|
QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Luật số:
22/2026/QH16
|
Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 2026
|
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT
NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng số 69/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 142/2025/QH15.
Điều
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng
1. Sửa đổi, bổ sung một số
khoản của Điều 3 như sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung khoản 6 như sau:
“6. Cơ sở dữ liệu về
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là tập hợp dữ
liệu, thông tin về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng,
doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.”;
b) Bổ
sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:
“7. Trực tiếp tuyển chọn
là việc doanh nghiệp Việt Nam hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là
Giấy phép) tự thực hiện hoặc phối hợp với bên nước ngoài tiếp nhận lao động để
tổ chức sơ tuyển, đánh giá và lựa chọn người lao động đáp ứng yêu cầu, không
thông qua bên thứ ba, không ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác để thực hiện hoạt
động này.
8. Cho người khác sử dụng
Giấy phép là việc doanh nghiệp Việt Nam hoạt động dịch vụ đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được cấp Giấy phép cho doanh
nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân khác sử dụng Giấy phép đó dưới bất kỳ hình thức
nào để thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhân danh doanh nghiệp được cấp Giấy
phép.”.
2. Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 như
sau:
“1. Ưu tiên đưa người lao động
đã qua đào tạo và có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng nhằm nâng cao thu nhập, tiếp cận công nghệ, quản trị hiện đại, rèn luyện
kỹ năng, ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp.
Tăng cường kết nối thông
tin việc làm cho người lao động về nước với thị trường lao động trong nước nhằm
phát huy, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực có kỹ năng nghề đã làm việc ở nước
ngoài.
Người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong một số ngành, nghề, công việc yêu cầu
trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển được hưởng
cơ chế, chính sách đặc thù để đi làm việc ở nước ngoài và thu hút, sử dụng hiệu
quả nguồn nhân lực sau khi về nước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong
từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.”.
3. Sửa
đổi, bổ sung điểm g khoản 1 Điều 6 như sau:
“g) Không phải đóng bảo hiểm
xã hội hoặc nộp thuế thu nhập cá nhân hai lần ở Việt Nam và ở nước tiếp nhận
lao động nếu Việt Nam và nước đó đã ký hiệp định về bảo hiểm xã hội trong đó có
nội dung tránh đóng bảo hiểm xã hội hai lần hoặc hiệp định tránh đánh thuế hai
lần;”.
4. Sửa đổi, bổ sung một số
khoản của Điều 7 như sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn,
cung cấp thông tin sai sự thật, quảng cáo, tư vấn gian dối hoặc sử dụng thủ đoạn
khác nhằm lừa dối người lao động; lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người lao động;
lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất
cảnh trái phép, mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc thực hiện hành
vi trái pháp luật khác.”;
b) Sửa
đổi, bổ sung khoản 9 như sau:
“9. Thu tiền dịch vụ và
các khoản thu từ người lao động không đúng quy định của pháp luật.”;
c) Sửa
đổi, bổ sung khoản 11 như sau:
“11. Đi làm việc ở nước
ngoài hoặc tổ chức tuyển chọn, chuẩn bị nguồn lao động, đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mà xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của người lao động và cộng đồng hoặc
không được nước tiếp nhận lao động cho phép.”;
d) Sửa
đổi, bổ sung đoạn mở đầu và điểm a khoản 12 như sau:
“12. Đi làm việc ở nước
ngoài hoặc tổ chức tuyển chọn, chuẩn bị nguồn lao động, đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài đối với công việc sau đây:
a) Công việc mát-xa;”;
đ) Sửa
đổi, bổ sung đoạn mở đầu và điểm a khoản 13 như sau:
“13. Đi làm việc ở nước
ngoài hoặc tổ chức tuyển chọn, chuẩn bị nguồn lao động, đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài ở khu vực sau đây:
a) Khu vực có chiến sự, khu
vực đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khuyến cáo không đến hoặc hạn chế
đến;”.
5. Sửa
đổi, bổ sung các khoản 1, 2 và 3 Điều 9 như sau:
“1. Tìm kiếm, phát triển
thị trường lao động ở nước ngoài; ký kết và thực hiện hợp đồng, thỏa thuận liên
quan đến việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Cung cấp thông tin, quảng
cáo, tư vấn về cơ hội việc làm ở nước ngoài.
3. Chuẩn bị nguồn lao động,
tuyển chọn người lao động, hỗ trợ hoặc trực tiếp làm thủ tục để người lao động
đi làm việc ở nước ngoài.”.
6. Sửa đổi, bổ sung một số
điểm, khoản của Điều 10 như sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung điểm d khoản 1 như
sau:
“d) Có nhân viên nghiệp vụ
đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ;”;
b) Bổ
sung khoản 1a vào sau khoản 1 như
sau:
“1a. Người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy phép thuộc trường hợp quy định tại
điểm a, d hoặc đ khoản 2 Điều 16 của Luật này thì trong thời
hạn 05 năm kể từ ngày có quyết định thu hồi Giấy phép không được là người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp được cấp Giấy phép; doanh nghiệp đã bị thu
hồi Giấy phép thuộc trường hợp quy định tại điểm a, d hoặc đ khoản
2 Điều 16 của Luật này trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có quyết định thu hồi
Giấy phép không được cấp Giấy phép.”;
c) Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này; quy định nội dung, mẫu, lệ phí cấp, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp,
điều chỉnh thông tin, cấp lại, công bố và niêm yết Giấy phép.”.
7. Sửa đổi, bổ sung một số
điểm, khoản của Điều 17 như sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung điểm c khoản 2 như
sau:
“c) Có nhân viên nghiệp vụ
đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ;”;
b) Sửa
đổi, bổ sung khoản 6 như sau:
“6. Chính phủ quy định chi
tiết điểm d khoản 2 Điều này.”.
8. Sửa
đổi, bổ sung Điều 18 như sau:
“Điều 18. Chuẩn bị nguồn
lao động
1. Doanh nghiệp dịch vụ được
chủ động chuẩn bị nguồn lao động trước khi đăng ký hợp đồng cung ứng lao động
theo nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường tiếp nhận và khả năng ký kết hợp đồng
cung ứng lao động.
2. Doanh nghiệp dịch vụ thực
hiện chuẩn bị nguồn lao động bằng một hoặc một số hoạt động sau đây:
a) Trực tiếp hoặc phối hợp
với các tổ chức, đơn vị có chức năng, tổ chức chính trị - xã hội để thông tin,
tuyên truyền cho người lao động phục vụ cho hoạt động chuẩn bị nguồn lao động;
b) Tổ chức tư vấn và sơ
tuyển người lao động;
c) Trực tiếp hoặc hợp tác,
liên kết với cơ sở giáo dục để đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ cho
người lao động trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật về giáo dục.
3. Doanh nghiệp dịch vụ ký
kết bằng văn bản với người lao động về việc tham gia chuẩn bị nguồn lao động,
trong đó phải có các nội dung sau đây: mức phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề,
ngoại ngữ và các khoản thu khác (nếu có); dự kiến thị trường, ngành, nghề, tiêu
chuẩn, thời gian tuyển chọn; cam kết việc ưu tiên tuyển chọn người lao động đã
tham gia chuẩn bị nguồn lao động; trách nhiệm của các bên trong trường hợp người
lao động không được bên nước ngoài tiếp nhận lao động tuyển chọn hoặc chấm dứt
việc tham gia chuẩn bị nguồn lao động trước thời hạn.
Doanh nghiệp dịch vụ chỉ
được thu phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ sau khi người lao động
đã được bên nước ngoài tiếp nhận lao động tuyển chọn và ký kết hợp đồng đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
4. Doanh nghiệp dịch vụ
thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi doanh nghiệp tổ chức hoạt
động chuẩn bị nguồn lao động và cập nhật trên cơ sở dữ liệu về người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chậm nhất 03 ngày trước ngày thực
hiện chuẩn bị nguồn lao động.
5. Ủy ban nhân dân cấp xã
có trách nhiệm công khai thông báo việc chuẩn bị nguồn lao động đã tiếp nhận,
theo dõi hoạt động chuẩn bị nguồn lao động trên địa bàn; xử lý theo thẩm quyền
hoặc chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật khi phát hiện
tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động chuẩn bị nguồn lao động không đúng nội
dung đã thông báo hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác.
6. Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy
định nội dung, mẫu văn bản thông báo chuẩn bị nguồn lao động.”.
9. Sửa
đổi, bổ sung Điều 21 như sau:
“Điều 21. Hợp đồng đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
1. Hợp đồng đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp
dịch vụ với người lao động về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng và phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Quyền, nghĩa vụ của mỗi
bên và phù hợp với nội dung đăng ký hợp đồng cung ứng lao động đã được chấp thuận;
b) Tiền dịch vụ thu từ người
lao động; các khoản khác doanh nghiệp dịch vụ thu từ người lao động (nếu có);
c) Tiền ký quỹ (nếu có);
d) Điều kiện đơn phương chấm
dứt hợp đồng;
đ) Việc giải quyết tranh
chấp hợp đồng, bồi thường thiệt hại.
2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy
định mẫu hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, các khoản
doanh nghiệp dịch vụ được thu từ người lao động.”.
10. Sửa đổi, bổ sung một số
điểm của khoản 2 Điều 26 như sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung điểm a và điểm b như
sau:
“a) Thực hiện các quy định
về công bố và niêm yết Giấy phép theo quy định của Chính phủ; quy định tại khoản 1 Điều 16, các điều 17, 18, 19, 20, 27, 28 và 29 của Luật này;
b) Đăng tải trên trang
thông tin điện tử của doanh nghiệp dịch vụ và cập nhật trên cơ sở dữ liệu về
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong thời hạn
05 ngày kể từ ngày có sự thay đổi thông tin về: người đại diện theo pháp luật,
nhân viên nghiệp vụ, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, địa điểm kinh doanh, cơ sở
vật chất để thực hiện hoạt động giáo dục định hướng cho người lao động trước
khi đi làm việc ở nước ngoài, quyết định giao nhiệm vụ cho chi nhánh; đăng tải
và cập nhật trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp dịch vụ thông tin đầy
đủ, chính xác về số lượng, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện làm việc, quyền lợi,
nghĩa vụ của người lao động theo nội dung hợp đồng cung ứng lao động, thông tin
chuẩn bị nguồn lao động; các thông tin khác theo quy định của pháp luật có liên
quan;”;
b) Sửa
đổi, bổ sung điểm đ và điểm e như
sau:
“đ) Cam kết bằng văn bản về
thời gian chờ xuất cảnh sau khi người lao động trúng tuyển đi làm việc ở nước
ngoài với thời hạn không quá 180 ngày kể từ ngày người lao động trúng tuyển;
trường hợp doanh nghiệp dịch vụ không thực hiện đúng cam kết về thời gian chờ
xuất cảnh thì phải bồi thường theo thỏa thuận và hoàn trả tiền dịch vụ thu từ
người lao động, các khoản thu khác người lao động đã nộp sau khi trừ đi các khoản
đã chi, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc hai bên có thỏa thuận khác.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định
về thời hạn bồi thường và hoàn trả tiền cho người lao động;
e) Tổ chức quản lý, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động do doanh nghiệp dịch vụ đưa đi làm
việc ở nước ngoài và phù hợp với hợp đồng cung ứng lao động đã được chấp thuận;
có người đại diện ở nước ngoài để hỗ trợ, giải quyết vấn đề phát sinh liên quan
đến người lao động theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; thông tin, báo cáo
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
ngay sau khi có thông tin về vụ việc ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, quyền
và lợi ích hợp pháp của người lao động hoặc tình huống khẩn cấp liên quan đến
an ninh, an toàn tại địa bàn tiếp nhận; tư vấn và hỗ trợ người lao động tiếp cận
dịch vụ trợ giúp pháp lý trong trường hợp người lao động có nhu cầu hỗ trợ pháp
lý;”.
11. Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 29 như
sau:
“2. Kể từ ngày Tòa án ra
quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp dịch vụ không được ký kết hợp đồng
cung ứng lao động, tổ chức chuẩn bị nguồn và tuyển chọn lao động mới để đưa đi
làm việc ở nước ngoài; hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài đã ký kết tiếp tục được thực hiện dưới sự giám sát theo quy định của pháp
luật về phục hồi, phá sản.”.
12. Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 30 như sau:
“2. Có phương án đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật
Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và thông báo đến Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chi nhánh theo quy định
tại Điều 31 của Luật này.
3. Chỉ đưa người lao động
Việt Nam có giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu
đi làm việc tại công trình, dự án ở nước ngoài theo hợp đồng trúng thầu, nhận
thầu.”.
13. Sửa
đổi, bổ sung Điều 31 như sau:
“Điều 31. Thông báo đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp trúng thầu,
nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài
1. Doanh nghiệp Việt Nam
trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài có trách nhiệm thông báo bằng
văn bản phương án đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đến Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chi nhánh.
2. Chính phủ quy định về
phương thức, thời hạn thông báo, nội dung phương án đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài và trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu về người
lao động.”.
14. Sửa
đổi, bổ sung khoản 8 Điều 32 như
sau:
“8. Báo cáo sau khi hoàn
thành hợp đồng trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài và báo cáo đột xuất theo yêu
cầu của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chi nhánh.”.
15. Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 33 như sau:
“1. Có Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư ra nước ngoài trừ trường hợp dự án không phải thực hiện thủ tục
cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật về
đầu tư.
2. Có phương án đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật
Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và thông báo đến Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức đặt trụ sở chính, chi nhánh hoặc nơi cá nhân
thường trú theo quy định tại Điều 34 của Luật này.”.
16. Sửa
đổi, bổ sung Điều 34 như sau:
“Điều 34. Thông báo đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của tổ chức, cá nhân Việt Nam
đầu tư ra nước ngoài
1. Tổ chức, cá nhân Việt
Nam đầu tư ra nước ngoài có trách nhiệm thông báo bằng văn bản phương án đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi tổ chức đặt trụ sở chính, chi nhánh hoặc nơi cá nhân thường trú.
2. Chính phủ quy định về
phương thức, thời hạn thông báo, nội dung phương án đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài và trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu về người
lao động.”.
17. Sửa
đổi, bổ sung khoản 8 Điều 35 như
sau:
“8. Định kỳ hằng năm hoặc
đột xuất báo cáo về tình hình thực hiện đưa người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi tổ chức đặt trụ sở chính hoặc nơi cá nhân thường trú.”.
18. Sửa
đổi, bổ sung Điều 39 như sau:
“Điều 39. Đăng ký hợp đồng
nhận lao động thực tập
1. Doanh nghiệp đưa người
lao động Việt Nam đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài nộp
01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để đăng ký hợp đồng nhận lao động thực tập.
2. Chính phủ quy định về hồ
sơ, phương thức, trình tự, thủ tục đăng ký hợp đồng nhận lao động thực tập.”.
19. Sửa
đổi, bổ sung điểm l khoản 2 Điều 41 như sau:
“l) Báo cáo về tình hình
thực hiện đưa người lao động đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước
ngoài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến cơ quan chuyên môn về lao động
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính;”.
20. Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 42 như
sau:
“3. Đơn vị sự nghiệp đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoạt động theo quy định của pháp luật,
không vì mục tiêu lợi nhuận và không được thu tiền dịch vụ từ người lao động
theo quy định của Luật này.”.
21. Sửa
đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 51 như sau:
“a) Được cơ quan chuyên
môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở
nước ngoài cung cấp thông tin chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; nội dung giáo dục định hướng quy định tại
các điểm a, d, g, h, i, k, l và m khoản 1 Điều 65 của Luật
này;”.
22. Sửa
đổi, bổ sung Điều 53 như sau:
“Điều 53. Đăng ký hợp đồng
lao động trực tiếp giao kết
1. Người lao động đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động trực tiếp giao kết gửi 01 bộ hồ sơ đến
cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người lao động
thường trú để đăng ký hợp đồng lao động trực tiếp giao kết.
2. Chính phủ quy định về hồ
sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hợp đồng lao động trực tiếp giao kết.”.
23. Sửa
đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 65 như sau:
“b) Kiến thức cơ bản về
pháp luật Việt Nam và pháp luật nước tiếp nhận lao động; nội dung pháp luật về
bảo hiểm xã hội đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;”.
24. Sửa đổi, bổ sung một số
điểm của khoản 2 Điều 70 như sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung điểm b như sau:
“b) Xây dựng, quản lý, vận
hành, cập nhật, hướng dẫn, tổ chức kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu về người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;”;
b) Bổ
sung điểm d và điểm đ vào sau điểm c như sau:
“d) Phối hợp với Bộ Công
an trong công tác trao đổi thông tin, quản lý tình hình người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp
luật xảy ra ở trong nước và nước ngoài liên quan đến hoạt động đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức, môi giới xuất cảnh trái phép, mua
bán người, cưỡng bức lao động, lừa đảo, thu tiền trái pháp luật của người lao động
và vấn đề khác liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
đ) Phối hợp với Bộ Dân tộc
và Tôn giáo trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đối với người lao động là
người dân tộc thiểu số, người lao động cư trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng và hỗ trợ hòa nhập xã hội, tham gia thị trường lao động
sau khi về nước.”.
25.
Thay thế một số cụm từ tại một số điều, khoản, điểm sau đây:
a) Thay thế cụm từ “Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội” bằng cụm từ “Bộ Nội vụ” tại khoản
1 Điều 8; khoản 1 và khoản 3 Điều 16; khoản 4 Điều 17; khoản 3 Điều 19; khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều 20; khoản 3 Điều 22; điểm c khoản
2 và điểm c khoản 4 Điều 23; khoản 2 Điều 24; khoản 4 Điều
25; điểm m và điểm n khoản 2 Điều 26; điểm b khoản 1, khoản
2 và khoản 3 Điều 28; khoản 1, điểm a và điểm b khoản 3 Điều 29; khoản 4 Điều
35; khoản 1 Điều 42; điểm b khoản 1, điểm a và điểm g khoản
2 Điều 43; khoản 3 Điều 58; khoản 1 Điều 60; khoản 3 Điều
65; khoản 1 và khoản 2 Điều 66; khoản 2 và khoản 3 Điều 70, khoản 2 Điều 71;
b) Thay thế cụm từ “Hệ thống
cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”
bằng cụm từ “cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng” tại khoản 4 Điều 17; điểm n khoản 2 Điều 26; điểm
d khoản 2 Điều 41; điểm c khoản 2 Điều 43; khoản 1 Điều 60
và khoản 4 Điều 69;
c) Thay thế cụm từ “được
chứng thực” bằng cụm từ “được chứng thực chữ ký người dịch” tại điểm
b khoản 2 Điều 20.
26. Bỏ
một số cụm từ tại một số điều, khoản sau đây:
a) Bỏ cụm từ “, cơ quan
thuộc Chính phủ” tại khoản 3 Điều 2; khoản 2 và khoản 3 Điều 72;
b) Bỏ cụm từ “, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ” tại khoản 1 Điều 42;
c) Bỏ cụm từ “quy định tại
khoản 2 Điều 31 của Luật này” tại khoản 4 Điều 32 và “quy định
tại khoản 2 Điều 34 của Luật này” tại khoản 4 Điều 35.
27.
Bãi bỏ Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều
14, Điều 15 và Điều 40.
Điều
2. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
Điều
3. Điều khoản chuyển tiếp
1. Doanh nghiệp dịch vụ đã
được cấp Giấy phép trước ngày Luật này có hiệu lực thì được tiếp tục hoạt động
theo Giấy phép đã được cấp.
2. Đối với hồ sơ đề nghị cấp,
cấp lại và điều chỉnh thông tin Giấy phép, đăng ký hợp đồng nhận lao động thực
tập và đăng ký hợp đồng trực tiếp giao kết đã được tiếp nhận trước ngày Luật
này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Luật
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 69/2020/QH14
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số
142/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật số 69/2020/QH14), trừ trường hợp quy định tại
điểm b khoản 6 Điều 1 của Luật này.
3. Đối với doanh nghiệp đã
được chấp thuận chuẩn bị nguồn lao động theo quy định tại Điều
18 của Luật số 69/2020/QH14 trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp
tục được thực hiện hoạt động đã được chấp thuận cho đến khi hoàn thành theo
phương án đã đăng ký.
4. Đối với hợp đồng lao động
trực tiếp giao kết đã được xác nhận đăng ký trước ngày Luật này có hiệu lực thi
hành thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi chấm dứt hợp đồng.
5. Đối với trường hợp
doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết về thời gian chờ xuất cảnh trước ngày
Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa bồi thường, hoàn trả theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 26 của Luật số 69/2020/QH14 thì phải bồi
thường, hoàn trả theo quy định của Luật này.
Luật này được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất
thông qua ngày 24 tháng 8 năm 2026.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|