|
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 20-NQ/TW
|
Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XIV
VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM TRỞ THÀNH QUỐC
GIA BIỂN MẠNH
-----
I- TÌNH HÌNH
Sau 8 năm thực hiện Nghị
quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến
lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045, nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển được nâng
lên rõ rệt; thể chế, chính sách, pháp luật về biển tiếp tục được hoàn thiện; quản
lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và quản trị biển được tăng cường. Kinh tế biển
tiếp tục khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế. Hạ tầng, cảng
biển, khu kinh tế, khu công nghiệp và đô thị ven biển được quan tâm đầu tư. Điều
tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ biển được chú trọng. Đời
sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo được cải thiện. Quốc phòng, an ninh, đối
ngoại và hợp tác quốc tế được củng cố, tăng cường, giữ vững chủ quyền, quyền chủ
quyền, quyền tài phán quốc gia và bảo đảm môi trường hoà bình, ổn định cho phát
triển đất nước.
Tuy nhiên, nhận thức về vị
trí, vai trò của biển và yêu cầu phát triển quốc gia biển mạnh có lúc, có nơi
chưa đầy đủ; quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Thể chế, chính
sách thiếu đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn hạn chế; chức năng,
nhiệm vụ còn chồng chéo. Kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế; cơ cấu ngành chuyển dịch còn chậm; năng suất, chất lượng, hiệu quả và
sức cạnh tranh chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, điều tra cơ bản
và phát triển nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu. Bảo vệ môi trường, bảo
tồn hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển gặp nhiều thách thức; ô nhiễm môi trường
biển, suy giảm nguồn lợi thuỷ sản, tác động của biến đổi khí hậu, nước biển
dâng, xói lở bờ biển diễn biến phức tạp, việc khắc phục cảnh báo thẻ vàng khai
thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) còn chậm.
Đời sống của một bộ phận cư dân ven biển, hải đảo còn khó khăn. Giá trị văn hoá
biển chưa được khai thác, phát huy đầy đủ. Việc quản lý, khai thác và làm chủ
không gian biển chưa đáp ứng yêu cầu; khả năng dự báo, phòng ngừa và ứng phó với
các thách thức an ninh trên biển còn hạn chế.
Những hạn chế, yếu kém
nêu trên chủ yếu là do công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực
hiện các chủ trương của Đảng có lúc, có nơi chưa thật sự quyết liệt, quyết tâm
chính trị chưa cao. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách còn chậm, chưa theo kịp
yêu cầu phát triển; nhiều điểm nghẽn về hạ tầng khoa học, công nghệ và quản trị
biển chậm được tháo gỡ. Quy hoạch không gian biển còn nhiều bất cập. Mô hình quản
lý tổng hợp, thống nhất chưa được hoàn thiện; cơ chế điều phối liên ngành, liên
vùng chưa hiệu quả; bộ máy quản lý nhà nước về biển và nguồn nhân lực còn hạn
chế. Nguồn lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, điều
tra cơ bản và dữ liệu biển còn thiếu, phân tán. Cơ chế, chính sách huy động nguồn
lực đầu tư còn bất cập. Sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường, bảo
tồn hệ sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu chưa thực chất, còn nặng về khai
thác, chưa coi trọng bảo vệ, bảo tồn.
Bối cảnh quốc tế và trong
nước cùng với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của biển và đại dương đặt ra
yêu cầu phải xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh với
quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp sau:
II- QUAN ĐIỂM
1. Biển, đảo Việt Nam gắn liền với chủ quyền thiêng liêng của
Tổ quốc, không gian sinh tồn và phát triển của đất nước, cửa ngõ giao lưu quốc
tế và là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Xây dựng và phát
triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước
lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi quy hoạch, chiến
lược, chương trình phát triển đất nước đều phải phục vụ yêu cầu bảo vệ chủ quyền,
quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ
lợi ích quốc gia trên biển; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định. Việt Nam phải
có nền quản trị biển hiện đại; kinh tế biển phát triển hiệu quả; khoa học, công
nghệ biển tiên tiến; môi trường biển bền vững; văn hoá biển giàu bản sắc; cộng
đồng cư dân ven biển, trên đảo giàu mạnh; quốc phòng, an ninh biển đảo được giữ
vững, hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả; vị thế, uy tín quốc tế ngày càng
cao.
2. Chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện
đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản
lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia. Hoàn
thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh là đột phá chiến lược; phát huy mạnh
mẽ mọi nguồn lực, khơi thông tiềm năng, lợi thế của biển, hải đảo; hình thành
các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền
- biển - hải đảo và các không gian phát triển mới. Phát triển toàn diện văn hoá
biển Việt Nam trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm
của quốc gia biển; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý thức làm chủ, khát vọng
vươn ra biển lớn và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
3. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và
nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính cho phát triển quốc gia biển mạnh,
trọng tâm là phát triển và làm chủ tri thức, dữ liệu và công nghệ biển. Đẩy mạnh
điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển, làm chủ công nghệ biển và đại dương.
Phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực biển hiện đại, xanh, số, tuần hoàn, nâng
cao năng lực quản trị biển, năng lực cạnh tranh quốc gia và vị thế quốc tế của
Việt Nam.
4. Khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn
với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh,
phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại
dương; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Giảm mạnh các hoạt động khai thác thiếu bền vững, gây suy thoái tài nguyên, ô
nhiễm môi trường; tăng cường bảo vệ đa dạng sinh học, mở rộng và quản lý hiệu
quả các khu bảo tồn biển, gắn với sinh kế bền vững của người dân. Chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương; nâng cao khả năng chống chịu,
năng lực phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro; bảo đảm duy trì lâu dài các
giá trị và lợi ích chiến lược từ biển cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
5. Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính
trị; là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người
dân; bảo đảm đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành thống
nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các chủ thể trong
xã hội. Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng
vươn ra biển lớn; đề cao vai trò trung tâm của Nhân dân và doanh nghiệp trong
phát triển kinh tế biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.
III- MỤC TIÊU
1. Mục tiêu đến năm 2030
a) Mục tiêu tổng quát
Xây dựng nền tảng vững chắc
để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Hình thành hệ thống quản trị biển quốc
gia hiện đại, thống nhất, đồng bộ, dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu số; quản
lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và không gian biển; từng
bước làm chủ biển xa, biển sâu và các không gian phát triển mới trên biển; bảo
vệ môi trường, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển. Kinh tế biển phát triển
hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao. Đời sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo
được nâng cao; văn hoá biển được gìn giữ và phát huy. Quốc phòng, an ninh, chủ
quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển được giữ vững; vị
thế, uy tín và vai trò của Việt Nam được nâng cao.
b) Mục tiêu cụ thể
Kinh tế: Tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên
70% GDP cả nước. Thu nhập bình quân đầu người các tỉnh, thành phố ven biển cao
hơn 1,2 - 1,3 lần bình quân cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của các
địa phương ven biển phấn đấu đạt trên 11%/năm. Phát triển các dự án điện gió
ngoài khơi có công suất 6-10 GW. Thị phần vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu do đội
tàu biển Việt Nam đảm nhận đạt 20%; chi phí logistics giảm còn dưới 12% GDP. Tốc
độ tăng trưởng tổng thu du lịch biển, đảo bình quân 14%/năm. Giá trị sản xuất
nuôi biển tăng bình quân 8%/năm; tỉ trọng nuôi biển trong tổng giá trị sản xuất
thuỷ sản đạt 15%.
Phát triển không gian
biển, hạ tầng biển: Hình thành 5-6 trung
tâm kinh tế biển mạnh. Hình thành 3 khu kinh tế đặc biệt. Hoàn thành 100% tuyến
đường bộ ven biển theo quy hoạch; 100% đảo có vị trí chiến lược, trọng yếu cơ bản
được đầu tư hạ tầng thiết yếu đồng bộ.
Khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số: Hình thành
2 - 3 tổ chức nghiên cứu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển dẫn đầu
trong khu vực ASEAN. Có 1 - 2 tàu nghiên cứu biển sâu lưỡng dụng. Hoàn thành hệ
thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển. Tỉ lệ số hoá, tích hợp và chia sẻ dữ liệu
tài nguyên, môi trường, hạ tầng và hoạt động biển đạt 100% trong hệ thống quản
lý nhà nước.
Quản trị không gian biển,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững: Hoàn
thành 100% phân vùng chức năng biển cho từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Diện
tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển
quốc gia. 100% chất thải nhựa ven biển được thu gom, xử lý. 100% các đảo trọng
yếu, dân sinh có hệ thống xử lý chất thải rắn và nước thải.
Văn hoá, xã hội: 100% di sản văn hoá biển được số hoá. Chỉ số phát triển
con người (HDI) cao hơn trung bình cả nước. Tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng
cấp, chứng chỉ, có kỹ năng trong các ngành, nghề, lĩnh vực biển đạt trên 45%.
100% cư dân vùng biển, hải đảo được tiếp cận điện, nước sạch, Internet băng rộng
và dịch vụ y tế, giáo dục.
Bảo đảm quốc phòng, an
ninh, đối ngoại: Bảo vệ vững chắc chủ quyền,
quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển. Bảo đảm an ninh toàn diện
cho Nhân dân và các hoạt động hợp pháp trên biển. 100% công trình, dự án trọng
điểm và các công trình biển quan trọng được bảo đảm an ninh, an toàn; 100% địa
phương ven biển, các đảo xây dựng và triển khai phương án ứng phó sự cố môi trường
biển, thiên tai, nước biển dâng và các thách thức an ninh phi truyền thống. Đối
ngoại và hợp tác quốc tế về biển được đẩy mạnh, vai trò và vị thế Việt Nam
trong các cơ chế hợp tác biển và đại dương toàn cầu được nâng cao.
2. Tầm nhìn đến năm 2045
Việt Nam là quốc gia biển
mạnh, giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển; có nền quản trị biển hiện đại,
khoa học, công nghệ biển tiên tiến. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân
vùng biển, đảo được nâng cao toàn diện; văn hoá biển được bảo tồn và phát huy.
Quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên
biển được giữ vững; có vị thế, uy tín và vai trò quan trọng trong hợp tác quốc
tế, quản trị biển và đại dương toàn cầu.
IV- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng
cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
trị biển quốc gia
Tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, đổi mới mạnh mẽ nhận thức, tư duy và tầm nhìn về phát triển quốc gia biển
mạnh; nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại về biển, đảo;
phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan truyền thông, mạng xã hội. Xây dựng và
phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển lâu
dài. Chuyển mạnh từ tư duy khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế biển đơn
thuần sang tư duy phát triển toàn diện không gian biển quốc gia. Khẳng định biển
là không gian phát triển chiến lược, động lực tăng trưởng mới, nơi hội tụ các lợi
ích phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, đối ngoại và
hội nhập quốc tế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước về biển. Chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang mô hình quản
trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia trên cơ sở dữ liệu
số và quy hoạch không gian biển. Quản trị đồng bộ vùng biển, đáy biển, lòng đất
dưới biển, đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; bảo đảm liên kết, điều phối
hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương; hài hoà quan hệ giữa phát triển
và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương, giữa phát triển kinh tế
với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, quản
trị rủi ro và hoạch định chính sách; mở rộng không gian phát triển quốc gia ra
biển xa, biển sâu và các không gian biển mới; chủ động tham gia và nâng cao vai
trò trong các cơ chế hợp tác, quản trị biển, đại dương trong khu vực và toàn cầu.
Khẩn trương kiện toàn, đổi mới toàn diện cơ chế điều phối liên ngành về biển và
đại dương thống nhất, tập trung, đồng bộ, hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực, địa
phương. Chính phủ thống nhất quản lý, giao một cơ quan chủ trì điều phối các hoạt
động trên biển, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của
các cơ quan, tổ chức liên quan.
Phát huy vai trò, tính chủ
động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, cộng
đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng
và thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về biển; phát huy khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
2. Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không
gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh
Đổi mới quản trị không
gian biển quốc gia là nội dung cốt lõi, mang tính đột phá trong hoàn thiện thể
chế phát triển quốc gia biển mạnh. Khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống
pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan, bảo đảm thống nhất, đồng
bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; tháo gỡ các điểm
nghẽn, chồng chéo, mâu thuẫn; giải phóng và huy động hiệu quả mọi nguồn lực,
phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế; chủ động nhận diện, dự báo và đón đầu các
xu hướng phát triển, các lĩnh vực biển mới. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức
thi hành pháp luật về biển, gắn trách nhiệm của cơ quan thực thi với kết quả thực
hiện.
Hoàn thiện pháp luật về
tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, xác lập nguyên tắc quản trị không gian
biển theo hướng hiện đại, tổng hợp, thống nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững biển, đại dương. Hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký, cấp
giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển; quy định rõ quyền, trách
nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động trên không gian biển,
trong đó có quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, cho thuê lại; khai thác bền
vững gắn với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển. Hoàn thiện
cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để phát triển hạ tầng và
các ngành, lĩnh vực biển mới, trọng điểm, có tính dẫn dắt, lan toả. Tăng cường
kiểm tra, giám sát, phòng ngừa, ứng phó rủi ro và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động
tác động tiêu cực, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển.
Khẩn trương rà soát, cập
nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, kết nối giữa không gian đất liền,
biển, vùng trời và các không gian phát triển mới; định hướng không gian phát
triển đa tầng, đa ngành cho các vùng trọng điểm, các ngành, lĩnh vực biển. Hoàn
thiện quy định, hướng dẫn kỹ thuật về phân vùng chức năng, sử dụng không gian
biển, bảo đảm quy hoạch không gian biển quốc gia là công cụ quản lý tổng hợp và
điều phối phát triển không gian biển quốc gia, có tính ràng buộc đối với toàn bộ
hệ thống quy hoạch ngành, vùng và địa phương ven biển; là căn cứ để phân bổ nguồn
lực, giao, cho thuê không gian biển; kiểm soát, xử lý xung đột, tránh chồng lấn,
thiếu phối hợp trong sử dụng không gian biển. Hoạt động lấn biển được thực hiện
trên cơ sở quy hoạch, bảo đảm hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển, ứng phó với biến đổi
khí hậu. Chú trọng quy hoạch đồng bộ, hiện đại các đảo và vùng ven biển, bảo đảm
phát triển bền vững, gắn với quốc phòng, an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế
kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển cho các đặc khu, đảo tiền
tiêu. Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá, đo lường các
chỉ tiêu, mục tiêu về xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh.
3. Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực;
phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn
Hoàn thiện cơ chế huy động,
phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển quốc gia biển mạnh; đa
dạng hoá các hình thức huy động vốn, thúc đẩy tài chính xanh; ưu tiên nguồn lực
cho các lĩnh vực, địa bàn và dự án trọng điểm có sức lan toả lớn; phát huy hiệu
quả các nguồn lực, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, tín dụng, tài nguyên,
không gian biển và các nguồn lực khác. Ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển các
khu kinh tế quốc phòng trên biển và ven biển. Huy động nguồn lực cho nghiên cứu
phát triển và thúc đẩy tiếp nhận, làm chủ và chuyển giao công nghệ trong các
ngành công nghiệp quốc phòng, an ninh phục vụ bảo vệ chủ quyền gắn với phát triển
kinh tế biển. Thực hiện cơ chế chia sẻ rủi ro thực chất giữa Nhà nước và doanh
nghiệp.
Phát triển mạnh các doanh
nghiệp biển giữ vai trò dẫn dắt; khuyến khích thu hút kinh tế tư nhân, kinh tế
tập thể, hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân quy mô lớn,
có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành, lĩnh vực biển quan trọng. Có cơ
chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực
thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm về nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, tìm
kiếm, thăm dò tài nguyên, khoáng sản biển và phát triển các ngành, lĩnh vực biển
mới. Thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn
đa quốc gia, tham gia sâu vào chuỗi giá trị đại dương toàn cầu.
4. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao
Tăng cường đầu tư cho
nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo về biển; phát triển
các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng công nghệ biển, đại dương và khai thác biển
sâu hiện đại dẫn đầu khu vực; hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển quốc
gia gắn với doanh nghiệp, viện, trường và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Triển
khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, mô hình và ngành, lĩnh vực
biển mới. Tập trung triển khai nghiên cứu và ứng dụng về khoa học, công nghệ biển.
Rà soát, đánh giá tổng thể hiện trạng hệ thống viện, trường, cơ sở nghiên cứu hải
dương học, cơ sở đào tạo nguồn nhân lực về biển, đại dương; xác định nhu cầu, mục
tiêu và lộ trình phát triển đến năm 2045, đáp ứng yêu cầu làm chủ khoa học,
công nghệ và quản trị biển hiện đại. Ưu tiên bố trí nguồn lực, thúc đẩy xây dựng,
hoàn thiện, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số biển
và đại dương; đầu tư tàu nghiên cứu biển lưỡng dụng, hoạt động xa bờ, dài ngày,
trang thiết bị hiện đại. Đẩy mạnh phát triển hạ tầng số biển, ứng dụng công nghệ
số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám, Internet vạn vật trong quản trị
biển, công nghệ biển sâu, công nghệ quan trắc biển, hệ thống giám sát biển
thông minh, các lĩnh vực công nghệ biển thế hệ mới, dữ liệu môi trường biển và
trong dự báo, cảnh báo thiên tai, quản lý không gian và bảo vệ môi trường biển.
Tập trung nghiên cứu, tiếp
nhận, làm chủ, chuyển giao, phát triển các công nghệ tiên tiến về biển và đại
dương; khuyến khích phát triển công nghệ lưỡng dụng. Phát triển nguồn nhân lực
biển chất lượng cao, bảo đảm số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp. Xây dựng đội
ngũ chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ quản lý nhà nước có chuyên môn sâu về biển;
xây dựng, triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về đại dương học, khoa
học, kỹ thuật, công nghệ biển và quản trị biển hiện đại; lựa chọn phát triển một
số ngành, lĩnh vực biển trọng điểm trong hệ thống giáo dục quốc dân; nâng cao
năng lực dự báo nhu cầu lao động. Đẩy mạnh thu hút, trọng dụng, kết nối và phát
huy hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong nước, người Việt Nam ở nước
ngoài và chuyên gia quốc tế phục vụ phát triển quốc gia biển mạnh.
5. Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại,
xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới
Phát triển hệ sinh
thái kinh tế biển hiện đại. Đẩy mạnh chuyển
đổi xanh, chuyển đổi số toàn diện các ngành, lĩnh vực biển; ưu tiên phát triển
các mô hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ biển thông minh, phát thải thấp, sử
dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và năng lượng. Hình thành các không gian
phát triển đa mục tiêu, hạ tầng dùng chung, gắn với các chiến lược về quốc
phòng, an ninh và bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển các tổ hợp công nghiệp
quốc phòng, an ninh lưỡng dụng.
Phát triển ngành dầu
khí và khai thác tài nguyên khoáng sản biển
theo hướng hiệu quả, bền vững. Đẩy mạnh điều tra cơ bản, thăm dò, khai thác bằng
công nghệ tiên tiến; ưu tiên tài nguyên có giá trị cao, phát triển đồng bộ chuỗi
từ khai thác đến chế biến sâu. Phát triển công nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí
và công trình biển theo hướng hiện đại; nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo,
thi công các công trình ngoài khơi, làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi
giá trị toàn cầu. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với các dự án vùng
nước sâu, xa bờ, điều kiện phức tạp và mỏ cận biên; nâng cao hệ số thu hồi,
khai thác tận thu. Đa dạng hoá nguồn cung, tăng cường dự trữ chiến lược, bảo đảm
an ninh năng lượng quốc gia và nâng cao năng lực quản trị rủi ro.
Phát triển kinh tế
hàng hải trở thành trụ cột quan trọng của
kinh tế biển, tạo tiền đề để Việt Nam vươn lên trở thành cường quốc hàng hải.
Rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam
giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hoàn thiện hệ thống cảng biển
theo hướng xanh, thông minh, hiện đại, phát triển và khai thác hiệu quả các cảng
cửa ngõ và trung tâm trung chuyển quốc tế, công trình lưỡng dụng dùng chung, gắn
kết đồng bộ với hệ thống hạ tầng. Đầu tư hạ tầng điện ven biển, tiếp nhận nhiên
liệu sạch. Phát triển đội tàu vận tải biển hiện đại, tăng nhanh thị phần vận
chuyển quốc tế. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics hàng hải, kết nối đồng bộ,
hiệu quả với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và hàng không.
Phát triển công nghiệp đóng tàu theo tư duy hệ sinh thái, đồng bộ với đội tàu
biển, phương tiện thuỷ nội địa, hệ thống cảng, logistics, công nghiệp phụ trợ
và dịch vụ, theo hướng thân thiện môi trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị
toàn cầu; nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các loại tàu biển,
phương tiện và thiết bị phục vụ khai thác biển, phát triển năng lượng ngoài
khơi.
Cơ cấu lại ngành thuỷ
sản theo hướng hiện đại, bền vững, tổ chức
sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với các vùng sinh thái, tích hợp đa giá trị.
Tăng cường bảo tồn, phát triển nguồn gen, tự chủ sản xuất giống thuỷ sản; đẩy mạnh
nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản
và chế biến thuỷ sản. Cơ cấu lại, hiện đại hoá đội tàu, giảm khai thác ven bờ,
bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; đẩy mạnh khai thác xa bờ và nuôi biển công nghiệp
công nghệ cao, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ưu tiên tín dụng ưu đãi cho
nuôi biển xa bờ, nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao; phát triển các cụm công
nghiệp nuôi biển. Nghiên cứu, phát triển mô hình tàu nuôi trồng thuỷ sản thông
minh, lồng nuôi thông minh tích hợp hệ thống năng lượng tái tạo và công nghệ số.
Đầu tư, nâng cấp hạ tầng, phát triển đồng bộ hệ thống bảo quản, chế biến và chuỗi
công nghiệp phụ trợ. Hoàn thiện chính sách đối với ngư dân, ngư nghiệp và ngư
trường thúc đẩy phát triển nghề cá bền vững, có trách nhiệm; khuyến khích phát
triển nghề cá giải trí.
Phát triển du lịch và
dịch vụ biển trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn, có thương hiệu và sức cạnh tranh quốc tế, gắn với bảo tồn, phát huy các
giá trị văn hoá biển. Hình thành các trung tâm, cụm du lịch biển quy mô lớn; đa
dạng sản phẩm du lịch chất lượng cao, có bản sắc, ưu tiên phát triển du lịch
nghỉ dưỡng, du lịch tàu biển, sinh thái, thể thao, chăm sóc sức khoẻ, du lịch cộng
đồng, kinh tế đêm và lễ hội du lịch biển. Ưu tiên đầu tư hạ tầng du lịch đồng bộ,
hiện đại; tăng cường liên kết các không gian du lịch ven biển, biển, đảo.
Phát triển mạnh năng
lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới. Hoàn thiện quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển điện
gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển và các loại hình năng lượng khác. Xây dựng
cơ chế khuyến khích, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ đối với các nhà đầu
tư nước ngoài tham gia các dự án năng lượng tái tạo biển quy mô lớn. Ưu tiên
thúc đẩy chuyển đổi năng lượng bền vững tại vùng ven biển, tăng nhanh tỉ trọng
năng lượng tái tạo; phát triển các nguồn phát điện tại chỗ khu vực xa bờ và các
trung tâm dữ liệu ven biển. Đẩy mạnh phát triển các ngành, lĩnh vực biển mới
như nuôi biển công nghệ cao, y - dược biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước
biển, điện sóng, hiđrôgien và amôniắc xanh...
6. Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian
phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và
khu vực
Phát triển đồng bộ, hiện
đại hệ thống hạ tầng biển, ven biển, hải đảo và hạ tầng kết nối, đặc biệt với hạ
tầng giao thông; mở rộng không gian phát triển ra biển xa, biển sâu và các
không gian biển mới. Hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành
lang và các vùng động lực có năng lực cạnh tranh cao, gắn kết chặt chẽ với mạng
lưới đô thị quốc gia. Ưu tiên phát triển hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, số và
năng lượng; tăng cường kết nối đồng bộ giữa các phương thức vận tải, miền núi với
miền biển, đất liền với hải đảo, các vùng động lực ven biển với các trung tâm
kinh tế lớn. Phát triển mạng lưới logistics biển hiện đại, kết nối hiệu quả với
khu vực và quốc tế. Hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics,
năng lượng và đổi mới sáng tạo gắn với lợi thế vùng, miền. Thu hút đầu tư có chọn
lọc, ưu tiên các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sạch,
công nghệ cao, chế biến sâu và các lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn; phát triển
các trung tâm cơ khí chuyên ngành, đẩy mạnh liên kết chuỗi sản xuất và hỗ trợ
doanh nghiệp đổi mới công nghệ làm nền tảng hỗ trợ các ngành hàng hải, đóng
tàu, năng lượng ngoài khơi và các ngành, lĩnh vực biển mới. Hình thành chuỗi
ngành công nghiệp từ sản xuất đến cung cấp dịch vụ hạ tầng cáp ngầm biển cao tốc
và siêu tốc, xây dựng các trung tâm dữ liệu ven biển, dưới biển.
Phát triển các khu kinh tế
ven biển theo hướng hiện đại, đa ngành, đa chức năng, gắn kết chặt chẽ với các
trung tâm kinh tế và hành lang biển. Xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội, có
năng lực cạnh tranh quốc tế cao để phát triển các khu kinh tế đặc biệt, khu
thương mại tự do, khu kinh tế tự do và các cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị
biển trở thành động lực tăng trưởng quan trọng; hình thành các trung tâm kinh tế
biển mạnh của quốc gia và khu vực. Phát triển hệ thống đô thị biển hiện đại,
xanh, thông minh, có bản sắc, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng;
trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Gắn phát triển đô thị biển với tổ chức lại
không gian phát triển vùng ven biển, các mạng lưới đô thị quốc gia. Ưu tiên đầu
tư phát triển, kiên cố hoá các công trình văn hoá, xã hội tại các đảo, vùng ven
biển.
7. Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven
biển, hải đảo
Bảo vệ đa dạng sinh học,
các hệ sinh thái biển, đảo và vùng ven biển gắn với cải thiện sinh kế bền vững
cho người dân và phát triển kinh tế biển xanh. Phục hồi nguồn lợi thuỷ sản; mở
rộng, quản lý hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, các khu vực có giá trị đa dạng
sinh học cao; bảo vệ, phục hồi và phát huy giá trị của các hệ sinh thái rừng ngập
mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi triều, đầm phá và các vùng sinh thái đặc
thù. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác
phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định
(IUU). Kiểm soát chặt chẽ, chủ động xử lý nguy cơ gây ô nhiễm từ các hoạt động,
các nguồn thải từ đất liền, ven biển, hải đảo và trên biển; nâng cao năng lực
phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường biển. Đẩy mạnh phát triển
kinh tế tuần hoàn; giảm thiểu rác thải nhựa đại dương; thu gom, phân loại, tái
chế, tái sử dụng chất thải; thúc đẩy các mô hình sản xuất, tiêu dùng xanh, phát
thải thấp.
Chủ động ứng phó với biến
đổi khí hậu, nước biển dâng; nâng cao khả năng chống chịu, năng lực phòng, chống
thiên tai, giảm thiểu rủi ro. Ưu tiên đầu tư nâng cấp hệ thống đê biển gắn với
tuyến đường bộ ven biển, công trình phòng, chống thiên tai, xâm nhập mặn; phục
hồi và phát triển các vành đai sinh thái chắn sóng, chắn gió, rừng phòng hộ ven
biển; phòng, chống xói lở, bảo vệ đường bờ biển, địa hình tự nhiên, cảnh quan
và không gian ven biển. Bảo vệ, phục hồi và phát huy giá trị các bể hấp thụ
cácbon xanh; từng bước nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu và cơ chế khai thác
giá trị của các bể hấp thụ cácbon biển. Hoàn thiện hệ thống và nâng cao năng lực
điều tra, quan trắc, giám sát, dự báo và cảnh báo sớm thiên tai, môi trường biển,
xâm nhập mặn và các rủi ro sinh thái. Rà soát, đánh giá toàn diện nguy cơ, thiết
lập kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với các khu đô thị,
hạ tầng, công trình cũ.
8. Xây dựng văn hoá biển, nâng cao đời sống người dân,
phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bảo tồn, tôn tạo và phát
huy các giá trị văn hoá, lịch sử, di sản biển, đảo gắn với xây dựng bản sắc văn
hoá biển Việt Nam. Xây dựng các công viên biển, quảng trường biển, vườn sinh
thái biển. Phát huy vai trò của cộng đồng cư dân ven biển, hải đảo trong phát
triển không gian biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Phát huy vai trò của ngư
dân, cư dân biển là chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ hướng
biển. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển, đảo, bảo
đảm khả năng tiếp cận ngày càng tốt hơn cơ hội phát triển và các dịch vụ xã hội
thiết yếu, nhất là y tế, giáo dục. Phát triển chính sách thu hút người dân ra
sinh sống, bố trí ổn định dân cư trên các đảo có đủ điều kiện; hỗ trợ ngư dân
và cư dân vùng biển, hải đảo phát triển sinh kế bền vững. Tăng cường các chính
sách an sinh xã hội, bảo hiểm, tín dụng và giảm nghèo bền vững, đặc biệt quan
tâm các địa bàn hải đảo xa bờ, vùng khó khăn.
9. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo;
tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia
Phát triển quốc gia biển
mạnh phải gắn kết chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm
duy trì hòa bình, thúc đẩy hợp tác, đẩy lùi nguy cơ xung đột trên biển. Tăng cường
bảo đảm quốc phòng, an ninh toàn diện không gian biển, giữ vững trật tự, an
toàn xã hội cho nhân dân và các hoạt động hợp pháp trên biển. Tăng cường xây dựng
thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển vững chắc,
gắn chặt với thế trận lòng dân ở các địa phương ven biển, hải đảo. Có chính
sách thu hút nguồn lực để nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên
gia tham mưu chiến lược về biển, đảo, đại dương. Tiếp tục củng cố khu vực phòng
thủ biển, đảo vững mạnh, liên hoàn, có trọng tâm, trọng điểm; triển khai các dự
án phát triển kinh tế - xã hội gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, kết hợp chặt
chẽ giữa quốc phòng với dân sinh, giữa lực lượng quản lý, bảo vệ, thực thi pháp
luật với ngư dân với phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Xây dựng lực lượng
quản lý, bảo vệ, thực thi pháp luật trên biển, đảo cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, hiện đại. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo an ninh, an toàn trên biển,
bảo vệ hiệu quả các công trình trọng yếu. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu nạn,
cứu hộ, ứng phó sự cố; bảo đảm an ninh hàng hải. Phát triển lực lượng dân quân
biển, hải đội dân quân thường trực trở thành lực lượng nòng cốt, kiểu mẫu, làm
chỗ dựa cho phát triển đội tàu cá hiện đại; bảo vệ, hỗ trợ ngư dân bám biển dài
ngày, bảo đảm hiện diện dân sự và thực hiện chủ quyền dân sự trên vùng biển, đảo
của Tổ quốc. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh kéo giảm tội phạm, tệ nạn, tai nạn,
tiến đến xây dựng khu vực biển, đảo an ninh, an toàn, không có tội phạm.
Chủ động, nâng cao hiệu
quả hội nhập quốc tế, công tác đối ngoại và thông tin đối ngoại về biển, đảo; phát
triển quốc gia biển mạnh, góp phần giữ vững chủ quyền, môi trường hòa bình, ổn
định để phát triển đất nước; coi hợp tác quốc tế là một trong những động lực
quan trọng để thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị biển
tiên tiến. Chủ động, tích cực tham gia xây dựng, hoàn thiện và thúc đẩy thực
thi các thể chế, quy tắc, chuẩn mực pháp lý quốc tế; tham gia có trách nhiệm,
hiệu quả vào giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu; tăng cường vai trò và ảnh
hưởng của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, quản trị, khai thác và bảo vệ các
vùng biển quốc tế và đại dương. Kiên trì thúc đẩy giải quyết các vấn đề phát
sinh trên biển và phân định các vùng biển bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở
luật pháp quốc tế; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở
Biển Đông (DOC); sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu
lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật
Biển năm 1982 (UNCLOS). Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có trình độ
chuyên môn, năng lực hội nhập quốc tế; tăng cường cử cán bộ, chuyên gia tham
gia các tổ chức, cơ chế, diễn đàn và thiết chế quốc tế về biển và đại dương.
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị
quyết với các chỉ tiêu, danh mục nhiệm vụ, đề án cụ thể; lãnh đạo, chỉ đạo triển
khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành
động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về xây dựng và phát triển Việt
Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
2. Đảng uỷ Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung Chương
trình lập pháp hằng năm để triển khai thực hiện Nghị quyết; tăng cường giám sát
đối với việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về biển.
3. Đảng uỷ Chính phủ chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động;
phối hợp với Đảng uỷ Quốc hội kịp thời thể chế hoá đầy đủ các chủ trương, chính
sách nêu tại Nghị quyết; bố trí đủ nguồn lực để triển khai thực hiện.
4. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương và
các bộ, ngành xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai hiệu quả Nghị quyết.
5. Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo,
chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động Nhân dân thực hiện
Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp
luật, cơ chế, chính sách về biển.
6. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với
các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt và
tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết.
7. Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với
Văn phòng Trung ương Đảng, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan liên quan
thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ
Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.
|
Nơi nhận:
- Các ban đảng, đảng uỷ trực
thuộc Trung ương;
- Các tỉnh uỷ, thành uỷ;
- Các đảng uỷ bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội
ở Trung ương;
- Các đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương;
- Các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|