cơ
khí - điện tử này cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án FDI về
các loại phương tiện giao thông điện hóa, thiết bị bán dẫn, năng lượng mới/tái
tạo, cũng như các ngành công nghệ cao như thiết bị y tế, thiết bị bay tầm thấp
không người lái (UAV), robot công nghiệp và thiết bị tự động hóa thông minh.
Với quy mô mở rộng, nguồn nhân lực
lớn, kết nối hạ tầng liên vùng và khả năng hình thành cụm công nghiệp tích hợp,
Phú Thọ đã có các dấu hiệu để có thể chuyển mình từ một địa phương công nghiệp
trở thành điểm đến FDI thế hệ mới có vị thế trong vùng. Để đạt được được mục
tiêu này trong 10 năm tới, tỉnh cần tập trung vào: thu hút FDI chọn lọc theo
chuỗi, phát triển nhân lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu, nâng cấp logistics và xây
dựng hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ địa phương lớn mạnh.
III.
Đánh giá chung
1. Những
kết quả đạt
được
Giai đoạn 1987-2025, tỉnh Phú Thọ
sau hợp nhất đã đạt được bước tiến mạnh mẽ trong thu hút FDI, trở thành cực
công nghiệp quan trọng của vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Nhiều dự án lớn
như Toyota, Honda, BYD, JNTC… tạo việc làm ổn định cho hàng trăm nghìn lao động
đã tạo ra năng lực sản xuất quy mô lớn với mức tự động hóa ngày càng tăng. Cơ
cấu FDI đã dịch chuyển sang các ngành công nghệ cao và xanh, trong đó điện tử
và linh kiện chiếm hơn 60% vốn FDI giai đoạn 2020-2025, trở thành động lực
chính của tăng trưởng. Nền kinh tế tỉnh thay đổi rõ rệt: tỷ trọng công nghiệp
dịch vụ tăng lên, trong khi nông nghiệp giảm còn 18-20% GRDP, phản ánh tác động
tích cực của FDI đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2. Tồn
tại, hạn chế và nguyên nhân
2.1.
Tồn tại và hạn chế
(1) Tồn tại về chất lượng và cơ cấu dòng
vốn FDI. Mặc dù quy
mô vốn FDI và số lượng dự án đầu tư vào tỉnh Phú Thọ tăng khá nhanh trong những
năm gần đây, song xét về chất lượng và cơ cấu, dòng vốn FDI của tỉnh vẫn bộc lộ
nhiều hạn chế so với yêu cầu của FDI thế hệ mới. Cơ cấu FDI hiện nay chủ yếu
tập trung vào các dự án gia công, lắp ráp, công nghệ trung bình, với rất ít
hoạt động R&D, thiết kế sản phẩm, phát triển công nghệ lõi hay trung tâm kỹ
thuật được triển khai tại chỗ. Ngay cả trong các dự án được xếp loại công nghệ
cao, đặc biệt là điện tử, bản chất hoạt động sản xuất vẫn dựa nhiều vào dây
chuyền, thiết bị và thiết kế nhập khẩu; hàm lượng công nghệ nội sinh và đóng
góp vào đổi mới sáng tạo của địa phương còn thấp. Phần lớn doanh nghiệp FDI chỉ
thực hiện các công đoạn cuối của chuỗi giá trị, chưa thu hút được các nhà cung
ứng cấp 1 (tier-1) đi kèm, dẫn đến khó hình thành các cụm liên kết ngành có
chiều sâu. Đáng chú ý, nhiều nhà máy điện tử và lắp ráp trên địa bàn vẫn sử
dụng tỷ lệ lớn lao động phổ thông, chủ yếu ở các khâu kiểm tra, đóng gói, phản
ánh động cơ đầu tư của một bộ phận FDI vẫn thiên về tận dụng chi phí lao động,
thay vì khai thác lợi thế về công nghệ, nhân lực chất lượng cao hay đổi mới
sáng tạo. Đồng thời, mô hình sản xuất chế xuất với mức độ phụ thuộc lớn vào
nguyên liệu nhập khẩu khiến tỷ lệ nội địa hóa rất thấp, làm hạn chế đáng kể
hiệu ứng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
(2) Về vị trí tham gia trong chuỗi giá
trị toàn cầu. Trong
chuỗi giá trị toàn cầu, Phú Thọ hiện chủ yếu tham gia ở các phân đoạn trung
bình - thấp, với vai trò là địa bàn sản xuất vệ tinh. Tỉnh chưa thu hút được
các dự án đảm nhiệm các khâu có giá trị gia tăng cao như R&D, thiết kế, kỹ
thuật lõi, trung tâm dữ liệu hay quản trị chuỗi cung ứng khu vực. Việc thiếu
các dự án đầu chuỗi và các chức năng giá trị cao khiến Phú Thọ chưa hình thành
được vị thế rõ nét trong bản đồ công nghiệp toàn cầu, khó tham gia sâu vào mạng
lưới sản xuất và đổi mới sáng tạo của các tập đoàn đa quốc gia. Điều này cũng
làm cho khả năng nâng cao năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
tăng trưởng bền vững của tỉnh bị hạn chế trong trung và dài hạn.
(3) Tồn tại về liên kết giữa FDI và
doanh nghiệp trong nước. Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và DDI trên địa bàn tỉnh còn yếu và
thiếu tính hệ thống. Số lượng doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của
FDI còn hạn chế, chủ yếu ở các khâu cung ứng đơn giản, giá trị thấp; tỷ lệ nội
địa hóa trong các ngành chủ lực như điện tử, xe máy, cơ khí còn thấp so với
tiềm năng. Nguyên nhân không chỉ đến từ năng lực hạn chế của doanh nghiệp nội
địa về công nghệ, quản trị và tiêu chuẩn, mà còn do chưa có cơ chế chính sách
đủ mạnh để thúc đẩy các chương trình phát triển nhà cung cấp, kết nối cung cầu
và liên kết một cách bài bản. Việc thiếu các doanh nghiệp FDI đầu chuỗi trong
các ngành công nghệ cao đóng vai trò dẫn dắt cũng khiến liên kết FDI - DDI khó
hình thành bền vững.
(4) Năng lực công nghiệp hỗ trợ và doanh
nghiệp nội địa. Mặc
dù đã có các điển hình rất thành công, doanh nghiệp nội địa trên địa bàn tỉnh
chưa phát triển như kỳ vọng, cả về số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng được
yêu cầu của các chuỗi cung ứng, kể cả đối với ngành xe máy, nơi tỉnh có lợi thế
hàng đầu. Phú Thọ chưa có chiến lược bài bản và kế hoạch hành động quyết liệt
để thu hút doanh nghiệp DDI đầu tư sản xuất trên địa bàn tỉnh và tham gia cung
ứng cho các tập đoàn FDI đang hoạt động. Hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ chưa
hình thành, làm giảm sức hấp dẫn của tỉnh đối với các dự án công nghệ cao cần
nguồn cung tại chỗ.
(5) Tồn tại về thể chế, chính sách và cơ
chế sàng lọc FDI. Hệ
thống thể chế, chính sách thu hút đầu tư của tỉnh hiện chưa theo kịp yêu cầu
của FDI thế hệ mới. Chưa hình thành cơ chế sàng lọc FDI theo tiêu chí chất
lượng, công nghệ, ESG, đổi mới sáng tạo và mức độ lan tỏa. Các chính sách ưu
đãi đầu tư còn mang tính đại trà, chưa đủ mạnh và chưa gắn chặt với các cam kết
về R&D, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực hay liên kết với doanh
nghiệp nội địa. Trong bối cảnh nhiều địa phương trong vùng đã triển khai các
gói chính sách đặc thù cho dự án công nghệ cao, bán dẫn, EV, trung tâm dữ liệu,
thì hệ thống ưu đãi của Phú Thọ còn thiếu tính khác biệt, làm giảm khả năng
cạnh tranh trong thu hút các dự án chiến lược quy mô lớn.
(6) Tồn tại về hạ tầng và không gian
công nghiệp. Hạ
tầng và không gian công nghiệp của tỉnh chủ yếu vẫn là KCN truyền thống, chưa
có khu công nghiệp công nghệ cao chuyên biệt hoặc khu công nghiệp thông minh
đạt chuẩn. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của tỉnh, đặc biệt tại các khu công nghiệp
phát triển sau, vẫn còn thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của
dòng FDI thế hệ mới. Một số KCN chưa bảo đảm tiêu chuẩn về điện dự phòng công
suất lớn, hệ thống xử lý nước thải tách dòng, hạ tầng số hóa quản lý KCN hay hệ
thống phòng cháy chữa cháy theo chuẩn quốc tế, khiến các nhà đầu tư công nghệ
cao do dự khi khảo sát địa điểm. Hạ tầng số, năng lượng sạch, xử lý môi trường
và logistics hiện đại còn thiếu và chưa đồng bộ. Điều này làm giảm mức độ sẵn
sàng tiếp nhận các dự án đòi hỏi tiêu chuẩn cao về môi trường, năng lượng sạch
và quản trị thông minh, vốn là tâm điểm của dòng vốn FDI trong thập kỷ tới.
(7) Tồn tại về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực chất lượng cao của
tỉnh vẫn là điểm nghẽn lớn, đặc biệt ở các nhóm kỹ năng mà FDI thế hệ mới yêu
cầu như kỹ thuật điện - điện tử, tự động hóa, vận hành robot, kỹ thuật số, lập
trình điều khiển, và logistics hiện đại. Tỷ lệ lao động có tay nghề bậc trung
và bậc cao còn thấp, trong khi các tập đoàn như BYD, Honda, Toyota, Meiko… đều
yêu cầu lao động đạt chuẩn kỹ thuật quốc tế. Khả năng ngoại ngữ, tư duy công
nghiệp và kỹ năng làm việc theo quy trình toàn cầu cũng còn hạn chế, khiến
doanh nghiệp phải tốn chi phí đào tạo lại hoặc tuyển lao động từ tỉnh khác. Hệ
thống trường nghề và các cơ sở đào tạo trên địa bàn chưa được nâng cấp tương
xứng với nhu cầu FDI, cả về thiết bị, giáo trình và đội ngũ giảng viên. Việc
đào tạo theo đơn đặt hàng doanh nghiệp mới ở mức thử nghiệm, chưa trở thành cơ
chế vận hành thường xuyên. Chính vì vậy, khoảng cách cung - cầu lao động kỹ
thuật tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất, tăng quy mô và
thu hút các dự án công nghệ cao có hàm lượng kỹ thuật lớn.
(8) Tồn tại về xúc tiến đầu tư. Công tác xúc tiến đầu tư của tỉnh
còn dàn trải, thiếu trọng tâm theo chuỗi ngành, tập đoàn mục tiêu và thị trường
chiến lược. Hoạt động xúc tiến chủ yếu mang tính giới thiệu chung, chưa dựa
trên phân tích sâu về xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, nhu cầu cụ thể của
các tập đoàn đa quốc gia hay danh mục dự án ưu tiên. Đội ngũ xúc tiến còn mỏng,
thiếu kinh nghiệm làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn, dẫn tới việc tiếp
cận nhà đầu tư chủ yếu thông qua hội thảo hoặc kênh gián tiếp, thay vì chủ động
làm việc chuyên sâu, có chuẩn bị theo từng sản phẩm dự án cụ thể. Một hạn chế
khác là phần lớn các nhà phát triển hạ tầng KCN trong tỉnh vẫn ở quy mô địa
phương, hạn chế về nguồn lực tài chính, năng lực marketing quốc tế và không có
mạng lưới đối tác quốc gia hay toàn cầu. Việc thiếu các đầu kéo hạ tầng có
thương hiệu mạnh làm giảm sức cạnh tranh của tỉnh khi tiếp cận dòng vốn FDI thế
hệ mới đòi hỏi sự chủ động, nguồn lực mạnh, mạng lưới toàn cầu và theo đuổi dài
hạn.
2.2.
Nguyên nhân
2.2.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, bối cảnh quốc tế và xu thế FDI toàn
cầu đang thay đổi nhanh chóng. Chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ sau
đại dịch, xung đột địa chính trị và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn,
khiến tiêu chí lựa chọn địa điểm đầu tư ngày càng khắt khe. Các dòng FDI thế hệ
mới tập trung vào bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghệ lõi, đòi hỏi hạ tầng,
nhân lực và thể chế mà nhiều địa phương, trong đó có Phú Thọ, chưa kịp chuẩn bị
đầy đủ. Ngay từ đầu những năm 90, Vĩnh Phúc đã tận dụng vị trí sát Hà Nội, quỹ
đất công nghiệp sớm quy hoạch và đặc biệt là chiến lược xúc tiến đầu tư mạnh mẽ
để thu hút Honda, Toyota và hệ sinh thái nhà cung ứng đi kèm. Trong giai đoạn
này, mặt bằng công nghệ của Việt Nam còn thấp, nên dòng FDI chủ yếu là lắp ráp,
ít R&D, ít công nghệ lõi. Khi làn sóng FDI điện tử và bán dẫn thế hệ mới
xuất hiện tại miền Bắc sau 2010, và phát triển mạnh từ 2020, các tập đoàn lớn
có xu hướng chọn địa bàn mới hoặc cụm đã có tiền lệ thành công, nên khu vực Bắc
Ninh - Bắc Giang - Thái Nguyên và Hải Phòng - Hải Dương trở thành điểm đến ưu
tiên. Điều này khiến Phú Thọ bị chậm trong đón dòng vốn đầu chuỗi ngành điện
tử/bán dẫn.
Thứ hai, sự cạnh tranh gay gắt giữa các địa
phương trong nước. Nhiều tỉnh đi trước đã hình thành các cực công nghiệp công
nghệ cao và ban hành chính sách đặc thù hấp dẫn nhà đầu tư chiến lược. Phú Thọ
bước vào cuộc cạnh tranh này với xuất phát điểm là khu vực thu hút nhiều các
ngành lắp ráp phục vụ nội địa và linh kiện điện tử cung cấp cho các tập đoàn
đầu chuỗi. Các địa phương trong vùng kinh tế Bắc Bộ đã tích lũy lợi thế FDI
trong thời gian dài, từ đó nhanh chóng nâng cấp lên chuẩn mới gồm KCN thông
minh, năng lượng xanh, logistics cao cấp và cơ chế một cửa/tại chỗ. Cả 3 địa
phương trước sáp nhập của Phú Thọ, do lịch sử phát triển công nghiệp phân tán
và không có các cụm dẫn dắt quy mô lớn, đã gặp bất lợi trong cạnh tranh FDI thế
hệ mới. Xu hướng tập trung FDI công nghệ cao vào các tỉnh Bắc Ninh/Bắc Giang,
Hải Phòng/Hải Dương tạo ra hạn chế tự nhiên cho các tỉnh đi sau.
Thứ ba, yếu tố vị trí địa lý xa cảng biển
khiến tỉnh không có lợi thế đối với các nhà đầu tư chế xuất phụ thuộc xuất nhập
khẩu cường độ cao. Một số phân khúc điện tử, bán dẫn, quang học hoặc thiết bị
công nghệ cao yêu cầu thời gian vận chuyển ngắn qua cảng biển. Phú Thọ nằm sâu
trong nội địa nên khó cạnh tranh với các dự án đòi hỏi logistics tốc độ cao,
nhất là các dự án cần vận chuyển linh kiện giá trị cao hoặc yêu cầu kiểm soát
rủi ro chuỗi cung ứng nghiêm ngặt. Tuy nhiên, đây là bất lợi tương đối, có thể
giảm bớt khi tỉnh phát triển trung tâm logistics thông minh, kết nối cao tốc
hoàn chỉnh, và nhất là giảm thời gian cho các thủ tục thông quan.
2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
(1) Công tác hoạch định chiến lược và
định hướng thu hút FDI của tỉnh chậm được cập nhật theo chuẩn FDI thế hệ mới. Trong thời gian dài, định hướng thu
hút FDI của tỉnh vẫn chủ yếu tập trung vào mở rộng quy mô dự án, tăng số lượng
và vốn đăng ký, trong khi chưa chuyển mạnh sang cách tiếp cận dựa trên chất
lượng, công nghệ và mức độ lan tỏa. Việc thiếu một khung chiến lược rõ ràng về
FDI thế hệ mới khiến các chính sách thu hút đầu tư chưa gắn chặt với các tiêu
chí như R&D, đổi mới sáng tạo, ESG và liên kết chuỗi giá trị. Công tác dự
báo xu hướng FDI toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn,
kinh tế xanh, còn hạn chế. Do đó, tỉnh chưa chủ động định vị vai trò của mình
trong chuỗi giá trị toàn cầu và trong phân công không gian công nghiệp của
vùng.
(2) Chưa xây dựng được cơ chế sàng lọc
và lựa chọn dự án theo chất lượng dòng vốn. Hiện nay, tỉnh chưa có bộ tiêu chí sàng lọc FDI rõ
ràng dựa trên hàm lượng công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, cam kết ESG và khả
năng liên kết với doanh nghiệp nội địa. Việc tiếp nhận dự án FDI còn mang tính
tương đối “mở”, dẫn đến khó phân biệt và ưu tiên các dự án thực sự phù hợp với
định hướng FDI thế hệ mới. Các chính sách ưu đãi chưa gắn chặt với nghĩa vụ về
chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực hay phát triển nhà cung cấp trong nước.
Điều này làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai, hạ tầng và ưu đãi của
tỉnh, đồng thời hạn chế tác động lan tỏa của khu vực FDI.
(3) Quy hoạch và phát triển hạ tầng khu
công nghiệp chưa theo kịp yêu cầu mới của FDI thế hệ mới. Quy hoạch và phát triển các khu công
nghiệp của tỉnh trong giai đoạn trước chủ yếu phục vụ các ngành sản xuất truyền
thống và công nghệ trung bình, chưa được thiết kế theo mô hình KCN công nghệ
cao, KCN thông minh. Hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, năng lượng sạch và dịch vụ
hỗ trợ trong nhiều KCN chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn mà các dự án FDI công
nghệ cao, xanh đang yêu cầu. Việc thiếu các không gian công nghiệp chuyên biệt
làm giảm mức độ sẵn sàng tiếp nhận các dự án có yêu cầu cao về môi trường, công
nghệ và quản trị. Điều này khiến tỉnh gặp bất lợi rõ rệt trong cạnh tranh với
các địa phương đã đi trước trong phát triển hạ tầng KCN thế hệ mới.
(4) Công tác xúc tiến đầu tư còn thiếu
trọng tâm và chiều sâu. Hoạt động xúc tiến đầu tư của tỉnh chưa được tổ chức theo chiến lược
chuỗi ngành, tập đoàn mục tiêu và thị trường trọng điểm, mà vẫn mang tính dàn
trải, giới thiệu chung. Công tác nghiên cứu, phân tích nhu cầu cụ thể của các
tập đoàn đa quốc gia và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng chưa được chú trọng
đúng mức, làm giảm hiệu quả tiếp cận các nhà đầu tư chiến lược và các dự án FDI
thế hệ mới có quy mô lớn, hàm lượng công nghệ cao.
(5) Năng lực và thương hiệu của các nhà
phát triển hạ tầng KCN trong tỉnh còn hạn chế. Phần lớn các chủ đầu tư hạ tầng KCN
trên địa bàn tỉnh có quy mô vừa và nhỏ, hạn chế về năng lực tài chính, kinh
nghiệm phát triển KCN theo chuẩn quốc tế và khả năng xúc tiến đầu tư toàn cầu.
Các nhà phát triển hạ tầng chưa đóng vai trò là “đầu kéo” trong việc kết nối
với các tập đoàn công nghệ cao, các chuỗi cung ứng toàn cầu hay đề xuất mô hình
KCN mới như KCN sinh thái, KCN thông minh. Việc thiếu các nhà phát triển hạ
tầng có thương hiệu mạnh làm giảm niềm tin và sức hấp dẫn của tỉnh đối với các
nhà đầu tư FDI thế hệ mới. Đây là một điểm yếu quan trọng trong cạnh tranh thu
hút các dự án lớn, chất lượng cao.
(6) Phát triển nguồn nhân lực chưa gắn
chặt với nhu cầu của doanh nghiệp FDI. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh chưa
theo kịp yêu cầu về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp FDI, đặc biệt
trong các lĩnh vực công nghệ cao, điện tử, tự động hóa và công nghệ số. Liên
kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, đào tạo theo đặt hàng
doanh nghiệp chưa trở thành cơ chế phổ biến và ổn định. Hệ thống giáo dục nghề
nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ về thiết bị, chương trình và đội ngũ giảng viên
để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Điều này làm gia tăng chi phí đào tạo lại cho
doanh nghiệp và hạn chế khả năng thu hút các dự án FDI thế hệ mới có hàm lượng
kỹ thuật cao.
Phần thứ ba
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
THẾ HỆ MỚI VÀO TỈNH PHÚ THỌ
I. Bối
cảnh thu hút đầu tư giai đoạn mới của tỉnh Phú Thọ
1. Bối
cảnh thế giới và trong nước
1.1.
Những thuận lợi, cơ hội
Giai đoạn 2026-2030 sẽ đánh dấu làn
sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng mạnh nhất trong hơn một thập kỷ. Các tập đoàn
đa quốc gia đang dịch chuyển sản xuất khỏi các khu vực rủi ro cao sang những
điểm đến ổn định, chi phí hợp lý và kết nối thuận lợi. Việt Nam trở thành điểm
đến nổi bật khi tốc độ tăng trưởng ổn định, có mạng lưới các FTA rộng khắp toàn
cầu và chi phí cạnh tranh ở châu Á. Đây là cơ hội lớn cho Phú Thọ sau sáp nhập,
khi tỉnh nằm ngay trên hành lang kinh tế Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam, gần sân
bay Nội Bài và tiếp giáp 7 tỉnh, tạo vị trí trung tâm mới trong khu vực phía
Bắc.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc
tiếp tục duy trì tốc độ phát triển công nghiệp và công nghệ cao rất nhanh, dù
chịu tác động mạnh của suy giảm kinh tế toàn cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng và các
biện pháp kiểm soát thuế quan và phi thuế quan, từ Hoa Kỳ và châu Âu. Nhiều tập
đoàn Trung Quốc vì vậy cũng đang đẩy mạnh chiến lược đi ra toàn cầu, đa dạng
hóa rủi ro, mở rộng đầu tư, để tận dụng chi phí sản xuất cạnh tranh, thị trường
lao động lớn và các ưu đãi thuế. Vị trí địa lý của tỉnh cho phép giao thương
thuận tiện bằng cả đường bộ, đường sắt và kết nối trực tiếp với các đầu mối
logistics quan trọng như sân bay Nội Bài, cảng biển Hải Phòng và cửa khẩu Lào
Cai. Điều này giúp Phú Thọ trở thành điểm sản xuất lý tưởng đối với các doanh
nghiệp Trung Quốc. Tốc độ mở rộng công nghiệp của Trung Quốc, đặc biệt trong
các lĩnh vực EV, pin, vật liệu năng lượng và thiết bị công nghệ cao, mở ra cơ
hội lớn để Phú Thọ thu hút các dự án vệ tinh, cụm cung ứng và các nhà máy quy mô
vừa và lớn.
Ở phía Bắc, quá trình công nghiệp
hóa đang lan rộng từ các cực tăng trưởng truyền thống như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải
Phòng sang các địa phương lân cận do chi phí mặt bằng và lao động ở các vùng
lõi tăng cao. Các ngành điện tử, thiết bị thông minh, linh kiện ô tô đang dịch
chuyển về các vùng lân cận, nơi quỹ đất và lao động còn dồi dào hơn. Điều này
mở ra nhiều cơ hội cho Phú Thọ trong thu hút dự án công nghệ cao giai đoạn mới.
1.2.
Những thách thức, khó khăn
Cùng với cơ hội, môi trường đầu tư
thế giới ngày càng bất ổn do cạnh tranh địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương
mại và biến động chuỗi cung ứng. Điều này khiến dòng vốn FDI chất lượng cao tập
trung vào một số địa bàn có năng lực thể chế mạnh, thủ tục nhanh và khả năng
bảo đảm cam kết thực thi, yếu tố mà Phú Thọ cần nhanh chóng cải cách và hoàn
thiện.
Cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay
gắt. Các địa phương đã có thương hiệu mạnh như Bắc Ninh, Hải Phòng sau khi sáp
nhập đều trở nên mạnh hơn do mở rộng năng lực và có thể giảm chi phí. Các tỉnh
này đều đã hình thành hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh gồm hạ tầng KCN chuẩn
quốc tế, chuỗi nhà cung ứng đa tầng, năng lực logistics mạnh và cơ chế xử lý
thủ tục hành chính ở mức rất cao, là các lợi thế mà Phú Thọ cần nỗ lực để bắt
kịp. Sau quá trình sáp nhập và mở rộng không gian kinh tế, các địa phương này
đều trở nên lớn mạnh hơn và có khả năng thu hút FDI hiệu quả hơn nữa. Đây là
những lợi thế mà các địa phương này tích lũy trong nhiều chu kỳ thu hút đầu tư,
khiến họ tiếp tục đạt được tốc độ tăng trưởng FDI vượt trội.
Tiêu chuẩn xanh, yêu cầu giảm phát
thải, quản trị ESG và truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện bắt buộc đối với
các tập đoàn châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đối với các tỉnh công nghiệp đang
phát triển, đây là thách thức lớn vì phải đầu tư song song vào năng lượng sạch,
hạ tầng xử lý nước thải, công nghiệp tuần hoàn và hệ thống đo lường khí thải.
2. Bối
cảnh của tỉnh
2.1.
Những thuận lợi, tiềm năng thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Sau sáp nhập, tỉnh Phú Thọ hình
thành không gian phát triển mới với hơn 4 triệu dân, đứng thứ 7 cả nước, với
hơn 2 triệu lao động và tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 70%. Năng suất lao
động năm 2025 đạt hơn 212 triệu đồng/người, là mức khá cao trong vùng trung du.
Tỉnh sở hữu vị trí đặc biệt thuận
lợi khi nằm trên trục động lực sông Hồng, kết nối trực tiếp với Hà Nội, Lào Cai
và các tỉnh Tây Bắc, có cả đường thủy, đường sắt, đường bộ và nằm gần sân bay
Nội Bài. Với vai trò trung tâm logistics của vùng Tây Bắc, Phú Thọ có thể trở
thành cửa ngõ hàng hóa từ miền xuôi đi Tây Bắc và ngược lại, phù hợp phát triển
trung tâm kho vận, ICD, logistics thương mại điện tử. Trên địa bàn tỉnh hiện có
ba loại hình giao thông chủ yếu là đường bộ, đường thủy nội địa và đường sắt.
Trong đó có 30.721,4 km đường bộ, đặc biệt là 02 tuyến cao tốc Nội Bài - Lào
Cai và Tuyên Quang - Phú Thọ và giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Phú Thọ đang đầu tư
xây dựng tuyến cao tốc Hoà Bình - Mộc Châu thuộc cao tốc Hà Nội - Sơn La và
chuẩn bị đầu tư phấn đấu thông tuyến cao tốc CT.03 từ Hà Nội - Phú Thọ - Sơn
La; đường cao tốc Việt Trì - Hoà Bình. Phú Thọ sau sáp nhập có 678,43 km đường
thủy và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai kết nối thủ đô Hà Nội và các tỉnh
trung du và miền núi phía Bắc đi Vân Nam - Trung
Quốc. Đặc biệt, giai đoạn 2026 - 2030, Bộ Xây dựng đang đầu tư xây dựng tuyến
đường sắt mới Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tạo thêm thuận lợi cho Phú Thọ
trong vận chuyển hàng hóa qua cảng biển.
Về công nghiệp, tốc độ tăng trưởng
giai đoạn 2021-2025 của tỉnh đạt trên 10%/năm, cao hơn mức trung bình cả nước.
Khu vực Vĩnh Phúc cũ vốn là trung tâm công nghiệp lớn của Việt Nam với các
ngành ô tô, xe máy, điện tử; Phú Thọ có thế mạnh về điện tử, linh kiện; Hòa
Bình có năng lượng, vật liệu và du lịch. Sau khi hợp nhất, tỉnh có 58 KCN với
tỷ lệ lấp đầy 44%, là tỷ lệ đủ thấp để còn dư địa thu hút dự án lớn, nhưng đủ
cao để chứng minh năng lực vận hành quản lý tốt.
Dòng vốn đầu tư vẫn gia tăng, năm
2025 thu hút được 1.576,42 triệu USD. Số doanh nghiệp mới thành lập trong năm
là 4.546 doanh nghiệp, bằng 128,6% so với mục tiêu phấn đấu, tăng 44,2% so với
cùng kỳ.
Bên cạnh công nghiệp, tỉnh còn sở
hữu hệ sinh thái tự nhiên, văn hóa, đô thị độc đáo: Đền Hùng, các khu sinh thái
Tam Đảo, Kim Bôi, Mai Châu giúp phát triển công nghiệp du lịch, đô thị xanh và
dịch vụ chất lượng cao, hỗ trợ mạnh cho thu hút chuyên gia, lao động chất
lượng.
2.2.
Những khó khăn và thách thức chủ yếu
Dù có vị trí và quỹ đất lớn, tỉnh
vẫn đối mặt với nhiều nút thắt quan trọng.
Hạ tầng trong tỉnh chưa đồng đều,
đặc biệt các tuyến kết nối Đông-Tây, kết nối Phúc Yên, Vĩnh Yên, Việt Trì, Hòa
Bình cần nâng cấp để tạo trục công nghiệp liên tục. Mức độ đồng bộ hóa KCN chưa
cao, nguồn cung nhà xưởng tiêu chuẩn quốc tế còn hạn chế.
Chất lượng nhân lực chưa đồng đều
giữa ba vùng cũ. Khu vực Vĩnh Phúc có lao động kỹ thuật cao, nhưng vùng miền
núi của Hòa Bình và một phần Phú Thọ có tỷ lệ lao động phổ thông lớn. Điều này
tạo áp lực rất lớn về đào tạo lại nếu tỉnh muốn phát triển ngành công nghiệp
công nghệ cao, đòi hỏi kỹ năng.
Sức cạnh tranh của tỉnh trong thu
hút dự án lớn có tầm vóc chưa còn rất hạn chế vì chưa có hệ sinh thái R&D,
trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng lab công nghệ cao tương đương các tỉnh dẫn
đầu. Tỷ lệ công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp số còn thấp. Việc phụ thuộc
vào công nghiệp gia công khiến giá trị gia tăng chưa cao.
Tỉnh đối mặt với các thách thức
chung của khu vực miền núi: nguy cơ sạt lở, biến đổi khí hậu, áp lực môi
trường, yêu cầu chuẩn xanh… khiến chi phí đầu tư hạ tầng môi trường tăng đáng
kể. Cạnh tranh lao động cũng sẽ gia tăng khi vùng phía Bắc tiếp tục phát triển
mạnh, có nguy cơ thiếu hụt lao động hoặc chi phí nhân công tăng nhanh.
II. Quan
điểm, định hướng, mục tiêu phát triển
1. Quan
điểm thu hút đầu tư giai đoạn mới.
(1) Bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách
của Nhà nước về thu hút đầu tư nước ngoài trong tình hình mới theo tinh thần
Nghị quyết số 50-NQ/TW, 57-NQ/TW và 68-NQ/TW. Thu hút FDI phải gắn liền với
chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế, phát triển xanh, bền vững
và đổi mới sáng tạo.
(2) Lấy chất lượng, hiệu quả, công
nghệ, giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường, thay cho mục tiêu số lượng dự án
hoặc quy mô vốn đăng ký. Ưu tiên các dự án có giá trị gia tăng cao, sử dụng
công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, ít tiêu hao năng lượng, có tác động
lan tỏa công nghệ, tri thức, quản trị, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước -
nhà đầu tư - doanh nghiệp trong nước, góp phần nâng cao năng lực nội sinh của
nền kinh tế tỉnh làm tiêu chí đánh giá chủ yếu.
(3) Kết hợp chặt chẽ thu hút đầu tư nước ngoài với phát
triển kinh tế trong nước, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp
nhỏ và vừa; hình thành chuỗi giá trị FDI, nội địa theo hướng “hai dòng vốn, một
hệ sinh thái”.
(4) Gắn kết chặt chẽ thu hút FDI với quy hoạch phát triển
không gian vùng và liên kết vùng; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với
bảo vệ môi trường, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh.
(5) Xây dựng chính quyền phục vụ, đồng hành cùng doanh
nghiệp và nhà đầu tư, lấy sự hài lòng của nhà đầu tư làm thước đo năng lực điều
hành.
2.
Mục tiêu thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới của tỉnh Phú Thọ
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2030, Phú Thọ trở thành
trung tâm tiếp nhận FDI công nghệ cao, công nghiệp xanh và dịch vụ công nghệ
của vùng Tây Bắc và vành đai phía Tây thủ đô, tham gia ngày càng sâu vào các
khâu có giá trị gia tăng cao của chuỗi giá trị toàn cầu, tạo lan tỏa mạnh mẽ về
công nghệ, nhân lực kỹ thuật và phát triển doanh nghiệp nội địa.
2.2. Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026
- 2030
- Thu hút từ 7 - 8 tỷ USD vốn FDI mới trong giai đoạn
2026 - 2030, trong đó có 60 - 70% thuộc nhóm FDI thế hệ mới (công nghệ cao, có
hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo, xanh, bền vững).
- Tỷ trọng vốn FDI thực hiện đạt trên 80% tổng vốn đăng
ký.
- Phấn đấu 80% dự án FDI mới thuộc các ngành công
nghiệp chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, ô tô, xe máy điện
cơ khí chính xác, thiết bị y tế, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, công nghiệp
hỗ trợ.
- Hình thành ít nhất 01 khu công nghiệp công nghệ cao;
03 khu công nghiệp hỗ trợ; 03 khu công nghiệp chuyên đề và 01 trung tâm đổi mới
sáng tạo vùng; Tỷ lệ khu công nghiệp có hạ tầng số, hạ tầng xử lý môi trường
đạt 100%; Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong KCN đạt tối thiểu 50%.
- Có ít nhất 100 doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi
cung ứng FDI, trong đó có 20 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn nhà cung ứng cấp 1.
- Đào tạo ít nhất 20.000 lao động kỹ thuật cao đáp ứng
yêu cầu của FDI và DDI nhóm các ngành công nghiệp công nghệ cao.
3. Định hướng thu hút dòng vốn FDI
thế hệ mới 2026 - 2030
3.1.
Theo ngành, lĩnh vực ưu tiên
3.1.1. Nhóm ngành công nghiệp công nghệ cao
Hơn 60% tổng vốn FDI hiện nay của
tỉnh nằm trong 15 dự án chiến lược quy mô lớn, chủ yếu thuộc hai trục: điện
tử/bán dẫn/linh kiện, ô tô/xe máy và cơ khí chính xác. Định hướng thu hút FDI
giai đoạn tới cần kế thừa và mở rộng hai trục này theo chuẩn chuỗi giá trị thế
hệ mới, cụ thể:
(1) Công nghiệp điện tử và bán dẫn. Tỷ trọng vốn FDI ngành điện tử đã
gần đạt 60% tổng vốn FDI toàn tỉnh vào năm 2025, cho thấy xu thế điện tử hóa này.
Hiện tại xu hướng chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc tiếp tục diễn ra mạnh
mẽ trong các nhóm cụm linh kiện điện tử cho thiết bị nghe nhìn và giám sát. Bên
cạnh đó, chính phủ đã có định hướng chỉ đạo trong thu hút đầu tư ngành công
nghiệp bán dẫn, Phú Thọ nằm trong vài địa phương đã có tích tụ cao về điện tử,
có thể tập trung vào định hướng này.
Bảng 3.1 Định hướng thu hút đầu tư công nghiệp điện tử và
bán dẫn
|
Cơ sở hiện trạng
|
Định hướng thu hút
|
Sản phẩm/Công nghệ mục tiêu
|
Quy mô (triệu USD)
|
Yêu cầu tỉnh cần chuẩn bị
|
|
Tỷ trọng FDI điện tử
~57%; nhiều dự án linh kiện cho điện thoại, lắp ráp OEM
|
Thu hút chuỗi điện tử
và bán dẫn OSAT/ATP
|
OSAT/ATP, advanced
packaging
|
200-1000
|
- KCN công nghệ cao
- Chủ động mạnh trong thu hút đầu tư
của tỉnh và các công ty hạ tầng, nhân lực kỹ thuật
-Logistics, xuất/nhập
khẩu nhanh
- Các ưu đãi trong thu hút đầu tư
- Nhân lực kỹ thuật, Thủ tục nhanh
và dữ liệu công khai minh bạch
|
|
Chuỗi quang học đã
hình thành tại Phú Thọ; Việt Nam đón dịch chuyển camera module
|
Thu hút sản xuất
camera, cảm biến, linh kiện quang học
|
CMOS sensor; camera
module AI; optical lens; OIS; LiDAR optics
|
100-800
|
|
Nhu cầu toàn cầu của
các sản phẩm điện tử ngày càng tăng cao. Lợi thể của Phú Thọ về cơ khí chính
xác/xe máy/tự động hóa
|
Thu hút đầu tư các ngành
thiết bị bán dẫn và linh kiện cho thiết bị bán dẫn
|
Thiết bị cơ khí chính
xác chuyên ngành bán dẫn và cụm linh kiện, linh kiện rời cho điện thoại và
thiết bị nghe nhìn thông minh
|
50-500
|
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
(2) Công nghiệp xe điện (EV) và các
phương tiện vận tải điện hóa. Phú Thọ hiện sở hữu hệ sinh thái công nghiệp xe máy ô tô lớn
nhất miền Bắc, hình thành từ ba trụ cột Honda, Toyota và Piaggio, lại có sự
tích tụ đáng kể ngành điện tử, tạo nền tảng đặc biệt thuận lợi để chuyển dịch
sang chuỗi giá trị xe điện. Quy mô sản xuất lớn bao gồm cả linh kiện điện tử và
năng lực cơ khí chính xác tích lũy trong hơn 20 năm đã giúp tỉnh trở thành một
trong số ít địa phương có độ sẵn sàng công nghiệp đủ lớn để thu hút các chuỗi
EV toàn cầu. Honda và Toyota cũng đã chuẩn bị quỹ đất cho việc chuyển dịch này.
Hiện tại phần nhiều công nghệ ô tô điện và pin đang được dẫn đầu bởi Trung
Quốc, với nhiều hãng và mức công nghệ khác nhau. Với định hướng thu hút đầu tư
EV và hệ sinh thái liên quan, Phú Thọ cần thực hiện XTĐT trọng điểm, tập trung
vào các tập đoàn then chốt trên toàn cầu, để hướng đến hình thành một hệ sinh
thái EV và cơ khí hiện đại cấp vùng, vừa củng cố vai trò truyền thống trong
ngành ô tô/xe máy, vừa mở ra không gian tăng trưởng mới phù hợp với nhu cầu thị
trường.
Bảng 3.2 Định hướng thu hút đầu tư lĩnh vực xe điện và
phương tiện giao thông điện hóa
|
Cơ sở hiện trạng
|
Định hướng thu hút
|
Sản phẩm/Công nghệ mục tiêu
|
Quy mô (triệu USD)
|
Yêu cầu tỉnh cần chuẩn bị
|
|
Hệ sinh thái xe máy ô
tô và phương tiện giao thông xu hướng điện hóa
|
Thu hút chuỗi truyền
động EV
|
Motor EV, inverter,
OBC, wire harness EV
|
200-750
|
- KCN công nghệ cao
- Chủ động mạnh trong thu hút đầu tư
của tỉnh và các công ty hạ tầng, nhân lực kỹ thuật
-Logistics, xuất/nhập
khẩu nhanh
- Các ưu đãi trong thu hút đầu tư
- Nhân lực kỹ thuật, Thủ tục nhanh
và dữ liệu công khai minh bạch
|
|
Việt Nam thiếu nhà sản xuất pin quy mô lớn
|
Thu hút nhà máy
cell, module, pack pin EV
|
Cell NCM/LFP, module,
BMS
|
700-1000
|
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
(3) Cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ
trợ. Nhóm này tiếp
tục là một trong những trụ cột quan trọng của tỉnh Phú Thọ, nhờ nền tảng sản
xuất tích lũy từ hệ sinh thái xe máy/ô tô/cơ khí chế tạo của Vĩnh Phúc/Phú Thọ
cũ và mạng lưới doanh nghiệp kết nối với Hà Nội, Bắc Ninh. Hiện nay, nhu cầu ổn
định và liên tục về linh kiện cơ khí chính xác, khuôn mẫu, linh kiện kim loại,
nhựa kỹ thuật là cơ hội đầu tư lớn. Đây cũng chính là phân khúc có tốc độ tăng
vốn tái đầu tư cao nhất trong nhóm CNHT, thể hiện ở tỷ lệ dự án mở rộng chiếm
trên 70% số dự án mới giai đoạn 2022-2024. Những yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao
của các doanh nghiệp FDI, từ chủ động vật liệu, tiêu chuẩn dung sai micron cho
tới tiêu chuẩn toàn cầu cho các ngành bán dẫn, ô tô, hàng không vũ trụ, năng
lượng mới… đòi hỏi Phú Thọ phải nâng cấp mạnh năng lực cung ứng địa phương, đặc
biệt trong đào tạo kỹ thuật viên CNC, khuôn mẫu và lập trình tự động hóa.
Bảng 3.3 Định hướng thu hút cơ khí
chế tạo và công nghiệp hỗ trợ
|
Cơ sở hiện trạng
|
Định hướng thu hút
|
Sản phẩm/Công nghệ mục tiêu
|
Quy mô vốn (triệu USD)
|
Yêu cầu tỉnh cần chuẩn bị
|
|
Nền cơ khí Vĩnh
Phúc/Phú Thọ cũ mạnh, có sẵn chuỗi xe máy/ô tô
|
Sản xuất cơ khí chính
xác và hệ thống tự động cho các ngành mới nổi: thiết bị y tế, năng lượng tái
tạo, xe điện, thiết bị bán dẫn
|
Cụm linh kiện/ sản
xuất OEM
|
20-100
|
- Các KCN chuyên ngành
- Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật
- Chương trình phát triển CNHT của
tỉnh
- Ưu đãi thu hút đầu tư DDI
|
|
Công nghiệp hỗ trợ cho
điện tử và EV tăng nhanh
|
Thu hút các nhà cung
cấp cấp 1-2
|
Linh kiện cho thị
trường thay thế
|
10-50
|
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
Định hướng trong giai đoạn tới là
hình thành cụm cơ khí chính xác gắn với các khu công nghiệp trọng điểm, tập
trung các dự án sản xuất cụm linh kiện và sản phẩm hoàn chỉnh OEM, đồng thời
với linh kiện thay thế đang là lợi thế hiện tại gắn với ngành xe máy/ô tô. Tỉnh
cần thực hiện chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ toàn diện để thu hút
đầu tư và nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa, hình thành hệ sinh thái,
kết nối doanh nghiệp nội địa với các tập đoàn FDI và hỗ trợ xuất khẩu toàn cầu.
Nếu thực hiện đồng bộ, nhóm cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ có thể trở
thành lực kéo quan trọng, vừa tăng tỷ lệ nội địa hóa trong các chuỗi FDI, vừa
nâng cao khả năng cạnh tranh của tỉnh trong thu hút các dự án công nghệ cao và
EV trong những năm tới.
(4) Công nghiệp thiết bị y tế và công
nghệ sinh học ứng dụng. Sự mở rộng mạnh mẽ của ngành thiết bị y tế toàn cầu, cùng xu hướng dịch
chuyển sản xuất sang các quốc gia có chi phí trung bình và năng lực cơ khí,
điện tử tương thích, đang mở ra một không gian phát triển mới cho Phú Thọ. Với
nền tảng cơ khí chính xác, nhựa kỹ thuật và phụ tùng điện tử đã hình thành,
tỉnh hội đủ các điều kiện nền tảng để phát triển phân khúc thiết bị y tế, đặc
biệt là các sản phẩm yêu cầu độ chính xác cao nhưng không đòi hỏi công nghệ lõi
quá phức tạp. Sự tăng trưởng nhu cầu thiết bị y tế, vật tư tiêu hao, thiết bị
chẩn đoán và thiết bị điện tử y tế cầm tay tại thị trường ASEAN cũng cho thấy
đây là một ngành có biên lợi nhuận ổn định, ít biến động theo chu kỳ kinh tế.
Định hướng thu hút đầu tư trong giai đoạn tới cần tập trung vào các công ty sản
xuất sản phẩm thiết bị chẩn đoán nhanh, thiết bị điện tử y tế, vật tư y tế tiêu
hao, bộ dụng cụ can thiệp y khoa và các thiết bị cho phòng mổ và phòng xét nghiệm.
Đây đều là những phân khúc sản xuất dựa trên sự kết hợp của cơ khí chính xác,
vật liệu polymer, linh kiện điện/điện tử và tiêu chuẩn hóa chất lượng, hoàn
toàn phù hợp với năng lực hiện tại của tỉnh và chuỗi cung ứng FDI đang mở rộng.
Đồng thời, thu hút nhóm nhà đầu tư thiết bị y tế sẽ góp phần đa dạng hóa cơ cấu
ngành công nghiệp, giảm phụ thuộc vào hai trụ cột điện tử và cơ khí, tạo ra
chuỗi giá trị mới có tính ổn định cao và lan tỏa lớn.
(5) Năng lượng tái tạo và công nghiệp
xanh. Với mật độ
bức xạ mặt trời trung bình khá ổn định, tỉnh có điều kiện thuận lợi để triển
khai điện mặt trời mái nhà trong các KCN, CCN. Bên cạnh đó, nguồn sinh khối từ
rừng sản xuất, chế biến gỗ, giấy và nông nghiệp của vùng trung du tạo ra một
nền tảng nguyên liệu dồi dào cho các dự án năng lượng sạch quy mô vừa. Năng lực
vận hành KCN xanh cũng đang dần hình thành, nhất là khi các nhà đầu tư điện tử,
cơ khí yêu cầu truy xuất carbon, sử dụng năng lượng tái tạo và tái chế
nước/chất thải công nghiệp. Trong giai đoạn tới, định hướng đầu tư của tỉnh cần
tập trung vào việc thu hút doanh nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo,
hệ thống tối ưu hóa tiêu thụ điện, năng lượng cho nhà máy, pin lưu trữ, bộ
chuyển đổi, và các giải pháp tái chế và tuần hoàn công nghiệp. Đây không chỉ là
nền tảng cốt lõi để giảm chi phí vận hành cho doanh nghiệp FDI mà còn là điều
kiện bắt buộc để đáp ứng các tiêu chuẩn về chuỗi cung ứng xanh. Sự phát triển
của nhóm ngành này sẽ giúp Phú Thọ hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp bền
vững, củng cố lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI thế hệ mới và xây dựng hình
ảnh một tỉnh công nghiệp trung du xanh, sạch, thông minh.
2.1.2. Nhóm dịch vụ chất lượng cao,
logistics, tài chính
(1) Logistics thông minh và trung tâm
dịch vụ xuất nhập khẩu. Phú Thọ có vị trí nằm ở tâm tam giác Hà Nội, Lào Cai, Sơn La, kết nối
trực tiếp với cao tốc Nội Bài - Lào Cai và đường sắt liên vận quốc tế. Việc nằm
gần siêu cảng ICD Vĩnh Phúc, trung tâm trung chuyển container lớn nhất miền
Bắc, tạo điều kiện để Phú Thọ trở thành điểm gom hàng, phân phối và hỗ trợ xuất
nhập khẩu cho các chuỗi điện tử, ô tô trong vùng. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh có
thể hình thành Trung tâm logistics cấp vùng tại Việt Trì/Bình Xuyên, cung cấp
depot container, kho lạnh, dịch vụ e-commerce logistics xuyên biên giới. Các
nhà đầu tư tiềm năng đến từ Singapore, Hàn Quốc, UAE có thể tham gia vào chuỗi
này với các mô hình logistics tự động, công nghệ số, tối ưu hóa vận tải đa
phương thức. Sự phát triển của logistics thông minh sẽ tạo ra nền tảng hỗ trợ
then chốt cho các ngành FDI thế hệ mới và giảm chi phí chuỗi cung ứng cho doanh
nghiệp trong tỉnh.
Bảng 3.4 Định hướng thu hút dịch vụ, logistic và tài chính
|
Nhóm ngành
|
Cơ sở
|
Định hướng thu hút
|
Sản phẩm/ dịch vụ
|
Quy mô triệu USD
|
Yêu cầu với tỉnh
|
|
Logistics thông minh
& trung tâm XNK
|
Vị trí trung tâm tam
giác và có siêu cảng ICD
|
Trung tâm logistics
vùng
|
Depot container, kho
lạnh, logistics, quản trị vận tải tự động.
|
50- 200
|
Đất sạch 30-50 ha; kết
nối đường bộ, đường sắt
|
|
Tài chính, ngân hàng,
công nghệ số
|
Tăng mạnh nhu cầu FDI
điện tử, ô tô, Chi phí vận hành thấp hơn Hà Nội.
|
Gia công phần mềm,
trung tâm dữ liệu, Fintech và các ứng dụng trong các ngành
|
Data center, nền tảng
thanh toán, dịch vụ tài chính số.
|
20- 150
|
Điện ổn định, trung
tâm dữ liệu, hạ tầng số; sandbox công nghệ; nhân lực công nghệ thôn tin
|
|
Du lịch, nghỉ dưỡng
cao cấp
|
Cảnh quan ven hồ, khí
hậu trung du, tài nguyên văn hóa đặc sắc
|
Resort sinh thái, sân
golf, du lịch văn hoá cao cấp.
|
Resort 4-5 sao, khu
nghỉ dưỡng, tổ hợp kết hợp spa.
|
30- 300
|
Quy hoạch ven hồ; bảo
tồn thiên nhiên; ưu đãi dịch vụ; XTĐT với các thương hiệu toàn cầu
|
|
Giáo dục và y tế chất
lượng cao
|
Nhu cầu lớn từ chuyên
gia FDI. Thiếu bệnh viện và trường quốc tế.
|
Đại học/Cao đẳng/trung
cấp kỹ thuật, CĐ nghề liên kết FDI, Bệnh viện quốc tế, trường quốc tế.
|
Hệ thống đào tạo theo
các cấp Hệ thống bệnh viện chất lượng cao
|
20- 250
|
Quỹ đất lớn 10-30 ha;
cơ chế PPP; ưu đãi dịch vụ xã hội hóa; liên kết doanh nghiệp FDI.
|
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
(2) Tài chính, ngân hàng, công nghệ số. Sự mở rộng nhanh của FDI công nghệ
cao làm gia tăng nhu cầu về dịch vụ tài chính, thanh toán và hạ tầng số chất
lượng cao. Phú Thọ có khả năng thu hút các trung tâm IT outsourcing và data
center quy mô trung bình, nhờ chi phí hạ tầng, điện, vận hành cạnh tranh hơn Hà
Nội và Bắc Ninh. Các tập đoàn fintech từ Singapore, Hàn Quốc là nhóm có thể mở
rộng hoạt động để phục vụ chuỗi sản xuất điện tử, ô tô, logistics tại tỉnh.
Song song đó, việc phát triển hệ thống dịch vụ tài chính số sẽ hỗ trợ tỉnh giải
ngân FDI nhanh hơn và tạo môi trường kinh doanh minh bạch, hiện đại. Đây cũng
là nền tảng để thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cấp vùng.
(3) Du lịch nghỉ dưỡng cao cấp. Tập trung vào các khu vực ven hồ,
du lịch văn hóa , sinh thái chất lượng cao Phú Thọ sở hữu nhiều không gian tự
nhiên ven hồ, suối khoáng và cảnh quan trung du đặc sắc, rất phù hợp phát triển
du lịch nghỉ dưỡng cao cấp. Trong bối cảnh tầng lớp trung lưu tăng nhanh và nhu
cầu du lịch chất lượng cao bùng nổ, tỉnh có thể thu hút các tập đoàn đầu tư vào
resort sinh thái, wellness, golf và du lịch văn hoá gắn với Đền Hùng. Dòng FDI
vào du lịch cao cấp sẽ bổ sung dịch vụ cho chuyên gia nước ngoài và tạo ra hình
ảnh “tỉnh công nghiệp , dịch vụ hiện đại” thay vì chỉ là điểm sản xuất. Các mô
hình du lịch khép kín, thân thiện môi trường sẽ nâng vị thế Phú Thọ trong mạng
lưới du lịch vùng Tây Bắc mở rộng. Đây là phân khúc giúp tỉnh đa dạng hóa cơ
cấu dịch vụ và giữ chân nhân lực chất lượng cao.
(4) Giáo dục và y tế chất lượng cao. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ
thuật cao của các chuỗi FDI thế hệ mới, Phú Thọ cần phát triển hệ thống đại học
kỹ thuật/cao đẳng/trung cấp nghề liên kết trực tiếp với doanh nghiệp FDI. Việc
thu hút bệnh viện quốc tế, trường quốc tế tại Việt Trì, Bình Xuyên sẽ nâng chất
lượng dịch vụ sống cho chuyên gia nước ngoài, qua đó tăng sức cạnh tranh thu
hút FDI quy mô lớn. Hệ thống dịch vụ giáo dục, y tế chuẩn quốc tế cũng giúp
tỉnh xây dựng hình ảnh điểm đến công nghiệp hiện đại, thân thiện với chuyên
gia.
2.1.3. Nhóm nông nghiệp công nghệ cao và
nông nghiệp sinh thái
Bảng 3.5 Định hướng thu hút nông nghiệp công nghệ cao và
sinh thái
|
Cơ sở hiện trạng
|
Định hướng thu hút
|
Sản phẩm/Công nghệ mục tiêu
|
Quy mô (triệu USD)
|
Yêu cầu tỉnh cần chuẩn bị
|
|
Vùng chè 35-40 nghìn
ha; vùng dược liệu, gỗ rừng trồng lớn; nhu cầu thị trường cao về hữu cơ và
truy xuất nguồn gốc
|
Thu hút doanh nghiệp
từ Nhật, Israel, New Zealand vào giống, nhà kính, tưới tự động, bảo quản sau
thu hoạch, chế biến
|
Giống chất lượng cao,
IoT nông nghiệp, house farming 4.0, công nghệ bảo quản và chế biến
|
20-100
|
Quy hoạch 500- 700 ha
vùng CNC; hạ tầng tưới, điện; ưu đãi thuê đất
|
|
Chuỗi chè đã hình
thành, tiềm năng ngành gỗ lớn
|
Phát triển chế biến
sâu: matcha, chiết xuất catechin; ván gỗ công nghiệp cao cấp
|
Chè thương hiệu
Dược liệu chiết xuất
Gỗ chế biến
|
30-150
|
Khu chế biến nông lâm
100-200 ha; cụm công nghiệp sinh thái
|
|
Phù hợp truy xuất
nguồn gốc, sản xuất theo lô nhỏ
|
Triển khai blockchain,
mã QR; hệ thống phân loại và đóng gói tự động
|
Truy xuất nguồn gốc,
QR blockchain
|
5-50
|
Đầu tư trung tâm phân
phối; phòng lab kiểm nghiệm
|
|
Lợi thế cảnh quan đồi
chè, hồ, suối khoáng
|
Phát triển agritourism
gắn nông nghiệp công nghệ cao
|
Farmstay, trang trại
trải nghiệm, tour nông nghiệp
|
5-50
|
Hỗ trợ thủ tục du lịch
đất đai; kết nối doanh nghiệp du lịch
|
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
Nông nghiệp công nghệ cao nên được
Phú Thọ phát triển trong giai đoạn tới, dựa trên lợi thế về quỹ đất đồi gò lớn,
vùng nguyên liệu chè, gỗ, dược liệu rộng và nhu cầu thị trường nội địa lẫn xuất
khẩu đối với sản phẩm hữu cơ, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu. Hiện tỉnh đã
có trên 52 nghìn ha trồng cây lâu năm (cây chè với diện tích 14,5 nghìn ha, cây
ăn quả có múi 15,4 nghìn ha, cây chuối 6,3 nghìn ha,...), cùng nhiều vùng cây
dược liệu với diện tích khoảng 8,0 nghìn ha và gỗ rừng trồng, trong đó có trên
26,8 nghìn ha rừng sản xuất gỗ lớn. Đây là nền tảng thuận lợi để phát triển mô
hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn. Định hướng thu hút FDI tập trung vào ba
nhóm chính: (1) công nghệ nguồn như giống chất lượng cao, nhà kính, nhà màng,
tưới chính xác và quản trị trang trại bằng IoT/AI; (2) chế biến sâu nông lâm
sản gồm matcha, chiết xuất catechin, dược liệu chuẩn GMP, sản phẩm gỗ giá trị
cao, trái cây sấy đông lạnh; và (3) công nghệ truy xuất nguồn gốc bằng
blockchain, đóng gói và phân loại theo chuẩn toàn cầu/organic nhằm nâng cấp
toàn bộ chuỗi giá trị. Tỉnh khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ tại vùng
phía Tây Phú Thọ cũ (các xã thuộc huyện Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập cũ) và các
xã thuộc tỉnh Hoà Bình (cũ), gắn với mô hình agri-tourism như farmstay, du lịch
đồi chè, du lịch trải nghiệm nông nghiệp công nghệ cao, nhằm gia tăng giá trị
tổng hợp và thu hút nhà đầu tư lâu dài. Với mục tiêu như vậy, tỉnh ưu tiên thu
hút các doanh nghiệp từ Nhật Bản, New Zealand và Israel, những quốc gia dẫn đầu
thế giới về giống chất lượng cao, công nghệ nhà kính, tưới nhỏ giọt, và công
nghệ bảo quản sau thu hoạch. Việc tiếp nhận công nghệ từ các đối tác này sẽ
giúp nâng năng suất, giảm tổn thất sau thu hoạch và tạo ra các vùng sản xuất
nông nghiệp chuẩn xuất khẩu. Các hướng đi này giúp Phú Thọ không chỉ nâng cao
giá trị gia tăng nông nghiệp mà còn hình thành hệ sinh thái nông nghiệp bền
vững gắn với công nghệ, du lịch và thị trường tiêu thụ lớn của Hà Nội.
2.2.
Theo đối tác và thị trường
Dựa trên năng lực công nghệ, xu
hướng dịch chuyển chuỗi và mô hình hợp tác quốc tế, nhóm đối tác ưu tiên được
xác định như sau:
Bảng 3.6 Định hướng thu hút theo đối tác và thị trường
|
Nhóm đối tác
|
Quốc gia
|
Lĩnh vực phù hợp
|
Chiến lược thu hút
|
|
Chiến lược/Công
nghệ cao
|
Nhật Bản
|
Cơ khí chính xác, ô
tô, robot, thiết bị y tế
|
Mở rộng hệ sinh thái Toyota, Honda; thu hút nhà cung ứng
|
|
Hàn Quốc
|
Điện tử, quang học,
camera module, PCB, linh kiện EV
|
Thu hút các công ty
sản xuất linh kiện
|
|
Hoa Kỳ, EU Đài Loan
Trung Quốc
|
Thiết kế, đóng gói
kiểm thử bán dẫn, thiết bị y tế cao cấp, công nghệ xanh
|
Phát triển KCN chuẩn
EU/ESG; thu hút R&D, trung tâm thiết kế
|
|
Singapore
|
Logistics, tài chính,
giáo dục, y tế quốc tế
|
Hợp tác logistics
vùng; dịch vụ cao cấp cho chuyên gia
|
|
Đối tác mới nổi
|
Trung Đông
|
Năng lượng sạch,
logistics, trung tâm dữ liệu
|
Kêu gọi đầu tư vào KCN
xanh, data center, logistics thông minh
|
|
Ấn Độ, Trung Quốc
|
Dược phẩm, thiết bị y
tế, CNTT
|
Thu hút IT
outsourcing, dược phẩm, vật tư y tế
|
|
Úc, Ireland, Canada
|
Nông nghiệp công nghệ
cao, vật liệu mới
|
Hợp tác sản xuất nhà
kính, AI nông nghiệp, chế biến gỗ CNC
|
|
Đối tác tiềm
năng/thị trường ngách
|
Đài Loan
|
Camera module, lens,
PCB, SMT
|
Thu hút các dự án lấp
đầy chuỗi điện tử , quang học
|
|
Thái Lan, Malaysia
|
Logistics, F&B,
điện tử nhẹ
|
Phát triển logistics
nông sản, thực phẩm chế biến
|
|
Israel
|
Nông nghiệp chính xác,
AI nông nghiệp
|
Thu hút dự án tưới nhỏ
giọt, nhà kính công nghệ cao
|
|
Canada, New Zealand
|
Gỗ kỹ thuật, F&B
cao cấp, logistics lạnh
|
Chế biến sâu nông, lâm
sản, trung tâm logistics lạnh
|
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
2.2.1. Nhóm đối tác chiến lược và công nghệ
cao
Trong bối cảnh dịch chuyển mạnh mẽ
của các chuỗi cung ứng toàn cầu và yêu cầu nâng cấp cơ cấu FDI theo hướng công
nghệ, xanh, bền vững, nhóm đối tác chiến lược của tỉnh Phú Thọ được xác định
tập trung vào các quốc gia có năng lực công nghệ cao và hệ sinh thái công
nghiệp, dịch vụ tiên tiến. Nhật Bản tiếp tục là đối tác trọng tâm, đặc biệt
trong các lĩnh vực cơ khí chính xác, ô tô, xe máy, robot công nghiệp và thiết
bị y tế. Đây là nhóm nhà đầu tư có đặc trưng vốn ổn định, quản trị rủi ro cao,
công nghệ sạch và tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt, phù hợp định hướng nâng
cấp chuỗi giá trị của tỉnh. Việc mở rộng hệ sinh thái Toyota, Honda, Nidec,
Meiko là hướng đi khả thi, nhất là khi các doanh nghiệp Nhật đang tìm địa điểm
có chi phí hợp lý để bổ sung công đoạn R&D, thử nghiệm, sản xuất linh kiện
thế hệ mới.
Hàn Quốc là một trong những nguồn
FDI lớn nhất của Việt Nam, đặc biệt trong các chuỗi điện tử và linh kiện. Với
sự hiện diện của Partron, InterFlex, LG Innotek và chuỗi vệ tinh của BYD, Phú
Thọ có khả năng thu hút các dự án mở rộng về PCB, camera module, optical lens,
cảm biến và linh kiện cho thiết bị AIoT. Đây là nhóm doanh nghiệp có xu hướng
chuyển dịch khỏi Trung Quốc để giảm rủi ro địa chính trị, do đó tỉnh cần chủ
động xây dựng quỹ đất sạch và KCN đạt chuẩn cao để đón các dự án từ 200 triệu
USD đến trên 1 tỷ USD.
Hoa Kỳ và EU là nhóm đối tác chiến
lược mang tính đột phá, phù hợp với các lĩnh vực thiết kế chip, trung tâm
R&D, thiết bị y tế công nghệ cao, công nghệ sạch và vật liệu mới. Tuy
nhiên, nhóm nhà đầu tư này đặt ra yêu cầu rất cao về tiêu chuẩn môi trường,
minh bạch năng lượng và chứng nhận KCN xanh. Phú Thọ phải sớm phát triển ít
nhất 02 KCN tiêu chuẩn châu Âu, có hệ thống quản lý khí thải, tái sử dụng nước,
năng lượng tái tạo và hệ thống truy xuất carbon, nếu muốn thu hút dòng vốn công
nghệ cao từ Mỹ, Đức, Hà Lan hay Bắc Âu.
Singapore là đối tác then chốt trong các dịch vụ giá trị cao
như logistics thông minh, tài chính, ngân hàng, quản trị hạ tầng, giáo dục và
dịch vụ cao cấp. Với kinh nghiệm vận hành các trung tâm logistics tại Việt Nam
và Đông Nam Á, các tập đoàn Singapore như Mapletree, YCH, Sembcorp, CapitaLand
hay Keppel có khả năng tham gia vào phát triển trung tâm logistics cấp vùng tại
Bình Xuyên, Việt Trì, các khu đô thị dịch vụ chất lượng cao, hoặc các dự án
giáo dục, y tế quốc tế phục vụ chuyên gia FDI.
Như vậy, cấu trúc đối tác chiến lược
của Phú Thọ cần đi theo ba hướng: (i) Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan
giữ vai trò trụ cột công nghiệp; (ii) Hoa Kỳ, EU là động lực nâng cấp công nghệ
và tiêu chuẩn xanh; (iii) Singapore dẫn dắt dịch vụ chất lượng cao và logistics
thông minh. Việc triển khai đồng thời ba nhóm đối tác này sẽ tạo ra nền tảng
toàn diện để tỉnh bước vào giai đoạn thu hút FDI thế hệ mới với chất lượng và
mức độ lan tỏa cao hơn.
2.2.2. Nhóm đối tác thị trường mới nổi
Bên cạnh các đối tác truyền thống,
tỉnh Phú Thọ có cơ hội mở rộng hợp tác với nhóm đối tác mới nổi có năng lực tài
chính lớn, công nghệ chuyên biệt và nhu cầu dịch chuyển đầu tư mạnh mẽ trong
bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Các quốc gia Trung Đông như UAE,
Qatar và Ả Rập Xê út đang đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt trong các
lĩnh vực năng lượng sạch (hydro xanh, pin lưu trữ), logistics tích hợp và trung
tâm dữ liệu. Đây là nhóm nhà đầu tư có tiềm lực tài chính rất lớn, phù hợp với
các dự án hạ tầng chiến lược của tỉnh như trung tâm logistics vùng, điện mặt
trời áp mái trong KCN/CCN, hệ thống xử lý carbon và các khu công nghiệp xanh.
Ấn Độ nổi lên như một trung tâm công
nghệ, dược phẩm toàn cầu và đang mở rộng chuỗi sản xuất sang Đông Nam Á. Phú
Thọ có thể thu hút các doanh nghiệp dược phẩm generic, thiết bị y tế tiêu hao,
trung tâm CNTT, xử lý dữ liệu và dịch vụ kỹ thuật số. Đây cũng là nguồn nhân
lực CNTT giàu kinh nghiệm, có thể hỗ trợ tỉnh trong việc phát triển khu công
nghệ số, trung tâm R&D hoặc hợp tác đào tạo kỹ sư phần mềm.
Úc là đối tác quan trọng trong nông
nghiệp công nghệ cao, vật liệu mới và công nghệ môi trường. Sự bổ sung giữa tiềm
năng nông nghiệp, lâm nghiệp của Phú Thọ với công nghệ nhà kính, AI nông
nghiệp, công nghệ bảo quản lạnh và chế biến sâu của Úc tạo ra cơ hội lớn trong
việc phát triển ngành nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, hữu cơ phục vụ cả xuất
khẩu lẫn du lịch trải nghiệm.
Tổng thể, định hướng của tỉnh là đa
dạng hóa đối tác nhưng ưu tiên các quốc gia vừa có năng lực tài chính, vừa sở
hữu công nghệ tiến tiến, tiêu chuẩn xanh và khả năng kết nối chuỗi giá trị toàn
cầu. Điều này giúp Phú Thọ đảm bảo chất lượng FDI thế hệ mới, giảm rủi ro phụ
thuộc và mở ra cơ hội nâng tầm vị thế trong bản đồ đầu tư công nghệ cao của
Việt Nam.
2.2.3. Nhóm đối tác tiềm năng và thị trường
ngách
Nhóm đối tác tiềm năng bao gồm các
quốc gia và vùng lãnh thổ có quy mô đầu tư không quá lớn nhưng sở hữu công nghệ
độc đáo, chuyên sâu vào những phân khúc ngách của các chuỗi giá trị thế hệ mới.
Đây là nhóm nhà đầu tư có tính chiến lược cao vì có thể lấp đầy các “khoảng
trống công nghệ” của tỉnh, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, quang học, vật
liệu mới, nông nghiệp công nghệ cao và công nghệ môi trường. Tiêu biểu là Đài
Loan, một trung tâm toàn cầu về sản xuất linh kiện điện tử, quang học, PCB, kết
cấu cơ khí chính xác và thiết bị tự động hóa. Sự hiện diện ngày càng lớn của
các doanh nghiệp Đài Loan trong chuỗi cung ứng của Apple, BYD và các tập đoàn
ICT mở ra cơ hội thu hút các dự án từ 50-200 triệu USD về camera module, lens
glass, cảm biến và các dây chuyền SMT chuyên dụng.
Thái Lan và Malaysia là nhóm đối tác tiềm năng khác trong các lĩnh vực logistics, thực phẩm , đồ uống
chế biến sâu, cơ khí nhẹ và thiết bị điện tử gia dụng. Các doanh nghiệp FDI tại
đây đang tìm kiếm địa điểm mới để mở rộng sang Việt Nam nhằm giảm chi phí vận
hành và tăng khả năng tiếp cận thị trường. Ngoài ra, Thụy Sĩ và Bắc Âu (Đan
Mạch, Phần Lan, Thụy Điển) sở hữu công nghệ hàng đầu về thiết bị y tế chính
xác, công nghệ tự động hóa đóng gói, năng lượng sạch và mô hình khu công nghiệp
carbon thấp. Mặc dù quy mô vốn thường không quá lớn, song đây là các nhà đầu tư
có tư duy phát triển bền vững, phù hợp với định hướng KCN xanh mà tỉnh đang
hướng tới.
Nhóm đối tác ngách còn bao gồm
Israel , quốc gia dẫn đầu về công nghệ nông nghiệp chính xác, AI nông nghiệp,
công nghệ tưới nhỏ giọt, phân tích dữ liệu canh tác và thiết bị nông nghiệp
thông minh. Đây là đối tác rất phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp
công nghệ cao tại Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Sơn, đặc biệt trong mô hình nông
nghiệp hữu cơ, tuần hoàn kết hợp du lịch trải nghiệm. Cuối cùng, các doanh
nghiệp từ Canada và New Zealand có thế mạnh trong công nghệ quản trị rừng bền
vững, chế biến gỗ công nghệ cao, thực phẩm sạch và logistics chuỗi lạnh, tạo dư
địa hợp tác lớn trong phát triển công nghiệp chế biến nông lâm nghiệp của tỉnh.
Nhìn chung, chiến lược thu hút nhóm
đối tác tiềm năng , thị trường ngách không dựa vào lượng vốn lớn, mà nhấn mạnh
chất lượng công nghệ, tính độc đáo và khả năng lấp đầy các mắt xích còn thiếu
của hệ sinh thái FDI. Đây chính là yếu tố giúp Phú Thọ tăng chiều sâu chuỗi
cung ứng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo sự khác biệt so với các địa
phương thu hút FDI truyền thống như Bắc Ninh, Hải Phòng hay Hà Nội.
3.3.
Theo không gian phát triển
Dựa trên đặc điểm địa lý, chuỗi cung
ứng, mật độ công nghiệp, có thể chia định hướng không gian thu hút FDI thành 4
vùng trọng điểm:
3.3.1 Vùng Vĩnh Yên - Việt Trì: điện tử,
dữ liệu, dịch vụ số
Vùng trung tâm Vĩnh Yên - Việt Trì,
được xác định là hạt nhân phát triển các chuỗi sản xuất thế hệ mới, nhờ mật độ
công nghiệp cao, hạ tầng hoàn chỉnh và khả năng kết nối nhanh với Hà Nội, sân
bay Nội Bài, cảng Hải Phòng. Đây là địa bàn thích hợp nhất để thu hút các dự án
điện tử, quang học, AIoT, thiết bị cảm biến và linh kiện cho xe điện, dựa trên
nền tảng 33 nhà đầu tư điện tử đã hiện diện. Không gian này cũng phù hợp để phát
triển trung tâm logistics kỹ thuật cao, các cơ sở thử nghiệm, R&D và trung
tâm đào tạo kỹ thuật phục vụ các ngành công nghệ cao. Mục tiêu là biến khu vực
này thành cực đổi mới của tỉnh, cung cấp cả sản phẩm công nghệ lẫn dịch vụ giá
trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng điện tử, bán dẫn và các ngành khác như
thiết bị y tế, thiết bị năng lượng tái tạo.
3.3.2 Vùng Bình Xuyên - Phúc Yên - Vĩnh
Phúc: cơ khí chế tạo và EV
Vùng Bình Xuyên, Phúc Yên, là trung
tâm cơ khí, ô tô lớn nhất miền Bắc. Đây là khu vực có nền tảng công nghệ vững
chắc, lực lượng lao động kỹ thuật dồi dào và năng lực vận hành chuỗi cung ứng
phức tạp, phù hợp để thu hút các dự án phương tiện giao thông điện hóa, cơ khí
chính xác, robot tự động hóa, linh kiện EV, motor drive, inverter và máy công
cụ. Với mật độ công nghiệp cao và tốc độ mở rộng nhanh, vùng này cần phát triển
các dịch vụ logistics chuyên dụng cho ô tô, cơ khí. Đồng thời, việc hình thành
các KCN thông minh giúp tăng tính tự động hóa, truy xuất nguồn gốc và quản trị
carbon, tạo nền tảng để đón các dòng FDI công nghệ cao trong giai đoạn
2026-2035. Đây sẽ là vùng động lực công nghiệp chế tạo chính xác của toàn tỉnh
Phú Thọ.
3.3.3 Vùng Hòa Bình - Thanh Sơn - Yên Lập:
vật liệu, năng lượng xanh và du lịch sinh thái
Vùng Hòa Bình, Thanh Sơn, Yên Lập sở
hữu lợi thế tự nhiên lớn về địa hình, tài nguyên rừng và tiềm năng năng lượng
tái tạo (thủy điện nhỏ, biomass), phù hợp phát triển các ngành công nghiệp vật
liệu, năng lượng xanh và du lịch sinh thái. Đây là địa bàn giàu tiềm năng để thu
hút các dự án sản xuất vật liệu sinh thái, vật liệu xây dựng công nghệ cao,
viên nén sinh khối, xử lý chất thải và các mô hình công nghiệp tuần hoàn. Với
quỹ đất rộng và mật độ dân cư thấp, khu vực này có khả năng hình thành các cụm
sản xuất năng lượng phân tán phục vụ các KCN công nghệ cao ở Việt Trì, Vĩnh
Phúc, giúp giảm áp lực lên lưới điện quốc gia. Ngoài ra, công nghiệp chế biến
gỗ công nghệ cao và sản phẩm từ gỗ rừng trồng có thể trở thành ngành xuất khẩu
chủ lực nếu được thu hút các dự án ứng dụng công nghệ xử lý, ép gỗ và vật liệu
composite mới. Vùng này đóng vai trò trụ đỡ năng lượng và môi trường, bổ sung
tính bền vững trong toàn bộ không gian FDI của tỉnh. Bên cạnh đó, khu vực Hòa
Bình - Thanh Sơn - Yên Lập còn có dư địa lớn để phát triển du lịch sinh thái,
nghỉ dưỡng gắn với bảo tồn rừng và văn hóa bản địa. Việc thu hút các dự án FDI
và DDI trong lĩnh vực du lịch sinh thái, resort xanh, du lịch trải nghiệm kết
hợp năng lượng tái tạo và vật liệu sinh thái sẽ góp phần đa dạng hóa cơ cấu
kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Đây cũng là không gian
để tỉnh thực hiện các mô hình phát triển kinh tế xanh - tuần hoàn, tạo sự hài
hòa giữa công nghiệp, năng lượng và du lịch trong chiến lược thu hút FDI thế hệ
mới.
3.3.4 Vùng Tam Nông -Thanh Thủy: nông
nghiệp công nghệ cao du lịch sinh thái
Vùng Tam Nông, Thanh Thủy, với thế
mạnh về nông nghiệp, hệ sinh thái sông, hồ và suối khoáng nóng, được định hướng
trở thành trung tâm phát triển nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch sinh
thái , nghỉ dưỡng wellness. Đây là địa bàn phù hợp thu hút các dự án nhà kính
công nghệ cao, sản xuất giống chất lượng cao, chế biến sâu nông , lâm sản và
các mô hình nông nghiệp tuần hoàn đạt chuẩn xuất khẩu. Khu vực cũng có thể phát
triển trung tâm logistics nông sản cho toàn vùng Tây Bắc, tích hợp kho lạnh,
phân loại, kiểm định chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Với lợi thế về du lịch
nghỉ dưỡng suối khoáng Thanh Thủy và tài nguyên văn hóa phong phú, vùng này có
khả năng thu hút các dự án du lịch cao cấp, kết hợp trải nghiệm nông nghiệp,
văn hóa, sức khỏe. Vùng Tam Nông, Thanh Thủy vì vậy giữ vai trò “cực sinh thái,
dịch vụ xanh” trong định hướng không gian FDI của tỉnh Phú Thọ.
3.4.
Theo mô hình phát triển
3.4.1. Chuyển đổi từ KCN đơn chức năng sang
KCN thông minh
Trong giai đoạn thu hút FDI thế hệ
mới, mô hình KCN đơn chức năng truyền thống không còn đáp ứng tốt nhất các yêu
cầu của các nhà đầu tư công nghệ cao, đặc biệt là doanh nghiệp Mỹ, EU, Nhật
Bản, những đối tác đặt tiêu chuẩn nghiêm ngặt về quản trị carbon, năng lượng
sạch, an toàn dữ liệu và vận hành tự động hóa. Tám đặc điểm của chuỗi giá trị
thế hệ mới (số hóa, dữ liệu thời gian thực, tự động hóa, chuẩn xanh, truy xuất
nguồn gốc, logistics thông minh, tích hợp dịch vụ , sản xuất và đa chuỗi cung
ứng) đều đòi hỏi hạ tầng KCN phải chuyển sang mô hình thông minh, xanh. Theo
đó, tỉnh cần triển khai KCN thông minh sử dụng IoT, hệ thống giám sát năng
lượng, nước thải theo thời gian thực, nền tảng quản trị hạ tầng tích hợp và
trung tâm điều hành số. Cùng với đó, mô hình KCN thông minh, xanh cho phép tái
sử dụng nhiệt thải, tái chế nước, tuần hoàn chất thải công nghiệp và sử dụng
năng lượng tái tạo, vừa giảm phát thải vừa đáp ứng chuẩn ESG. Cần thực hiện thí
điểm mô hình này tại một số KCN và tạo động lực để nâng cấp toàn bộ hệ thống
KCN của tỉnh, giúp Phú Thọ đủ điều kiện tiếp nhận các dự án quy mô từ 200 triệu
đến trên 1 tỷ USD trong điện tử bán dẫn, EV và phương tiện giao thông điện hóa,
cơ khí chính xác và năng lượng sạch.
3.4.2. Phát triển các cụm liên kết ngành
Phát triển cụm liên kết ngành là
bước chuyển quan trọng để Phú Thọ nâng cấp từ mô hình thu hút FDI phân tán sang
hệ sinh thái sản xuất và công nghệ có tính tương tác cao. Cụm điện tử/bán
dẫn/linh kiện Vĩnh Phúc - Phú Thọ được định vị làm trục lõi, dựa trên sự hiện
diện của BYD, Meiko, JNTC, Partron và nhiều vệ tinh chuyên về lens, PCB, SMT.
Cụm này sẽ tiếp tục thu hút nhà cung cấp cấp 1,2,3 để hoàn thiện chuỗi camera
module, cảm biến, quang học và linh kiện AIoT.
Cụm ô tô, cơ khí phát triển dựa trên
nền tảng sẵn có, với thế mạnh của việc Honda và Toyota đầu tư mở rộng cho
Hybrid/EV. Sự bổ sung dòng EV (BYD, linh kiện motor, inverter) mở ra cơ hội
hình thành trung tâm sản xuất linh kiện EV và phương tiện giao thông điện hóa
tại miền Bắc.
Giữa 2 khu vực này, việc hình thành
và phát triển các KCNHT tập trung và phát triển hệ thống doanh nghiệp CNHT nội
địa cung cấp cho 2 cụm trên là động lực của Phú Thọ để nâng cao giá trị gia
tăng công nghiệp và thu hút FDI thế hệ mới trong giai đoạn sau.
Ở Hòa Bình, cụm vật liệu, năng lượng
xanh dựa trên lợi thế thủy điện, quỹ đất rộng và tài nguyên rừng, nhằm phát
triển vật liệu mới, sản phẩm sinh khối, xử lý chất thải và các mô hình công
nghiệp tuần hoàn phục vụ chuỗi điện tử, ô tô.
Cuối cùng, cụm dịch vụ, logistics
Việt Trì, Tam Nông có vai trò hỗ trợ chuỗi cung ứng của toàn tỉnh thông qua kết
nối trực tiếp với siêu cảng ICD Vĩnh Phúc, các tuyến quốc lộ và các KCN phía
Tây, tạo trục dịch vụ, trung chuyển phục vụ thương mại xuyên biên giới và xuất
khẩu.
3.4.3. Tích hợp R&D, đổi mới sáng tạo,
startup vào không gian FDI
Để thu hút FDI thế hệ mới, Phú Thọ
cần nâng cấp từ “điểm đến sản xuất” lên điểm đến đổi mới sáng tạo, tương tự
cách Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng đã làm với Samsung R&D, Synopsys, FPT
Software. Theo đó, tỉnh phải thúc đẩy thu hút các trung tâm R&D vệ tinh của
các tập đoàn toàn cầu và các doanh nghiệp thiết kế chip đang mở rộng khỏi Hà
Nội. Đồng thời, tỉnh cần xây dựng “Trung tâm Sáng tạo Phú Thọ”, tích hợp không
gian làm việc cho startup, trung tâm thiết kế, thử nghiệm, phòng lab công nghệ
cao và khu R&D doanh nghiệp. Một cấu phần quan trọng là phát triển chương
trình lao động kỹ thuật tại các trường nghề, đào tạo nhân lực cho robot, SMT,
kiểm định điện tử, AIoT và thiết kế phần mềm nhúng. Mô hình này sẽ tạo ra vòng
lặp đổi mới: FDI mang công nghệ, trường tạo kỹ năng, startup cung cấp giải
pháp, doanh nghiệp nội địa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.
3.4.4. Phát triển mô hình liên kết FDI và
DDI
Liên kết FDI và DDI là điều kiện cần
để nâng cao giá trị gia tăng trong nước và tránh tình trạng gia công thuần túy,
vốn là hạn chế của nhiều địa phương công nghiệp. Cách tiếp cận mới của Phú Thọ
là phát triển mô hình liên kết hai chiều: FDI dẫn dắt công nghệ, còn doanh
nghiệp nội địa cung ứng linh kiện, cụm linh kiện, logistics, và dịch vụ kỹ
thuật. Để thực hiện, tỉnh cần triển khai cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam
đạt chứng nhận chất lượng quốc tế (ISO, IATF16949, AS9100), cung cấp gói tín
dụng kích cầu đầu tư cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất tại tỉnh, cho đầu tư máy
móc và thiết bị số hóa, đồng thời xây dựng chương trình bảo lãnh hợp đồng cung
ứng cho các doanh nghiệp tiềm năng. Khi FDI và DDI cùng phát triển trong một
cụm ngành, lợi ích lan tỏa sẽ mạnh hơn, hình thành mạng lưới cung ứng nội địa
tương tự mô hình của Bắc Ninh, Thái Nguyên, từ đó tăng tính bền vững và sức
cạnh tranh dài hạn cho toàn tỉnh.
III.
Giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới vào tỉnh Phú Thọ
1. Nhóm các giải pháp tích
hợp với đề án Thu hút nhà đầu tư chiến lược
Đề án “Thu hút nhà đầu tư chiến
lược” và Đề án “Thu hút FDI thế hệ mới” có một số phạm vi, đối tượng và công cụ
triển khai tương tự nhau, do đó có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ và tương tác chặt
chẽ, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của
dòng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Đề án “Thu hút nhà đầu tư chiến
lược” giữ vai trò tạo nền tảng, tập trung lựa chọn các tập đoàn, doanh nghiệp
quy mô lớn, có năng lực công nghệ, tài chính và quản trị vượt trội, có khả năng
dẫn dắt ngành, hình thành các cực tăng trưởng và tạo sức lan tỏa dài hạn. Trên
cơ sở đó, Đề án “Thu hút FDI thế hệ mới” đóng vai trò tiếp tục mở rộng và làm
sâu chuỗi giá trị, tập trung thu hút có chọn lọc các doanh nghiệp FDI đầu chuỗi
dẫn dẵn các ngành công nghiệp thế hệ mới sử dụng công nghệ cao, doanh nghiệp vệ
tinh, dịch vụ kỹ thuật, logistics và đổi mới sáng tạo, gắn với các chuỗi sản
xuất và cung ứng toàn cầu. Đề án nhấn mạnh yêu cầu liên kết chuỗi, chuyển giao
công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và đáp ứng các
tiêu chuẩn mới về ESG. Vì vậy, phần lớn các nhóm giải pháp của Đề án “Thu hút
nhà đầu tư chiến lược” đã bao quát và đáp ứng các yêu cầu cốt lõi của Đề án
“Thu hút FDI thế hệ mới”, đặc biệt về thể chế, hạ tầng, nhân lực, chính sách hỗ
trợ đầu tư. Trên cơ sở đó, Bảng 3.7 đề xuất các giải pháp của đề án “Thu hút
nhà đầu tư chiến lược”, nhóm II, III, IX và X, được áp dụng mở rộng bao gồm cả
FDI thế hệ mới. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm thống nhất mục tiêu, tránh chồng
chéo chính sách, đồng thời tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả tổ chức
thực hiện trong bối cảnh tỉnh triển khai đồng thời nhiều nhiệm vụ đề án lớn.
Bảng 3.7 Đề xuất áp dụng mở rộng
cùng với giải pháp “Thu hút nhà đầu tư chiến lược”
|
TT
|
Nhiệm vụ, giải pháp
|
Đề xuất áp dụng mở rộng
|
|
1
|
Quy hoạch các khu công
nghiệp chuyên đề, khu công nghệ cao phục vụ thu hút đầu tư các lĩnh vực chiến
lược (máy tính, điện tử; công nghiệp bán dẫn; công nghiệp ô tô, xe máy và
công nghiệp dược phẩm,…).
|
Bao gồm cả FDI thế hệ
mới (bổ sung: phương tiện giao thông điện hóa, công nghiệp hỗ trợ,…). Yêu
cầu: hình thành ít nhất 01 KCN công nghệ cao, 02 KCNHT
|
|
2
|
Xây dựng, công bố danh
mục các dự án kêu gọi thu hút nhà đầu tư chiến lược
|
Mở rộng bao gồm cả thu
hút FDI thế hệ mới
|
|
3
|
Nghị quyết của HĐND
tỉnh quy định một số chính sách đặc thù hỗ trợ cho xã, phường có dự án đầu tư
chiến lược trên địa bàn tỉnh
|
Mở rộng bao gồm cả dự
án FDI thế hệ mới
|
|
4
|
Nghị quyết của HĐND
tỉnh quy định một số biện pháp đặc thù để bảo đảm công tác giải phóng mặt
bằng kịp thời, đúng tiến độ đối với các dự án đầu tư chiến lược trên địa bàn
tỉnh
|
Mở rộng bao gồm cả dự
án FDI thế hệ mới
|
|
5
|
Nghị quyết của HĐND
tỉnh quy định một số biện pháp đặc thù hỗ trợ cho sinh viên có hộ khẩu thường
trú tại Phú Thọ theo học các ngành nghề chiến lược theo định hướng phát triển
của tỉnh
|
Mở rộng bao gồm cả các
ngành ưu tiên thu hút FDI thế hệ mới
|
|
6
|
Nghị quyết của HĐND
tỉnh quy định một số chính sách hỗ trợ chuyên gia, nhà quản lý làm việc tại
các dự án đầu tư chiến lược trên địa bàn tỉnh
|
Mở rộng bao gồm cả dự
án FDI thế hệ mới
|
|
7
|
Nghị quyết của HĐND
tỉnh quy định một số chính sách khen thưởng trong công tác mời gọi, thu hút
các dự án đầu tư chiến lược trên địa bàn tỉnh
|
Mở rộng bao gồm cả dự
án FDI thế hệ mới
|
|
8
|
Cán bộ tham mưu, xử
lý, giải quyết công việc liên quan đến thu hút nhà đầu tư chiến lược của tỉnh
được ưu tiên trong công tác thi đua khen thưởng; được khuyến khích và bảo vệ
đối với các hoạt động năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách
nhiệm vì lợi ích chung.
|
Mở rộng bao gồm cả thu
hút FDI thế hệ mới
|
|
9
|
Chỉ thực hiện thanh
tra, kiểm tra mỗi năm tối đa 1 lần đối với nhà đầu tư chiến lược, trừ trường
hợp có bằng chứng rõ ràng về việc doanh nghiệp vi phạm.
|
Mở rộng bao gồm cả nhà
đầu tư FDI thế hệ mới
|
Nguồn: Nhóm ngiên cứu
2. Nhóm
giải pháp đặc thù thu hút FDI thế hệ mới
Bên cạnh 09 giải pháp tích hợp kể
trên, nhóm giải pháp đặc thù thu hút FDI thế hệ mới, với 10 giải pháp, được xây
dựng nhằm cụ thể hóa định hướng thu hút đầu tư FDI thế hệ mới của tỉnh, tập
trung vào chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển chuỗi cung ứng
bền vững. Các giải pháp này bổ sung và nâng cao hiệu quả các chính sách hiện
hành, hướng tới hình thành hệ sinh thái đầu tư hiện đại, liên kết FDI-DDI hiệu
quả và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của tỉnh trong bối cảnh cạnh tranh
thu hút FDI ngày càng gay gắt. Toàn bộ 10 giải pháp, với nội dung, đơn vị thực
hiện, kết quả, và thời gian thực hiện, được tóm tắt tại phụ lục I.
2.1 Nhóm
giải pháp ưu tiên
Giải pháp 1. Thiết lập cơ chế sàng
lọc, lựa chọn dự án FDI thế hệ mới gắn với cam kết chính trị cấp cao
Mục tiêu
• Chuyển đổi mô hình thu hút FDI của tỉnh theo hướng
lựa chọn dòng vốn đảm bảo chất lượng, công nghệ, hiệu quả lan tỏa và phát triển
bền vững.
• Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với
FDI thông qua cơ chế sàng lọc chặt chẽ gắn với cam kết chính trị và điều phối
liên ngành ở cấp cao nhất.
Nội dung thực hiện
• Xây dựng và ban hành Bộ tiêu chí lựa chọn dự án FDI
thế hệ mới cấp tỉnh, làm căn cứ thống nhất trong toàn bộ quá trình: chấp thuận
chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư vào khu công nghiệp, xác định ưu đãi hỗ
trợ và giám sát thực hiện dự án.
• Bộ tiêu chí cần tập trung vào các nội dung cốt lõi:
○ Hàm lượng công nghệ, mức độ tự động hóa, R&D và
đổi mới sáng tạo;
○ Vai trò của dự án trong chuỗi giá trị toàn cầu (dự án
đầu chuỗi, vệ tinh, trung tâm R&D, logistics công nghiệp);
○ Cam kết liên kết với DN nội địa lĩnh vực chế tạo và phát triển nguồn nhân
lực địa phương;
○ Quy mô vốn và năng lực tài chính;
○ Mức độ tuân thủ tiêu chuẩn ESG, môi trường và chuyển
đổi xanh.
• Gắn việc áp dụng bộ tiêu chí với cơ chế phân loại dự
án FDI, với các mức như ưu tiên/hạn chế/không khuyến khích, để định hướng xúc
tiến đầu tư, phân bổ quỹ đất, hạ tầng và nguồn lực hỗ trợ của tỉnh.
• Thành lập Tổ công tác đặc biệt về FDI thế hệ mới do
Chủ tịch UBND tỉnh làm Tổ trưởng, trực tiếp chỉ đạo, điều phối và tháo gỡ khó
khăn cho các dự án FDI thế hệ mới, quy mô lớn và có vai trò dẫn dắt chuỗi giá
trị.
• Áp dụng cơ chế một đầu mối xuyên suốt từ xúc tiến đầu
tư, chuẩn bị mặt bằng, giải quyết thủ tục đầu tư, xây dựng, môi trường đến hỗ
trợ triển khai và vận hành dự án trong thời gian nhanh nhất (15 ngày); giao rõ
trách nhiệm và quyền hạn cho Tổ công tác trong điều phối liên ngành.
• Tổ chức đối thoại định kỳ và đột xuất giữa lãnh đạo
tỉnh với các nhà đầu tư; đồng thời công khai cam kết về thời gian xử lý thủ tục
đối với các dự án FDI thế hệ mới và chuỗi cung ứng, tạo niềm tin và lợi thế
cạnh tranh so với các địa phương khác.
• Áp dụng cơ chế hậu kiểm dựa trên các tiêu chí đã cam
kết, xử lý nghiêm các dự án không đáp ứng yêu cầu về công nghệ, môi trường,
tiến độ và hiệu quả lan tỏa sang DDI.
Giải pháp 2. Phát triển các khu công
nghiệp chuyên biệt cho FDI thế hệ mới với đảm bảo hạ tầng năng lượng và KCN
thông minh
Mục tiêu
• Tạo lập không gian phát triển công nghiệp đồng bộ,
hiện đại, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hạ tầng, năng lượng và môi trường
• Chuyển đổi mô hình phát triển khu công nghiệp của
tỉnh từ đa ngành, dàn trải sang chuyên biệt theo chuỗi giá trị ưu tiên, gắn với
tiêu chuẩn KCN thông minh.
• Nâng cao năng lực cạnh tranh của Phú Thọ trong lựa
chọn địa điểm đầu tư của các tập đoàn toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực bán
dẫn, điện tử, EV, trung tâm dữ liệu và công nghiệp xanh.
• Ưu tiên năng lượng sạch nhằm đáp ứng nhu cầu điện cho
các dự án FDI thế hệ mới, bảo đảm tốc độ tăng phụ tải khoảng 12-15%/năm, đáp
ứng yêu cầu của FDI thế hệ mới.
Nội dung thực hiện
• Đến 2030, hình thành ít nhất ít nhất 02 KCN đảm bảo
cung cấp năng lượng đầy đủ và ổn định theo yêu cầu của dòng vốn FDI thế hệ mới
và chuỗi cung ứng đi kèm. Quy hoạch và từng bước hình thành 02 KCN công nghệ
cao và 02 KCN hỗ trợ trên địa bàn tỉnh.
• Xây dựng chương trình bảo đảm cung ứng điện ổn định,
liên tục; phối hợp với các đơn vị điện lực để nâng cấp lưới điện, bảo đảm công
suất lớn và năng lực dự phòng.
• Khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà, hệ
thống lưu trữ năng lượng và các mô hình năng lượng phân tán trong KCN; từng
bước hình thành các KCN sử dụng tỷ lệ cao năng lượng xanh.
• Trong mỗi KCN, tích hợp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ
tầng số, logistics thông minh và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm khả
năng tiếp nhận các dự án có yêu cầu cao về công nghệ, quản trị và ESG.
• Quy hoạch quỹ đất hợp lý dành riêng cho doanh nghiệp
công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp nội địa, tạo điều kiện hình thành chuỗi cung
ứng tại chỗ và tăng cường liên kết FDI - DDI.
• Phát triển hệ thống khu công nghiệp thông minh gắn
với đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả, thúc
đẩy tái chế và tuần hoàn tài nguyên; đồng thời bảo đảm hạ tầng xử lý môi trường
toàn điện tập trung, giảm phát thải khí nhà kính.
• Đồng thời, thúc đẩy triển khai các dự án điện theo
Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Chính phủ (điện rác, sinh khối,
điện mặt trời, tận dụng nhiệt khí thải) và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp sử
dụng điện sạch, bảo đảm cung ứng điện ổn định, bền vững cho phát triển công
nghiệp.
• Lồng ghép tiêu chí sử dụng năng lượng xanh, giảm phát
thải carbon và cam kết ESG vào lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng KCN và dự án FDI;
thí điểm các mô hình hợp tác công tư trong đầu tư hạ tầng năng lượng phục vụ
sản xuất công nghiệp.
• Lựa chọn chủ đầu tư hạ tầng KCN có năng lực tài
chính, kinh nghiệm quốc tế và cam kết phát triển KCN theo chuẩn FDI thế hệ mới,
coi đây là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Phú Thọ
Giải pháp 3. Đổi mới xúc tiến đầu tư
theo chuỗi giá trị và nhà đầu tư dẫn dắt với đòn bẩy từ các nhà phát triển hạ
tầng KCN có thương hiệu
Mục tiêu
• Đổi mới căn bản hoạt động xúc tiến đầu tư theo hướng
có trọng tâm, theo chuỗi giá trị và theo nhà đầu tư mục tiêu, khắc phục tình
trạng dàn trải, hình thức.
• Tiếp cận trực tiếp các tập đoàn FDI đầu chuỗi, doanh
nghiệp công nghệ cao và nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, qua đó nâng cao chất lượng
dòng vốn FDI vào tỉnh.
• Phát huy vai trò đòn bẩy trung gian của các nhà phát
triển hạ tầng KCN có thương hiệu, góp phần nâng cao mức độ sẵn sàng hạ tầng và
định vị rõ hình ảnh Phú Thọ trên bản đồ FDI thế hệ mới.
Nội dung thực hiện
• Nghiên cứu, lựa chọn một số chuỗi sản xuất ưu tiên và
doanh nghiệp FDI mục tiêu phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh; xây dựng
danh mục nhà đầu tư thế hệ mới theo từng chuỗi giá trị và từng thị trường trọng
điểm.
• Xây dựng và triển khai chương trình xúc tiến đầu tư
chuyên biệt cho từng chuỗi và từng thị trường, kết hợp giữa xúc tiến trực tiếp,
xúc tiến số và xúc tiến thông qua mạng lưới đối tác quốc tế.
• Chủ động tiếp cận các tập đoàn dẫn dắt chuỗi, doanh
nghiệp công nghệ cao và nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, gắn xúc tiến FDI với xúc tiến
DDI để hình thành chuỗi liên kết sản xuất - cung ứng tại chỗ.
• Lựa chọn, mời gọi và làm việc trực tiếp với các doanh
nghiệp phát triển hạ tầng KCN hàng đầu trong nước và quốc tế (như Amata, VSIP,
Becamex, Kinh Bắc, Deep C…), ưu tiên các đơn vị có kinh nghiệm phát triển KCN
công nghệ cao và KCN công nghiệp hỗ trợ theo chuẩn quốc tế.
• Áp dụng cơ chế lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng KCN có
chọn lọc, gắn với các tiêu chí về năng lực tài chính, kinh nghiệm thu hút FDI
công nghệ cao, khả năng phát triển hệ sinh thái dịch vụ và cam kết đầu tư dài
hạn tại địa phương.
• Tạo điều kiện thuận lợi và rút ngắn tối đa thời gian
giải quyết thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và kết nối hạ tầng ngoài hàng
rào KCN, đồng thời gắn trách nhiệm của nhà đầu tư hạ tầng với kết quả thu hút
dự án FDI thứ cấp.
• Khuyến khích các nhà phát triển hạ tầng KCN tham gia
sâu vào hoạt động xúc tiến đầu tư, tiếp thị KCN, kết nối chuỗi cung ứng và hỗ
trợ doanh nghiệp thứ cấp trong suốt vòng đời dự án, hình thành mô hình xúc tiến
FDI đồng hành và đồng lợi ích.
Giải pháp 4. Hỗ trợ tuyển dụng và
chuẩn bị nguồn lao động cho FDI thế hệ mới
Mục tiêu
• Tạo lợi thế cạnh tranh mới trong thu hút FDI thế hệ
mới thông qua hỗ trợ phi tài chính về nguồn lao động chất lượng cao, đặc biệt
đối với các dự án công nghệ cao, quy mô lớn và yêu cầu kỷ luật, kỹ năng cao.
Chuyển vai trò của chính quyền từ “cấp phép đầu tư” sang đồng hành chủ động
trong chuẩn bị nguồn nhân lực cho doanh nghiệp.
• Giảm rủi ro triển khai dự án và rút ngắn thời gian
vận hành của các dự án FDI thế hệ mới. Bảo đảm doanh nghiệp có đủ lao động phù
hợp ngay từ giai đoạn khởi động, qua đó nâng cao mức độ hài lòng và khả năng mở
rộng đầu tư.
• Nâng cao hiệu quả sử dụng và điều tiết thị trường lao
động vùng, kết nối nguồn lao động trong tỉnh với các địa phương lân cận, góp
phần hình thành lực lượng lao động công nghiệp ổn định, bền vững cho Phú Thọ.
Nội dung thực hiện
• Thống kê và dự báo nhu cầu lao động của doanh nghiệp
FDI ngay từ giai đoạn tiền khả thi, bao gồm số lượng, cơ cấu nghề, trình độ kỹ
năng, yêu cầu kỷ luật và tiến độ tuyển dụng. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch
chuẩn bị nguồn lao động song hành với tiến độ đầu tư của dự án.
• Xây dựng kế hoạch tuyển dụng liên vùng, huy động
nguồn lao động không chỉ từ Phú Thọ mà cả các tỉnh lân cận và khu vực Trung du
- miền núi Bắc Bộ. Tỉnh đóng vai trò điều phối, kết nối doanh nghiệp với các
địa phương, trung tâm dịch vụ việc làm và cơ sở đào tạo.
• Tổ chức đào tạo ngắn hạn về kỹ năng công nghiệp và
tác phong làm việc cho lao động trước khi vào làm việc tại doanh nghiệp FDI,
tập trung vào kỷ luật lao động, an toàn sản xuất, làm việc theo quy trình, và
kỹ năng cơ bản theo yêu cầu từng dự án. Các chương trình đào tạo được thiết kế
linh hoạt, gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.
• Lập kế hoạch hỗ trợ và bố trí nơi ăn ở tập trung cho
người lao động, bao gồm ký túc xá, nhà ở công nhân và các dịch vụ thiết yếu,
bảo đảm phù hợp với vị trí KCN và địa điểm sản xuất của doanh nghiệp. Khuyến
khích mô hình phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và nhà đầu tư hạ tầng KCN
trong phát triển hạ tầng lưu trú cho lao động.
• Thiết lập cơ chế hỗ trợ sau đầu tư trong tuyển dụng
bổ sung, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất, điều chỉnh cơ cấu lao động hoặc thay
thế lao động của doanh nghiệp FDI. Bảo đảm hoạt động sản xuất không bị gián
đoạn do thiếu hụt lao động.
• Đề xuất xây dựng và ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh
về hỗ trợ nhà đầu tư trong tuyển dụng và đào tạo lao động, làm cơ sở pháp lý
thống nhất cho các hoạt động hỗ trợ phi tài chính, xác định rõ trách nhiệm của
các sở, ngành và địa phương trong đồng hành cùng doanh nghiệp FDI thế hệ mới.
Giải pháp 5. Xây dựng và triển khai
chương trình liên kết FDI - DDI gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ
Mục tiêu
• Khắc phục tình trạng phát triển tách rời giữa khu vực
FDI và doanh nghiệp trong nước, chuyển từ mô hình FDI độc lập sang mô hình phát
triển dựa trên liên kết chuỗi giá trị. Tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa
tham gia trực tiếp vào mạng lưới sản xuất và cung ứng của FDI thế hệ mới.
• Nâng cao hiệu ứng lan tỏa của FDI về công nghệ, quản
trị và thị trường, thông qua các hoạt động liên kết sản xuất, chuyển giao kỹ
thuật và phát triển nhà cung cấp địa phương. Qua đó, từng bước nâng cao chất
lượng và sức cạnh tranh của khu vực DDI.
• Ưu tiên và dẫn dắt dòng vốn đầu tư nội địa vào các
lĩnh vực có khả năng liên kết với FDI, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ
kỹ thuật và logistics công nghiệp. Góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp
hỗ trợ bền vững, gắn với các ngành FDI thế hệ mới.
• Hỗ trợ đào tạo, tư vấn và nâng cao năng lực cho doanh
nghiệp DDI, giúp doanh nghiệp nội địa đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất
lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và quản trị chuỗi cung ứng quốc tế.
• Hỗ trợ doanh nghiệp FDI và DDI liên kết theo chuỗi
cung ứng và đồng hành phát triển thị trường nội địa và mở rộng thị trường quốc
tế.
Nội dung thực hiện
• Thiết kế và triển khai Chương trình liên kết FDI-DDI
cấp tỉnh như một cấu phần bắt buộc trong chiến lược thu hút FDI thế hệ mới.
Chương trình xác định rõ ngành ưu tiên, doanh nghiệp mục tiêu, lộ trình liên
kết và cơ chế hỗ trợ cụ thể.
• Thu thập, cập nhật và công bố thông tin về cung - cầu
linh kiện, phụ tùng và dịch vụ công nghiệp, làm cơ sở kết nối giữa doanh nghiệp
FDI và DDI. Xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của tỉnh,
tích hợp với hoạt động xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại.
• Đề xuất xây dựng và ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh
về chính sách kích cầu đầu tư đối với doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung
ứng FDI thế hệ mới: quy định tiêu chí thụ hưởng, lĩnh vực ưu tiên, mức và thời
hạn hỗ trợ, gắn với cam kết cung ứng cho FDI thế hệ mới; nội dung kích cầu đầu
tư là thực hiện cấp bù lãi suất tín dụng cho dự án đầu tư vào máy móc, thiết bị
công nghệ, dây chuyền sản xuất và nhà xưởng sản xuất sản phẩm cung cấp cho FDI
thế hệ mới. Việc hỗ trợ được triển khai có chọn lọc, gắn với kết quả đầu tư và
hiệu quả liên kết thực tế. Gắn chính sách hỗ trợ tài chính với Chương trình
liên kết FDI-DDI, coi đây là công cụ kích hoạt đầu tư nội địa đi trước một
bước. Qua đó, tạo nguồn cung doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ sẵn sàng, nâng cao
sức hấp dẫn của Phú Thọ trong thu hút các dự án FDI thế hệ mới và FDI chiến
lược.
• Hỗ trợ doanh nghiệp DDI nâng cao năng lực toàn diện,
bao gồm năng lực kỹ thuật, quản trị sản xuất, kiểm soát chất lượng, tiêu chuẩn
ESG và tuân thủ yêu cầu của các chuỗi cung ứng quốc tế. Các hoạt động hỗ trợ
được triển khai theo lộ trình, gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp FDI đầu
chuỗi.
• Khuyến khích các tập đoàn FDI đầu chuỗi tham gia trực
tiếp vào chương trình phát triển nhà cung cấp địa phương, thông qua đào tạo kỹ
thuật, tư vấn quy trình, chia sẻ tiêu chuẩn và hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm. Tạo
cơ chế ghi nhận và khuyến khích FDI có cam kết liên kết và chuyển giao cho
doanh nghiệp trong nước.
• Theo dõi và đánh giá định kỳ mức độ liên kết FDI-DDI
và tỷ lệ nội địa hóa, coi đây là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hiệu quả
thu hút FDI. Trên cơ sở kết quả đánh giá, kịp thời điều chỉnh chính sách hỗ
trợ, định hướng xúc tiến và lựa chọn dự án FDI mới.
• Khuyến khích các doanh nghiệp FDI kết nối với các
doanh nghiệp DDI trên địa bàn để nghiên cứu, phát triển các sản phẩm hoàn
thiện, sử dụng nhiều sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong nước. Nhà nước hỗ trợ
quảng bá, phát triển thị trường cho các chuỗi cung ứng tiềm năng.
2.2.
Nhóm giải pháp bổ trợ
Giải pháp 6. Phát triển nguồn nhân
lực kỹ thuật theo đặt hàng doanh nghiệp và xây dựng trung tâm đào tạo kỹ thuật
vùng phục vụ FDI thế hệ mới
Mục tiêu
• Đến năm 2030, hình thành lực lượng 50.000 lao động kỹ
thuật, trong đó có 20.000 nhân lực kỹ thuật cao, có tay nghề, kỷ luật và năng
lực làm việc theo tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng trực tiếp nhu cầu của các doanh
nghiệp FDI thế hệ mới và doanh nghiệp DDI tham gia chuỗi cung ứng.
• Giải quyết căn bản điểm nghẽn về nhân lực kỹ thuật trong
các lĩnh vực ưu tiên thu hút FDI thế hệ mới như: điện tử, bán dẫn (SMT,
ATP/OSAT), cơ khí chính xác, tự động hóa, robot, logistics công nghiệp, năng
lượng mới và công nghiệp số.
• Chuyển đổi mô hình đào tạo từ cung ứng sang đào tạo
theo đặt hàng của doanh nghiệp, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước - cơ sở đào tạo
- doanh nghiệp; đồng thời từng bước hình thành trung tâm đào tạo kỹ thuật vùng,
tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho Phú Thọ trong thu hút FDI chất lượng cao.
Nội dung thực hiện
• Xây dựng và triển khai Chương trình đào tạo 50.000
nhân lực kỹ thuật theo cơ chế đặt hàng, trong đó doanh nghiệp FDI và DDI tham
gia trực tiếp vào xác định nhu cầu, tiêu chuẩn kỹ năng, nội dung đào tạo và
đánh giá đầu ra; ngân sách tỉnh hỗ trợ có trọng tâm cho cơ sở đào tạo và doanh
nghiệp nội địa tham gia chương trình.
• Tập trung đào tạo các nhóm nghề trọng điểm phục vụ
FDI thế hệ mới: kỹ thuật điện - điện tử, vận hành dây chuyền tự động, robot
công nghiệp, SMT - bán dẫn, khuôn mẫu - cơ khí chính
xác, logistics - kho vận công nghiệp, kỹ thuật số và quản lý sản xuất.
• Ban hành cơ chế xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp, ưu
tiên thu hút đầu tư của khu vực tư nhân và các tập đoàn công nghiệp, tổ chức
đào tạo uy tín trong và ngoài nước tham gia thành lập, mở rộng các trường cao đẳng
nghề và trung tâm đào tạo kỹ thuật chất lượng cao gắn với nhu cầu doanh nghiệp.
• Đầu tư nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghiệp Phú Thọ
theo hướng chuyên sâu và hiện đại, từng bước xây dựng trở thành trung tâm đào
tạo kỹ thuật vùng, nòng cốt trong mạng lưới đào tạo nhân lực phục vụ các KCN,
KCN công nghệ cao và các cụm liên kết ngành của tỉnh và vùng Trung du - miền núi Bắc Bộ.
• Chuẩn hóa chương trình đào tạo, thiết bị thực hành và
đội ngũ giảng viên; phát triển các xưởng thực nghiệm, phòng lab công nghiệp, mô
hình đào tạo song hành với doanh nghiệp; khuyến khích mô hình “doanh nghiệp
trong trường - trường trong doanh nghiệp”.
• Áp dụng các chính sách hỗ trợ đặc thù: hỗ trợ chi phí
đào tạo, học phí, thực tập có lương; hỗ trợ doanh nghiệp tổ chức đào tạo tại
chỗ; khuyến khích doanh nghiệp tiếp nhận học viên thực tập và tuyển dụng trực
tiếp sau tốt nghiệp.
• Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo kỹ thuật
(Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức…), chuyển giao chương trình đào tạo nghề
chuẩn quốc tế; đồng thời nâng cao năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động và tác
phong công nghiệp cho người lao động.
• Gắn chặt phát triển hệ thống đào tạo nghề với chiến
lược thu hút FDI thế hệ mới, bảo đảm đào tạo đi trước một bước, tạo nguồn nhân
lực sẵn sàng cho các dự án công nghệ cao và chuỗi giá trị toàn cầu.
Giải pháp 7: Thúc đẩy đổi mới sáng
tạo, R&D ứng dụng, và khởi nghiệp công nghệ gắn với phát triển công nghiệp
và CNHT
Mục tiêu
• Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và R&D
ứng dụng gắn trực tiếp với sản xuất công nghiệp, khắc phục điểm yếu thiếu hoạt
động nghiên cứu - thiết kế - phát triển sản phẩm tại
chỗ trong thu hút FDI thế hệ mới.
• Nâng cao năng lực công nghệ, thiết kế và cải tiến sản
phẩm của doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là CNHT, giúp tham gia sâu hơn vào các
phân đoạn giá trị gia tăng cao của chuỗi giá trị toàn cầu.
• Thúc đẩy chuyển dịch doanh nghiệp CNHT từ gia công
sang OEM, ODM và từng bước OBM, tạo nền tảng liên kết bền vững với các tập đoàn
FDI công nghệ cao.
Nội dung thực hiện
• Lồng ghép R&D ứng dụng vào toàn bộ các chương
trình hỗ trợ doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển CNHT của tỉnh; coi
R&D là công cụ then chốt nâng cấp chuỗi giá trị, không phải hoạt động tách
rời.
• Thành lập và vận hành Quỹ đổi mới sáng tạo tỉnh theo
mô hình linh hoạt, tập trung hỗ trợ đổi mới công nghệ, R&D ứng dụng và khởi
nghiệp công nghệ trong các ngành công nghiệp ưu tiên.
• Triển khai các chương trình đồng tài trợ R&D ứng
dụng, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, làm chủ và nội địa hóa công nghệ thông qua
chuyển giao, thiết kế, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm theo chuẩn quốc tế.
• Thiết lập cơ chế liên kết thường xuyên giữa doanh
nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp FDI trong đào
tạo kỹ sư thực hành, nghiên cứu ứng dụng và giải quyết bài toán công nghệ cụ
thể.
• Khuyến khích FDI đầu chuỗi và doanh nghiệp lớn tham
gia đặt hàng R&D, hỗ trợ kỹ thuật và ươm tạo startup công nghiệp, từng bước
hình thành nhóm doanh nghiệp OEM/ODM của tỉnh.
Giải pháp 8. Thiết lập cơ chế đồng
hành nhà đầu tư xuyên suốt vòng đời dự án, gắn với minh bạch môi trường đầu tư
Mục tiêu
• Thiết lập cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư thống nhất, chuyên
nghiệp và xuyên suốt từ khảo sát, chuẩn bị đầu tư đến vận hành, mở rộng và tái
đầu tư, đáp ứng yêu cầu của FDI thế hệ mới.
• Rút ngắn tối đa thời gian xử lý thủ tục hành chính,
giảm chi phí tuân thủ và rủi ro thủ tục; nâng cao sức cạnh tranh của Phú Thọ
trong thu hút dự án công nghệ cao và dự án đầu chuỗi.
• Nâng cao tính minh bạch, liêm chính và trách nhiệm
giải trình của chính quyền; củng cố niềm tin của nhà đầu tư chiến lược và gia
tăng tỷ lệ tái đầu tư.
Nội dung thực hiện
• Thành lập Ban Chỉ đạo thu hút đầu tư cấp tỉnh (FDI
và DDI) do lãnh đạo tỉnh trực tiếp chỉ đạo, bảo đảm điều phối liên ngành và xử
lý nhanh các vấn đề phát sinh.
• Áp dụng mô hình một cửa - một đầu mối - một tổ công
tác theo dự án, theo dõi xuyên suốt toàn bộ vòng đời đối với các dự án FDI thế
hệ mới và DDI trọng điểm.
• Chuẩn hóa, số hóa toàn bộ quy trình thủ tục đầu tư;
công khai thời gian xử lý từng khâu và triển khai hệ thống theo dõi trực tuyến
để tăng minh bạch, giảm tiếp xúc trực tiếp.
• Đồng hành với nhà đầu tư ngay từ giai đoạn tiền đầu
tư, hỗ trợ cung cấp thông tin quy hoạch, quỹ đất, hạ tầng, khảo sát thực địa và
tư vấn lựa chọn địa điểm phù hợp chuỗi giá trị và tiêu chí ESG.
• Thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý phản ánh độc lập
24/7; thực hiện đối thoại định kỳ, chăm sóc sau đầu tư và công khai kết quả
DDCI, PCI để nâng cao kỷ luật hành chính và chất lượng điều hành.
Phần thứ tư
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. Nhiệm
vụ chung
Các sở, ban, ngành, địa phương và
các đơn vị liên quan chủ động phối hợp triển khai đồng bộ các nhiệm vụ của Đề
án; bảo đảm thống nhất mục tiêu, chia sẻ dữ liệu, phân công rõ trách nhiệm,
giám sát tiến độ và kịp thời đề xuất điều chỉnh để thu hút hiệu quả FDI thế hệ
mới trên địa bàn tỉnh.
II.
Nhiệm vụ cụ thể
1. Sở Tài chính: Cơ quan đầu mối chủ trì triển khai
Đề án, điều phối liên ngành, theo dõi, tổng hợp, đánh giá kết quả thu hút FDI
thế hệ mới và tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh chính sách khi cần thiết, trong đó
tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm; định kỳ hằng năm tổng hợp, đánh
giá tình hình, kết quả thực hiện và đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ
sung các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đề án trong trường hợp cần thiết.
Chủ trì đề xuất thành lập Ban Chỉ đạo thu hút đầu tư cấp tỉnh (cả FDI và DDI)
và Tổ công tác đặc biệt về FDI thế hệ mới, do lãnh đạo tỉnh trực tiếp phụ trách
và chỉ đạo; chủ trì xây dựng Bộ tiêu chí lựa chọn dự án FDI thế hệ mới.
2. Sở Nội vụ: Chủ trì rà soát, sắp xếp tổ chức bộ
máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức liên quan đến xúc tiến và
quản lý đầu tư; phối hợp xây dựng cơ chế đánh giá, khen thưởng - kỷ luật gắn
với kết quả thu hút và phục vụ FDI thế hệ mới, góp phần cải thiện kỷ luật, kỷ
cương hành chính và môi trường đầu tư của tỉnh.
3. Sở Công Thương: Chủ trì phát triển công nghiệp hỗ
trợ, kết nối FDI- DDI, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và triển khai các chương
trình nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa. Chỉ đạo các cụm công nghiệp, các
đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý cung cấp nhu cầu lao động qua đào tạo theo các
ngành nghề, trình độ đào tạo hàng năm và giai đoạn. Chủ trì xây dựng Nghị quyết
của UBND tỉnh về hỗ trợ kích cầu đầu tư đối với doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng FDI thế hệ mới. Chủ trì và phối hợp thực hiện phát triển thị
trường trong nước và mở rộng thị trường quốc tế cho các chuỗi cung ứng tiềm
năng. Tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách phát triển hạ tầng năng lượng đồng
bộ, bảo đảm tốc độ tăng phụ tải đáp ứng nhu cầu điện cho các dự án FDI thế hệ
mới.
4. Ban Quản lý các Khu công nghiệp: Chủ trì lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng
KCN, kiểm soát tiến độ đầu tư hạ tầng KCN, chất lượng công trình, bảo đảm điều
kiện tiếp nhận dự án FDI thế hệ mới; thu hút và quản lý, giám sát tiến độ thực
hiện, hiệu quả sử dụng đất dự án FDI thế hệ mới, theo dõi, xử lý vướng mắc của
nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án; Phối hợp rút ngắn thời gian giải
quyết thủ tục về đầu tư, xây dựng; Phối hợp, cung cấp nhu cầu lao động theo
ngành, nghề, trình độ phục vụ công tác đào tạo.
5. Sở Xây dựng: Phối hợp với Ban Quản lý các Khu
công nghiệp tỉnh và các cơ quan liên quan tham mưu cho cấp có thẩm quyền tổ
chức thực hiện các dự án KCN trên địa bàn tỉnh theo quy hoạch tỉnh Phú Thọ,
phát triển hạ tầng KCN, KCN công nghệ cao và Khu CNHT đáp ứng yêu cầu các dự án
FDI thế hệ mới, chuỗi cung ứng; hướng dẫn quy trình và tổ chức thực hiện các
thủ tục về hoạt động xây dựng các dự án KCN, dự án đầu tư thứ cấp trong
KCN…nhằm rút ngắn thời gian thực hiện dự án, đặc biệt là các dự án ưu tiên được
áp dụng quy trình thủ tục rút gọn.
6. Sở Giáo dục và Đào tạo: Phối hợp định hướng đào tạo nghề,
STEM, kỹ thuật - công nghệ; kết nối hệ thống giáo dục với nhu cầu nhân lực
trung và dài hạn của các ngành FDI thế hệ mới. Chủ trì triển khai Chương trình
phát triển 50.000 nhân lực kỹ thuật; chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
phối hợp doanh nghiệp FDI và DDI thực hiện đặt hàng đào tạo.
7. Sở Khoa học và Công nghệ: Thúc đẩy hoạt động R&D, đổi mới
sáng tạo, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ hình thành Trung tâm R&D Phú Thọ và
hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ; chủ trì nghiên cứu đề xuất thành lập và vận
hành Quỹ đổi mới sáng tạo tỉnh Phú Thọ.
8. Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ
doanh nghiệp: Đầu
mối chủ trì trong công tác xúc tiến, định hướng và hỗ trợ triển khai thu hút
FDI thế hệ mới. Gồm: Chủ trì tham mưu xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư có
trọng tâm, trọng điểm theo định hướng FDI thế hệ mới; Đầu mối tiếp cận, làm
việc với nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia; cung cấp thông tin môi
trường đầu tư, danh mục dự án kêu gọi đầu tư của tỉnh; Phối hợp với các sở,
ngành đánh giá sơ bộ dự án FDI về công nghệ, môi trường, khả năng liên kết
chuỗi giá trị ngay từ khâu xúc tiến; Kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp
trong tỉnh, lồng ghép mục tiêu liên kết chuỗi cung ứng trong quá trình thu hút
và triển khai dự án; Theo dõi, hỗ trợ sau cấp phép đầu tư, kịp thời nắm bắt khó
khăn, vướng mắc của nhà đầu tư để tham mưu giải pháp tháo gỡ. Cung cấp nhu cầu
lao động các ngành, nghề dự kiến hoặc đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư vào
tỉnh.
9. Sở Ngoại vụ: Phối hợp xúc tiến đầu tư quốc tế, mở
rộng quan hệ với các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp FDI tại các thị trường
trọng điểm. Hỗ trợ xúc tiến đầu tư tại các thị trường trọng điểm; Phối hợp mở
rộng quan hệ quốc tế; Kết nối với các cơ quan đại diện, tổ chức quốc tế, hiệp
hội doanh nghiệp nước ngoài.
10. Các địa phương: Chủ động chuẩn bị mặt bằng, hạ tầng
kết nối, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và đồng hành cùng nhà đầu tư trong quá
trình triển khai dự án.
11. Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh và các tổ
chức liên quan: Tham
gia kết nối doanh nghiệp FDI - DDI, phản ánh kịp thời khó khăn, vướng mắc và đề
xuất cải thiện môi trường đầu tư.
III.
Kinh phí thực hiện Đề án
Căn cứ nhiệm vụ được giao tại Đề án,
các đơn vị, địa phương chủ động cân đối, sử dụng từ nguồn dự toán được giao
hàng năm và các nguồn thu hợp pháp khác (nếu có) theo quy định để thực hiện và
tăng cường huy động kinh phí từ nguồn xã hội hóa, vận động tài trợ để giảm gánh
nặng ngân sách.
IV. Kiến
nghị, đề
xuất
Đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành
Trung ương tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách ưu đãi có chọn lọc
nhằm thu hút FDI thế hệ mới, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, bán
dẫn, năng lượng mới và công nghiệp hỗ trợ. Kiến nghị ưu tiên bố trí nguồn lực
đầu tư hạ tầng năng lượng, giao thông, logistics, và hạ tầng số liên vùng để
nâng cao năng lực kết nối của tỉnh Phú Thọ. Đề xuất cho phép tỉnh thí điểm một
số cơ chế đặc thù về thủ tục đầu tư, đất đai, môi trường và đào tạo nhân lực theo
nhu cầu doanh nghiệp FDI. Đồng thời, tăng cường hỗ trợ liên kết vùng với Hà
Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng trong phát triển chuỗi cung ứng, logistics và đổi mới
sáng tạo.
PHỤ LỤC I:
CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
|
TT
|
Nhiệm vụ, giải pháp
|
Cơ quan chủ trì
|
Cơ quan phối hợp
|
Sản phẩm
|
Thời gian thực hiện
|
|
I
|
Nhóm giải pháp ưu
tiên
|
|
Giải pháp 1
|
Thiết lập cơ chế sàng
lọc, lựa chọn dự án FDI thế hệ mới gắn với cam kết chính trị cấp cao
|
Sở Tài chính
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
Chủ trì đề xuất thành
lập Ban Chỉ đạo thu hút đầu tư cấp tỉnh (cả FDI và DDI) và Tổ công tác đặc
biệt về FDI thế hệ mới; chủ trì xây dựng Bộ tiêu chí lựa chọn dự án FDI thế
hệ mới.
|
Quý II 2026
|
|
Giải pháp 2
|
Phát triển các khu
công nghiệp cho FDI thế hệ mới với đảm bảo hạ tầng năng lượng và gắn với, KCN
thông minh
|
Ban Quản lý các KCN
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
Hình thành ít nhất 02
KCN đảm bảo năng lượng đầy đủ và ổn định cho FDI thế hệ mới và chuỗi cung ứng
|
2026 - 2027
|
|
Giải pháp 3
|
Đổi mới xúc tiến đầu
tư theo chuỗi giá trị và nhà đầu tư dẫn dắt với đòn bẩy từ các nhà phát triển
hạ tầng KCN có thương hiệu
|
Trung tâm Xúc tiến đầu tư và hỗ trợ DN
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
Thu hút được 7-8 tỉ
USD vốn FDI thế hệ mới
|
Thường xuyên, liên tục
|
|
Giải pháp 4
|
Hỗ trợ tuyển dụng và
chuẩn bị nguồn lao động cho FDI thế hệ mới
|
Sở Nội vụ
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
- Triển khai đề án phát triển nguồn
nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
- Tạo lợi thế cạnh tranh mới trong
thu hút FDI thế hệ mới thông qua hỗ trợ phi tài chính về nguồn lao động chất
lượng cao.
|
Quý II 2026
|
|
Giải pháp 5
|
Xây dựng và triển khai
chương trình liên kết FDI - DDI gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ
|
Sở Công Thương
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
- Nghị quyết của HĐND tỉnh về chính
sách kích cầu đầu tư đối với doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng
FDI thế hệ mới
- Nâng cao sức hấp dẫn của tỉnh
trong thu hút các FDI thế hệ mới và FDI chiến lược
- Chủ trì và phối hợp thực hiện phát
triển thị trường trong nước và mở rộng thị trường quốc tế cho các chuỗi cung
ứng tiềm năng.
- Tham mưu xây dựng cơ chế, chính
sách phát triển hạ tầng năng lượng đồng bộ, bảo đảm tốc độ tăng phụ tải đáp
ứng nhu cầu điện cho các dự án FDI thế hệ mới.
|
Quý II 2026
|
|
II
|
Nhóm giải pháp bổ
trợ
|
|
Giải pháp 6
|
Phát triển nguồn nhân
lực kỹ thuật theo đặt hàng doanh nghiệp và xây dựng trung tâm đào tạo kỹ
thuật vùng phục vụ FDI thế hệ mới
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
Đáp ứng chủ động về
lao động cho FDI thế hệ mới
|
Thường xuyên, liên tục
|
|
Giải pháp 7
|
Thúc đẩy đổi mới sáng
tạo, R&D ứng dụng, và khởi nghiệp công nghệ gắn với phát triển công
nghiệp và CNHT
|
Sở Khoa học và Công nghệ
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
Hệ sinh thái đổi mới
sáng tạo gắn chặt với sản xuất
|
Thường xuyên, liên tục
|
|
Giải pháp 8
|
Thiết lập mô hình hỗ
trợ đồng hành cùng nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án, gắn với nâng cao
minh bạch môi trường đầu tư
|
Trung tâm Xúc tiến đầu tư và hỗ trợ DN
|
Các sở, ban, ngành và địa phương
|
Nâng cao chất lượng
phục vụ nhà đầu tư, giảm chi phí thời gian, chi phí tuân thủ
|
Thường xuyên, liên tục
|
PHỤ LỤC II:
KHÁI NIỆM VÀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH FDI THẾ HỆ MỚI
1. Khái niệm FDI thế hệ mới
FDI thế hệ mới là dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài có chất lượng cao, định hướng dài hạn, gắn với chuỗi giá
trị toàn cầu, công nghệ tiên tiến, tiêu chuẩn môi trường, xã hội cao và mức độ
liên kết sâu với doanh nghiệp nội địa. Khác với FDI truyền thống, chủ yếu dựa
trên lợi thế chi phí và lắp ráp, gia công, FDI thế hệ mới chú trọng hiệu quả
tổng thể, giá trị gia tăng, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và lan tỏa
năng lực cho nền kinh tế địa phương.
Đối với tỉnh Phú Thọ, FDI thế hệ mới
không chỉ được đánh giá theo quy mô vốn, mà còn theo vai trò dẫn dắt hệ sinh
thái công nghiệp, khả năng hình thành cụm sản xuất và chuỗi cung ứng, đóng góp
vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo
nền tảng cho các ngành công nghệ cao trong dài hạn.
2. Tiêu chí xác định FDI thế hệ mới
của tỉnh Phú Thọ
FDI được xác định là FDI thế hệ mới
khi đáp ứng ít nhất tiêu chí sau:
(1) Vị trí trong chuỗi giá trị và lĩnh
vực đầu tư
Thuộc các ngành ưu tiên: điện tử,
bán dẫn và thiết bị bán dẫn; EV và phương tiện giao thông điện hóa; cơ khí
chính xác - tự động hóa; thiết bị y tế; năng lượng mới, năng lượng tái tạo;
logistics công nghiệp.
Tham gia các phân đoạn có giá trị
gia tăng cao như: thiết kế, R&D, kỹ thuật, sản xuất linh kiện - cấu phần
cốt lõi, trung tâm kỹ thuật, trung tâm hỗ trợ nhà cung cấp.
(2) Trình độ công nghệ và tiêu chuẩn sản
xuất
Ứng dụng công nghệ tiên tiến, tự
động hóa, số hóa, sản xuất thông minh;
Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về
chất lượng, môi trường, an toàn (ISO, IATF, CE, UL, ESG…);
Có lộ trình đổi mới công nghệ và mở
rộng đầu tư tại địa phương.
(3) Mức độ liên kết và lan tỏa
Có kế hoạch hoặc cam kết cụ thể
trong việc sử dụng nhà cung cấp nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ;
Tham gia hoặc dẫn dắt chương trình
phát triển nhà cung cấp, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, chuyển giao công nghệ cho
doanh nghiệp DDI;
Góp phần hình thành cụm sản xuất, hệ
sinh thái công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
(4) Hiệu quả kinh tế xã hội
Tạo việc làm kỹ thuật, việc làm chất
lượng cao, gắn với đào tạo và nâng cao kỹ năng lao động địa phương;
Đóng góp tích cực vào ngân sách,
xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Có tỷ lệ giải ngân, mở rộng đầu tư và
hoạt động ổn định, lâu dài.
(5) Môi trường và phát triển bền vững
Tuân thủ nghiêm các quy định về môi
trường; áp dụng sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải;
Phù hợp với định hướng KCN xanh,
kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn của tỉnh Phú Thọ.
3. Giải thích và phạm vi áp dụng
Việc đưa ra khái niệm và tiêu chí
xác định FDI thế hệ mới trong phụ lục nhằm:
Thống nhất cách hiểu, tránh đồng
nhất FDI thế hệ mới với FDI truyền thống dựa thuần túy vào quy mô vốn;
Làm căn cứ lựa chọn, sàng lọc, ưu
tiên và thiết kế chính sách hỗ trợ đầu tư;
Phục vụ đánh giá hiệu quả thu hút
FDI theo chất lượng, mức độ lan tỏa và đóng góp dài hạn;
Bảo đảm sự liên thông và phối hợp
chặt chẽ giữa Đề án “Thu hút nhà đầu tư chiến lược” và Đề án “Thu hút FDI thế
hệ mới”
Khái niệm và tiêu chí này được sử
dụng thống nhất trong toàn bộ quá trình xúc tiến, thẩm định, cấp phép, hỗ trợ
và giám sát các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn.