Kính gửi: Sở Nông nghiệp
và PTNT các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Bệnh lùn sọc đen hại lúa do rầy lưng trắng
là môi giới truyền bệnh đã tái bùng phát và gây hại nặng trong vụ Mùa 2017 tại
một số tỉnh như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Kạn, Nghệ An, Quảng
Trị, ... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng lúa. Cục Bảo vệ
thực vật đã phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật các tỉnh phía Bắc,
Viện Bảo vệ thực vật, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hội côn trùng học Việt Nam
và các chuyên gia khác xây dựng và ban hành sổ tay “Hướng dẫn phòng chống rầy
lưng trắng và bệnh lùn sọc đen”.
Để các tỉnh chủ động chỉ đạo bằng các biện pháp kỹ
thuật, giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại do bệnh lùn sọc đen gây ra, Cục Bảo
vệ thực vật ban hành “Quy trình kỹ thuật quản lý bệnh lùn sọc đen hại lúa” dựa
trên cơ sở các biện pháp phòng chống đã được đề xuất trong cuốn sổ tay.
Vậy, Cục Bảo vệ thực vật đề nghị Sở nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tổ
chức, hướng dẫn cho nông dân áp dụng.
Trong quá trình hướng dẫn, chỉ đạo thực
hiện nếu có vấn đề vướng mắc, đề nghị phản ánh về Cục Bảo vệ thực vật để kịp thời
giải quyết.
|
Nơi nhận:
-
Như trên;
- Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường (để b/c);
- Thứ trưởng Lê Quốc Doanh (để b/c);
- Lãnh đạo Cục (để c/đ);
- Cục Trồng trọt, TTKNQG (để p/h);
- Các Trung tâm BVTV vùng (để t/h);
- Báo Nông nghiệp Việt Nam, VTV1;
- Lưu VT, BVTV.
|
KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Nguyễn Quý Dương
|
QUY
TRÌNH KỸ THUẬT QUẢN LÝ BỆNH LÙN SỌC ĐEN HẠI LÚA
(Ban hành theo
Công văn số 1317/BVTV-TV ngày 24/05/2018 của Cục Bảo vệ
thực vật)
I. MỤC TIÊU
Hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật để quản lý bệnh lùn sọc
đen hại lúa hiệu quả, góp phần bảo vệ và phát triển sản xuất lúa an toàn bền vững.
II. PHẠM VI ÁP DỤNG
Quy trình này áp dụng cho các tổ chức,
cá nhân trồng lúa trên lãnh thổ Việt Nam để quản lý bệnh lùn sọc đen hại lúa.
III. NGUYÊN NHÂN, TRIỆU
CHỨNG VÀ ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI
1. Nguyên nhân
Bệnh lùn sọc đen do virus Southern
Rice Black-Streaked Dwarf Virus (SRBSDV), thuộc phân nhóm 2, nhóm Fijivirus,
họ Reoviridae gây ra; môi giới truyền bệnh là rầy lưng trắng (Sogatella furcifera), truyền bệnh
theo kiểu bền vững tích lũy.
2. Triệu chứng
a) Giai đoạn mạ: Triệu chứng rất
khó phát hiện, thường chỉ xuất hiện triệu chứng thấp lùn, còi cọc và xanh đậm.
b) Giai đoạn lúa đẻ nhánh: Cây lúa xanh đậm
và thấp lùn; một số lá xoắn đầu lá hoặc xoắn lá, rách mép lá. Mặt dưới lá có thể
xuất hiện các u sáp nổi gồ chạy dọc đứt đoạn theo gân lá. Các u sáp trắng thường
được quan sát thấy rõ hơn ở dọc gân lá chính và bẹ lá. Một số dảnh lúa xuất hiện
các nhánh phụ mọc lên từ đốt thân và có nhiều rễ bất định tại gốc nhánh phụ.
c) Giai đoạn phân hóa đòng: Các triệu chứng
như mô tả ở giai đoạn đẻ nhánh nhưng biểu hiện điển hình hơn, cây thấp lùn khác
biệt rõ ràng với cây lúa khỏe. Gân bẹ lá nổi rõ, phiến lá bắt đầu chuyển vàng,
khô đầu lá sau đó các vết gỉ sắt, đốm nâu xuất hiện trên lá. Khi cây lúa vươn
lóng, một số lóng sát gốc có thể xuất hiện triệu chứng u sáp trắng nổi gồ và chạy
dọc lóng thân phía sát gốc, ra nhiều rễ mọc ngược ở đốt thân. Rễ bắt đầu bị hủy
hoại, thối đen, có thể nhổ cả khóm lúa lên rất dễ dàng; nhìn mặt ruộng thấy nhấp
nhô, lồi lõm.
d) Giai đoạn lúa trỗ bông: Những khóm lúa
bị nhiễm bệnh sớm sẽ thối rễ từ giai đoạn phân hóa đòng và bị lùn, lụi; những
khóm lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn có hiện tượng trỗ nghẹn đòng (lá đòng bị gập,
xoắn, ngắn) hoặc không trỗ thoát; những bông trỗ thoát nhiều hạt bị lép đen.
Các u sáp trên lóng thân chuyển từ màu trắng sang màu nâu, đen; mặt dưới lá, bẹ
lá nổi rõ các nốt sần. Những dảnh nhiễm bệnh muộn sẽ biểu hiện các triệu chứng
giống như giai đoạn đẻ nhánh ở trên các lá phía trên, nhất là lá đòng.
3. Đặc điểm phát sinh gây hại và phương
thức lan truyền
a) Đặc điểm phát sinh gây hại
- Rầy lưng trắng mang virus trong cơ thể
di trú đến truyền virus cho mạ, lúa ngay từ đầu vụ. Sau một thời gian ủ bệnh
trong cây lúa mới biểu hiện triệu chứng bệnh (từ 10-30 ngày tùy tuổi cây lúa
lúc bị nhiễm virus).
Trong vụ Đông Xuân nhiệt độ thấp nên cây
lúa biểu hiện triệu chứng bệnh ít hơn; thời gian ủ bệnh trong cây lúa cũng dài
hơn (khoảng 30 ngày) so vụ Hè Thu, Mùa (khoảng 12 ngày).
- Trên đồng ruộng, biểu hiện triệu chứng
bệnh rõ nhất khi lúa ở giai đoạn phân hóa đòng - trỗ. Diện tích nhiễm bệnh sẽ
tăng rất nhanh ở giai đoạn này. Lúa bị nhiễm bệnh càng sớm (mạ, lúa hồi xanh -
bắt đầu đẻ nhánh) sẽ biểu hiện triệu chứng sớm hơn và càng bị hại nặng; tỷ lệ bệnh
càng cao nguy cơ mất năng suất càng cao.
b) Phương thức lan truyền

Sơ đồ truyền bệnh
lùn sọc
đen của rầy lưng trắng
- Đầu vụ, rầy lưng trắng nhiễm virus do
chích hút nhựa từ cây lúa, cỏ bị bệnh rồi di trú đến ruộng mạ, ruộng lúa mới
gieo cấy sinh sống. Rầy tiếp tục chích hút nhựa cây và truyền virus cho cây mạ,
cây lúa.
- Ký chủ phụ: Lúa chét, ngô, cỏ lồng
vực nước (Echinochloa crusgalli), cỏ đuôi phượng (Leptochloa
chinensis), cỏ đuôi voi (Pennisetum flaccidum), lác muộn (Juncellus
serotinus), cỏ lục lông (Chloris barbata), cỏ mần trầu (Eleusine
indica) cũng có thể là nguồn bệnh từ đó lan truyền virus.
- Một số đặc điểm lan truyền bệnh:
+ Cả rầy non và trưởng thành đều truyền
được virus gây bệnh lùn sọc đen.
+ Rầy lưng trắng chỉ cần chích hút cây
lúa bị bệnh một lần là có thể mang nguồn bệnh, sau thời gian ủ bệnh trong cơ thể (khoảng 10
ngày) thì rầy truyền bệnh cho đến khi chết.
+ Rầy lưng trắng cánh dài nguy hại hơn rầy
lưng trắng cánh ngắn vì chúng có khả năng phát tán, di chuyển xa làm lan truyền
bệnh trên diện rộng.
+ Rầy lưng trắng có khả năng truyền
virus lùn sọc đen từ lúa (kể cả lúa chét) sang lúa; từ cây cỏ ký chủ phụ sang
lúa và ngược lại; từ lúa sang ngô nhưng chưa có ghi nhận rầy lưng trắng truyền
bệnh từ ngô sang lúa.
+ Virus gây bệnh lùn sọc đen không lây
truyền được qua trứng rầy lưng trắng, hạt giống, đất, nước, không khí, vết
thương cơ giới và cũng không truyền được từ cây bệnh sang cây khỏe nếu không có
rầy lưng trắng làm môi giới truyền bệnh.
+ Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
đều có thể bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên mẫn cảm nhất là từ giai đoạn mạ đến giai đoạn
đẻ nhánh rộ, cây lúa bị nhiễm bệnh ở giai đoạn này sẽ bị giảm năng suất nghiêm
trọng hoặc mất trắng nhưng nhiễm bệnh ở giai đoạn đứng cái trở đi thiệt hại nhẹ
hơn.
* Từ thực tế các đợt dịch bệnh lùn sọc đen
ở vụ Hè Thu, vụ Mùa năm 2009 và năm 2017 cho thay mật độ rầy lưng trắng cao bất thường
ở giai đoạn đầu vụ có liên quan đến sự bùng phát của bệnh và gây hại nặng trên
diện rộng.
* Lúa Vụ Hè Thu, vụ Mùa bị bệnh lùn sọc
đen nặng thì ngô Đông cũng có nguy cơ bị bệnh nặng.
IV. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỆNH
LÙN SỌC ĐEN
1. Vụ Đông Xuân
a) Vệ sinh đồng ruộng: Vệ sinh đồng
ruộng bằng cách cày vùi gốc rạ, phơi ải; tiêu hủy ký chủ phụ của rầy và bệnh
lùn sọc đen (lúa chét, cỏ lồng vực nước, cỏ đuôi phượng, cỏ đuôi voi, lác muộn,
cỏ lục lông, cỏ mần trầu) để hạn chế nguồn rầy, đặc biệt là tại các vùng đã từng bị bệnh
lùn sọc đen hại nặng.
b) Bố trí thời vụ: Căn cứ
vào khung thời vụ chung của địa phương để chỉ đạo gieo cấy tập trung, đồng loạt.
c) Giám sát rầy lưng trắng di trú bằng
bẫy đèn:
- Mỗi huyện đặt ít nhất một bẫy đèn ở những
nơi bệnh phát sinh sớm và bị hại nặng ở các vụ trước, năm trước.
- Dùng các loại bẫy đèn phù hợp với điều
kiện thực tế ở địa phương để phát hiện và thu được rầy lưng trắng di trú.
- Theo dõi rầy vào đèn từ trước khi gieo
mạ, sạ; thu mẫu rầy lưng trắng vào đèn hoặc ở những nơi có nguồn sáng khác để giám định virus gây bệnh
lùn sọc đen bằng Test KIT, phương pháp Elisa hoặc PCR ít nhất ở 3 thời điểm
sau:
• Trước khi gieo mạ 5-10 ngày
• Sau cấy hoặc sạ 5-7 ngày
• Sau cấy hoặc sạ 15-20 ngày
Sau các thời điểm trên, căn cứ vào tình
hình thực tế ở địa phương để hướng dẫn thu mẫu bổ sung.
Trong trường hợp phát hiện nguồn rầy
lưng trắng di trú cao bất thường phải tiến hành thu mẫu rầy lưng trắng giám định
virus ngay.
d) Bảo vệ mạ:
- Không gieo mạ ven đường giao thông,
nơi có nguồn sáng mạnh sẽ thu hút rầy lưng trắng đến truyền bệnh.
- Che phủ nilon cho mạ để chống rét và
chuột hại đồng thời chống rầy lưng trắng xâm nhập truyền bệnh; xử lý hạt giống
(nếu không che phủ nilon) bằng thuốc BVTV ở những vùng đã bị bệnh và vùng có
nguy cơ bị bệnh cao.
- Khi phát hiện bệnh lùn sọc đen trên ruộng
mạ thì tiến hành tiêu hủy toàn bộ, gieo mạ khác thay thế.
đ) Biện pháp canh tác:
- Hạn chế gieo cấy các giống nhiễm nặng
rầy lưng trắng, đặc biệt ở những vùng bị nhiễm bệnh nặng vụ trước hoặc vùng có
nguy cơ cao.
- Áp dụng biện pháp kỹ thuật “Hệ thống
thâm canh lúa cải tiến (SRI)”, “3 giảm 3 tăng”, “ 1 phải 5 giảm”; không phun
kích thích sinh trưởng khi lúa đã bị bệnh.
- Không bón quá thừa phân đạm.
e) Trừ rầy lưng trắng và tiêu
hủy nguồn bệnh
- Ngay từ khi gieo mạ, sạ hoặc
cấy lúa:
nếu phát hiện rầy lưng trắng di trú mang virus gây bệnh lùn sọc đen cần phải
phun thuốc trừ rầy ngay (nếu có rầy lưng trắng trên ruộng) để diệt nguồn rầy mang
virus, hạn chế lan truyền bệnh.
- Giai đoạn lúa đẻ nhánh: tiếp tục kiểm
tra, nếu phát hiện rầy lưng trắng non (rầy cám) thì phun thuốc khi rầy lưng trắng
đa số ở tuổi 1-3 để hạn chế số lượng môi giới lan truyền bệnh.
* Tiêu hủy cây lúa bị bệnh: Thăm ruộng
thường xuyên để phát hiện và nhổ tỉa tiêu hủy (vùi xuống bùn) ngay các khóm, dảnh lúa bị bệnh;
ruộng lúa giai đoạn trước đứng cái có trên 30% số dảnh lúa bị bệnh thì tiến
hành tiêu hủy ngay cả ruộng bằng cách cày vùi diệt mầm bệnh; trước khi cày vùi
phải phun thuốc trừ rầy lưng trắng (nếu có) để ngăn chặn nguồn bệnh phát tán
sang ruộng khác. Chỉ cấy, sạ lại nếu còn kịp lịch thời vụ do cơ quan chuyên môn
và chính quyền địa phương quy định.
- Giai đoạn lúa đứng cái trở đi: Những ruộng,
khu vực đã phát hiện rầy lưng trắng mang virus cần phun trừ thì phải phun thuốc
khi rầy cám lứa kế tiếp nở rộ; những ruộng, khu vực còn lại thường xuyên tổ chức
điều tra, khoanh vùng, chỉ đạo phun thuốc trừ rầy lưng trắng những nơi có mật độ
từ 1.000 con/m2 trở lên (đối với lúa trước trỗ) hoặc có mật độ từ
2.000 con/m2 trở lên (đối với lúa sau trỗ) khi rầy đa số tuổi 1-3. Thường xuyên
kiểm tra, nhổ vùi dảnh, khóm lúa bị bệnh.
* Tiêu hủy cây lúa bị bệnh: Trường hợp
ruộng lúa bị bệnh ở mức độ nhẹ và rải rác thì tiến hành nhổ và tiêu hủy
cây lúa, khóm lúa bị bệnh; phun thuốc trừ rầy lưng trắng (nếu có) để hạn chế lây lan nguồn
bệnh sang ruộng khác; trường hợp ruộng lúa bị nhiễm bệnh nặng, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến năng suất thì phải tiêu hủy bằng cách cày vùi cả ruộng, trước khi cày
phải phun thuốc trừ rầy lưng trắng (nếu có) để hạn chế lây lan nguồn bệnh sang
ruộng khác.
g) Cuối vụ Đông Xuân:
Điều tra khoanh vùng bị bệnh lùn sọc đen
và thu mẫu rầy giám định, xác
định tỷ lệ rầy mang virus lùn sọc đen để xác định nguồn bệnh và khu vực cần áp dụng các
biện pháp phòng chống bệnh trong đầu vụ Hè Thu, Mùa.
2. Vụ Hè Thu, vụ Mùa
a) Vệ sinh đồng ruộng: Vệ sinh đồng
ruộng bằng cách cày vùi gốc rạ lúa Đông Xuân ngay sau khi thu hoạch để ngăn ngừa lúa chét, lúa tái sinh
phát triển; tiêu hủy ký chủ phụ của rầy và bệnh lùn sọc đen, đặc biệt là tại
các vùng đã từng bị bệnh lùn sọc đen hại nặng.
b) Bố trí thời vụ: Căn cứ vào
khung thời vụ chung của địa phương chỉ đạo gieo cấy tập trung, đồng loạt nhưng
đảm bảo thời gian cách ly với vụ Đông Xuân ít nhất 20 ngày.
c) Giám sát rầy lưng trắng di trú
bằng bẫy đèn: Thực hiện tương tự Vụ Đông Xuân.
d) Bảo vệ mạ:
- Không gieo mạ ven đường giao thông,
nơi có nguồn sáng mạnh sẽ thu hút rầy lưng trắng đến truyền bệnh.
- Che phủ lưới (mắt lưới dày) để chống rầy lưng trắng xâm nhập
lây truyền bệnh hoặc xử lý hạt giống (nếu không che phủ lưới) bằng thuốc BVTV;
phun tiễn chân mạ trước khi cấy 2-3 ngày ở những vùng đã từng bị bệnh và vùng
có nguy cơ bị bệnh cao.
- Khi phát hiện bệnh lùn sọc đen trên ruộng
mạ thì tiến hành tiêu hủy toàn bộ, gieo mạ khác thay thế.
đ) Biện pháp canh tác: Áp dụng các biện
pháp như vụ Đông Xuân.
e) Trừ rầy lưng trắng
và tiêu hủy nguồn bệnh: Áp dụng các biện pháp như vụ Đông Xuân.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức triển khai, hướng
dẫn các tổ chức, cá nhân có trồng cây lúa áp dụng quy trình này.
Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề
phát sinh cần báo cáo kịp thời về Cục Bảo vệ thực vật để cùng phối hợp giải quyết.