|
QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Luật số: 16/2026/QH16
|
Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 2026.
|
LUẬT
HÒA GIẢI
Ở CƠ SỞ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở.
Chương I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
1. Luật này quy định nguyên tắc, chính
sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời
tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở;
trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở.
2. Luật này không áp dụng đối với hoạt
động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động,
hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã)
và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.
Điều 2. Giải thích
từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được
hiểu như sau:
1. Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên và người được mời tham gia hòa giải
(nếu có) hỗ trợ, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết mâu
thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.
2. Cơ sở là thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc (sau đây
gọi chung là thôn); tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu (sau đây gọi
chung là tổ dân phố).
3. Các bên là cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình, tổ chức có mâu thuẫn, tranh
chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.
4. Hòa giải viên là người được công nhận để thực hiện hoạt động hòa giải ở
cơ sở.
5. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của Nhân dân được thành lập ở thôn, tổ
dân phố để hoạt động hòa giải ở cơ sở.
6. Người được mời tham gia
hòa giải là cá nhân hoặc đại diện cơ quan,
tổ chức thực hiện việc tư vấn, hỗ trợ, trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải
cùng hòa giải viên.
7. Hòa giải thành là trường hợp các bên đạt được thỏa thuận thông qua hòa giải
ở cơ sở.
8. Hòa giải không thành là trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận sau khi đã
hòa giải ở cơ sở.
Điều 3. Phạm vi
hòa giải ở cơ sở
1. Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành
đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau
đây:
a) Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật
xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật;
b) Mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ
giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội theo quy định
của pháp luật;
c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác;
d) Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật
khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 4. Nguyên tắc
tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở
1. Tôn trọng sự tự nguyện của các bên;
không bắt buộc, áp đặt các bên; khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có
tình; bảo mật thông tin quy định tại Điều 5 của Luật này.
2. Tuân thủ pháp luật, phù hợp với đạo
đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ,
giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư;
quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người
cao tuổi và người dân tộc thiểu số.
3. Tôn trọng ý chí, quyền, lợi ích hợp
pháp của các bên; không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng,
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
4. Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức
và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
5. Không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để
ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định
của pháp luật hoặc trốn tránh việc bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự,
trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước và nghĩa vụ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác.
6. Hoạt động hòa giải ở cơ sở được tiến
hành linh hoạt, thuận lợi cho các bên, phù hợp với tình hình thực tế và đặc điểm
của từng vụ, việc hòa giải.
7. Tiếng nói, chữ viết dùng trong hòa giải
ở cơ sở là tiếng Việt. Trường hợp các bên là người dân tộc thiểu số dùng tiếng
nói, chữ viết của dân tộc mình thì phải có người phiên dịch; các bên là người
khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn được hỗ trợ để dùng ngôn ngữ ký hiệu,
chữ dành riêng cho người khuyết tật.
Điều 5. Bảo mật
thông tin trong hòa giải ở cơ sở
1. Hòa giải viên, các bên, người được mời
tham gia hòa giải, người phiên dịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khác
có trách nhiệm giữ bí mật nhà nước, bí mật thông tin về đời sống riêng tư, bí mật
cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh của các bên và thông tin khác theo
quy định của pháp luật, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
khác.
2. Trong quá trình hòa giải chỉ được
ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải và phải bảo mật nội dung đã ghi chép,
không được ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định khác.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Chính sách
của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở
1. Khuyến khích các bên giải quyết mâu
thuẫn, tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Khuyến khích những người có uy tín
trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư; người có trình độ pháp lý, có kiến
thức chuyên môn, kiến thức xã hội; người biết tiếng nói, chữ viết của người dân
tộc thiểu số, ngôn ngữ ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật và những
người có uy tín khác tham gia hòa giải ở cơ sở.
3. Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải
ở cơ sở.
4. Tạo điều kiện cho công tác hòa giải ở
cơ sở hoạt động hiệu quả; khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ công
tác hòa giải ở cơ sở.
5. Khuyến khích ứng dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số; trang bị phương tiện kỹ thuật cho công tác hòa giải ở
cơ sở.
Điều 7. Kinh phí
cho công tác hòa giải ở cơ sở
1. Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công
tác hòa giải ở cơ sở từ nguồn ngân sách nhà nước.
Ngân sách trung ương hỗ trợ đối với các
địa phương chưa cân đối được ngân sách để thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở
theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Khuyến khích các cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí hợp pháp hỗ trợ công tác hòa giải ở
cơ sở.
3. Việc quản lý, sử dụng kinh phí cho
công tác hòa giải ở cơ sở thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách
nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Chương II
HÒA
GIẢI VIÊN, TỔ HÒA GIẢI, NGƯỜI ĐƯỢC MỜI THAM GIA HÒA GIẢI, CÁC BÊN TRONG HÒA GIẢI
Ở CƠ SỞ
Mục 1. HÒA GIẢI VIÊN
Điều 8. Tiêu chuẩn
của hòa giải viên
1. Là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở.
2. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
3. Có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín
trong cộng đồng dân cư.
4. Có khả năng thuyết phục, vận động
Nhân dân; có hiểu biết pháp luật.
5. Không trong thời hạn xử lý kỷ luật,
thi hành quyết định xử lý kỷ luật; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử
lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án hình
sự hoặc chưa được xóa án tích.
Điều 9. Bầu hòa giải
viên
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 8 của Luật này tự nguyện tham gia hòa giải ở cơ sở có quyền
ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của
Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.
2. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ
trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên tại
thôn, tổ dân phố hoặc tại từng cụm dân cư bằng một hoặc kết hợp một số hình thức
sau đây:
a) Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu
kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình;
b) Phát phiếu lấy ý kiến đại diện các hộ
gia đình;
c) Biểu quyết trực tuyến.
3. Kết quả bầu hòa giải viên được xác định
như sau:
a) Người được đề nghị công nhận là hòa
giải viên phải đạt trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố
đồng ý;
b) Trường hợp số người đạt trên 50% tổng
số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải
viên trong tổ hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật này
thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên được lập theo kết
quả bầu từ cao xuống thấp.
4. Trường hợp số người được bầu không bảo
đảm thành phần hoặc không đủ số lượng hòa giải viên trong tổ hòa giải quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15 của Luật này thì tổ chức bầu
bổ sung.
5. Trường hợp tất cả người trong danh
sách bầu hòa giải viên không đáp ứng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này thì tổ
chức bầu lại.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 10. Chỉ định
hòa giải viên
1. Việc chỉ định hòa giải viên thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Đã tổ chức bầu bổ sung nhưng số người
được bầu không bảo đảm thành phần hoặc không đủ số lượng hòa giải viên trong tổ
hòa giải quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15 của Luật này;
b) Đã tổ chức bầu lại nhưng số người được
bầu không bảo đảm thành phần hoặc không đủ số lượng hòa giải viên trong tổ hòa
giải quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15 của Luật này hoặc
tất cả người trong danh sách bầu hòa giải viên không đáp ứng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 9 của Luật này;
c) Không thể tổ chức bầu bằng các hình
thức quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này do sự kiện bất
khả kháng theo quy định của pháp luật.
2. Người được chỉ định làm hòa giải
viên phải có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 8 của Luật này
tự nguyện tham gia hòa giải ở cơ sở và không thuộc trường hợp đã được đưa ra bầu
mà không đáp ứng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 9 của Luật
này.
3. Người thuộc trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này có quyền ứng cử hoặc được giới thiệu vào danh sách đề nghị công nhận
hòa giải viên.
4. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ
trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức lựa chọn người thuộc
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này để giới thiệu vào danh sách đề nghị
công nhận hòa giải viên.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 11. Công nhận
hòa giải viên
1. Căn cứ kết quả bầu hòa giải viên quy
định tại Điều 9 của Luật này và danh sách giới thiệu đề nghị
công nhận hòa giải viên quy định tại khoản 4 Điều 10 của Luật
này, Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận
hòa giải viên để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận hòa giải
viên.
2. Quyết định công nhận hòa giải viên
được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng
ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và
thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.
3. Đối với hòa giải viên được công nhận
thuộc trường hợp chỉ định quy định tại Điều 10 của Luật này,
trong thời hạn 03 năm kể từ ngày ban hành quyết định công nhận, Trưởng ban công
tác Mặt trận chủ trì tổ chức bầu hòa giải viên quy định tại Điều
9 của Luật này.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 12. Quyền của
hòa giải viên
1. Thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.
2. Đề nghị các bên có liên quan cung cấp
thông tin, tài liệu liên quan đến vụ, việc hòa giải.
3. Tham gia sinh hoạt, thảo luận và quyết
định nội dung, phương thức hoạt động của tổ hòa giải.
4. Được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức
pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải; được cung cấp tài liệu liên quan đến
hoạt động hòa giải.
5. Hưởng thù lao theo vụ, việc khi thực
hiện hòa giải.
6. Được khen thưởng theo quy định của
pháp luật về thi đua, khen thưởng.
7. Được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc
phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng
trong khi thực hiện hoạt động hòa giải.
8. Mời người tham gia hòa giải quy định
tại Điều 19 của Luật này.
9. Được đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự khi tiến hành hòa giải trong trường hợp
nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật có thể dẫn đến hành vi bạo lực
gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của hòa giải viên, các bên và những người
khác tham gia hòa giải hoặc gây mất trật tự công cộng.
10. Được hỗ trợ khi ứng dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện các hoạt động hòa giải ở cơ sở bảo đảm
phù hợp với điều kiện thực tiễn.
11. Được kiến nghị, đề xuất cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến hoạt động hòa giải.
12. Chính phủ quy định chi tiết khoản 5
và khoản 7 Điều này.
Điều 13. Nghĩa vụ
của hòa giải viên
1. Tiến hành hòa giải khi có căn cứ quy
định tại Điều 23 của Luật này.
2. Tuân thủ các nguyên tắc quy định tại
Điều 4 của Luật này.
3. Từ chối tiến hành hòa giải nếu có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc vì lý do khác dẫn đến
không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải.
4. Thông báo kịp thời cho Tổ trưởng tổ
hòa giải trong trường hợp trực tiếp đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp
xã bảo đảm an ninh, trật tự quy định tại khoản 9 Điều 12 của Luật
này; phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp nhận thấy
mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe,
tính mạng của các bên và của những người khác tham gia hòa giải (nếu có) hoặc
gây mất trật tự công cộng.
5. Thông báo kịp thời cho Tổ trưởng tổ
hòa giải để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý trong trường hợp phát hiện mâu
thuẫn, tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính hoặc vi phạm pháp luật
hình sự.
6. Đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ
bố trí người phiên dịch theo đề nghị của các bên.
7. Lập văn bản về kết quả hòa giải sau
khi kết thúc hòa giải quy định tại Điều 29 của Luật này.
8. Tham gia bồi dưỡng, tập huấn kiến thức
pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ
chức.
Điều 14. Thôi làm
hòa giải viên, thôi làm Tổ trưởng tổ hòa giải
1. Việc thôi làm hòa giải viên được thực
hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo nguyện vọng của hòa giải viên;
b) Không còn đáp ứng một trong các tiêu
chuẩn của hòa giải viên quy định tại Điều 8 của Luật này;
c) Vi phạm nguyên tắc quy định tại Điều 4 của Luật này.
2. Việc thôi làm Tổ trưởng tổ hòa giải
được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo nguyện vọng của Tổ trưởng tổ
hòa giải;
b) Không hoàn thành nghĩa vụ của Tổ trưởng
tổ hòa giải quy định tại Điều 18 của Luật này.
3. Trường hợp thôi làm hòa giải viên
quy định tại khoản 1 Điều này thì Tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban công
tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố có văn bản
đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thôi làm hòa giải viên.
4. Trường hợp thôi làm hòa giải viên đối
với Tổ trưởng tổ hòa giải quy định tại khoản 1 Điều này và thôi làm Tổ trưởng tổ
hòa giải quy định tại khoản 2 Điều này thì Trưởng ban công tác Mặt trận chủ
trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố có văn bản đề nghị Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thôi làm hòa giải viên, thôi làm Tổ trưởng tổ
hòa giải.
5. Quyết định thôi làm hòa giải viên,
thôi làm Tổ trưởng tổ hòa giải được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố,
hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Mục 2. TỔ HÒA GIẢI
Điều 15. Tổ chức của
tổ hòa giải
1. Tổ hòa giải có Tổ trưởng và các hòa giải
viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên
nữ. Đối với địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa
giải viên là người dân tộc thiểu số bảo đảm phù hợp với đặc điểm dân cư của địa
phương.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết
định số lượng tổ hòa giải trên địa bàn cấp xã, số lượng tổ hòa giải trong một
thôn, tổ dân phố và số lượng hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc
điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
3. Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận
chủ trì, phối hợp với Tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ
chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ
hòa giải.
Điều 16. Trách nhiệm
của tổ hòa giải
1. Tổ chức thực hiện hòa giải.
2. Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận
các giải pháp để tiến hành hòa giải vụ, việc phức tạp.
3. Phối hợp với Ban công tác Mặt trận,
Chi hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên, Chi hội Cựu chiến binh, Chi hội Nông dân,
Chi hội Người cao tuổi, Tổ bảo vệ an ninh, trật tự, các tổ hòa giải và tổ chức,
cá nhân khác trong hoạt động hòa giải ở cơ sở.
4. Kiến nghị với Ban thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã về hoạt động hòa giải ở
cơ sở.
5. Đề nghị khen thưởng tổ hòa giải, hòa
giải viên, người được mời tham gia hòa giải có thành tích xuất sắc trong công
tác hòa giải ở cơ sở.
Điều 17. Tổ trưởng
tổ hòa giải
1. Tổ trưởng tổ hòa giải do hòa giải
viên bầu trong số các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa giải.
2. Việc bầu Tổ trưởng tổ hòa giải được
thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng một hoặc kết hợp
một số hình thức sau đây:
a) Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu
kín tại cuộc họp;
b) Biểu quyết trực tuyến.
3. Người được đề nghị công nhận là Tổ
trưởng tổ hòa giải phải đạt trên 50% tổng số hòa giải viên của tổ hòa giải đồng
ý và là người có số phiếu bầu cao nhất.
4. Trưởng ban công tác Mặt trận có văn
bản đề nghị công nhận Tổ trưởng tổ hòa giải để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
quyết định công nhận.
5. Quyết định công nhận Tổ trưởng tổ
hòa giải được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã,
Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Tổ trưởng tổ
hòa giải và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 18. Quyền và
nghĩa vụ của Tổ trưởng tổ hòa giải
1. Phân công, phối hợp hoạt động của
các hòa giải viên.
2. Đại diện cho tổ hòa giải trong quan
hệ với Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác trong thực hiện trách nhiệm của tổ hòa giải.
3. Đề nghị cho thôi làm hòa giải viên
quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.
4. Báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã và cơ quan có thẩm quyền về các vụ, việc quy định tại khoản 5 Điều 13 của Luật này.
5. Báo cáo hằng năm, đột xuất về tổ chức
và hoạt động của tổ hòa giải với Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
6. Phối hợp với Tổ trưởng tổ hòa giải
khác để trao đổi kinh nghiệm hoặc tiến hành hòa giải những vụ, việc liên quan đến
các thôn, tổ dân phố khác nhau.
7. Thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán
thù lao theo vụ, việc hòa giải cho hòa giải viên trong tổ hòa giải và cho người
được mời tham gia hòa giải quy định tại điểm b khoản 2 Điều 19
của Luật này, kinh phí hoạt động của tổ hòa giải theo quy định của pháp luật.
8. Có các quyền, nghĩa vụ của hòa giải
viên quy định tại Điều 12 và Điều 13 của Luật này.
Mục 3. NGƯỜI ĐƯỢC MỜI THAM GIA HÒA GIẢI
Điều 19. Người được
mời tham gia hòa giải
1. Những người được mời tham gia hòa giải
bao gồm già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo; người có uy tín
trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người biết rõ vụ, việc; người có
trình độ pháp lý, có kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội, đại
diện của cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ, việc.
2. Hình thức tham gia hòa giải của người
được mời bao gồm:
a) Tư vấn, hỗ trợ kiến thức, phương thức,
kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên;
b) Trực tiếp tham gia hòa giải vụ, việc
cùng với hòa giải viên.
3. Việc mời người tham gia hòa giải được
thực hiện như sau:
a) Hòa giải viên mời người tham gia hòa
giải đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
b) Hòa giải viên mời người tham gia hòa
giải khi có sự đồng ý của các bên hoặc các bên thống nhất mời đối với trường hợp
quy định tại điểm b khoản 2 Điều này. Người được mời tham gia hòa giải không
thay thế tư cách chủ trì của hòa giải viên trong quá trình hòa giải vụ, việc.
4. Cơ quan, tổ chức quản lý người được
mời tham gia hòa giải có trách nhiệm tạo điều kiện để người được mời tham gia
hoạt động hòa giải theo quy định của pháp luật.
Điều 20. Quyền của
người được mời tham gia hòa giải
1. Người được mời tham gia hòa giải quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 19 của Luật này có các quyền
quy định tại khoản 6, khoản 11 Điều 12 của Luật này và các
quyền sau đây:
a) Đề nghị hòa giải viên cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan đến vụ, việc hòa giải;
b) Được cơ quan, tổ chức quản lý người
được mời tạo điều kiện tham gia hòa giải;
c) Tham gia thảo luận về giải pháp và nội
dung hòa giải;
d) Được hỗ trợ tài liệu, phổ biến pháp luật
phục vụ hoạt động hòa giải.
2. Người được mời tham gia hòa giải quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 19 của Luật này có các quyền
quy định tại khoản 1 Điều này và các quyền sau đây:
a) Được hưởng thù lao theo vụ, việc khi
thực hiện hòa giải;
b) Được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc
phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng
trong khi thực hiện hoạt động hòa giải.
3. Chính phủ quy định chi tiết điểm a
và điểm b khoản 2 Điều này.
Điều 21. Nghĩa vụ
của người được mời tham gia hòa giải
1. Tuân thủ các nguyên tắc quy định tại
Điều 4 của Luật này.
2. Từ chối tham gia hòa giải nếu có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc vì lý do khác dẫn đến không
thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải.
3. Phối hợp với hòa giải viên trực tiếp
tiến hành hòa giải thực hiện các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp nhận thấy
mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe,
tính mạng của hòa giải viên, của các bên và của những người khác tham gia hòa
giải (nếu có) hoặc gây mất trật tự công cộng.
Mục 4. CÁC BÊN TRONG HÒA GIẢI
Điều 22. Quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hòa giải
1. Các bên trong hòa giải có các quyền
sau đây:
a) Lựa chọn, đề xuất hoặc đề nghị thay
đổi hòa giải viên, người được mời tham gia hòa giải, người phiên dịch; lựa chọn,
đề xuất hình thức, địa điểm, thời gian để tiến hành hòa giải;
b) Đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu cầu
tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải;
c) Yêu cầu việc hòa giải được tiến hành
công khai hoặc không công khai;
d) Được bày tỏ ý chí và quyết định về nội
dung hòa giải;
đ) Đề nghị hòa giải viên đề xuất Ủy ban
nhân dân cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch trong trường hợp các bên không
thể tự bố trí người phiên dịch;
e) Yêu cầu hòa giải viên lập văn bản về
kết quả hòa giải sau khi kết thúc hòa giải;
g) Yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền
công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Các bên trong hòa giải có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Trình bày đúng sự thật các tình tiết
của vụ, việc; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan;
b) Tôn trọng hòa giải viên, người được mời
tham gia hòa giải và quyền của các bên có liên quan;
c) Không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật
tự trong quá trình hòa giải;
d) Ký tên hoặc điểm chỉ hoặc xác nhận
trong trường hợp đồng ý với các nội dung của văn bản về kết quả hòa giải quy định
tại khoản 2 Điều 29 của Luật này;
đ) Thực hiện thỏa thuận hòa giải thành
quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này.
Chương III
HOẠT
ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Điều 23. Căn cứ tiến
hành hòa giải
Vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở
được hòa giải viên tiến hành hòa giải khi có sự đồng ý của các bên và thuộc một
trong các căn cứ sau đây:
1. Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải.
2. Hòa giải viên chủ động đề xuất hòa
giải khi chứng kiến hoặc biết vụ, việc.
3. Theo đề nghị của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan.
Điều 24. Phân công
hòa giải viên
1. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày
phát sinh một trong các căn cứ tiến hành hòa giải quy định tại Điều
23 của Luật này, Tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên tiến hành
hòa giải trong trường hợp các bên không lựa chọn hòa giải viên.
2. Tổ trưởng tổ hòa giải không phân
công hòa giải viên tiến hành hòa giải nếu có căn cứ cho rằng hòa giải viên có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc có lý do khác dẫn đến
không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải.
3. Tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa
giải viên khác thực hiện việc hòa giải khi thuộc một trong các trường hợp thôi
làm hòa giải viên quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này.
Điều 25. Địa điểm,
thời gian hòa giải
1. Địa điểm hòa giải là nơi xảy ra vụ,
việc hoặc nơi do các bên hoặc hòa giải viên lựa chọn, bảo đảm thuận lợi cho các
bên.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
được phân công hoặc tiếp nhận vụ, việc, hòa giải viên bắt đầu tiến hành hòa giải,
trừ trường hợp cần thiết phải hòa giải ngay khi biết, chứng kiến vụ, việc hoặc
các bên có thỏa thuận khác về thời gian hòa giải.
Điều 26. Hình thức
tiến hành và hỗ trợ tham gia hòa giải
1. Hòa giải được tiến hành bằng hình thức
trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.
Trường hợp các bên có người dân tộc thiểu
số, người khuyết tật cần phải hỗ trợ phiên dịch thì bố trí người phiên dịch hoặc
người biết ngôn ngữ ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại và
người này được coi là người phiên dịch. Người phiên dịch có trách nhiệm tuân thủ
các nguyên tắc quy định tại Điều 4 của Luật này.
Trường hợp các bên có người khuyết tật
thì được hỗ trợ phù hợp để tham gia hòa giải.
2. Hòa giải được tiến hành công khai hoặc
không công khai theo ý kiến thống nhất của các bên.
3. Tùy thuộc vào vụ, việc cụ thể, trên
cơ sở đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của Nhân dân và quy định của
pháp luật, hòa giải viên áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm giúp các bên hiểu
rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ, việc để các bên thỏa thuận
việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1
Điều này.
Điều 27. Hòa giải
giữa các bên cư trú tại thôn, tổ dân phố khác nhau
Trường hợp các bên cư trú tại thôn, tổ
dân phố khác nhau thì tổ hòa giải nơi có vụ, việc hoặc nơi tiếp nhận đề nghị
hòa giải chủ trì tổ chức hòa giải và thông báo với Trưởng ban công tác Mặt trận
nơi có các bên liên quan cử tổ hòa giải phối hợp tổ chức hòa giải.
Điều 28. Kết thúc
hòa giải
1. Việc hòa giải kết thúc khi hòa giải
thành.
2. Việc hòa giải kết thúc khi hòa giải
không thành nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Một bên hoặc các bên yêu cầu chấm dứt
hòa giải;
b) Hòa giải viên quyết định kết thúc
hòa giải khi các bên không đạt được thỏa thuận và việc tiếp tục hòa giải cũng
không đạt kết quả. Trong trường hợp này, các bên có quyền yêu cầu tiếp tục hòa
giải hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Điều 29. Kết quả
hòa giải
1. Kết quả hòa giải được thể hiện bằng
lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Kết quả hòa giải được thể hiện dưới
hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử
được coi là bằng văn bản.
2. Trường hợp một trong các bên đồng ý,
hòa giải viên lập văn bản về kết quả hòa giải. Văn bản về kết quả hòa giải gồm
các nội dung chính sau đây:
a) Căn cứ tiến hành hòa giải;
b) Thành phần tham gia hòa giải;
c) Nội dung chủ yếu của vụ, việc;
d) Diễn biến của quá trình hòa giải;
đ) Kết quả hòa giải.
3. Trường hợp hòa giải thành, kết quả
hòa giải ghi rõ thỏa thuận đạt được và giải pháp thực hiện; quyền, nghĩa vụ của
các bên; phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận; nội dung khác theo thỏa
thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp hòa giải không thành, kết quả
hòa giải ghi rõ ý kiến, quan điểm của các bên và những nội dung khác có liên
quan.
Văn bản về kết quả hòa giải có chữ ký
hoặc điểm chỉ hoặc xác nhận của các bên, của hòa giải viên, những người khác
tham gia hòa giải (nếu có) và được gửi đến các bên. Trường hợp có người không
ký hoặc điểm chỉ hoặc xác nhận thì hòa giải viên ghi rõ lý do trong văn bản.
Điều 30. Thực hiện
thỏa thuận hòa giải thành, công nhận kết quả hòa giải thành
1. Các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa
thuận hòa giải thành. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, nếu
một bên không thể thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của bên
kia hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì có trách nhiệm
trao đổi, thỏa thuận với bên kia và thông báo cho hòa giải viên.
2. Trường hợp một hoặc các bên yêu cầu
Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành thì thực hiện
theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 31. Theo dõi,
đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành
Hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi,
đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp hòa giải; kịp
thời thông báo cho Tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận
những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện.
Chương IV
TRÁCH
NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Điều 32. Trách nhiệm
quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về hòa giải ở cơ sở trong phạm vi cả nước.
2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở
tại tỉnh, thành phố; chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng cấp hướng dẫn, tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở tại địa
phương; kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng, báo cáo về hòa giải ở
cơ sở.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản
lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại địa phương; chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở;
lồng ghép thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong xây dựng, thực hiện
hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết,
khen thưởng, báo cáo về hòa giải ở cơ sở.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 33. Trách nhiệm
của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt
trận
1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cùng cấp tham gia
thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật,
giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, theo
dõi, sơ kết, tổng kết, khen thưởng và báo cáo về hòa giải ở cơ sở.
Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
2. Các tổ chức thành viên của Mặt trận
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động
hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật; vận động các hội viên, đoàn viên
tham gia hòa giải ở cơ sở và làm hòa giải viên.
Chương V
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
Điều 34. Hiệu lực
thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 3 năm 2027.
2. Luật số 35/2013/QH13
hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 35 của Luật này.
Điều 35. Điều khoản
chuyển tiếp
1. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành, các tổ hòa giải, hòa giải viên được thành lập, công nhận theo Luật số 35/2013/QH13 được tiếp tục hoạt động mà không
phải thành lập, công nhận lại theo quy định của Luật này.
2. Các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải ở
cơ sở chưa kết thúc hòa giải trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được
tiếp tục hòa giải theo quy định của Luật số 35/2013/QH13.
Luật này được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất
thông qua ngày 24 tháng 8 năm 2026.
|
|
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|